Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam
Nghị Quyết 29-NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã được Hội nghị trung ương 8 (khóa XI) thông qua ngày 04 tháng 11 năm 2013 về quan điểm chỉ đạo và mục tiêu giáo dục của Đảng:
Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học. Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước.
Mục tiêu đối với giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời. Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015. Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng. Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020. Phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương.
Thực hiện Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Kế hoạch hành động triển khai thực hiện Nghị quyết số 29- NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ban hành kèm theo Quyết định số 2653/QĐ-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo với mục tiêu: Xác định những nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu của ngành giáo dục để triển khai Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW. Đổi mới hình thức, phương pháp dạy học, kiểm tra, thi và đánh giá kết quả giáo dục và đào tạo. Chỉ đạo các cơ sở giáo dục và đào tạo đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực cá nhân của người học, áp dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực, chú trọng rèn luyện phương pháp tự học; tăng cường các hoạt động xã hội, nghiên cứu khoa học và vận dụng kiến thức vào thực tế. Đổi mới mục tiêu, nội dung, hình thức kiểm tra, thi và đánh giá chất lượng giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực, phẩm chất người học. Triển khai đổi mới phương pháp kiểm tra, thi, đánh giá người học ngay trong quá trình và kết quả từng giai đoạn giáo dục, đào tạo nhằm kịp thời điều chỉnh, nâng cao hiệu quả hoạt động dạy và học ở các cấp học và trình độ đào tạo.
Ngày 26/12/2018 Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư 32/2018/TT-BGD ĐT về Chương trình giáo dục phổ thông mới gồm có chương trình tổng thể và 27 chương trình môn học và hoạt động giáo dục. Chương trình giáo dục phổ thông có tính kế thừa về mục tiêu giáo dục, phương châm giáo dục, nội dung giáo dục về hệ thống môn học. Tuy nhiên chương trình giáo dục phổ mới có những điểm mới so với chương trình giáo giáo dục hiện hành. Chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo mô hình phát triển năng lực; phân biệt rõ 02 giai đoạn: giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9) và giai đoạn định hướng nghề nghiệp từ (lớp 9 đến lớp 12); chú ý đến tính kết nối giữa các lớp học, cấp học; đảm bảo định hướng thống nhất và những nội dung cốt lõi, bắt buộc với học sinh toàn quốc, trao trách nhiệm cho địa phương và nhà trường.
Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng có vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục tiểu học giúp cho học sinh hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản để góp phần hình thành nhân cách cho học tiểu học. Bậc tiểu học tựa như những viên gạch hồng vững chải là móng nền vững chắc để xây các tòa nhà đồ sộ của các bậc tiếp theo. Học xong bậc tiểu học học sinh hoàn thành được 04 kĩ năng cơ bản là nghe, nói, đọc viết và tính toán để làm tiền đề cũng như hành trang để các em học lên bậc học trung học cơ sở.
Môn Tiếng Việt là môn học mà thực hiện 04 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết là thường xuyên và liên tục. Trong giáo dục tiểu học thì dạy học môn Tiếng Việt có vai trò hình thành nhân cách cho học sinh tiểu học. Giáo dục cho học sinh văn hóa giao tiếp, dạy cho học sinh biết truyền đạt tư tưởng, tình cảm của mình một cách chính xác và biểu cảm. Từ việc hình thành nhân cách thì các em được bồi dưỡng về tình yêu quê hương, đất nước, yêu Bác Hồ, yêu thiên nhiên và thế giới xung quanh.
Dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học nhằm giúp cho học sinh hình thành và phát triển các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập, giao tiếp trong môi trường lứa tuổi góp phần rèn luyện thao tác, tư duy. Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về con người, về văn hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài. Bồi dưỡng tình yêu, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tây Giang là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam đa số là đồng bào dân tộc Cơ- tu sinh sống. Đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn thiếu thốn. Tỉ lệ hộ nghèo còn chiếm khá cao. Giáo dục ở Tây Giang cũng gặp vô vàn khó khăn, thử thách. Về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học chưa đảm bảo, đời sống của đồng bào còn nghèo, về việc học tập của học sinh còn thụ động. Mật độ dân cư thưa thớt, phân tán nhỏ lẽ. Các thôn bản ở một nhóm xa khu trung tâm xã, huyện. Tỉ lệ người dân tộc Cơ- tu khá cao khoảng trên 95%. Các điều kiện dạy học còn hạn chế và nhiều thiếu thốn, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học chưa nhiều, yêu cầu dạy học môn tiếng Việt cao. Bên cạnh đó một số bộ phận giáo viên ngại tìm hiểu về tiếng Việt và học sinh chưa yêu thích môn tiếng Việt. Một số cán bộ quản lý chưa thực sự quan tâm, tạo điều kiện cho giáo viên nghiên cứu để nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Việt.
Tuy nhiên trong thực tế quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trưởng tiểu học huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam mặc dù được quan tâm rất nhiều nhưng vẫn còn một số tồn tại, hạn chế chưa đạt hiệu quả. Chất lượng giáo dục môn Tiếng Việt còn thấp so với yêu cầu đề ra. Do vậy, nâng cao chất lượng giáo dục là vấn đề được quan tâm đặc biệt. Dạy học là nền tảng để thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường. Cho nên đòi hỏi phải đổi mới quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Như vậy, quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học là vấn đề cần thiết nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở địa phương.
Từ những vấn đề nêu trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam” nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục môn học đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam.
3. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam.
3.3. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu về biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam gồm 10 trường tiểu học và Phòng giáo dục và đào tạo huyện Tây Giang. Khảo sát và thu thập số liệu năm học 2018-2019, 2019-2020 và đề xuất các biện pháp quản lý cho giai đoạn 2020-2023.
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học
5.2. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
– Phương pháp phân tích: Đọc tài liệu và phân tích những vấn đề liên quan đến quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt nói chung và môn tiếng Việt ở tiểu học nói riêng. Phân tích các khái niệm về quản lý, quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt.
– Phương pháp tổng hợp: Sau khi phân tích xong thì tổng hợp lại những nội dung về quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt và đúc kết lại vấn đề cần quan tâm.
– Phương pháp phân loại: Phân loại là sắp xếp lại các lý luận nghiên cứu theo từng loại theo yêu cầu để dễ hệ thống hóa.
– Phương pháp hệ thống hóa: Sau khi phân tích, tổng hợp, phân loại thì hệ thống hóa lại các lý luận nghiên cứu để rút ra kết luận của các nhân về vấn đề đang nói đến.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
– Phương pháp quan sát: Quan sát là có kết hợp ghi biên bản nhằm nhằm tìm hiểu thực tế sự việc dạy học môn Tiếng Việt qua các giờ dạy.
– Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Sử dụng phiếu hỏi để trưng cầu ý kiến của cán bộ quản lý, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên các trường tiểu học huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam để tìm ra thực trạng dạy học môn tiếng Việt ở các trường này.
– Phương pháp phỏng vấn: Tìm hiểu, trao đổi, trò chuyện với phụ huynh và học sinh về những nội dung liên quan đến dạy học môn tiếng Việt ở các trường tiểu học huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam.
– Phương pháp nghiên cứu hồ sơ: Trên cơ sở các báo cáo tổng kết cảu các trường tiểu học huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam và báo cáo tổng kết của Phòng giáo dục Tây Giang sẽ đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt ở các trường ttieeur học trên địa bàn nghiên cứu.
– Phương pháp xin ý kiến chuyên gia: Tổ chức hội thảo, đàm thoại để huy động trí tuệ của đội ngũ chuyên gia giỏi, có trình độ và kinh nghiệm quản lý trong giáo dục. Tiến hành trao đổi với chuyên viên phòng giáo dục Tây Giang, một số cán bộ quản lý, tổ trưởng chuyên môn và giáo viên dạy tiếng Việt các trường tiểu học huyện Tây giang, tỉnh Quảng Nam.
6.3. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Ngoài các phần: Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm có 3 chương
Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học.
Chương 2. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3. Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.2. Các khái niệm chính của đề tài
a. Khái niệm quản lý
Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan niệm về QL, theo những cách tiếp cận khác nhau. Các quan niệm về QL rất phong phú qua các tác giả:
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến”. [16, tr.17]
Theo tác giả Lê Quang Sơn “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (CTQL- người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (người bị quản lý và các yếu tố chịu sự tác động của CTQL) về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,..bằng một hệ thống các luật lệ, của các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu quản lý [18, tr.2].
Nghiên cứu về quản lý Karl Max viết: “Bất cứ lao động nào có tính xã hội, cộng đồng được thực hiện ở quy mô nhất định đều cần ở chừng mực nhất định sự quản lý, giống như người chơi vĩ cầm một mình thì tự điều khiển còn một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”. [14, tr 9]
Theo nhà kinh tế Mỹ F.W. Taylor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” “Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu đã định” [6, tr.32]
H. Koontz khẳng định:“Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm và thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [14 tr.10]
Theo tác giả Bùi Việt Phú, Trần Xuân Bách và Lê Quang Sơn “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý, các yếu tố chịu ảnh hưởng tác động của chủ thể quản lý) về các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,..bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt đến mục tiêu quản lý.[14 tr.11]
Theo Từ diển tiếng Việt thông dụng- nhà xuất bản Giáo dục, 1998, thuật ngữ quản lý được định nghĩa: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan” [26]
Từ những định nghĩa, khái niệm quản lý trên, có thể rút ra một số dấu hiệu quản lý như sau:
– Quản lý là sự tác động liên tục có mục đích, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu quản lý.
– Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.
– Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
– Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý.
Như vây có thể rút ra khái niệm quản lý như sau:
Quản lý là một hoạt động thiết yếu, là sự tác động có tổ chức, có mục đích, có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý (CTQL- người quản lý, tổ chức quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý và các yếu tố chịu sự tác động của CTQL) về các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,.. bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt đến mục tiêu quản lý.
b. Các chức năng quản lý
Quản lý có 04 chức năng cơ bản, chủ yếu sau:
Kế hoạch hóa: Nhiệm vụ cốt yếu của người quản lý là làm thế nào để người thực hiện biết nhiệm vụ của mình, biết phương pháp hoạt động nhằm thực hiện có mục tiêu của tổ chức. Đó là chức năng kế hoạch hóa của người QL.
Kế hoạch hóa bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hoạt động, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của cả hệ thống quản lý và bị quản lý. Việc lập kế hoạch trong QLGD có tầm quan trọng rất lớn: Nó có khả năng ứng phó với sự bất định và thay đổi. Kế hoạch sẽ giúp nhà quản lý có cái nhìn tổng thể, toàn diện. Từ đó, thấy được hoạt động tương tác giữa các bộ phận.
– Tổ chức (nhân sự, bộ máy): Để giúp cho mọi người cùng làm việc với nhau nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu cần xây dựng và duy trì một cơ cấu nhất định về những vai trò, nhiệm vụ và vị trí công tác. Có thể nói, việc xây dựng các vai trò, nhiệm vụ là chức năng tổ chức trong quản lý.
– Lãnh đạo (Chỉ đạo thực hiện): Đây là chức năng thể hiện năng lực của quản lý. Sau khi hoạch định kế hoạch và sắp xếp tổ chức, người cán bộ QL phải điều khiển cho hệ thống hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra. Đây là quá trình sử dụng quyền lực quản lý để tác động đến các đối tượng bị quản lý một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ, hướng họ vào công việc nhằm đạt mục tiêu chung của hệ thống. Người điều khiển hệ thống phải là người có tri thức, có kĩ năng ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định. Lãnh đạo là quá trình khởi xướng, xác định phương hướng, mục tiêu lâu dài, lựa chọn chiến lược, tác động, ảnh hưởng tìm kiếm sự tự nguyện tham gia của mọi người nhằm tập hợp, điều hòa, phối hợp các mối quan hệ, dẫn dắt, tạo động lực để mọi thành viên trong tổ chức cùng thực hiện nhiệm vụ, đưa tổ chức đi đến mục tiêu đã xác định.
– Kiểm tra: Đây là chức năng quan trọng của QL vị trí, vai trò và tầm quan trọng của việc kiểm tra rất lớn. Làm mà không kiểm tra thì không biết kết quả thế nào. Chức năng kiểm tra xuyên suốt quá trình QL và là chức năng của mọi cấp quản lý, kể cả đối với hoạt động quản lý giáo dục trong trường học. Kiểm tra là việc thẩm định, xác định hành vi của cá nhân hay một tổ chức trong quá trình thực hiện quyết định. Kiểm tra chính là hoạt động quan sát và kiểm nghiệm mức độ phù hợp của quá trình hoạt động của đối tượng bị quản lý với các quyết định quản lý đã lựa chọn.
Tóm lại QL có 4 chức năng là kế hoạch hóa, tổ chức thực hiện và kiểm tra- đánh giá. Mỗi chức năng có vai trò khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết, qua lại lẫn nhau theo sơ đồ 1.1 như sau:
Kế hoạch
Kiểm tra
Thông tin
Chỉ đạo
Tổ chức
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Theo nghĩa rộng của giáo dục, với việc thực hiện triết lý học suốt đời thì ngoài tiêu điểm là giáo dục thế hệ trẻ còn chăm lo giáo dục cho mọi người.
Quản lý giáo dục nói chung và quản lý trường học nói riêng là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QLGD tới các loại hình QL của xã hội nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà trọng tâm là quá trình dạy học.
Có nhiều tác giả định nghĩa về quản lý giáo dục, tôi xin trích dẫn một số định nghĩa sau:
Tác giả Nguyễn Gia Quý định nghĩa: “Quản lý quá trình giáo dục là quản lý một hệ thống toàn vẹn bao gồm cá yếu tố mục tiêu, nội dung, phương pháp, tổ chức giáo dục, người dạy, người học, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho người dạy và học, môi trường giáo dục, kết quả giáo dục” [17 tr.15]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho thế hệ trẻ vận hànhtheo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng”. [16 tr.27]
Theo Tác giả Trần Kiểm: Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục”. [8, tr.36]
Theo tác giả V.A Xukholinxki: Quản lí giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện, hài hoà của họ. [28]
Tác giả Bùi Việt Phú cho rằng: “QLGD là sự tác động có mục đích, có kế hoạch, có ý thức và tuân thủ các quy luật khách quan của chủ thể quản lý giáo dục lên toàn bộ các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt tới kết quả mong muốn. (xây dựng và hoàn thiện nhân cách người lao động phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.)” [14, tr.12]
Theo tác giả Lê Quang Sơn: “QLGD là quản lý hệ thống giáo dục bằng sự tác động có mục đích, có kế hoạch, có ý thức và tuân thủ các quy luật khách quan của những chủ thể QLGD lên toàn bộ các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đưa hoạt động giáo dục của cả hệ thống đạt tới mục tiêu giáo dục. (Xây dựng và hoàn thiện nhân cách người lao động phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn cụ thể)”. [18, tr.14]
Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất về quản lý giáo dục: “QLGD là quản lý hệ thống giáo dục bằng sự tác động có mục đích, có kế hoạch, có ý thức, hợp quy luật và tuân thủ các quy luật khách quan của những chủ thể QLGD lên toàn bộ các mắt xích của hệ thống giáo dục bao gồm mục tiêu, nội dung, phương pháp, tổ chức giáo dục,.. nhằm đưa hoạt động giáo dục của cả hệ thống đạt tới mục tiêu dự kiến, mục tiêu giáo dục, kết quả mong muốn đối với ngành giáo dục và thế hệ trẻ (xây dựng và hoàn thiện nhân cách người lao động phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn cụ thể).
Nhà trường là tổ chức giáo dục mang tính chất nhà nước, xã hội, trực tiếp làm công tác giáo dục thế hệ trẻ. Nhà trường là tế bào cơ sở chủ chốt của tất cả các cấp học trong hệ thống giáo dục từ trung ương đến địa phương.
Nhà trường là một thể chế của xã hội, thực hiện chức năng kiến tạo các kinh nghiệm xã hội cần thiết cho một nhóm dân cư nhất định của xã hội đó. Nhà trường được tổ chức sao cho việc kiến tạo kinh nghiệm xã hội nói trên đạt được mục tiêu mà xã hội đạt ra cho nhóm dân cư được huy động vào sự kiến tạo này một cách tối ưu theo quan niệm của xã hội.
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý nhà trường
Tác giả Trần Kiểm quan niệm “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi, trách nhiệm của mình., tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”. [8, tr.29]
Theo tác giả Bùi Trọng Tuân cho rằng: Quản lý nhà trường bao gồm quản lý bên trong nhà trường (nghĩa là quản lý các thành tố mục đích, nội dung, phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học, đội ngũ giáo viên, cán bộ, tập thể học sinh, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, các thành tố này quan hệ qua lại với nhau và tất cả đều nhằm thực hiện các chức năng giáo dục) và quản lý các mối quan hệ giữa nhà trường với môi trường xã hội bên ngoài”. [25 tr.19]
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, với thế hệ trẻ, với học sinh”. [4, tr.11]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lí trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường.” [29]
Như vậy, QL nhà trường là những hoạt động của chủ thể nhà trường (Hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng) đến tập thể giáo viên, nhân viên, học sinh và phụ huynh học sinh cùng với các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường có chất lượng và hiệu quả. Công tác quản lý nhà trường là xử lý tác động qua lại giữa trường học và xã hội đồng thời quản lý chính nhà trường.
Quá trình giáo dục trong nhà trường là một thể thống nhất toàn vẹn được liên kết bằng 06 thành tố sau đây:
– Mục tiêu đào tạo (M) – Nội dung đào tạo (N)
– Phương pháp đào tạo (P) – Lực lượng đào tạo (Thầy-TH)
– Đối tượng đào tạo (Trò- Tr) – Điều kiện đào tạo (ĐK)
(Cơ sở, Vật chất, thiết bị dạy học)
Quản lý trường học thực chất quản lý các thành tố trên. Ta có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau: M M
TH TH TR TH TR
QqqQ
N P
N P
ĐK
Sơ đồ 1.2. Mối quan hệ giữa các thành tố trong quá trình giáo dục.
Nhà trường thực hiện việc giáo dục và đào tạo có hiệu quả là nhờ từng thành tố và đặc biệt là nhờ mối quan hệ giữa các thành tố với nhau. Từ đó, hệ thống các thành tố vận hành, liên kết chặt chẽ với nhau và đưa đến kết quả mong đợi đó chính là hoạt động quản lý của người quản lý.
Từ một số cách tiếp cận trên, có thể hiểu: Quản lý nhà trường bao gồm quản lý bên trong nhà trường (nghĩa là quản lý các thành tố mục đích, nội dung, phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học, đội ngũ giáo viên, cán bộ, tập thể học sinh, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, các thành tố này quan hệ qua lại với nhau và tất cả đều nhằm thực hiện các chức năng giáo dục) và quản lý các mối quan hệ giữa nhà trường với môi trường xã hội bên ngoài để đạt được kết quả mong đợi và mục tiêu giáo dục đề ra.
a. Khái niệm hoạt động dạy học
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì dạy học là “Truyền lại những kiến thức, kinh nghiệm, đưa những thông tin khoa học cho người khác tiếp thu một cách có hệ thống, có phương pháp nhằm mục đích tự nâng cao trình độ văn hóa, năng lực trí tuệ và kỹ năng thực hành trong đời sống thực tế. Dạy học là một hoạt động diễn ra trên hai tuyến song song giữa người dạy và người học” [27].
Hoạt động dạy học là hoạt động quan trọng nhất trong các hoạt động của nhà trường. Hoạt động dạy học chiếm đa số thời gian của hoạt động giáo dục, nó chi phối các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường. Hoạt động dạy học diễn ra trong suốt năm học, theo kế hoạch đã định trước, mang tính pháp lý, có căn cứ rõ ràng, đòi hỏi mọi thành viên trong nhà trường tự giác chấp hành.
Hoạt động dạy học là hoạt động đặc trưng cho bất kì loại trường học nào và đây là con đường duy nhất để con người tiếp cận tri thức. Dạy học là con đường phù hợp cho học sinh lĩnh hội được tri thức, kĩ năng để hình thành nhân cách và nâng cao năng lực bản thân của mỗi con người.
Giáo dục thực hiện bằng nhiều con đường khác nhau, một trong những con đường hiệu quả nhất là tổ chức hoạt động dạy học. Thông qua hoạt động dạy học, nhằm cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức khoa học, bồi dưỡng phương pháp tư duy sáng tạo và kĩ năng thực tiễn, nhằm nâng cao trình độ học vấn, hình thành lối sống văn hóa, hình thành nhân cách trong mỗi con người. Mục đích cuối cùng là làm cho học sinh trở thành những người tự chủ, năng động, sáng tạo. Như vậy, hoạt động dạy học là con đường cơ bản nhất để đạt tới mục đích giáo dục tổng thể. Hoạt động DH là một hệ thống toàn vẹn bao gồm các thành tố cơ bản: mục tiêu, nội dung, phương tiện, hình thức tổ chức, PP dạy học. Các thành tố này tương tác với nhau thực hiện nhiệm vụ hoạt động DH nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động DH.
Mục tiêu là kết quả được hình dung trước mà hoạt động dạy học cần đạt được. Khi đặt ra mục tiêu cần chú ý đến đặc điểm đối tượng và các yếu tố khác có đảm bảo việc đạt được mục tiêu hay không.
Nội dung là đối tượng lĩnh hội của HS, nó là yếu tố khách quan, quyết định lôgic của bản thân quá trình dạy học về mặt khoa học.
PP là cách thức để tiến hành hoạt động dạy học nhằm đạt được hiệu quả. Việc lựa chọn PPDH là hoạt động của mỗi GV nhằm giúp HS chiếm lĩnh tri thức một cách tốt nhất. PP học của HS phù hợp với điều kiện cá nhân và cả PP của GV
Phương tiện là điều kiện đủ để hoạt động dạy học diễn ra bình thường. Đặc biệt, hiện nay sử dụng các phương tiện DH hiện đại đã mang lại hiệu quả rất tốt cho hoạt động DH.
Hình thức tổ chức là việc tổ chức hoạt động dạy học dưới các dạng khác nhau sao cho phù hợp với nội dung và PPDH của môn học đó. Kết quả là chất lượng học tập, tu dưỡng của HS do mục tiêu đề ra. Hoạt động dạy học cũng như các hoạt động khác trong xã hội đều chịu sự tác động của yếu tố môi trường.
Môi trường tự nhiên, xã hội
Chú thích:
MT: Mục tiêu
ND: Nội dung
PP: Phương pháp
HT: Hình thức
PT: Phương tiện
KQ: Kết quả
Môi trường tự nhiên, xã hội
Sơ đồ 1.3. Mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc của hoạt động DH
Sơ đồ trên cho thấy: Các thành tố cấu trúc của hoạt động DH có mối quan hệ tương tác lẫn nhau, bổ sung cho nhau trong sự tác động của môi trường tự nhiên, xã hội. Nếu tác động tốt vào mối quan hệ đó, nó sẽ là cơ sở và là điều kiện để tăng thêm hiệu quả của hoạt động DH, nâng cao chất lượng GD. Mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc của hoạt động DH được phản ánh trong quá trình DH, với vai trò điều khiển của thầy và hoạt động của trò. Hoạt động DH bao gồm hoạt động dạy và hoạt động học, đó là hai mặt không thể tách rời, chúng luôn tác động lẫn nhau, quy định lẫn nhau trong một quá trình thống nhất. Quá trình DH thực chất là sự thể hiện toàn bộ hoạt động có chủ định, có kế hoạch của thầy và trò, làm cho trò nắm vững kiến thức về tự nhiên – xã hội một cách có hệ thống qua đó hình thành kĩ năng, kĩ xảo, thói quen, hành động.Hoạt động DH diễn ra một cách khoa học, các thành tố cấu trúc của DH được thực hiện nghiêm túc và phối hợp chặt chẽ thì sẽ đạt được mục tiêu của GD- ĐT. [1 tr. 29]
Tóm lại, Hoạt động dạy học là chỉ hoạt động chung của người dạy và người học, đó là hoạt động của thầy và hoạt động của trò trong quá trình lĩnh hội kiến thức thông qua mục tiêu, nội dung, phương pháp mà giáo dục hướng đến. Hai hoạt động này luôn gắn bó mật thiết và song hành với nhau.
b. Hoạt động dạy học ở trường tiểu học
Điều lệ trường TH (theo thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30/12/2010 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT về ban hành Điều lệ trường TH và thông tư số 50/2012/TT-BGDĐT ngày 18/12/2012 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT về sửa đổi, bổ sung điều 40; bổ sung điều 40A của thông tư số 41/2010/TTBGDĐT ngày 30/12/2010 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT về ban hành Điều lệ trường TH [19]:
Điều 2, Điều lệ Trường TH cho rằng “Trường TH là cơ sở GD phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng”
Trường tiểu học là cơ sở giáo dục của bậc tiểu học, bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. Đây là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ 6 tuổi đến 14 tuổi thực hiện trong 5 năm học từ lớp 1 đến lớp 5. Bậc học này nhằm giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn, lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các chức năng cơ bản để HS tiếp tục học THCS. Trường TH lần đầu tiên tác động đến các em bằng phương pháp nhà trường (bao gồm cả nội dung, PP và tổ chức GD); nơi đầu tiên tổ chức một cách tự giác hoạt động học tập với tư cách là một hoạt động chủ đạo cho trẻ em; nơi diễn ra cuộc sống thực của trẻ em và là nơi tạo ra cho trẻ em có nhiều hạnh phúc. Mỗi ngày đến trường là một ngày vui.
Tiểu học là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục phổ thông. Do đó, nội dung giáo dục phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, nền tảng, toàn diện và hệ thống; làm cơ sở cho sự phát triển hài hòa, toàn diện nhân cách của trẻ em, đáp ứng mục tiêu
giáo dục tiểu học.
Bên cạnh đó, giáo dục tiểu học có tính phổ cập. Nó gắn với lợi ích của cộng đồng dân cư. Do đó, nó thể hiện tính phổ cập, tính đại chúng. Giáo dục tiểu học được thực hiện có kết quả sẽ góp phần nâng cao dân trí cho cộng đồng, vừa trực tiếp góp phần đào tạo nhân lực và cũng tạo ra điều kiện thực tế để bồi dưỡng, phát hiện các nhân tài tương lai của đất nước.
Giáo dục tiểu học có tính nhân văn, tính dân tộc và tính hiện đại. Học sinh học xong tiểu học sẽ có trình độ văn hóa nói chung, trình độ GD phổ cập cấp TH để học tiếp cấp THCS. Trường TH là nơi đầu tiên dạy trẻ em biết yêu gia đình, quê hương, đất nước và con người, biết đọc, biết viết, biết làm tính, biết tìm hiểu tự nhiên, xã hội và con người. Chính vì vậy, trường TH có rất nhiều dấu ấn để lại trong suốt cuộc đời của mỗi con người.
Theo Điều lệ trường tiểu học, tại điều 3 chương I quy định nhiệm vụ và
quyền hạn của trường tiểu học: Tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động GD đạt chất lượng theo mục tiêu, chương trình GD phổ thông cấp TH do Bộ trưởng Bộ GD v& ĐT ban hành. Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em khuyết tật, trẻ em đã bỏ học đến trường, thực hiện phổ cập GD và chống mù chữ trong cộng đồng. Nhận bảo trợ và giúp các cơ quan có thẩm quyền QL các hoạt động GD của các cơ sở GD khác thực hiện chương trình GDTH theo sự phân công của cấp có thẩm quyền. Tổ chức kiểm tra và công nhận hoàn thành chương trình TH cho HS trong nhà trường và trẻ em trong địa bàn trường được phân công phụ trách. Xây dựng, phát triển nhà trường theo các quy định của Bộ GD&ĐT và nhiệm vụ phát triển GD của địa phương. Thực hiện kiểm định chất lượng GD. QL CB, GV, NV và HS. QL, sử dụng đất đai, CSVC, trang TB và tài chính theo quy định của pháp luật. Phối hợp với gia đình, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện hoạt động GD. Tổ chức cho CBQL, GV, NV và HS tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng. Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Ở các nhà trường nói chung và trường tiểu học nói riêng, QL hoạt động dạy học là quá trình CBQL xác lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, giám sát, kiểm tra hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS nhằm đạt mục tiêu đề ra. Trong toàn bộ quá trình quản lý nhà trường thì Quản lý hoạt động DH của CBQL cấp Phòng và cấp trường là hoạt động cơ bản, nó chiếm thời gian và công sức rất nhiều, bởi vì nhiệm vụ hàng đầu của QL hoạt động DH là QL có hiệu quả các thành tố cấu trúc của hoạt động DH. Cần phải tạo điều kiện và tác động cho sự cộng tác tối ưu giữa GV và HS nhằm xác định đúng mục tiêu, lựa chọn nội dung phù hợp kế hoạch, áp dụng hài hòa các PP, tận dụng các phương tiện và điều kiện hiện có, tổ chức linh hoạt các hình thức DH, tổ chức kiểm tra -đánh giá kết quả DH một cách tốt nhất. QL hoạt động DH là QL việc chấp hành các quy định (điều lệ, quy chế, nội quy…) về hoạt động giảng dạy của GV và hoạt động học tập của HS, đảm bảo cho hoạt động đó được tiến hành tự giác, có nề nếp, có chất lượng và hiệu quả cao. QL hoạt động DH là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL tới khách thể QL trong quá trình DH nhằm đạt được mục tiêu đề ra. QL hoạt động DH của CBQL cấp Phòng và cấp trường đối với các trường TH chính là QL quá trình sư phạm tương tác giữa GV, HS và yếu tố môi trường tác động vào hoạt động DH và GD theo chương trình đã được quy định. CBQL cấp Phòng và cấp trường chịu trách nhiệm QL toàn diện các mặt hoạt động trong nhà trường, mà trọng tâm là QL quá trình giảng dạy – GD, trong đó bao gồm một hệ thống cộng tác như: đảm bảo chương trình, nội dung giảng dạy các môn, cải tiến việc dạy và việc học, cung ứng những điều kiện DH. Ở trường TH, đa số giáo viên chủ nhiệm phải dạy toàn diện các môn học, một số giáo viên dạy môn chuyên nên đòi hỏi CBQL cấp Phòng và cấp trường không những là người có phẩm chất đạo đức tốt mà còn phải có năng lực chuyên môn và năng lực QL tốt để làm gương cho CB, GV về phẩm chất đạo đức, giúp đỡ GV về chuyên môn, QL có hiệu quả các hoạt động của nhà trường. CBQL cấp Phòng và cấp trường QL trường TH phải thể hiện hai vai trò: người GV và nhà QL. Vì vậy, CBQL cấp Phòng và cấp trường cần biết những kĩ năng nhất định của GV và những kĩ năng của nhà QL. Ta cần phải nhấn mạnh các kĩ năng của nhà QL vì đấy là sự khác biệt của CBQL cấp Phòng và cấp trường so với GV.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\ĐẠI HỌC SƯ PHẠM\Vận dụng quan điểm giao tiếp vào việc dạy học viết cho học sinh lớp 3\CHUYỂN VÙNG/ NguyenThiXuanHuyen-K37.QLGD.QNa2


