Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở huyện Pu Vông tỉnh Ắttapư Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Đảng và Nhà nước Lào luôn luôn chú trọng phát triển sự nghiệp giáo dục, trong Hội nghị Đại biểu Toàn Quốc lần thứ IV của Đảng Nhân Dân Cách Mạng Lào coi giáo dục là Quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và nêu “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh. Giáo viên phải có tâm, có tầm, có sức và đủ đức, đủ tài [24].
Trong những năm qua giáo dục của Lào đã đạt được những thành tựu đáng kể góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giáo dục đã phát triển mạnh, tăng nhanh về quy mô, đồng thời chất lượng giáo dục và đào tạo có tiến bộ và cải thiện ở một số mặt. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng, tỷ lệ giáo viên và cán bộ quản lý đạt chuẩn và trên chuẩn tương đối cao, với cơ cấu đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý về trình độ, thâm niên, vùng miền… ngày càng hợp lý.
Giáo dục và thể thao là nguồn động lực quan trọng thúc đẩy sử phát triển xã hội. Sự nghiệp phát triển giáo dục và thể thao Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào vẫn còn gặp khó khăn, chưa tương xứng với vị trí quốc sách hàng đầu. Chất lượng giáo dục nhìn chung vẫn còn thấp, công tác quản lý giáo dục vẫn còn nhiều hạn chế.
Chiến lược phát triển Giáo dục và Thể thao 20 năm (2001-2020), chỉ rõ “Năng lực của cán bộ quản lý giáo dục các cấp chưa được chú trọng nâng cao. Một số cán bộ quản lý và giáo viên suy giảm về phẩm chất đạo đức”[26]. Nhằm khắc phục nguyên nhân yếu kém, trong Hội nghị Đại biểu Toàn Quốc lần thứ XI của Đảng Nhân Dân Cách Mạng Lào đã khẳng định giải pháp then chốt là đổi mới nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong giáo dục. Theo những báo cáo gần đây của Bộ Giáo dục và Thể thao của nước Lào, Riêng là chất lượng và hiệu quả giáo dục huyện Pu Vông, tỉnh Ắttapư còn nhiều bất cập chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tỷ lệ học sinh trung học cở sở còn thấp, chất lượng giáo dục toàn diện chưa cao, cơ sở vật chất của nhà trường còn gặp nhiều khó khăn, đội ngũ giáo viên còn thiếu và yếu. Một trong những nguyên nhân tình trạng trên là việc quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên còn nhiều bất cập, tư duy giáo dục chưa theo kịp yêu cầu đổi mới hiện nay. Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên còn thiếu và yếu, có nhiều cán bộ quản lý và giáo viên chưa được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý giáo dục trung học cơ sở ở huyện Pu Vông tỉnh Ắttapư nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Hiện nay, do việc đổi mới công nghệ và toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế về giáo dục, trong nền giáo dục mới có sự chuyển đổi cơ bản vai trò, vị trí của người thầy. Do đó, nhiệm vụ người dạy cũng cần phải thay đổi: Giáo viên không chỉ là người dạy học trên lớp học, một người làm nhiệm vụ truyền thụ kiến thức là chính, người cung cấp thông tin, mà trở thành người tổ chức, hướng dẫn quá trình học của học sinh. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục hiện nay còn bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, một bộ phận nhỏ cán bộ giáo viên thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp; Đầu tư cho giáo dục và thể thao chưa hiệu quả; Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục và thể thao chưa phù hợp; Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn …
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc trung học cơ sở là cầu nối giữa Tiểu học với trung học phổ thông. Bậc giáo dục trung học cơ sở có một vị trí rất quan trọng trong chiến lược phát triển giáo dục trong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Không còn con đường nào khác cần phải tiếp tục bồi dưỡng giáo viên nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
Những năm qua các trường trung học cơ sở ở huyện Pu Vông, tỉnh Ắttapư, Lào đã tích cực, chủ động bồi dưỡng giáo viên, góp phần xây dựng đội ngũ giáo viên có phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị tốt, năng lực chuyên môn đạt và trên chuẩn trình độ đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo. Tuy nhiên, hoạt động bồi dưỡng giáo viên còn có hạn chế về chất lượng và hiệu quả do việc xác định mục tiêu, hình thức và phương pháp bồi dưỡng chưa phù hợp; đặc biệt còn có những hạn chế, bất cập về quản lý hoạt động này. Ngay trong đội ngũ giáo viên vẫn còn người nhận thức chưa đầy đủ về vị trí, vai trò của hoạt động bồi dưỡng, tự bồi dưỡng. Chính vì vậy, ở các trường trung học cơ sở của huyện Pu Vông, đội ngũ giáo viên chất lượng chưa cao, ảnh hưởng đến chất lượng dạy học và giáo dục, chưa đáp ứng với nhu cầu phát triển và sử dụng công nghệ ngày càng cao của xã hội.
Theo báo cáo tổng kết từ các năm học 2018 – 2019, 2019 – 2020, 2020 – 2021 và 2021 – 2022 của Phòng giáo dục và đào tạo huyện Pu Vông, tỉnh Ắttapư chất lượng, hiệu quả giáo dục và thể thao còn thấp so với yêu cầu, nội dung và phương pháp giáo dục còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành. Do đó, học sinh sau khi tốt nghiệp hạn chế về năng lực và kĩ năng sống. Tỉ lệ học sinh hoàn thành chương trình trung học cơ sở đạt 89%, nhưng kết quả thi vào lớp 10 của học sinh thấp, học sinh đạt điểm 5 môn Văn và môn Toán chỉ chiếm tỉ lệ 32.5% tổng số học sinh dự thi của toàn huyện [32].
Như vậy, việc quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở huyện Pu Vông tỉnh Ắttapư nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào có đủ phẩm chất, năng lực chuyên môn nghiệp vụ năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu giáo dục bậc học trung học cơ sở, bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân là vấn đề cấp thiết.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở huyện Pu Vông tỉnh Ắttapư Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” để nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viện để góp phần nâng cao hiệu quả trong quá trình quản lý hoạt đông bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở huyện Pu Vông, tỉnh Ắttapư nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào để đáp ứng theo yêu cầu từng giai đoạn của giáo dục và thể thao hiện nay.

3.1. Nghiên cứu lý luận về Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên để thiết lập cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở.
3.2. Khảo sát, đánh giá các yếu tố chính của thực trạng quản lí hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở huyện Pu Vông, tỉnh Ắttapư nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
3.3. Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở huyện Pu Vông tỉnh Ắttapư nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở huyện Pu Vông tỉnh Ắttapư nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng thường xuyên giáo viên trung học cơ sở huyện Pu Vông tỉnh Ắttapư nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào để từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng thường xuyên giáo viên trung học cơ sở.
Số liệu sử dụng trong luận văn được khảo sát qua các năm học 2018-2019, 2019- 2020, 2020 – 2021, 2021 – 2022 và 2022 – 2023.
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích các văn bản về chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về Giáo dục và Thể thao, các văn bản của ngành giáo dục và thể thao có liên quan đến đề tài.
Phân tích, tổng hợp, so sánh các tài liệu khoa học về quản lý, quản lý giáo dục và quản lý bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở ở các trường Trung học có liên quan đến đề tài.
Nghiên cứu các loại sách báo, tạp chí có liên quan đến đề tài.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra, khảo sát bằng bảng hỏi
Quan sát, điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn.
Thu thập các tài liệu thực tế, tìm hiểu các đặc trưng, tính chất của vấn đề.
Sử dụng hệ thống câu hỏi đối với cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên các trường nghiên cứu để thu thập số liệu, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên.
7.2.2. Phương pháp phân tích tài liệu
Nghiên cứu các kế hoạch của nhà trường, các tài liệu, các loại báo cáo sơ kết, tổng kết, báo cáo chuyên đề, các loại số liệu… để nhận định, đánh giá đúng thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên. Phân tích được nguyên nhân để đề ra biện pháp phù hợp.
7.2.3. Phương pháp tổng hợp
Nghiên cứu và tổng kết thực tiễn quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mà các biện pháp của nó mang lại giá trị thực tiễn và lý luận để phổ biến. Đồng thời phát hiện một số tiêu cực để ngăn ngừa. Từ đó làm cơ sở xây dựng các biện pháp cho đề tài.
7.2.4. Phương pháp khảo nghiệm tính hợp lý và khả thi của các biện pháp
Sử dụng bảng hỏi các biện pháp đề xuất với các cán bộ quản lý, giáo viên để tìm ra tính cần thiết và khả thi của các biện pháp.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Dùng phương pháp thống kê để xử lý số liệu điều tra.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở huyện Pu Vông tỉnh Ắttapư nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở huyện Pu Vông tỉnh Ắttapư nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.2. Các khái niệm chính của đề tài
Quản lí là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Quản lí đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn. Nghiên cứu về quản lí sẽ giúp cho con người có được những kiến thức cơ bản nhất, chung nhất đối với các hoạt động quản lí [10].
F.W.Taylor (1856-1915) – người Mỹ và Henry Fayol (1841-1925), người Pháp được xem như là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học. Các ông đã khẳng định hoạt động quản lý ở bất kì tổ chức nào cũng đều có các hoạt động cơ bản liên quan đến các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra trên cơ sở thu thập và xử lí thông tin. Mục tiêu của quản lí là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Quản lí đúng tức là con người đã nhân thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn. Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nổ lực của cả nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vị rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lí nào đó. Tác giả người Mỹ Harold Koontz, trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” đã đưa ra khái niệm: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức)” [9].
C.Mác xem quản lý là kết quả tất yếu của quá trình phát triển lao động xã hội. Ông đã viết: “Tất cả mội lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cả nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bô cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [3].
Quản lí theo Tự điển Tiếng Việt thông dụng (Nhà xuất bản Giáo Dục, 1998) là: Tổ chức điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan và theo Từ điển giáo dục học: “Quản lí là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lí trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [21].
Các tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc đưa ra quan niệm: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận động tối đa các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra” [4].
Quản lý là sự tác động liên tục có định hướng, có mục đích có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) đến khách thể quản lý (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế…bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường, làm cho tổ chức hoạt động có hiệu quả [6].
Theo tác giả Trần Kiểm, quá trình quản lý diễn ra các hoạt động cụ thể của chủ thể quản lý với sự tham gia tích cực của các thành viên trong tổ chức với 4 chức năng: Lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo/chỉ đạo và kiểm tra.
Tất cả các chức năng đều cần đến yếu tố thông tin. Thông tin đầy đủ, khách quan, kịp thời, cập nhật, chính xác là một căn cứ để hoạch định kế hoạch. Thông tin cũng cần cho các bộ phận trong cơ cấu tổ chức, là chất liệu tạo quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức. Trong thông tin truyền tải mệnh lệnh chỉ đạo (thông tin xuôi) và phản hồi (thông tin ngược) diễn biến hoạt động của tổ chức. Và thông tin từ kết quả hoạt động của tổ chức giúp cho người quản lý xem xét các mức độ đạt được mục tiêu của toàn tổ chức.
Các chức năng nêu trên xen nhau, tác động, bổ sung lẫn nhau để hoàn thiện cả quá trình quản lý [12].
Thông tin phục vụ quản lý
(chỉ đạo)
Chức năng kế hoạch hóa
Chức năng tổ chức
(nhân sự)
Chức năng lãnh đạo
(chỉ đạo)
Chức năng kiểm tra
Ngày nay thuật ngữ quản lí đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất. Có người cho quản lí là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác. Cũng có người cho quản lí là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nỗ lực cả nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Tuy nhiên theo nghĩa rộng, quản lí là hoạt động có mục đích của con người, cho đến nay nhiều người cho rằng: Quản lí chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người đều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn. Từ những ý chung của các định nghĩa và xét quản lí với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa: Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí tới đối tượng QL nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng nhất là lĩnh vực hoạt động xã hội, nhằm đạt được những kinh nghiệm xã hội, lịch sử chuẩn bị cho thế hệ trẻ thành lực lượng tiếp nối sự phát triển của xã hội, kế thừa và phát triển nền văn hóa của loài người và của cả dân tộc.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát, là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành của hệ thống giáo dục quốc dân, điều hành các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển của xã hội (Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài) [1].
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Quản lý giáo dục là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra” [13].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [16].
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường hay nói rộng ra là quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định” [8].
Như vậy, quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong lĩnh vực giáo dục bằng những tác động có hệ thống, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục quốc dân, cơ sở giáo dục. Nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và bồi dưỡng nhân tài.
Theo Điều 66, 67 của Luật giáo dục 2019, như sau:
“Điều 66. Vị trí, vai trò của nhà giáo
1. Nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong cơ sở giáo dục, trừ cơ sở giáo dục quy định tại điểm c khoản 1 Điều 65 của Luật này.
Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục khác, giảng dạy trình độ sơ cấp, trung cấp gọi là giáo viên; nhà giáo giảng dạy từ trình độ cao đẳng trở lên gọi là giảng viên.
2. Nhà giáo có vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục, có vị thế quan trọng trong xã hội, được xã hội tôn vinh.
Điều 67. Tiêu chuẩn của nhà giáo
Nhà giáo phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây:
1. Có phẩm chất, tư tưởng, đạo đức tốt;
2. Đáp ứng chuẩn nghề nghiệp theo vị trí việc làm;
3. Có kỹ năng cập nhật, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ;
4. Bảo đảm sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp.”
Cũng theo Luật Giáo dục, chuẩn trình độ GV THCS là: Có bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên trở lên đối với giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông (Điều 72, mục b). Định hướng theo các tiêu chuẩn nêu trên, Bộ GD&ĐT đã ban hành những quy định cụ thể về trình độ được đào tạo chuẩn của GV THCS.
1.2.4. Giáo viên trung học cơ sở
Từ định nghĩa về GV nêu trên, ta có thể hiểu GV THCS là GV tham gia hoạt động dạy học trong trường THCS, trường phổ thông nhiều cấp, trong đó có cấp THCS. Theo Thông tư số 16/2017/TT-BGD của Bộ GD&ĐT năm 2017 về Khung vị trí việc làm trong trường THCS có đưa ra khái niệm “vị trí việc làm GV THCS” – đó là “những người gắn với công việc hoạt động nghề nghiệp” trong trường THCS. Ngoài ra có thể có một vị trí việc làm là Tổng phụ trách đội được hiệu trưởng bổ nhiệm hằng năm. Tuy nhiên những khái niệm này mang nặng tính tổ chức, là những quy định về định mức biên chế, không phải định nghĩa về GV mà chỉ là khái niệm “vị trí việc làm của GV THCS”.
1). Hoạt động Bồi dưỡng
Theo Từ điển Tiếng Việt hoạt động được định nghĩa là: “Tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội” [23].
Bồi dưỡng là làm nâng cao trình độ nghề nghiệp. Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn của bản thân để đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng lực và phẩm chất” [22].
Bồi dưỡng là quá trình giáo dục có kế hoạch nhằm tăng giá trị con người, làm biến đổi thái độ, kiến thức, kỹ năng thông qua việc thu thập, xử lý thông tin thực tế trong một hoạt động hoặc chuỗi nhu cầu hành động nhằm nâng cao giá trị nhân cách, nâng cao năng suất và hiệu quả công việc. Sau khi được bồi dưỡng, năng lực cá nhân được gia tăng, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực trong hiện tại và trong tương lai của tổ chức [14].
Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức, kỹ năng vận dụng kiến thức để bù đắp kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu so với nhu cầu phát triển của xã hội, thường được xác định bằng chứng chỉ. Do đó bồi dưỡng có những yếu tố cơ bản là:
Mục đích/ mục tiêu bồi dưỡng: Nhằm nâng cao phẩm chất, chuyên môn để người lao động có cơ hội củng cố, mở mang hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để đạt được hiệu quả công việc đang làm.
Nội dung bồi dưỡng: Tập trung vào các lĩnh vực kiến thức hoặc kỹ năng mới.
Phương pháp bồi dưỡng cần phù hợp với nội dung, thiết thực và hiệu quả. Ngoài việc tổ chức nghe giảng còn tổ chức thảo luận, đối thoại, thực hành thao giảng, tham quan thực tế, thực hành soạn bài.
Hình thức bồi dưỡng: Thông qua các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuẩn hóa và nâng chuẩn, bồi dưỡng thông qua sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn, thông qua cách tự học.
Kiểm tra, đánh giá, cấp chứng chỉ.
Đối tượng được bồi dưỡng phải có một trình độ chuyên môn nhất định, cần được bồi dưỡng thêm về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, chính trị, tin học, ngoại ngữ… để đáp ứng sự nghiệp giáo dục phục vụ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Họ có thể là học sinh, giáo viên các cấp, người lao động ở mọi lĩnh vực.
Chủ thể bồi dưỡng đòi hỏi phải là những nhà khoa học, nhà giáo, hoặc cán bộ quản lý, những chuyên gia có kiến thức chuyên môn sâu, rộng, có kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực mà họ thực hiện bồi dưỡng.
Tóm lại, bồi dưỡng thường chỉ cho hoạt động dạy và học nhằm bổ sung, bồi đắp thêm những kiến thức về tri thức, kỹ năng cho đối tượng được bồi dưỡng, làm giàu vốn hiểu biết, nâng cao hiệu quả trong quá trình lao động.
2). Giáo viên
Giáo viên được cho là người giảng dạy, giáo dục cho các học sinh, lên kế hoạch, tiến hành các tiết dạy học, thực hành và phát triển các khóa học nằm trong chương trình giảng dạy của nhà trường đồng thời cũng là người kiểm tra, ra đề bài, chấm điểm thi cho những học sinh để đánh giá chất lượng từng học học sinh.
Giáo viên được hiểu là người giảng dạy cho học sinh các kiến thức liên quan đến môn học đối với từng cấp học phù hợp với học sinh, Giáo viên có trách nhiệm thực hiện các bài giảng các tiết dạy của mình để mang kiến thức đến với học sinh. Ngoài ra thì nghề giáo viên cũng là nghề để giúp học sinh rèn luyện những kĩ năng cần thiết trong việc thực hành các kiến thức lý thuyết và các ren luyện cho học sinh về lễ nghĩa, sự lễ phép với người khác…bên cạnh đó giáo viên cùng người kiểm tra, ra đề, chấm điểm thi cho học sinh để đánh giá chất lượng, năng lực của từng học sinh theo quy chế của trường học và theo quyết định của Bộ giáo dục hướng dẫn. Ngoài ra thì giáo viên còn là người khởi xướng các hoạt động phong trào, các cuộc thi thực tế bổ ích và giúp cho học sinh tìm hiểu và khám phá ra những điều mới lạ từ các cuộc thi của mình.
Như chúng ta đã biết thì nghề nhà giáo có sứ mệnh cao cả là trồng người, bên cạnh trang bị cho học sinh những kiến thức và nghề giáo còn rèn luyện dạy dỗ học trò thành người có những phẩm chất tốt đẹp trong xã hội theo đó nên việc đảm bảo điều kiện của những người hoạt động trong nghề này cần phải yêu cầu có những trình độ chuẩn theo quy dịnh của pháp luật như có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, bằng cử nhân, bằng thạc sĩ… đối với những trường hợp cụ thể thi pháp luật có những yêu cầu riêng mà mỗi cá nhân phải thưc hiện theo.
Hoạt động bồi dưỡng giáo viên là một hoạt động có chủ đích nhằm cập nhật kiến thức mới tiến bộ hoặc nâng cao trình độ giáo viên để tăng thêm năng lực, phẩm chất theo yêu cầu của từng bậc học. Công tác bồi dưỡng được thực hiện trên nền tảng các loại trình độ đã được đào tạo cơ bản từ trước. Hoạt động bồi dưỡng là việc làm thường xuyên, liên tục cho mỗi giáo viên, cấp học, ngành học, không ngừng nâng cao trình độ của đội ngũ để thích ứng với đòi hỏi của nền kinh tế xã hội. Nội dung bồi dưỡng được triển khai ở các mức độ khác nhau, phù hợp cho từng đối tượng cụ thể [10.
Trong hoạt động bồi dưỡng giáo viên thì đối tượng được bồi dưỡng chính là các giáo viên, có trình độ phù hợp để đảm nhận công việc giảng dạy ở cấp học tương ứng. Họ cần được bồi dưỡng để cập nhật kiến thức về chính trị, kinh tế – xã hội, về chuyên môn nghiệp vụ nhằm nâng cao nhận thức chính trị, đạo đức lối sống, nâng cao tinh thần trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp; phát triển năng lực dạy học, năng lực giáo dục và những năng lực khác theo yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp giáo viên; nâng cao nhận thức và kĩ năng triển khai và thực hiện các nội dung, nhiệm vụ năm học và yêu cầu phát triển giáo dục của địa phương; tạo bước chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo của nhà trường.
Còn đối tượng bồi dưỡng là các nhà khoa học, nhà giáo, hoặc cán bộ quản lý, những chuyên gia có kiến thức chuyên môn sâu, rộng, có kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động dạy và học.
Hoạt động bồi dưỡng giáo viên gồm: Bồi dưỡng chuẩn hóa và nâng chuẩn; bồi dưỡng thường xuyên; bồi dưỡng các phương pháp, biện pháp, kỹ thuật dạy học tích cực; Bồi dưỡng chính trị; bồi dưỡng tại cơ sở giáo dục (nhà trường); bồi dưỡng thông qua sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn; Tự bồi dưỡng của giáo viên.
Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên là một nội dung trong quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, là một quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hoạt động bồi dưỡng giáo viên bằng việc vận dụng các chức năng quản lý (lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo/chỉ đạo, kiểm tra – đánh giá), nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu bồi dưỡng giáo viên đề ra [20].
Đối với cấp học trung học cơ sở, các cấp quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên có thể khái quát dưới dạng sơ đồ như sau:
Phòng giáo dục và Thể thao
Hiệu trưởng
Phó hiệu trưởng
Tổ trưởng tổ KHXH
Tổ trưởng tổ KHTN
Tổ trưởng tổ BC
GV
GV
GV
GV
GV
Sơ đồ 1.2. Các cấp quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở
Đối với cấp phòng: Chủ thể quản lý hoạt động bồi dưỡng là Trưởng phòng giáo dục và thể thao, đối tượng quản lý là cán bộ quản lý và giáo viên các trường trung học cơ sở.
Đối với cấp trường: Chủ thể quản lý hoạt động bồi dưỡng là Hiệu trưởng, đối tượng quản lý là Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng tổ chuyên môn và giáo viên.
Luận văn nghiên cứu quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở với chủ thể quản lý là Trưởng phòng giáo dục và thể thao. Nhưng trong quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên thì Hiệu trưởng các trường trung học cơ sở cũng đóng vai trò rất quan nên trong luận văn tác giả cũng có đề cập đến chủ thể quản lý là Hiệu trưởng các trường trung học cơ sở.
Có hai tiếp cận quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên, đó là tiếp cận theo nội dung và tiếp cận theo chức năng.
Tiếp cận theo nội dung, quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên gồm: Quản lý mục tiêu bồi dưỡng; Quản lý nội dung bồi dưỡng; Quản lý phương pháp bồi dưỡng; Quản lý hình thức bồi dưỡng; Quản lý các đối tượng tham gia bồi dưỡng (chủ thể bồi dưỡng và đối tượng được bồi dưỡng);
Tiếp cận theo chức năng, quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên gồm: Lập kế hoạch bồi dưỡng; Tổ chức hoạt động bồi dưỡng; Chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng; Kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng; Luận văn nghiên cứu quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở theo tiếp cận chức năng.
1.3. Lý luận về hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
Thực ra khi nói đến quá trình bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên có rất nhiều ý kiến cho rằng giáo viên phải thực sự là người am hiểu tri thức nhất, bởi công việc chính là dạy kiến thức cho người học, Dù là phương pháp truyền thống hay đổi mới, việc hiểu sâu kiến thức, nắm chắc kỹ năng của đội ngũ giáo viên trực tiếp đứng lớp luôn nắm giữ vai trò chủ đạo, quyết định thành bại của quá trình dạy học.
Chương trình và sách giáo khoa mới cũng đặt ra yêu cầu và đòi hỏi mới đối với các giáo viên và cả đội ngũ cán bộ quản lý. Theo các khách mời tham gia giao lưu trực tuyến trên báo giáo dục và thời đại về vấn đề bồi dưỡng giáo viên chuẩn bị cho triển khai chương trình và sách giáo khoa mới với lớp 6 đến lớp 9: Để thực hiện tốt nhiệm vụ, các giáo viên trực tiếp đứng lớp cần được bồi dưỡng, nắm chắc, hiểu sâu về nội dung chương trình, làm chủ các kỹ năng dạy học để truyền đạt kiến thức cho học trò một cách hiệu quả nhất.
Xuất phát từ mục tiêu về xây dựng đội ngũ giáo viên trong đổi mới giáo dục hiện nay thì mục tiêu bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở cũng cần phải thay đổi, để đáp ứng yêu cầu về tổ chức, thực hiện các hoạt động dạy học, giáo dục theo yêu cầu đổi mới. Bồi dưỡng trang bị cho giáo viên những kiến thức, kĩ năng mới về dạy học, giáo dục về phát triển chương trình giáo dục, các kỹ năng tổ chức, quản lý lớp học, quản lý nhà trường và các kỹ năng bổ trợ khác. Trên cơ sở đó hình thành ở giáo viên tính sẵn sàng tham gia hoạt động đổi mới giáo dục trung học cơ sở ở địa phương.
Phòng Giáo dục và Thể thao đơn vị tổ chức bồi dưỡng quán triệt mục tiêu bồi dưỡng trong suốt quá trình bồi dưỡng nhằm đảm bảo tính mục đích trong quá trình bồi dưỡng và đem lại hiệu quả cho hoạt động bồi dưỡng. Nâng cao trách nhiệm của từng thành viên tham gia nhằm đạt được mục tiêu bồi dưỡng từ việc biên soạn tài liệu đến soạn giáo án, tổ chức tập huấn đến kiểm tra, đánh giá kết quả đạt được của hoạt động bồi dưỡng đều phải quán triệt mục tiêu bồi dưỡng cho giáo viên.
Các trường trung học cơ sở dựa vào các căn cứ để xác định mục tiêu như cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn, thực trạng của đơn vị, khả năng đáp ứng các nguồn lực. Từ đó, lựa chọn các mục tiêu khả thi, quán triệt mục tiêu bồi dưỡng tới toàn thể giáo viên trong đơn vị.
Công cuộc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đã đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động bồi dưỡng giáo viên, nội dung bồi dưỡng chuyển từ bồi dưỡng nặng về kiến thức sang việc bồi dưỡng nâng cao năng lực.
Dựa trên những yêu cầu của chương trình giáo dục trung học cơ sở và yêu cầu của hoạt động bồi dưỡng giáo viên trong giai đoạn mới, khảo sát năng lực hiện có của giáo viên trung học cơ sở trên địa bàn, từ đó xác định các nội dung bồi dưỡng xoay quanh các nội dung cơ bản: Bồi dưỡng những kiến thức, kỹ năng nền tảng nâng cao năng lực theo Chuẩn nghề nghiệp; Bồi dưỡng kỹ năng dạy học tích hợp và dạy học theo chủ đề; Bồi dưỡng năng lực phát triển chương trình giáo dục nhà trường ở trường trung học cơ sở; Bồi dưỡng kỹ năng phối hợp với cha mẹ học sinh, cộng đồng địa phương và các tổ chức xã hội để tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo, hoạt động giáo dục học sinh và quản lý học sinh; Bồi dưỡng về kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh; Bồi dưỡng các phương pháp, biện pháp, kỹ thuật dạy học tích cực; Bồi dưỡng năng lực ứng dụng công nghệ thông tin, ngoại ngữ trong dạy học, giáo dục và quản lý trường học nhằm khai thác tốt những tài liệu chưa dịch sang tiếng Lào; Bồi dưỡng kiến thức về chính trị, về bộ môn phụ trách; Bồi dưỡng kỹ năng hoạt động xã hội cho giáo viên trung học cơ sở; Bồi dưỡng kỹ năng hướng dẫn tư vấn học sinh trung học cơ sở trong học tập, sinh hoạt.
Phương pháp bồi dưỡng phải phù hợp với từng nội dung, kết hợp các phương pháp thuyết trình, thảo luận và thực hành. Dành nhiều thời gian cho việc trao đổi theo nhóm, soạn bài tập giảng, sử dụng thiết bị, thiết kế kiểm tra theo hướng đổi mới.
Lãnh đạo Phòng giáo dục và thể thao, Hiệu trưởng các trường trung học cơ sở tổ chức biên soạn các tài liệu, học liệu bồi dưỡng đáp ứng nhu cầu tự học, tự bồi dưỡng của đội ngũ giáo viên, xây dựng băng hình các tiết dạy minh họa sử dụng chung đảm bảo thống nhất về chương trình, nội dung và phương pháp.
Tùy theo đặc điểm đối tượng người học và tình hình thực tế ở địa phương, nhà quản lý có thể chỉ đạo giảng viên tham gia bồi dưỡng có thể lựa chọn các phương pháp bồi dưỡng: Phương pháp diễn giảng; Phương pháp nêu vấn đề; Phương pháp dạy học bằng tình huống; Phương pháp dạy học theo dự án; Phương pháp cùng tham gia; Phương pháp tự học, tự nghiên cứu của học viên và nhiều phương pháp bồi dưỡng khác. Trong đó phát huy vai trò tự bồi dưỡng của mỗi giáo viên và tăng cường phương pháp phản hồi thông tin từ đối tượng được bồi dưỡng để điều chỉnh quá trình bồi dưỡng cho hiệu quả.
Hình thức bồi dưỡng cần được lựa chọn căn cứ vào tình hình thực tế tại các trường trung học cơ sở và nhu cầu trực tiếp của từng phân môn, của mỗi giáo viên. Có thể sử dụng các hình thức như: Đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ (Đại học, thạc sĩ…); Bồi dưỡng tập trung, trực tiếp đối với các nội dung bồi dưỡng cần trao đổi, bàn bạc thống nhất như các vấn đề mới, khó; những kỹ năng thực hành về phương pháp, kỹ thuật dạy học; Bồi dưỡng qua mạng Internet nhằm phát huy tinh thần tự học, tự bồi dưỡng trực tuyến nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên; Kết hợp giữa bồi dưỡng trực tuyến qua mạng Internet và bồi dưỡng tập trung có tư vấn, hỗ trợ của giảng viên/ đội ngũ cán bộ cốt cán; Phối hợp với các sở giáo dục và đào tạo lựa chọn, tập huấn và hướng dẫn đội ngũ giáo viên cốt cán trong quá trình bồi dưỡng, sinh hoạt chuyên môn trong điều kiện mới; Giáo viên tự bồi dưỡng; Bồi dưỡng giáo viên tại cơ sở thông qua sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn, dự giờ rút kinh nghiệm.
Hiệu quả việc bồi dưỡng được đánh giá qua việc theo dõi giám sát trong tất cả chương trình học tập. Kết quả của công tác bồi dưỡng cũng cần được sử dụng trong quá trình đánh giá giáo viên thì hiệu quả của công tác bồi dưỡng mới đích thực có giá trị.
Kiểm tra, đánh giá có vai trò vừa tạo động lực, điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học, quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên, vừa xác nhận sự tiến bộ và thành tích học tập, nâng cao hiệu quả bồi dưỡng. Vì vậy, đánh giá chất lượng bồi dưỡng cần phải cung cấp thông tin đúng, khách quan, kịp thời cho việc điều chỉnh hoạt động bồi dưỡng. Các nội dung kiểm tra bao gồm: Kiểm tra công tác chuẩn bị của báo cáo viên: Biên soạn tài liệu bồi dưỡng cho học viên, thiết kế bài giảng, các phương tiện hỗ trợ hoạt động giảng dạy trong quá trình bồi dưỡng; Kiểm tra quá trình tham gia bồi dưỡng của giáo viên: Kiểm tra quá trình tham gia hoạt động bồi dưỡng trên lớp và hoạt động tự bồi dưỡng của giáo viên; Kiểm tra các nguồn lực phục vụ bồi dưỡng: Nguồn tài chính, cơ sở vật chất, nguồn lực công nghệ thông tin…
Đánh giá kết quả bồi dưỡng phải đảm bảo tính khách quan, chính xác, phản ánh đúng thực trạng bồi dưỡng, nâng cao vai trò tự đánh giá của giáo viên tham gia bồi dưỡng để giáo viên tự hoàn thiện năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của mình.
Xây dựng bộ công cụ đánh giá: Bộ công cụ kiểm tra, đánh giá kết quả nội dung bồi dưỡng theo hình thức tập trung; bộ công cụ kiểm tra, đánh giá kết quả các nội dung bồi dưỡng theo hình thức qua mạng Internet.
Đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá: Phát huy vai trò của đội ngũ cốt cán; các cơ sở đào tạo thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng trong việc kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng; việc kiểm tra, đánh giá được thực hiện đa dạng, phong phú dưới nhiều hình thức: bài kiểm tra viết, bài thu hoạch, báo cáo chuyên đề, phỏng vấn trực tiếp, trác nghiệm khách quan, quan sát trực tiếp lớp học, trả lời câu hỏi,… Việc lựa chọn hình thức kiểm tra, đánh giá phụ thuộc vào từng nội dung và đối tượng cũng như thời điểm bồi dưỡng.
Tổ chức cấp chứng chỉ đối với các khóa bồi dưỡng theo từng cấp học và hình thức bồi dưỡng khác nhau.
Để đảm bảo và đủ điều kiện trong quá trình hoạt động bồi dưỡng đòi hỏi các cấp quản lý phải làm tốt các công việc như: Thành lập ban chỉ đạo bồi dưỡng giáo viên theo yêu cầu đổi mới giáo dục; Thành lập tổ giáo viên cốt cán, đó là những cán bộ, giáo viên có trình độ, năng lực chuyên môn sâu, nắm chắc về nội dung đổi mới; Tập huấn bồi dưỡng cho giáo viên cốt cán nhằm thực hiện gây ảnh hưởng của họ tới toàn thể giáo viên tham gia tập huấn; Phân công, phân nhiệm rõ ràng trong quá trình tổ chức bồi dưỡng từ người chỉ huy đến người điều hành và các chuyên viên chịu trách nhiệm phục vụ, giám sát hoạt động bồi dưỡng giáo viên; Tổ chức công việc, sắp xếp công việc hợp lý, xây dựng các cơ chế phối hợp để mọi người hướng vào mục tiêu chung; Chuẩn bị tốt các điều kiện tổ chức bồi dưỡng: Điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị như phòng học, máy chiếu, thiết bị âm thanh, ánh sáng; Để đảm bảo cho công tác bồi dưỡng giáo viên, cần tích cực trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học theo các yêu cầu sau:
Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống, thực tế và đạt chất lượng cao, tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động của người học trên cơ sở tự giác, tự khám phá kiến thức thông qua thực hành, thâm nhập thực tế trong quá trình học tập.
Đảm bảo để nhà trường được trang bị những thiết bị dạy học ở mức độ tối thiểu, đó là những trang thiết bị cần thiết không thể không có. Tăng cường các thiết bị tự làm của giáo viên để làm phong phú thêm thiết bị dạy học của nhà trường.
Tăng cường các phòng học bộ môn, trước hết là phòng học cho các bộ môn thực nghiệm như: lý, hoá, sinh, tin, ngoại ngữ … Vì trong hoạt động bồi dưỡng giáo viên thì cơ sở vật chất, trang thiết bị có vai trò quan trọng, ảnh trực tiếp tới hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng. Trong hoạt động bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý cần lưu ý đến việc bảo quản, sử dụng và có quy định cụ thể để các điều kiện về cơ sở vật chất thiết bị được giảng viên, giáo viên sử dụng một cách tối đa.
Điều kiện về nguồn tài chính: Nguồn lực tài chính là điều kiện cần và đủ để tiến hành hoạt động bồi dưỡng có hiệu quả, nguồn lực tài chính phải được xây dựng cho mọi hoạt động bồi dưỡng từ khâu biên soạn tài liệu đến chuẩn bị cơ sở vật chất và hỗ trợ giảng viên, học viên trong quá trình bồi dưỡng nhằm tạo động lực cho hoạt động bồi dưỡng đạt hiệu quả.
1.4. Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu giáo dục hiện nay
- 1.4.1.Yêu cầu đổi mới quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở
a). Đánh giá thực trạng năng lực giáo viên và xác định nhu cầu bồi dưỡng để xác định chuẩn bồi dưỡng, mục tiêu bồi dưỡng
Đánh giá thực trạng năng lực giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp: Nội dung đánh giá cần căn cứ các tiêu chuẩn, tiêu chí của Chuẩn nghề nghiệp. Phương pháp đánh giá căn cứ vào kết quả đạt được thông qua các minh chứng, định lượng bằng cho điểm các tiêu chí, xếp loại dựa vào tổng điểm và mức độ đạt được theo từng tiêu chí.
Xác định nhu cầu bồi dưỡng của giáo viên: Nội dung bao gồm việc xác định các nhu cầu chung, đặc thù bộ môn và nhu cầu của mỗi cá nhân về kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ, những kỹ năng mà giáo viên còn yếu và thiếu. Phương pháp đánh giá dựa vào kết quả đánh giá từ các trường, cụm, tổ chuyên môn và tự đánh giá của mỗi giáo viên. Từ những “dữ liệu” này so sánh với yêu cầu về phẩm chất, năng lực của giáo viên để xác định đúng nhu cầu bồi dưỡng.
b). Lập kế hoạch bồi dưỡng
Kế hoạch phải thể hiện rõ việc thực thi các nhiệm vụ theo tinh thần đổi mới. Mặt khác, cần đảm bảo tính chiến lược, xu thế phát triển, thể hiện được định hướng cho các hoạt động cũng như giải quyết được các vấn đề bức xúc, trọng tâm. Lập kế hoạch bồi dưỡng cần chú ý đến các vấn đề sau: Xác định được mục tiêu, nhu cầu bồi dưỡng, chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông và sử dụng các kĩ năng đó trong dạy học; xác định phương pháp dạy học, cách đánh giá và kiến thức mới cần bồi dưỡng cho giáo viên; xác định nguồn kinh phí và những người tham gia vào quá trình bồi dưỡng.
c). Chương trình bồi dưỡng
Chương trình bồi dưỡng được thiết kế dựa vào chuẩn bồi dưỡng, tức là dựa vào Chuẩn nghề nghiệp và nhu cầu của giáo viên trước yêu cầu đổi mới. Nội dung chương trình theo hướng phục vụ người học và tăng cường tính chủ động, sáng tạo của người học. Các kiến thức phải có tính liên thông, tích hợp, phân hóa, mang tích đặc thù địa phương, vùng miền.
d). Tổ chức và chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng
Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng: Mỗi giáo viên cần nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng trong giai đoạn đổi mới giáo dục, mục tiêu giáo dục đòi hỏi phát triển năng lực và phẩm chất của người học theo hệ thống chương trình đảm bảo chuẩn hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế,…Vấn đề này đòi hỏi mỗi cá nhân phải nỗ lực học tập, tự học để nâng cao năng lực, phẩm chất thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.
Đổi mới phương pháp và hình thức bồi dưỡng: Để đạt được mục tiêu bồi dưỡng giáo viên cần đổi mới phương pháp, hình thức bồi dưỡng. Phương pháp bồi dưỡng phải đa dạng: thuyết trình, minh họa, thảo luận nhóm, thí nghiệm, các hoạt động thực hành,… và chú trọng đến người học là người lớn có những đặc điểm học tập khác với học sinh, sinh viên. Sử dụng các hình thức bồi dưỡng sau:
Bồi dưỡng tập trung: bồi dưỡng trực tiếp các nội dung cần trao đổi, bàn bạc về những vấn đề đổi mới, khó; kỹ năng thực hành về phương pháp, kỹ thuật dạy học.
Bồi dưỡng tại chỗ: bồi dưỡng tại trường thông qua tổ chuyên môn, thảo luận nhóm, báo cáo chuyên đề, nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, tư vấn đồng nghiệp, sinh hoạt câu lạc bộ, thăm lớp dự giờ và các hoạt động chuyên môn khác,…
Bồi dưỡng thông qua nghiên cứu bài học là hình thức bồi dưỡng mới được áp dụng rất hiệu quả. Bản chất của nghiên cứu bài học là nhóm giáo viên bộ môn dự giờ để cùng theo dõi, quan sát, phát hiện các tình huống sư phạm nảy sinh trong giờ học do đồng nghiệp thực hiện và cùng bàn luận, đề xuất các giải pháp để giải quyết các tình huống xảy ra,….
Bồi dưỡng dưỡng trực tuyến kết hợp với bồi dưỡng trực tiếp: đây là hình thức bồi dưỡng qua mạng, học có hướng dẫn và học tập lẫn nhau ở mọi lúc, mọi nơi. Đồng thời, kết hợp hình thức bồi dưỡng trực tuyến với các chương trình bồi dưỡng tập trung ngắn hạn để hỗ trợ giáo viên.
Tự bồi dưỡng: Bằng cách tự học, tự nghiên cứu giáo viên mới hoàn thiện được năng lực và phẩm chất của mình. Hoạt động tự bồi dưỡng được sự quản lý của hiệu trưởng, tổ chuyên môn và tự quản lý của giáo viên. Phương hướng đổi mới công tác bồi dưỡng là phải coi trọng quá trình tự học, tự bồi dưỡng tại chỗ, bồi dưỡng qua công việc hàng ngày của giáo viên. Vì vậy, chúng ta cần xây dựng mỗi nhà trường, tổ chuyên môn trở thành một đơn vị học tập, giáo viên là tấm gương về học tập suốt đời, góp phần xây dựng xã hội học tập.
Tổ chức và chỉ đạo xây dựng đội ngũ giáo viên cốt cán trong hoạt động bồi dưỡng: Những giáo viên có năng lực chuyên môn, có phẩm chất và lòng nhiệt tình sẽ là những giáo viên cốt cán để bồi dưỡng giáo viên, giúp đỡ đồng nghiệp tháo gỡ những khó khăn khi lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng, nâng cao năng lực nghề nghiệp.
Những nhiệm vụ chính của giáo viên cốt cán: tham gia xây dựng kế hoạch, nội dung bồi dưỡng; giúp đỡ giáo viên trong nhà trường tự học theo chương trình bồi dưỡng giáo viên của Bộ GDĐT; hướng dẫn hoặc tư vấn tại các buổi bồi dưỡng theo nhóm, thảo luận chuyên đề, câu lạc bộ; tổ chức dự giờ thăm lớp rút kinh nghiệm về thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra – đánh giá trong nhà trường; tham gia đánh giá kết quả bồi dưỡng tại chỗ, nhất là việc tự bồi dưỡng và bồi dưỡng lẫn nhau trong các nhóm chuyên môn; hỗ trợ đồng nghiệp trong các hoạt động bồi dưỡng từ xa tại trường,… Giáo viên cốt cán là lực lượng nòng cốt tại chỗ, “cầu nối” giữa giảng viên và học viên trong các lớp bồi dưỡng.
Tổ chức và chỉ đạo việc tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên: Việc bồi dưỡng tập trung, tại chỗ chỉ đáp ứng những vấn đề cấp bách, giải quyết vấn đề cơ bản, mới mang tính thời sự. Xuyên suốt quá trình bồi dưỡng giáo viên vẫn là hình thức tự bồi dưỡng, học tập suốt đời. Vì vậy, vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý giáo dục là cần phải biến hoạt động bồi dưỡng thành hoạt động tự bồi dưỡng. Nhà trường cần tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên tham gia hoạt động tự bồi dưỡng hiệu quả, chuyển giáo viên từ đối tượng quản lý sang chủ thể quản lý. Giáo viên tự quản lý, tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả tự bồi dưỡng của bản thân, đây là nhân tố quan trọng góp phần nâng cao năng lực cho giáo viên và hiệu quả bồi dưỡng.
e). Kiểm tra – đánh giá hoạt động bồi dưỡng
Kiểm tra – đánh giá là một trong những nhân tố quan trọng đảm bảo cho công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng thành công. Qua đánh giá kết quả bồi dưỡng, nhà quản lý giáo dục sẽ kịp thời phát hiện những vướng mắc, tồn tại trong việc xây dựng chuẩn đầu ra, thiết kế chương trình, phương thức bồi dưỡng,…kịp thời điều chỉnh, bổ sung và đưa ra những giải pháp phù hợp cho các lần bồi dưỡng sau. Dưới đây là một số hình thức đánh giá kết quả bồi dưỡng:
Đánh giá quá trình bồi dưỡng tập trung: hình thức này do các giảng viên, chuyên gia, cán bộ quản lý đánh giá căn cứ vào quá trình học tập của học viên, đánh giá tổng quát kiến thức, kỹ năng thông qua các kỳ kiểm tra, đặc biệt là cuối khóa bồi dưỡng.
Hiệu trưởng tổ chức đánh giá kết quả bồi dưỡng giáo viên, xây dựng hình thức đánh giá như xây dựng bộ tiêu chí hay thang điểm đánh giá khách quan, qua kết quả bình xét thi đua, huy động nhiều lực lượng tham gia đánh giá (tổ bộ môn, tổ chức đoàn thể,…).
Đánh giá lẫn nhau: Giáo viên cốt cán bồi dưỡng, tổ trưởng bộ môn có thể đánh giá xếp loại giáo viên căn cứ vào hồ sơ chuyên môn; căn cứ vào kết quả thanh kiểm tra, dự giờ, thăm lớp, kết quả thảo luận nhóm và kết quả học tập của giáo viên, ngoài ra, cũng có thể đánh giá thông qua các cuộc trao đổi kinh nghiệm và những hình thức khác.
Tự đánh giá: Mỗi giáo viên tự đánh giá kết quả học tập của bản thân thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập.
Kế hoạch bồi dưỡng giáo viên là xác định hoạt động bồi dưỡng có mục tiêu, đối tượng, nội dung, hình thức và tiến độ cụ thể trên cơ sở phân tích xem xét đồng bộ thực trạng và nhu cầu bồi dưỡng nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên.
Công việc đầu tiên trong quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở là lập kế hoạch bồi dưỡng, chức năng này do các cấp quản lí triển khai theo quy trình gồm 4 hoạt động cơ bản sau đây:
Xác định mục tiêu và phân tích mục tiêu phải dựa vào các căn cứ để xác định mục tiêu như cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn, thực trạng của đơn vị hoặc hệ thống giáo dục, khả năng đáp ứng các nguồn lực; Lựa chọn các mục tiêu khả thi; Xác định các biện pháp.
Xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu cần xây dựng kế hoạch cho từng hoạt động; Thiết kế các bước đi, các biện pháp qua nguồn lực đã có và sẽ có; Lập kế hoạch ở các cấp độ quản lý khác nhau (Cấp Phòng giáo dục và thể thao hoặc cấp trường).
Triển khai thực hiện các kế hoạch và quán triệt việc thực hiện kế hoạch trong toàn trường; Xây dựng lực lượng cốt cán và xác định rõ cơ chế hoạt động; Triển khai, hướng dẫn, đôn đốc; Giám sát để kịp thời điều chỉnh.
Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch (đánh giá, tổng kết việc thực hiện kế hoạch, báo cáo trước tập thể và cơ quan quản lý cấp trên); Rút kinh nghiệm đánh giá tổng kết việc thực hiện kế hoạch; Báo cáo kết quả trước tập thể và cơ quan quản lý cấp trên.
Để bản kế hoạch phù hợp, khoa học và mang tính khả thi thì Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo, Hiệu trưởng phải thực hiện tốt chức năng dự báo. Khi dự báo phải biết rõ thực trạng của nhu cầu bồi dưỡng của giáo viên; Kế hoạch bồi dưỡng của cấp trên (Sở, Phòng); Nguồn lực đội ngũ giáo viên cốt cán; điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị; năng lực tài chính.
Kế hoạch bồi dưỡng phải xác định rõ: Mục tiêu bồi dưỡng; Nội dung bồi dưỡng; Thời gian bồi dưỡng; Giảng viên bồi dưỡng; Cán bộ quản lý chỉ đạo bồi dưỡng; Đối tượng tham gia bồi dưỡng; Phương pháp, hình thức tổ chức bồi dưỡng; Đánh giá kết quả bồi dưỡng; Các nguồn lực phục vụ bồi dưỡng: Tài chính, cơ sở vật chất khác, địa điểm bồi dưỡng…
Phòng giáo dục và thể thao căn cứ vào hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học và kế hoạch bồi dưỡng giáo viên của Sở giáo dục và thể thao, tùy vào tình hình thực tế của các trường trung học cơ sở mà Trưởng phòng giáo dục và thể thao xây dựng kế hoạch sao cho phù hợp với nhu cầu của giáo viên tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện.
Hiệu trưởng các trường trung học cơ sở căn cứ vào kế hoạch bồi dưỡng giáo viên của Phòng giáo dục và thể thao, vào thực tế đội ngũ giáo viên, tiến hành lập kế hoạch bồi dưỡng giáo viên ngay từ đầu năm học khi xây dựng kế hoạch hoạt động chung của trường. Tùy theo yêu cầu của tổ, nhóm chuyên môn khác nhau trong nhà trường mà Hiệu trưởng giao cho mỗi tổ nhóm hay cá nhân những hoạt động bồi dưỡng khác nhau.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\ĐẠI HỌC SƯ PHẠM\Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở huyện Pu Vông tỉnh Ắttapư Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào


