Quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO (Tổ chức thương mại thế giới) và tham gia nhiều tổ chức trong khu vực và thế giới; việc cạnh tranh giữa các quốc gia về thương mại, kinh tế và nguồn nhân lực là một xu thế tất yếu. Theo đó, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ lao động có trình độ cao, có kiến thức, kỹ năng nghề, làm chủ máy móc, công nghệ hiện đại là những nhân tố quyết định sự thành công của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nghị quyết Đại hội đại biểu quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định: “Phát triển mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế động lực và cho việc xuất khẩu lao động. Mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề, phát triển trung tâm dạy nghề quận, huyện, tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề, tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và trên thế giới”, “nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực.

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng trong phát triển nguồn nhân lực, tỉnh Gia Lai luôn quan tâm chỉ đạo giải pháp có định hướng và phát triển đào tạo nghề trong từng thời kỳ, tăng cường quản lý các hoạt động đào tạo nghề, các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, theo báo cáo tổng kết của các ngành cũng như kết quả khảo sát, đánh giá từ các cơ quan sử dụng lao động qua đào tạo nghề, thì hiện tại thực trạng công tác quản lý đào tạo nghề ở Gia Lai vẫn còn không ít khó khăn, hạn chế: chưa có cơ sở đào tạo nghề đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, phát triển không đồng bộ, đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất, chương trình còn nhiều hạn chế theo nhu cầu của xã hội, chưa thực sự gắn với thị trường lao động. Bên cạnh đósố lượng cơ sở đào tạo tuy đã được quan tâm thành lập nhưng cơ sở hệ thống đào tạo nghề cho lao động chậm phát triển, vật chất kỹ thuật lạc hậu, đặc biệt là cơ sở vật chất phục vụ đào tạo nghề cho ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn; đội ngũ giáo viên còn thiếu về số lượng và trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế; chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học nghề lạc hậu, đổi mới chậm; cơ cấu lao động qua đào tạo không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề vì vậy chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bên cạnh đó, công tác quản lý các cơ sở đào tạo nghề thời gian qua cũng còn nhiều bất cập, trong đó phải kể đến việc quy hoạch, phát triển mạng lưới các cơ sở đào tạo nghề chưa đồng bộ, việc thành lập mới các cơ sở đào tạo nghề còn dàn trải, chưa sát với thực tế; điều đó đòi hỏi công tác quản lý của Nhà nước về đào tạo nghề ở Gia Lai cần phải được tăng cường và nâng cao hiệu quả, cần thiết phải có sự tham gia của tất cả các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân người lao động. Một trong những vấn đề quan trọng để đạt được mục tiêu về đào tạo nghề là công tác quản lý các cơ sở đào tạo nghề để “quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp gắn với các quy hoạch về phát triển kinh tế – xã hội và nguồn nhân lực” nhằm thực hiện mục tiêu “tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề, tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới”. Công tác quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề cũng được Nhà nước quan tâm và coi đó là một nhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển kinh tế – xã hội nói chung. Các cơ sở đào tạo nghề đào tạo nghề đào tạo nguồn nhân lực chất lượng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, được coi là động lực chính thức thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các lý thuyết kinh tế từ trước đến nay đều khẳng định mối quan hệ chất lượng nguồn nhân lực với tăng trưởng, phát triển kinh tế – xã hội. Việc quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề là công cụ khắc phục các hạn chế đào tạo chất lượng nguồn nhân lực là đòn bẩy để tạo điều kiện cho đầu tư phát triển kinh tế. Quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề là sử dụng đội ngũ cán bộ giảng dạy, cơ sở vật chất các cơ sở đào tạo nghề, chương trình đào tạo nghề một cách hiệu quả; khắc phục sự lãng phí ngân sách nhà nước, lãng phí công sức và kinh phí của người học; quy mô đào tạo đa cấp, đa ngành nhằm cung cấp nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội; Gắn việc quản lý cơ sở đào tạo với sử dụng nhân lực do các cơ sở đào tạo cung cấp nguồn nhân lực phát huy tối đa nguồn lực; chăm lo phát triển toàn diện văn hóa, nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, tăng cường khả năng quốc phòng, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Trong thời gian qua, bên cạnh những thành công và đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển đất nước thì quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề ở Việt Nam cũng như ở tỉnh Gia Lai vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, như: Hệ thống thể chế về quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề chưa được thống nhất; quá trình tái cơ cấu đầu tư các cơ sở đào tạo nghề chưa thực sự toàn diện; công tác quản lý các cơ sở đào tạo nghề vẫn còn nhiều bất cập.

Tỉnh Gia Lai có vị trí đặc biệt quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế – xã hội gắn với đảm bảo an ninh – quốc phòng của quốc gia; tuy nhiên Gia Lai vẫn là một tỉnh nghèo, trình độ dân trí còn thấp nên chính vì vậy, việc quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nghề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm để dịch chuyển cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao và coi đó là một nhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển kinh tế – xã hội nói chung.

Mặc dù việc quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nghề tại tỉnh Gia Lai nhằm dịch chuyển cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao đã góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế – xã hội tuy nhiên hiệu quả quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nghề tại tỉnh Gia Lai chỉ cơ bản đáp ứng yêu cầu các chỉ tiêu mà tỉnh đã đề ra nhưng còn ở mức độ thấp, tính hiệu quả chưa cao, còn một số tồn tại, hạn chế như: Một số cơ sở đào tạo không sát nhu cầu thực tế, chưa giải quyết được yêu cầu cấp bách, tính ưu tiên trong việc đào tạo lao động; quyết định đầu tư xây dựng chưa đồng bộ; Chất lượng đào tạo còn thấp…Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, tỉnh Gia Lai cần phải cải thiện, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn, đó là yêu cầu cấp thiết, vừa có tính thời sự, vừa có ý nghĩa thực tiễn.

Từ thực trạng trên cũng như những kiến thức lý luận được đào tạo và kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác tại Sở Nội vụ tỉnh Gia Lai, với mong muốn nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương và tối ưu việc sử dụng đội ngũ cán bộ giảng dạy, cơ sở vật chất tại các cơ sở đào tạo nghề một cách hiệu quả thì việc quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nghề ở tỉnh Gia Lai đang là một thực tiễn cần được đầu tư nghiên cứu thực trạng, đóng góp những đề xuất, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nghề cho địa phương. Chính vì vậy, học viên lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai” làm luận văn cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế của mình.

Quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai
Quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Từ phân tích thực tiễn tại đề tài quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Trên cơ sở lý luận và nghiên cứu về đào tạo nghề và thực trạng chất lượng cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai, đưa ra các biện pháp khắc phục tồn tại, các giải pháp trong thời gian tới về nâng cao chất lượng cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh.

2.2 Mục tiêu cụ thể

Để thực hiện được mục tiêu trên, mục tiêu cụ thể đặt ra là:

– Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nghề.

– Phân tích thực trạng quản lý hệ thống các cơ sở đào tạo nghề cho lao động tỉnh Gia Lai để đánh giá những thành công, cũng như hạn chế và nguyên nhân.

– Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý, phát triển các cơ sở đào tạo nghề của tỉnh Gia Lai trong thời gian từ nay đến năm 2020.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề về chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai, các hoạt động đào tạo và chất lượng đào nghề tại các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

Phạm vi nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Thời gian: từ năm 2015 đến năm 2020. Nội dung: luận văn chỉ nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh.

4. Phương pháp nghiên cứu

Để có được nhưng thông tin dữ liệu cần thiết để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Quản lý nhà nước về các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

4.1. Phương pháp thu thập số liệu:

Phương pháp thu thập tài liệu được sử nhằm thu thập tài liệu liên quan đến luận án gồm tài liệu từ các luật, văn bản quy phạm pháp luật, các số liệu thống kê chính thức của UBND, Sở Lao động thương binh và xã hội, Sở Nội vụ….; Các bài báo, tạp chí khoa học chuyên ngành, kết luận phân tích, đã được các học giả khác thực hiện;

Phương pháp thu thập tài liệu tại các cơ quan liên quan từ Trung ương (Bộ Lao động Thương binh và xã hội). Thực hiện thu thập tài liệu ở các cơ quan liên quan tại địa phương (Sở Nội vụ, Sở Lao động thương binh và xã hội, Sở tài chính, Cục thống kê và phòng, Ban có liên quan của các, huyện, thị xã, thành phố.). Dựa vào các tài liệu thu thập, tiến hành phân tích việc thực hiện công tác quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

Các số liệu điều tra thu thập được không mang ý nghĩa thống kê mà chỉ mang ý nghĩa minh chứng cho những đánh giá về công tác quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

4.2. Phương pháp phân tích:

Để phân tích nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ niên giám thống kê và báo cáo tổng kết Chương trình của địa phương nhằm phản ánh thực trạng quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

Phân tích là tổng hợp các phương pháp đo lường và trình bày số liệu; kết hợp cả phương pháp định tính và định lượng, trong đó phương pháp định tính đóng vai trò chủ đạo và các phân tích định lượng đóng vai trò minh họa, hỗ trợ. Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở kết hợp so sánh các phương án thực hiện, tổng hợp kết quả và rút ra những bài học kinh nghiệm, xây dựng các giải pháp mang tính chiến lược và thực tiễn cho tỉnh Gia Lai. Phương pháp phân tích thống kê mô tả được sử dụng để mô tả đặc tính của các biến trong bảng khảo sát như giá trị trung bình, tỷ lệ phần trăm. Các kết quả nghiên cứu sau khi được xử lý sẽ được trình bày trong luận văn dưới dạng các con số rời rạc, bảng số liệu, biểu đồ, đồ thị…

4.3. Phương pháp phân tích, so sánh:

Đề tài sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp trong việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hoạt động quản lý nhà nước đối với cơ sở đào tạo nghề, tra cứu các Luật, Nghị định, Nghị quyết, quyết định, thông tư hướng dẫn…của Nhà nước, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội; Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ về hoạt động quản lý nhà nước đối với cơ sở đào tạo nghề. So sánh với một vài tỉnh khác có cùng điều kiện tự nhiên kinh tế – xã hội, từ đó tổng hợp và rút ra các lý luận và góp ý đối với Gia Lai. Trên cơ sở các chỉ tiêu đã được tính toán, có thể so sánh việc thực hiện các tiêu chí quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai giữa các năm khác nhau để đánh giá kết quả quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai … nhằm rút ra những ưu điểm, những hạn chế của đối tượng làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp phù hợp.

4.4. Phương pháp nghiên cứu khác

Luận văn sử dụng những phương pháp luận nghiên cứu lý thuyết tổng quát của khoa học kinh tế như: Kết hợp cả phương pháp định tính và định lượng để phân tích, tổng hợp… Thông tin định tính sẽ giúp cho việc phân tích sâu nhằm khẳng định về quan điểm, nhận thức, thái độ và khả năng của các đối tượng nghiên cứu, đồng thời làm sáng tỏ số liệu định lượng thu được. Thông tin định lượng sẽ giúp cho việc xác định thực trạng tìm ra tồn tại và nguyên nhân tồn tại, đồng thời làm cơ sở cho việc đưa ra những khuyến nghị, giải pháp về hoạt động quản lý nhà nước đối với cơ sở đào tạo nghề.

5. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

6. Kết cấu dự kiến của luận văn

Luận văn được kết ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo gồm có 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước về các cơ sở đào tạo nghề

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Chương 3: Giải pháp quản lý nhà nước về các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai

CHƯƠNG 1

VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ

1.1.1 Khái niệm về nghề, đào tạo nghề.

– Nghề: Là một hình thức phân công lao động, nó đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định như nghề mộc, nghề cơ khí…theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Nghề là một hình thức phân công lao động đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định.

Nghề nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, do sự phát triển của kỹ thuật điện tử nên đã hình thành công nghệ điện tử, do sự phát triển vũ bão của kỹ thuật máy tính đã hình thành cả một nền công nghệ tin học đồ sộ bao gồm phần cứng, phần mềm, thiết kế, chế tạo và các thiết bị bổ trợ v.v… Có rất nhiều nghề đã có thời kỳ gần như không thể thiếu trong đời sống xã hội trước đây nay đã mất đi như nghề thủ công, lao động chân tay (như nghề tồn tại hàng vài thế kỷ là nghề đóng cối xay lúa nhưng khi máy xay sát được đưa vào hoạt động thì nghề này không còn nữa) hoặc nghề công nghệ ở trình độ thấp (như nghề trực tổng đài điện thoại tại các cơ quan để nối đến các máy lẻ khi công nghệ viễn thông phát triển đã mất đi nhiều năm nay)

Ở nước ta các trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp và cao đẳng – đại học đào tạo trên dưới 300 nghề và bao gồm hàng nghìn chuyên môn. Từ các cách hiểu trên thì nghề là kết quả của sự phân công lao động xã hội theo đó xã hội phát triển thì ngành nghề cũng thay đổi theo.Và dưới góc độ đào tạo, nghề là toàn bộ các kiến thức, kỹ năng, thái độ, kinh nghiệm nghề nghiệp và các phẩm chất khác. Nghề thì ít nhất cũng phải trải qua đào tạo đào tạo dài hạn, bài bản; hoặc hướng dẫn kèm cặp.

Như vậy có rất nhiều nghề trong xã hội, trong khuôn khổ luận văn chỉ nghiên cứu nghề trong hệ thống nghề được đào tạo tại các cơ sở dạy nghề của địa phương bao gồm công nhân kỹ thuật được đào tạo chính quy tại các trường, lớp dạy nghề; nhân viên nghiệp vụ và phổ cập nghề cho người lao động.

– Đào tạo: là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ nghề nghiệp theo những tiêu chuẩn nhất định để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Do đó, đào tạo nghề: có nhiều cách tiếp cận khác nhau: Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả những nhiệm vụ liên quan đến công việc và nghề nghiệp được giao.

– Đào tạo nghề (dạy nghề) là hoạt động dạy và học tại nơi làm việc, các cơ sở dạy nghề, trung tâm đào tạo, các lớp học không chính quy nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học. Có thể hiểu đào tạo nghề chính là: (i) trang bị các kiến thức lý thuyết cho học viên một cách có hệ thống; (ii) rèn luyện các kỹ năng thực hành nghề nghiệp; (iii) rèn luyện thái độ, tác phong làm việc cho học viên trong phạm vi ngành nghề họ theo học nhằm giúp họ có thể làm một nghề nhất định. Đào tạo nghề không chỉ gắn với lý thuyết mà cần đảm bảo cho lao động có đầy đủ kỹ năng để tìm được một việc làm gắn liền với nghề nghiệp. Đào tạo nghề cho người lao động không chỉ liên quan đến dạy nghề mà liên quan cả đến sự phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên và mạng lưới các cơ sở đào tạo nghề

– Đặc điểm về đào tạo nghề: Đào tạo nghề là hoạt động đào tạo đặc thù, khác với các loại hình dạy học và đào tạo hàn lâm khác ở những đặc điểm chủ yếu sau: + Dạy nghề gắn chặt với với sản xuất, với doanh nghiệp, với việc làm, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường. Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo để người học trở thành người lao động trong các doanh nghiệp. + Là hoạt động đào tạo nghề nghiệp mang tính thực hành kỹ thuật cao, chiếm khoảng 80% thời gian học tập, có những nghề chiếm tới 90-100%. + Đối tượng học nghề là những người đã trưởng thành, thậm chí đã lớn tuổi. + Hình thức dạy nghề rất phong phú và đa dạng, bao gồm: dạy nghề dài hạn; dạy nghề ngắn hạn; dạy nghề theo modul; dạy nghề kèm cặp; dạy nghề lưu động…

Đào tạo nghề: “Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng, kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công việc hiện tại và trong tương lai”.

1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước về cơ sở đào tạo nghề

Khái niệm quản lý:

F.W.Taylor cho rằng “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó biết rằng họ đã hoàn thành công việc đó một cách tốt nhất và rẻ nhất”.

Theo lý thuyết hệ thống “Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống”

Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ rất lâu. Ngay từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng được hình thành như một tất yếu khách quan. Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nổ lực của cá nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, đều phải thừa nhận và chịu sự quản lý nào đó. Một cách chung nhất, quản lý có thể được hiểu là: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật.

Khái niệm quản lý nhà nước về đào tạo nghề:

Do đó, QLNN về đào tạo nghề là quản lý theo ngành do một cơ quan Trung ương và địa phương thực hiện. Đó là việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế và chính sách phát triển đào tạo nghề của đất nước phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã hội. QLNN trong lĩnh vực dạy nghề về bản chất là QLNN về giáo dục nhưng có đặc trưng riêng:

+ Chủ thể QLNN trong lĩnh vực dạy nghề là các cơ quan trong bộ máy Nhà nước từ Trung ương tới địa phương theo quy định của pháp luật; được quy định trong Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014 của Quốc hội

+ Đối tượng QLNN trong lĩnh vực dạy nghề: là mọi hoạt động dạy nghề.

+ Mục tiêu quản lý: đi sâu vào mục tiêu đào tạo kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp… đáp ứng với yêu cầu đặt ra.

Theo Nghị định 70 về Quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về dạy nghề của Thủ tướng chính phủ, ban hành năm 2009, nội dung về quản lý nhà nước về dạy nghề nói chung

Quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề là một khâu trong quản lý nhà nước về dạy nghề. QLNN trong lĩnh vực dạy nghề nói chung và cơ sở đào tạo nghề nhằm đề ra quy hoạch, kế hoạch tổng thể, đáp ứng những cân đối lớn của toàn bộ nền kinh tế, tránh hiện tượng đầu tư dàn trải, không hiệu quả; đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển dạy nghề. QLNN nghề nhằm hạn chế tiêu cực, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực dạy nghề.

Quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nghề là quản lý do các cơ quan trong bộ máy nhà nước làm chủ thể để định hướng điều hành, chi phối mọi hoạt động liên quan đến cơ sở đào tạo nghề bằng chiến lược, quy hoạch, chính sách, tổ chức hoạt động của các cơ sở dạy nghề, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý…nhằm đảm bảo các cơ sở đào tạo nghề, thực hiện được mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp đáp ứng được yêu cầu về số lượng và chất lượng theo sự phát triển của nền kinh tế và tiến trình hội nhập; đảm bảo tính kinh tế, hiệu lực hiệu quả của các cơ sở đào tạo nghề.

Nhà nước quản lý các cơ sở đào tạo nghề bằng quyền lực nhà nước theo quy định pháp luật; các cơ sở đào tạo nghề thực hiện đúng trách nhiệm và quyền hạn đối với tổ chức, cá nhân liên quan đến cơ sở đào tạo nghề.

1.1.3. Ý nghĩa của quản lý nhà nước về cơ sở đào tạo nghề

Cơ sở dạy nghề có vị trí và vai trò quan trọng vì nó là cơ sở đào tạo trực tiếp nguồn nhân lực cho xã hội; đào tạo 10 nghề có nhiệm vụ đào tạo người lao động về kiến thức, kỹ năng thực hành nghề, chuyên môn ở các cấp trình độ, có đủ khả năng tìm việc làm và năng lực tự tạo việc làm, năng lực thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng và thực tế sản xuất kinh doanh, gắn kết chặt chẽ với việc làm trong xã hội, liên thông với các trình độ đào tạo khác. Chương trình dạy nghề được đào tạo theo các trình độ: Sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề.

– Cơ sở đào tạo nghề đào tạo lực lượng lao động có trí tuệ, kỹ năng, trình độ chuyên môn, ý thức nghề nghiệp cao trực tiếp tham gia vào quá trình CNH, HĐH địa phương và quốc gia.

– Cơ sở đào tạo nghề trong quá trình công nghiệp hóa là tạo điều kiện nâng cao nhận thức của người lao động và toàn xã hội về học nghề, để có cơ hội việc làm hoặc tự tạo việc làm, có thu nhập vươn lên thoát nghèo và tự giải quyết các vấn đề cá nhân cũng như xã hội.

– Cơ sở đào tạo nghề đối với xã hội góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế đặc biệt là các đại phương thuần nông. Quá trình đào tạo có sở đào tạo nghề sẽ tạo lên một đội ngũ người lao động có tay nghề đa dạng có khả năng tìm kiếm việc làm hoặc tự tạo việc làm mới hay tự đứng ra tổ chức các loại hình sản xuất phù hợp với điều kiện sẵn có. Cùng với đó là sự thu hút các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp, từ đó, kích thích người lao động chuyển dịch từ khu vực nông thôn sang công nghiệp, dịch vụ, dám nghĩ dám làm hơn, có động lực chuyển nghề cao hơn, qua đó làm thay đổi cơ cấu lao động cũng như làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế ở khu vực kinh tế nông nghiệp.

– Cơ sở đào tạo nghề đào tạo lực lượng lao động tạo cơ hội cho người dân thực hành nhiều hơn đối với nghề lựa chọn theo học. Hiện nay, lao động nước ta chủ yêu xuất phát từ nông thôn, sản xuất nghề nông nghiệp theo kiểu kế thừa, kinh nghiệm truyền thống. Chính vì vậy quan niệm làm nghề nông nghiệp không cần học tập, đào tạo đã khiến cho trình độ canh tác, sản xuất nông nghiệp vẫn ở trình độ lạc hậu, chấm tiến, năng suất, chất lượng và hiệu quả, giá trị gia tăng rất thấp. Chính vì vậy, đào tạo nghề giúp cho người lao động khu vực này tăng năng xuất lao động.

– Cơ sở đào tạo nghề đối góp phần nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, xã hội và đời sống tinh thần của người dân, nhất là khu vực nông thôn. Phát triển đào tạo nghề đối cho người lao động sẽ thu hút được nhiều người với nhiều độ tuổi khác nhau tham gia vào các hoạt động giảng dạy, học tập, sáng tạo phát triển nghề mới, nâng cao hiệu quả ngành nghề cũ. Đồng thời đào tạo nghề cũng làm giảm thời gian nhàn rỗi nhờ đó hạn chế việc tham gia vào các hoạt động xã hội có tính chất tiêu cực, tệ nạn xã hội gây mất an ninh trật tự địa phương. Đào tạo nghề còn góp phần tích cực lưu giữ những nét đẹp của nông thôn, văn hóa truyền thống được phát huy bài trừ hủ tục, lạc hậu ra khỏi cộng đông dân cư. Từ các cá nhân học nghề thành công những người cùng nghề hình thành nên các hội nghề nghiệp hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau giữ gìn những vốn văn hóa quý của nghề nghiệp và đổi mới nghề phù hợp với yêu cầu hiện đại. Thứ sáu, đào tạo nghề đối đảm bảo thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề và tìm kiếm công việc trong bối cảnh thị trường lao động cạnh tranh ngày càng gay gắt. Phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Yếu tố con người, vốn con người đã trở thảnh một yếu tố quan trọng trong tăng trưởng kinh tế. Nhờ có nền tảng đào tạo nghê, người lao động nâng cao được kiến thức và kỹ năng nghề của mình, qua đó nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập; góp phần đảm bảo an sinh xã hội quốc gia.

Giáo dục đào tạo nghề là một thành tố và là thành tố quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định phát triển nguồn nhân lực. Muốn có nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường lao động, song song với các cơ chế chính sách sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, cần phải tăng cường đầu tư nâng cao chất lượng có sở đào tạo nghề từ đó giúp người lao động có việc làm, thu nhập, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần

1.2. NỘI DUNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CƠ SƠ ĐÀO TẠO NGHỀ

1.2.1. Ban hành và thực thi một hệ thống các văn bản pháp luật quy định về cơ sở đào tạo nghề

Kể từ khi tái lập Tổng cục Dạy nghề đến hết năm 2006, nhiều văn bản quy phạm pháp luật về dạy nghề đã được xây dựng, bổ sung, sửa đổi, ban hành. Các văn bản này đã tạo nên hành lang pháp lý phát triển đào tạo nghề trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Cùng với đó, Luật Giáo dục được ban hành năm 2005 và Chính phủ ban hành Nghị định số 02/2001/NĐ-CP ngày 09/01/2001 quy định chi tiết thi hành Bộ luật lao động và Luật Giáo dục về dạy nghề; tiếp đó là Nghị định số 139/2006/NĐ-CP ngày 20/11/2006 hướng dẫn thực hiện Luật giáo dục và Bộ luật Lao động về dạy nghề thay thế Nghị định số 02/2001/NĐ-CP. Trên cơ sở đó, hệ thống chính sách đào tạo nghề đã được hình thành tương đối đồng bộ.

Các pháp luật và chính sách về đào tạo nghề ngày càng được hoàn thiện. Đặc biệt, ngày 29/11/2006, Luật Dạy nghề đã được Quốc hội khóa XI thông qua và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/6/2007. Tiếp đó là, Nghị quyết số 03/2007/NQ-CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch hóa kinh tế – xã hội, đã giao cho Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội xây dựng trình Chính phủ đề án đổi mới đào tạo nghề.

Các sở, ngành, các cơ quan chuyên môn nghiên cứu, tham mưu điều chỉnh, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật bất cập so với thực tiễn; đồng thời xây dựng văn bản triển khai hướng dẫn thực hiện. Tham mưu xây dựng cơ chế, chính sách tổ chức cung ứng dịch vụ trên địa bàn và trong các đơn vị dạy nghề. Bên cạnh đó, trong quản lý các cơ sở đào tạo nghề cần xây dựng Quy hoạch phát triển mạng lưới trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề trên địa bàn địa phương.

Chính phủ và các cơ quan Chính phủ đã xây dựng và trình Quốc Hội ban hành các Luật, Nghị quyết trong lĩnh vực GDNN và các lĩnh vực có liên quan, gần đây nhất là Luật GDNN, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động GDNN trên phạm vi cả nước. Thực hiện chức năng quản lý thuộc thẩm quyền, Chính phủ cũng đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện Luật GDNN.

Theo thống kê, từ năm 2014 đến nay đã Chính phủ đã ban hành 5 Nghị quyết có liên quan đền GDNN; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 8 Quyết định có liên quan đến GDNN, trong đó có 02 Quyết định rất quan trọng là Quyết định 1981/QĐ-Ttg ngày 18/10/2016 về “Phê duyệt khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân”  và Quyết định 1982/QĐ-Ttg ngày 18/10/2016 về “Phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt nam”. Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, theo chức năng quản lý của mình, trong giai đoạn 2014-2020 cũng bàn hành 45 quyết định, thông tư và các văn bản khác điều hành, hướng dẫn các các hoạt động GDNN. Đây là những văn bản pháp luật rất quan trọng để triển khai Luật GDNN trong thực tiễn.

Theo đó chính sách, cơ chế có vai trò rất quan trọng không chỉ trong lĩnh vực cơ sở đào tạo nghề mà còn trong các lĩnh vực khác. Chính quyền địa phương cần ban hành và thực hiện các chính sách tốt và thực tiễn về hỗ trợ các cơ sở đào tạo nghề, chính sách hỗ trợ đất đai, hỗ trợ chi phí xây dựng, hỗ trợ chi phí tham gia các khóa hội thảo…các chính sách thu hút đầu tư xã hội hóa vào các cơ sở đào tạo nghề ở địa phương.

Việc đánh giá cần phải dựa trên các tiêu chí:

  • Số lượng văn bản ban hành (văn bản )
  • Số lần tuyên truyền phổ biến cho cơ sở (lần)
  • Thời gian các cơ sở nhận được văn bản (ngày)
  • Tỷ lệ người biết về văn bản (%)

1.2.2. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề

Bộ máy quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề gồm các có sở đào tạo thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đến các cơ sở đào tạo nghề tại cơ quan, đơn vị, địa phương (tỉnh, huyện, xã). Đồng thời, Nhà nước tiến hành phân cấp quản lý từ Trung ương đến địa phương. Hiện nay, Nhà nước đang hoàn thiện hơn nữa cơ chế quản lý, nhằm quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nghề ngày càng đạt chất lượng và hiệu quả hơn.

Nhìn chung bộ máy quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề vẫn còn nhiều bất cập, vẫn còn tình trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy quá cồng kềnh, nhiều đầu mối hoạt động kém hiệu quả, cần phải được cũng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực đảm bảo thực thi nhiệm vụ.

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề cần thực hiện một số nội dung sau:

– Rà soát, sắp xếp lại các cơ sở đào tạo nghề từ trung ương đến địa phương hợp lý, xem xét việc lựa chọn sát nhập những đơn vị không cần thiết, hoạt động thiếu hiệu quả nhằm tinh gọn lại bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động.

– Xây dựng các tiêu chí cụ thể đối với từng loại đơn vị thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước đảm bảo ổn định, chấm dứt tình trạng xác nhập, chia tách nhiều dẫn đến thiếu hiệu quả trong công tác quản lý.

– Quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh, tránh chồng chéo tạo lỗ hỗng trong quản lý.

Tiêu chí phản ánh

  • Mức độ hợp lý của Tổ chức bộ máy QLNN về Đào tạo nghề
  • Mức độ hợp lý về phân cấp, phân công trách nhiệm giữa các cơ quan QLNN về đào tạo nghề
  • Mức độ đảm bảo về Chất lượng đội ngũ cán bộ QLNN về Đào tạo nghề phù hợp

1.2.3. Quy hoạch và quản lý quy hoạch đào tạo nghề

Quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo nghề có thể gọi là quy hoạch phát triển mạng lưới các trường cao đẳng, trung cấp và trung tâm đào tạo nghề nhằm mục đích tổ chức hiệu quả việc đào tạo nghề cho lao động để trực tiếp tham gia vào các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của thị trường. Quy hoạch cơ sở đào tạo nghề là nhằm tạo ra một không gian phân bổ các cơ sở pháp lý để phát triển đào tạo nghề.

Xây dựng quy hoạch cần tập trung các nội dung chủ yếu sau đây:

– Xác định chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo cho các cơ sở đào tạo nghề qua các năm hay trong cả giai đoạn, trong đó phân chia cụ thể đối với các ngành nghề, các lĩnh vực cũng như các địa phương, các vùng kinh tế – xã hội.

– Mạng lưới cơ sở đào tạo nghề đảm bảo cho việc phát triển nguồn nhân lực đáp ứng cho thị trường lao động. Số lượng cơ sở đảm bảo cho quy mô tuyển sinh, cơ cấu mạng lưới cơ sở theo trình độ đào tạo, loại hình, cũng như theo từng địa phương, từng vùng kinh tế – xã hội phải hợp lý đáp ứng được yêu cầu.

– Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý đào tạo nghề để đảm bảo cho hoạt động mạng lưới cơ sở đào tạo nghề.

– Đầu tư và thiết bị đào tạo, cơ sở vật chất đủ tiêu chuẩn, đồng bộ đáp ứng yêu cầu dạy và học tại các cơ sở đào tạo nghề.

Chất lượng quy hoạch và phân bố cơ sở đào tạo nghề được thể hiện các nội dung sau: Quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo nghề phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển nhân lực của đất nước, của từng ngành, từng vùng, từng địa phương trong từng thời kỳ và phát huy năng lực, hiệu quả của các cơ sở đào tạo nghề; Quy hoạch phải tạo điều kiện thuận lợi và nhu cầu cho người học, nhất là người lao động nông thôn, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật; Quy hoạch phải theo hướng xã hội hóa, đảm bảo phù hợp với khả năng đầu tư của Nhà nước và khả năng huy động nguồn lực xã hội để phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo nghề chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực có kỹ năng nghề để phục vụ cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.

Sắp cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, ngoài công lập, bao gồm các trường, các trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh nâng cao chất lượng, hiệu quả đảm bảo đáp ứng nhu cầu của người học ở đầu vào, nhu cầu nhân lực của đầu ra phù hợp với thị trường lao động trong tỉnh và thị trường lao động trong nước; đảm bào nguồn lực triển khai quy hoạch theo lộ trình, phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực của ngành và địa phương.

Ban hành tiêu chuẩn, định mức cho cơ sở đào tạo nghề; tài liệu hướng dẫn quy hoạch phát triển giáo dục; rà soát mạng lưới và đánh giá cơ sở đào tạo nghề theo ngành nghề đào tạo, chất lượng hiệu quả hoạt động, điều kiện về huy động nguồn lực từ xã hội hóa; sáp nhập cơ sở đào tạo nghề công lập và hình thành trường cao đẳng cộng đồng đáp ứng tại chỗ nhu cầu học văn hóa, học nghề cho thanh niên và người lao động ở nông thôn; đề xuất cấp ủy, HĐND, UBND tỉnh phương án bố trí, sắp xếp quy hoạch các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh.

Các tiêu chí phản ánh

  • Quy hoạch mạng lưới ĐTN có tính kịp thời
  • Tỷ lệ cơ sở ĐTN nắm được thông tin về quy hoạch và quản lý quy hoạch;
  • Tỷ lệ đánh giá cơ sở ĐTN phân bố hợp lý theo quy hoạch
  • Tỷ lệ cơ sổ ĐTN bị xử lý vì thực hiện sai quy hoạch

1.2.4. Quản lý chương trình đào tạo nghề

Yếu tố là đầu tiên trong việc đảm bảo chất lượng của đào tạo nghề là quản lý chương trình đào tạo đối với các cơ sở đào tạo nghề. Chương trình đào tạo được thiết kế theo yêu cầu mục tiêu đào tạo. Câu hỏi chính khi thiết kế chương trình đó là: Dạy cái gì? Dạy như thế nào? Chương trình phải phản ánh mục tiêu tương ứng. Diễn đạt càng chi tiết, càng thuận lợi cho việc biên soạn giáo trình, bài giảng. Tổ chức quản lý và thực hiện nội dung chương trình đào tạo tại cơ sở đào tạo nghề để tạo ra sản phẩm cuối cùng của việc đào tạo nghề. Công tác quản lý này sẽ được tiếp cận từ mục tiêu, tiến trình, kết quả đầu ra, bằng việc đánh giá.

Nhà nước thực hiện quyền lực để điều chỉnh các hoạt động liên quan đến công tác xây dựng và thực hiện chỉ đạo để các cơ sở đào tạo nghề để thực hiện mục tiêu đề ra.

Chương trình đào tạo các cơ sở đào tạo nghề bao gồm: Hỗ trợ các cơ sở đào tạo nghề thẩm định, xây dựng ban hành các chương trình đào tạo nghề phải đảm bảo phù hợp với tình hình, nhu cầu thực tế đối với địa phương, trong mỗi giai đoạn cụ thể; Giám sát, đánh giá về việc tổ chức áp dụng chương trình đào tạo tại cơ sở đào tạo nghề. Đảm bảo thực hiện đúng, đầy đủ các nội dung đối với chương trình đào tạo đã ban hình; Cơ sở đào tạo nghề có chương trình đào tạo không phù hợp, lạc hậu cần phải được chấn chỉnh loại bỏ hoặc sữa đổi, bổ sung kịp thời để đảm bảo yêu cầu chất lượng đào tạo cho người học.

Tiêu chí đánh giá được thể hiện các nội dung cụ thể sau: Đảm bảo khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp; Thời gian học lý thuyết và thời gian học thực hành, thực tập hợp lý; Bảo đảm tính khoa học, hệ thống, thực tiễn và linh hoạt đáp ứng sự thay đổi của kỹ thuật công nghệ và thị trường lao động; Nội dung chương trình phù hợp với yêu cầu phát triển của ngành, địa phương, phù hợp với kỹ thuật công nghệ trong sản xuất, dịch vụ; Bảo đảm tính hiện đại và hội nhập quốc tế, có xu hướng tiếp cận với trình độ đào tạo nghề tiên tiến của khu vực và thế giới.

Quản lý và sử dụng các nguồn lực để phát triển đào tạo nghề. Muốn phát triển công tác đào tạo nghề cần có nhiều yếu tố, trong đó có vốn đầu tư. Ngân sách nhà nước là nguồn cung cấp tài chính lớn nhất cho giáo dục – đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng. Do đất nước còn nghèo nên tỷ lệ chi cho đào tạo nghề trong tổng chi ngân sách nhà nước còn ở mức hạn chế. Nhà nước đã đầu tư nhiều hơn cho công tác đào tạo nghề thông qua kinh phí của các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án. Nhà nước tổ chức chỉ đạo nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế đối với hoạt động đào tạo nghề.

Các tiêu chí phản ánh

  • Mức độ phù hợp của các chương trình độ đào tạo với thực tế
  • Mức độ phù hợp Phương pháp đào tạo trong các chương trình đào tạo
  • Tỷ lệ cơ sở ĐTN bảo đảm đủ điểu kiện về cơ sở vật chất và trang thiết bị cho chương trình đào tạo nghề
  • Tỷ lệ cơ sở ĐTN bảo đảm đủ điểu kiện đội ngũ giảng viên

1.2.5. Thanh kiểm tra hoạt động của các cơ sở đào tạo nghề

Nhà nước thực hiện thanh tra, kiểm tra hoạt động đào tạo nghề tại các cơ sở đào tạo nghề nhằm ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật về đào tạo nghề, đồng thời bảo vệ lợi ích của người học nghề. Qua công tác thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện những bất cập của cơ chế chính sách để kiến nghị với nhà nước sửa đổi cho phù hợp. Nhà nước giải quyết các khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm liên quan đến hoạt động đào tạo nghề tại các cơ sở đào tạo nghề.

Kiểm tra, giám sát trong đào tạo nghề tại các cơ sở đào tạo nghề là chức năng cuối cùng trong công tác quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề nhưng điều này không đồng nghĩa đây là chức năng thứ yếu mà ngược lại nó lại có chức năng rất quan trọng trong quá trình thực thi công tác quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề.

Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác QLNN về có sở đào tạo nghề, được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật. Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật, chính sách Nhà nuớc về dạy nghề tại các cơ sở đào tạo nghề; việc tổ chức và hoạt động của cơ sở đào tạo nghề; danh mục nghề đào tạo, việc thực hiện tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật nghề, mục tiêu, chương trình, nội dung phương pháp đào tạo, quy chế chuyên môn; quy chế thi tuyển, cấp chứng chỉ, sử dụng các nguồn lực đầu tư cho cơ sở đào tạo nghề… ở các trường, lớp và cơ sở được cấp giấy phép hoạt động đào tạo nghề và các hoạt động đào tạo nghề khác trong phạm tỉnh Gia Lai.

Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chức năng QLNN về lĩnh vực đào tạo nghề của địa phương. Đề xuất thực hiện nhiệm vụ Thanh tra, kiểm tra; bồi dưỡng nghiệp vụ về thanh tra dạy nghề. Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn quy định tại Pháp lệnh Thanh tra ngày 01/4/1990. Để thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, tổ chức hệ thống thanh tra đã được hình thành ở Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, trong đó thực hiện chức năng, nhiệm vụ đã được quy định, trong những năm qua, việc thanh kiểm tra trong lĩnh vực dạy nghề tại các cơ sở đào tạo nghề đã từng bước đi vào nền nếp và hoạt động có chiều sâu. Hàng năm, đều tiến hành xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra, kiểm tra hoạt động các cơ sở dạy nghề, soạn thảo văn bản hướng dẫn các đơn vị triển khai thực hiện. Nghị định số 73/2006/NĐ-CP ngày 31/7/2006 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dạy nghề; tham gia xây dựng Luật dạy nghề, Nghị định Chính phủ hướng dẫn Luật Giáo dục và Bộ luật Lao động về dạy nghề. Hoàn chỉnh việc xây dựng Thông tư hướng dẫn thực hiện một số Điều của Nghị định số 73/2006/NĐ-CP; Bổ sung xây dựng Thông tư hướng dẫn tổ chức và hoạt động của thanh tra đào tạo trong các trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề. Thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm, Thanh tra đã tiến hành thanh tra, kiểm tra trên 70% cơ sở dạy nghề tại các địa phương. Các cuộc thanh tra tâp trung chủ yếu vào các nhiệm vụ trọng tâm như: Tổ chức quá trình đào tạo và kết quả đào tạo tại cơ sở dạy nghề; việc thực hiện chương trình, nội dung, kế hoạch và bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ đào tạo; công tác giáo viên (số lượng, chất lượng đội ngũ nhà giáo; công tác quản lý, bồi dưỡng chuẩn hoá..); công tác quản lý, sử dụng biểu mẫu, sổ sách; lưu trữ hồ sơ; công tác quản lý và cấp bằng, chứng chỉ nghề… Đặc biệt, thanh tra đã đổi mới hoạt động trên cơ sở tăng cường công tác tự thanh tra, kiểm tra của các cơ sở dạy nghề. Cùng với việc hướng dẫn các cơ sở dạy nghề tự kiểm tra, đánh giá, các Sở Lao động- Thương binh và Xã hội đã tổ chức thanh tra toàn diện hoặc chuyên đề trên một số lĩnh vực trong phạm vi quản lý.

Có thể nói, công tác thanh, kiểm tra về dạy nghề thời gian qua đã bước đầu đi vào nền nếp, hướng tới thanh, kiểm tra toàn diện việc thực hiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực dạy nghề, kịp thời phát hiện, uốn nắn những sai phạm; hướng dẫn các cơ sở thực hiện đúng các quy định. Thanh tra dạy nghề cũng tiến hành phân cấp mạnh cho địa phương, cơ sở thông qua hoạt động tự kiểm tra, đánh giá, phân công thanh tra viên phụ trách vùng. Tuy nhiên, bộ máy thanh tra hiện nay còn khá mỏng. Do đó, việc thực hiện thanh tra tất cả các cơ sở dạy nghề cũng như toàn diện những lĩnh vực hoạt động gặp rất nhiều khó khăn.

Các tiêu chí phản ánh

  • Quy trình thanh kiểm tra của cơ quan chức năng hợp lý
  • Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật
  • Năng lực chuyên môn của cán bộ làm công tác thanh tra
  • Số lượng các cơ sở đào tạo nghề được thanh tra kiểm tra trong kế hoạch đầu năm
  • Số lượng các cơ sở đào tạo nghề đã được cơ quan chức năng phát hiện vi phạm

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ

1.3.1. Điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế xã hội

Tốc độ phát triển, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động: Trước hết việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho nhóm nghề nông nghiệp là góp phần đáp ứng nguồn nhân lực cho nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, phục vụ sự nghiệp xây dựng nông thôn mới và hướng tới sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, bền vững. Tiếp đó, đào tạo nghề hướng tới đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp sản xuất trong nước. Do vậy có thể nhận thấy mối liên kết chặt chẽ giữa đào tạo nghề với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Thực tế cho thấy từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Việt Nam đã từng bước hội nhập sâu rộng với kinh tế khu vực và thế giới. Tuy nhiên thời gian này cùng với sự khủng hoảng về kinh tế vấn đề về ngành nghề, đào tạo nghề chưa được coi trọng và gần như bỏ ngỏ. Hoặc nếu có thì chỉ là những buổi chuyển giao, tập huấn, xây dựng mô hình trình diễn.. hiệu quả thấp và thiếu thực tế. Chỉ đến khi nước ta bước qua giai đoạn khủng hoảng, nền phát triển kinh tế ổn định, mức tăng trưởng khá, GDP đầu người liên tục tăng và đặc biệt là từ khi Nhà nước có chủ trương thực hiện công cuộc xây dựng nông thôn mới thì nhu cầu học nghề người lao động mới tăng lên.

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ kéo theo sự chuyển dịch về cơ cấu lao động, việc làm. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm thu hẹp kinh tế khu vực nông nghiệp, buộc người lao động trong lĩnh vực này phải chuyển dịch tìm kiếm cơ hội việc làm trong lĩnh vực khác. Điều này đòi hỏi người lao động khu vực nông thôn hoạt động trong các ngành nông nghiệp phải được đào tạo nhằm thích ứng tốt hơn với yêu cầu sản xuất, canh tác, chăn nuôi mới có hàm lượng khoa học công nghệ cao, sản xuất có tính tập trung, thâm canh và theo hướng thị trường. Cơ hội, thách thức và yêu cầu của hội nhập kinh tế: Trong bối cảnh nước ta đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, bên cạnh những cơ hội thì vẫn còn đó rất nhiều khó khăn trở ngại. Thực tế cho thấy rằng nước ta vẫn đang là một nước nông nghiệp trình độ thấp, chất lượng nguồn nhân lực còn quá yếu, chủ yếu lao động phổ thông, ít tiếp thu cái mới và áp dụng khoa học kỹ thuật, sản lượng , chất lượng sản phẩm kém, giá trị thấp.. những điều này dẫn tới Việt Nam gặp nhiều bất lợi trong cạnh tranh khi tham gia thị trường quốc tế.

Sự gia tăng và cơ cấu dân số: Quy mô và cơ cấu dân số là nhân tố quyết định đến sự phát triển công tác đào tạo nghề. Mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương: có tác động mạnh mẽ đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở khu vực nông thôn. Chính vì vậy để phát triển các địa phương đều cần phải đầu tư vào các cơ sở đào tạo nghề nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

1.3.2. Nguồn lực đầu tư và chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề

Các chính sách và nguồn lực tài chính bền vững cho các cơ sở đào tạo nghề là một yếu tố quan trọng để thực hiện chức năng của các hệ thống cơ sở đào tạo nghề.

Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý đào tạo nghề và đối tượng học nghề; Cơ sở vật chất và tài chính phục vụ đào tạo nghề; Chúng ta cần lựa chọn đội ngũ giảng dạy có chất lượng, tay nghề chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp, nhiệt tình, sáng tạo và tâm huyết với nghề. Giảng viên cơ hữu, có thể là thỉnh giảng, đội ngũ quản lý từ cơ sở đào tạo đến cơ quan quản lý nhà nước.

Chương trình, giáo trình đào tạo nghề; Nội dung, phương pháp cho đào tạo nghề. Con người là yếu tố trung tâm của quá trình thực hiên chính sách đào tạo nghề, cấu thành nên tổ chức do đó tất cả các hoạt động trong tổ chức đều chịu sự tác động của nhân tố này. Chúng ta đều nhận thấy, con người khác với động vật là khả năng tư duy, do đó con người luôn có các nhu cầu khác nhau mà nhu cầu học tập và phát triển của người lao động ngày càng được chú trọng hơn. Nhân tố con người tác động đến đào tạo được chia ra làm hai nhân tố tác động đó là con người lao động (lao động trực tiếp) và con người quản lý (cán bộ quản lý).

Một yếu tố rất quan trọng của con người tác động đến công tác đào tạo đó là trình độ, nhận thức và khả năng tiếp nhận kiến thức của người lao động và người học. Tóm lại, người học là trung tâm của công tác đào tạo nghề, là nhân tổ ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến kết quả đào tạo và hiệu quả của chính sách đào tạo nghề.

Thái độ xã hội và nhận thức về chính sách đào tạo nghề. Giỏi nghề là một phẩm chất quý giá của người lao động, là cơ sở vững chắc để xã hội nhận thức và có việc làm và thu nhập ổn định thì công tác đào tạo nghề sẽ nhận được thêm nhiều nguồn lực hỗ trợ cần thiết của xã hội.

Kinh phí và các nguồn lực thực hiện chính sách: Như chúng ta đã biết nhân tố nguồn lực thực hiện chính sách là vô cùng quan trọng, muốn triển khai bất cứ một chính sách gì đều chịu ảnh hưởng của yếu tố tài chính, nếu kinh phí cho công tác đào tạo nghề được đảm bảo, ổn đinh thì có thể đem lại kết quả cao và là điều kiện để mở rộng qui mô cũng đào tạo. Ngược lại nếu nguồn lực kinh tế hạn chế, định mức chi cho đào tạo nghề thấp, thiếu ổn định sẽ dẫn tới hiệu quả chính sách không cao. Mục tiêu đào tạo nghề gắn chặt với vấn đề việc làm cho người lao động sau khi học nghề. Do đó, trang thiết bị dạy nghề càng tốt điều kiện cơ sở vật chất càng hiện đại bao nhiêu, theo phục vụ cho sản xuất sát với máy móc bao nhiêu thì người học nghề có thể thích ứng sản xuất trong doanh nghiệp bấy nhiêu.

Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng nhất của tất cả các nhà trường, việc phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất trong công tác quản lý của các cơ sở đào tạo nghề. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng như đã nêu ở trên. Tuy nhiên đối với công tác nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề chịu ảnh hưởng của các yếu tố:

– Yếu tố đầu vào: Chất lượng đầu vào của một nhà trường phụ thuộc vào chất lượng đầu vào của trường đó. Một trường tuyển được học sinh giỏi được xem là có chất lượng cao. Quan điểm này đã bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo liên tục trong một thời gian dài trong nhà trường. Sẽ khó giải thích một trường có nguồn lực đầu vào dồi dào nhưng chỉ có những hoạt động đào tạo hạn chế, hoặc ngược lại, một trường có những nguồn lực khiêm tốn nhưng đã cung cấp cho học sinh một chương trình đào tạo hiệu quả. Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận vai trò của chất lượng “đầu vào”, đặc biệt là đối với các hệ đào tạo nghề. Chất lượng đầu vào là cơ sở, là nền móng vững chắc để đảm bảo chất lượng quá trình đào tạo.

– Yếu tố thuộc quá trình đào tạo: Nội dung chương trình được thiết kế khi đã có mục tiêu đào tạo. Câu hỏi chính được trả lời khi thiết kế nội dung chương trình là: Dạy cái gì? Dạy như thế nào? Chương trình phải phản ánh mục tiêu tương ứng. Diễn đạt càng chi tiết càng thuận lợi cho việc biên soạn giáo trình, bài giảng. Chương trình đào tạo được thể hiện thông qua những nội dung sau:

– Thời gian đào tạo

– Kết cấu thời lượng từng nhóm kiến thức (cơ bản, cơ sở, ngành và bổ trợ)

– Thời lượng của từn học phần và kết cấu lý thuyết, thực hành

– Thời gian thực tập về ngành

Chất lượng của nội dung chương trình đào tạo phụ thuộc vào mức độ phù hợp của tất cả những nội dung trên. Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng đào tạo của học sinh các hệ đào tạo nghề thì cần chú trọng một số vấn đề sau:

– Bổ sung, hoàn thiện chương trình đào tạo, đảm bảo mức độ phù hợp cao nhất giữa lý thuyết và thực tiễn.

– Tăng cường tỷ trọng thời lượng của các môn ngành

– Tăng tỷ trọng thời lượng thực hành nghiệp vụ ngành

– Hoàn thiện nội dung môn học (chi tiết về nội dung khoa học, yêu cầu các yếu tố đảm bảo thực hiện nội dung, tiêu chí đánh giá và thước đo đánh giá mức độ đạt được của chất lượng kiến thức môn học).

– Đảm bảo tính linh hoạt, thống nhất giữa các môn học Như vậy, nội dung chương trình là yếu tố cơ bản quyết định chất lượng đào tạo. Vì vậy việc rà soát, bổ sung và hoàn chỉnh nội dung chương trình là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng hàng đầu của các cơ sở đào tạo.

Tổ chức quản lí đào tạo: Công tác tổ chức quản lí đào tạo về bản chất là triển khai thực hiện quản lý đào tạo theo chương trình đào tạo và quy chế đào tạo hiện hành thông qua kế hoạch đào tạo học kỳ, năm học và khóa học đã duyệt.

Nguyên tắc chung khi tổ chức quản lý đào tạo là:

– Triển khai đúng chương trình và kế hoạch khóa học đã duyệt;

– Thực hiện đúng quy chế đào tạo hiện hành;

– Không tự điều chỉnh, sửa đổi, vận dụng sai quy định. Trong trường hợp cần thiết phải có ý kiến phê duyệt của Ban giám hiệu;

– Đảm bảo lưu trữ đầy đủ, an toàn, tra cứu nhanh các tài liệu khi cần tìm. Nội dung của tổ chức quản lý đào tạo bao gồm: tổ chức bộ máy, tổ chức dạy học, tổ chức học và tổ chức đánh giá.

+ Thực chất của tổ chức dạy học là hàng loạt các công tác liên quan đến giáo viên. Từ việc cung cấp kế hoạch đào tạo, chương trình đào tạo theo từng học phần, hình thức đào tạo cho đến việc kiểm tra tiến trình dạy học và đánh giá học sinh của giáo viên mỗi học phần.

+ Tổ chức học là những phần việc liên quan đến học sinh như: tổ chức chỉnh huấn đầu khóa; phổ biến đầy đủ quy chế, chương trình học, quyền và nghĩa vụ của học sinh; phân lớp; quản lý học sinh; tổ chức các hoạt động của học sinh…trong cả khóa đào tạo.

Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học ngày càng đóng vai trò to lớn trong việc nâng cao chất lượng đào tạo. Xã hội càng phát triển tốc độ tiếp nhận và xử lý thông tin càng nhanh, mức độ phụ thuộc của con người vào máy móc thiết bị ngày càng cao. Trong lĩnh vực đào tạo, hỗ trợ các thiết bị giảng dạy ngày càng trở thành những sự trợ giúp không thể thiếu, là công cụ để tiếp nhận, khám phá tri thức. Để phát huy vai trò của trang thiết bị và cơ sở vật chất dạy học đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo thì thực hiện được những vấn đề sau:

– Quy hoạch khuôn viên hợp lý;

– Phòng học đạt tiêu chuẩn;

– Giáo trình, tài liệu tham khảo phong phú, đầy đủ;

– Thư viện, phòng đọc đủ chuẩn;

– Trang thiết bị dạy học như dụng cụ, đèn chiếu, hệ thống âm thanh, tivi…

– Đảm bảo đủ phòng thực hành, thí nghiệm phù hợp nghiệp vụ ngành;

– Trang bị mạng internet;

– Đảm bảo chỗ ở và khu vui chơi đạt chuẩn…

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1, đã trình bày một số lý luận về nghề, đào tạo nghề; Quản lý nhà nước về cơ sở đào tạo nghề; ý nghĩa tính chất của quản lý nhà nước về cơ sở giáo dục nghề nghiệp; các nội dung liên quan đến quản lý nhà nước về các cơ sở đào tạo nghề. Cụ thể như sau:

Nội dung một số lý luận về cơ sở đào tạo nghề, luận văn đã trình bày (1) Khái niệm về nghề, đào tạo nghề; (2) Quản lý nhà nước về cơ sở đào tạo nghề; ý nghĩa của quản ly nhà nước về cơ sở đào tạo nghề đào tạo nghề gắn liền với quá trình sản xuất; đào tạo nghề là dạy thực hành sản xuất. Các nội dung của quản lý nhà nước về cơ sở đào tạo nghề; ban hành thực thi hệ thống văn bản pháp luật; tổ chức bộ máy quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề; Quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo nghề, chương trình đào tạo nghề, hoạt động thanh tra kiểm tra.

Trên cơ sở quan điểm về quản lý, quản lý nhà nước và các đặt trưng của quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề luận văn đã: (1) Bổ sung thêm khái niệm quản lý đào tạo, cơ sở dào tạo nghề “là hoạt động quản lý của các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện việc định hướng điều hành, chi phối các hoạt động liên quan đến dạy nghề, thể hiện qua việc xây dựng các chiến lược, quy hoạch, chính sách, tổ chức hoạt động của các cơ sở dạy nghề, đào tạo bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý… nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng cả về số lượng và chất lượng để phát triển kinh tế – xã hội”. (2) Hoạch định, xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển giáo dục nghề nghiệp; tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về cơ sở đào tạo nghề; quy hoạch mạng lưới cơ sở cơ sở đào tạo nghề; tổ chức bộ máy quản lý nhà nước; quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo nghề; nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp; quản lý nội dung chương trình đào tạo nghề; kiểm tra, giám sát trong các cơ sở đào tạo nghề.

  • Luận văn đã tổng hợp, phân tích rõ 4 nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề đó là: Điều kiện kinh tế xã hội, nhu cầu của thị trường lao động; nhận thức của xã hội về cơ sở đào tạo nghề và nguồn lực tài chính đầu tư cho cơ sở đào tạo nghề.

Nội dung lý luận xây dựng ở Chương 1 là cơ sở để luận văn tiếp tục tiến hành đánh giá thực trạng cũng như đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới ở Chương 2 và Chương 3.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI

2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI

2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Gia Lai

Gia Lai là tỉnh miền núi nằm ở phía Bắc Tây Nguyên với diện tích 15.536,92 km². Dân số toàn tỉnh là 1.417.259 người, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 44,8%, chủ yếu dân tộc tại chỗ Bahnar và Jrai. Toàn tỉnh có 17 đơn vị hành chính gồm 14 huyện, 02 thị xã và 01 thành phố. Phía Bắc Gia Lai giáp tỉnh Kon Tum, phía Nam giáp tỉnh Đăk Lăk, phía Tây giáp Cam-pu-chia với 90 km là đường biên giới quốc gia, phía Đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên. Gia Lai có gần 500.000 ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp, trong đó có hơn 291.000 ha đất cho cây trồng hàng năm và hơn 208.000 ha cho cây lâu năm, 1.112.452,8 ha đất lâm nghiệp. Điều kiện tự nhiên của Gia Lai có rất nhiều tiềm năng để phát triển các ngành Nông – Lâm – Công nghiệp – Dịch vụ và Du lịch làm cơ sở cho việc đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động nhất là lao động các dân tộc thiểu số. Tỉnh Gia Lai với đặc thù là phần đông lao động tham gia sản xuất nông nghiệp cá thể và lao động người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao, đặc biệt tỷ lệ hộ nghèo trong dân tộc thiểu số rất cao (80%)

Theo Niên giám thống kê tỉnh Gia Lai 2020, thì: “Gia Lai có 17 đơn vị hành chính, bao gồm: Thành phố Pleiku, thị xã An Khê, Thị xã Ayun Pa và 14 huyện. Thành phố Pleiku là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và trung tâm thương mại của tỉnh, nơi hội tụ của 2 quốc lộ chiến lược của vùng Tây Nguyên là quốc lộ 14 theo hướng Bắc Nam và quốc lộ 19 theo hướng Đông Tây, là điều kiện thuận lợi để giao lưu phát triển KT-XH với vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, cả nước và trung tâm khu vực tam giác phát triển Việt Nam – Lào – Cam Phu Chia”.

Trong thời gian qua được sự quan tâm của Trung ương, sự lãnh đạo sâu sát của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh và sự đoàn kết thống nhất trong điều hành của UBND tỉnh nên tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng đều qua các năm, giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước, an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, công tác an sinh xã hội ngày càng đảm bảo. Tuy nhiên, do còn nhiều yếu tố tác động nên tình hình kinh tế – xã hội (KT-XH) tỉnh Gia Lai vẫn còn chậm phát triển. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng chậm phát triển là do đội ngũ người lao động (NLĐ) nói chung còn thiếu về số lượng, không đồng bộ về cơ cấu và chưa thực sự gắn kết với thực tiễn sản xuất và đời sống của địa phương. Do đó, nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng và đồng bộ nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng cường Công nghiệp và Dịch vụ; Gắn đào tạo với sử dụng, với thị trường lao động là một đòi hỏi bức xúc, có ý nghĩa quyết định để phát triển KT – XH trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.

Để đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương tỉnh đã quan tâm phát triển mạng lưới cơ sở Giáo dục nghề nghiệp; hiện nay trên địa bàn tỉnh có 20 cơ sở , trong đó: có 02 Trường cao đẳng (Cao đẳng Gia Lai; Cao đẳng nghề số 21); 16 Trung tâm GDNN-GDTX cấp huyện, thị (trừ T.P Pleiku) và 02 cơ sở đào tạo lái xe. Đội ngũ cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên (GV) thường xuyên được bổ sung và từng bước kiện toàn về số lượng và chất lượng. Trong những năm qua, các cơ sở Giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có những đóng góp đáng kể trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh và các tỉnh lân cận.

Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩn GRDP năm 2017 (theo giá so sánh 2010) 7,81%; trong đó: Nông – lâm nghiệp – thủy sản tăng 6,51%, công nghiệp – xây dựng tăng 7,94%, dịch vụ tăng 8,75%, thuế sản phẩm tăng 9,95%; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch phù hợp. GRDP bình quân đầu người đạt 41,58 triệu đồng.

Giá trị sản xuất đạt 99,1% kế hoạch, tăng 6,73% so với cùng kỳ. Tổng diện tích cây trồng 531.982ha, đạt 100% kế hoạch, tăng 1,2% so với cùng kỳ. Tổng vốn đầu tư trên địa bàn ước thực hiện 18.957,8 tỷ đồng, đạt 101% kế hoạch, tăng 11,2%.

Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 4.181 tỷ đồng, đạt 115,7% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 11,9% so với cùng kỳ. Tổng chi ngân sách địa phương ước đạt 101% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 14% so với cùng kỳ

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/QLNN CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *