Quản lý hoạt động dạy học tiếng Việt cho học sinh trường tiểu học huyện Đak Đoa

Quản lý hoạt động dạy học tiếng Việt cho học sinh trường tiểu học huyện Đak Đoa

Quản lý hoạt động dạy học tiếng Việt cho học sinh trường tiểu học huyện Đak Đoa

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Nhìn lại lịch sử phát triển của mỗi quốc gia chúng ta dễ dàng nhận thấy: sự phát triển đi lên trong lãnh vực kinh tế cũng như khoa học kĩ thuật đều gắn liền với sự tiến bộ về giáo dục. Chẳng thế mà người ta luôn coi đầu tư cho giáo dục là một cuộc đầu tư thông minh và mang tính bền vững. Một quốc gia sẽ tiến nhanh trên con đường phát triển nếu đầu tư đúng và đủ cho giáo dục, nhưng cũng sẽ đi theo hướng ngược lại chậm phát triển và thụt lùi nếu giáo dục bị bỏ quên và không được chú trọng. Do vậy, phát triển giáo dục luôn được coi là yếu tố nền tảng, là yếu tố then chốt, đồng thời là động lực là đòn bẩy để phát triển kinh tế – xã hội, qua đó đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, của kinh tế xã hội cũng sẽ tác động trở lại làm cho giáo dục ngày càng phát triển và thăng hoa. Trên thực tế, đây là cơ hội nhưng cũng là thách thức đối với nhiều nước đang phát triển trong đó có đất nước Việt Nam bởi vì: kinh tế phát triển đòi hỏi giáo dục phải cung ứng những nhu cầu về nguồn lao động có chất lượng, có trình độ cao, có chuyên môn tay nghề …đây là thách thức đòi hỏi giáo dục nước nhà phải được quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất, phải cải tiến đổi mới nội dung và phương pháp, …để có thể tạo ra được nguồn lao động chất lượng cao đáp ứng nhu cầu đổi mới.

Trước xu thế của thời đại đồng thời xác định được tầm quan trọng của giáo dục, trong chính sách phát triển đất nước Đảng và Nhà nước luôn quan tâm chú trọng phát triển giáo dục và đào tạo. Hiến pháp năm 1992 quy định tại điều 35 và được sửa đổi bổ sung năm 2001 nhấn mạnh “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Bởi lẽ, phát triển giáo dục không chỉ giúp phát triển kinh tế nhưng trên hết và trước hết phát triển giáo dục là phát triển dân trí: giáo dục hình thành nhân cách chuẩn mực cho mỗi người dân, tạo ra những người lao động có tay nghề cao, năng động, sáng tạo, làm tiền đề cho sự phát triển của đất nước. Nghị quyết số 29 – NQ / TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. -trường học định hướng và hội nhập quốc tế ”nhấn mạnh“ Tạo chuyển biến cơ bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân “. Như thế, Đảng và Nhà nước cũng xác định giáo dục và đào tạo là một lợi thế, nhân tố then chốt và động lực mới để phát triển kinh tế – xã hội. Nghị quyết xác định: Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu tổ đồng bào; sống tốt, lao động có hiệu quả; xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu, phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế của hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, qua đó cho thấy nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam là con người phát triển cả về số lượng và chất lượng. Sự phát triển của một nền giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng có thể nói yếu tố then chốt nằm ở công tác quản lý giáo dục. Bởi vì, việc giáo dục và đào tạo diễn ra chủ yếu trong nhà trường, cụ thể là quản lý hoạt động dạy và học trong nhà trường.

Trong hệ thống giáo dục quốc dân hiện tại, giáo dục tiểu học là cấp học nền tảng, một cấp học quan trọng đối với sự phát triển của trẻ em, đây là thời điểm hình thành nhân cách và năng lực (trí tuệ và thể chất). Đồng thời, trong giai đoạn này giáo dục giúp hình thành nơi trẻ những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về thể chất, đạo đức, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản cho học sinh tiếp tục học THCS. Vì vậy, nếu giáo dục tiểu học được triển khai thực hiện tốt, vững chắc, đúng hướng thì sẽ có tác động bền vững đến các cấp học tiếp theo và ngược lại. Hiện nay, việc đổi mới giáo dục theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 đang được cụ thể hóa ở cấp học này. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng dạy học theo định hướng giáo dục năm 2018 đang là vấn đề được các trường tiểu học đặc biệt quan tâm.

Trong cơ cấu chương trình giáo dục tiểu học, Toán và Tiếng Việt là hai môn học chính. Bên cạnh môn Toán là môn khoa học đòi hỏi sự chính xác, rõ ràng để phát triển tư duy logic cho các em thì môn Tiếng Việt giúp các em hình thành và phát triển ngôn ngữ như một công cụ của lời nói và tư duy. Giúp họ học cách giao tiếp, truyền đạt những suy nghĩ và cảm xúc của họ một cách chính xác.

Đak Đoa là một huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Gia Lai – một tỉnh miền núi Tây Nguyên Việt Nam. Toàn huyện có gần 104.000 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 56% tổng dân số, chủ yếu là đồng bào Bahnar và Jrai. Tính đến năm 2022, toàn huyện có 22 trường tiểu học nằm rải rác ở 156 thôn, buôn. Trong thời gian qua, được sự quan tâm của các cấp chính quyền, ngành giáo dục địa phương đã đạt được nhiều kết quả, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, nhất là công tác quản lý dạy học tiếng Việt.

Vì vậy, vấn đề “Quản lý hoạt động dạy học tiếng Việt cho học sinh trường tiểu học, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai” được chọn làm đề tài nghiên cứu. Nhằm góp phần thực hiện tốt hơn nữa công tác phát triển giáo dục theo định hướng chương trình phổ thông năm 2018, phát triển giáo dục miền núi đặc biệt. Góp phần phát triển kinh tế địa phương.

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai, đề tài đề xuất một số biện pháp giúp nâng cao quản lý dạy học môn Tiếng Việt.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học.

3.2. Đối tượng nghiên cứu: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học huyện Đak Đoa tỉnh Gia Lai.

4. Giả thuyết khoa học

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý dạy học môn Tiếng Việt.

5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.

5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý dạy học môn Tiếng Việt nhằm nâng cao năng lực tiếng Việt cho học sinh tiểu học huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai;

5.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của biện pháp đã đề xuất.

6. Phạm vi nghiên cứu đề tài

6.1. Nội dung nghiên cứu: Biện pháp quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai ở các mặt: quản lý hoạt động dạy, quản lý hoạt động học, quản lý môi trường.

6.2. Địa bàn nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu tại 5 trường: tiểu học Số 1, trường THDL Trương Vĩnh Ký, ……..huyện Đak Đoa, tỉnh Gia lai.

6.3. Đối tượng khảo sát: Đề tài khảo sát cán bộ quản lý, giáo viên tại 5 trường huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.

6.4. Thời gian nghiên cứu: Năm học 2021- 2022 và 2022 – 2023

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Đề tài sử dụng các phương pháp nhằm phân tích, tổng hợp các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà Nước trong quản lý giáo dục, đặc biệt quản lý việc dạy học với đối tượng là học sinh tiểu học. Đồng thời nghiên cứu trên sách, báo chí, và các tài liệu liên quan đến nội dung đề tài.

7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
  • Phương pháp phỏng vấn
  • Phương pháp quan sát
  • Phương pháp chuyên gia.

7.3. Phương pháp xử lý số liệu

  • Thống kê toán học
  • Phương pháp khảo nghiệm

8. Cấu trúc luận văn

Luận văn bao gồm: phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung chính được trình bày trong ba chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt ở các trường tiểu học.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt ở các trường tiểu học huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.

– Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt ở các trường tiểu học huyện Đak Đoa tỉnh Gia Lai.

Quản lý hoạt động dạy học tiếng Việt cho học sinh trường tiểu học huyện Đak Đoa
Quản lý hoạt động dạy học tiếng Việt cho học sinh trường tiểu học huyện Đak Đoa

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN

TIẾNG VIỆT Ở CÁC TRƯỜNG HỌC TIỂU HỌC

Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Các khái niệm chính của đề tài

      1. Quản lý

Khái niệm về quản lý

Quản lý là một hoạt động độc đáo của con người. Hoạt động quản lý xuất hiện khi con người biết chung sống thành nhóm người, cộng đồng để săn bắt hái lượm hay cao hơn là lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất để duy trì và phát triển cộng đồng xã hội. Trong quá trình lao động sản xuất đã có sự phân công công việc, có sự quản lý, điều hành để đạt kết quả cao nhất. Và theo từng thời điểm lịch sử, từng chế độ xã hội và nghề nghiệp, khái niệm quản lý còn được hiểu theo những nghĩa khác nhau:

Theo C.Mác: “Quản lý là lao động điều khiển lao động”. C.Mác viết: “Bất cứ công việc lao động hay lao động chung nào được thực hiện trên quy mô lớn đều cần phải có sự chỉ đạo hài hòa các hoạt động của từng cá nhân… Một nhạc công độc tấu thì tự điều khiển, nhưng dàn nhạc phải có nhạc trưởng.” [8]

Harold Koontz khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp các nỗ lực của từng cá nhân để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Mục tiêu của quản lý là tạo ra một môi trường trong đó mọi người có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức với ít thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân nhất ”.

Trong từ điển tiếng Việt thông dụng, thuật ngữ “quản lý” được định nghĩa là “tổ chức kiểm soát các hoạt động của một đơn vị, cơ quan”.

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý vào việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh và phối hợp các nguồn lực bên trong và bên ngoài tổ chức (chủ yếu là các nguồn lực bên trong và bên ngoài). nguồn lực) một cách tối ưu để đạt được các mục tiêu của tổ chức với hiệu quả cao nhất ”. [7]

Với tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “quản lý là sự tác động có mục đích và có kế hoạch của chủ thể quản lý đối với tập thể người lao động (nói chung là đối tượng quản lý) nhằm đạt được những mục tiêu đã định.” [9]

Theo Trần Quốc Thanh: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt được mục tiêu, phù hợp với ý chí quản lý, phù hợp với quy luật khách quan”.

Tác giả Lê Quang Sơn cho rằng: Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức và có định hướng của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội … bằng hệ thống luật pháp, chính sách, nguyên tắc, phương pháp và biện pháp cụ thể. để làm cho tổ chức hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu quản lý. [10]

Tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau song có thể nói rằng: Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích.

Chức năng quản lý

Chức năng quản lý được coi là một dạng của hoạt động quản lý, thông qua chức năng quản lý, chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Hoạt động quản lý bao gồm bốn chức năng cơ bản: hoạch định, tổ chức, chỉ đạo và đánh giá. Các chức năng này được thực hiện trên cơ sở người quản lý nắm bắt được thông tin trong quản lý.

Lập kế hoạch; Đây được coi là công việc đầu tiên mà người quản lý phải làm trong công việc quản lý. Để thực hiện chức năng này, người quản lý phải căn cứ vào tình hình thực tế của tổ chức và các điều kiện khác để xác định mục tiêu và mục tiêu cần đạt, xác định các bước, xây dựng các biện pháp và phương tiện, điều kiện cần thiết. cần thiết để đạt được mục tiêu đã nêu.

Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kế hoạch; là tác động của người quản lý đối với đối tượng được quản lý trong quá trình thực hiện kế hoạch. Các nhà quản lý sử dụng ảnh hưởng của mình nhằm tác động đến các thành viên trong tổ chức qua đó làm cho họ tự giác, và nỗ lực giúp tổ chức đạt được mục tiêu. Hoạt động kiểm soát chủ yếu là: khuyến khích, giám sát, hướng dẫn, chỉ đạo,… nhằm tác động đến hành vi của các thành viên trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

Kiểm tra, và đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch: Đây là việc theo dõi, giám sát, đánh giá hoạt động của các bộ phận, các thành viên trong tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau (trực tiếp hoặc gián tiếp, định kỳ hoặc thường xuyên). Mục đích đánh giá kết quả đạt được so với mục tiêu đề ra trong từng thời kỳ, từng thời điểm. Trên cơ sở đó, kịp thời phát hiện những sai sót để điều chỉnh hành vi, hoạt động của cấp dưới và của chính người quản lý.

Các chức năng này vừa mang tính độc lập tương đối, nhưng đồng thời lại có quan hệ mật thiết với nhau tạo thành chu trình quản lý. Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý được thể hiện trong sơ đồ sau:

Lập K.H

Kiểm tra

Điều hành

T.chức TH

Sơ đồ 1.1: Quan hệ của các chức năng quản lý:

Các yếu tố của quản lý

Quản lý tồn tại với 3 yếu tố:

Chủ thể quản lý: tức là con người hoặc tổ chức do con người tạo ra, chịu trách nhiệm về việc sử dụng các công cụ và phương pháp, đưa ra các biện pháp, thực hiện các mục tiêu quản lý.

Đối tượng quản lý (đối tượng được quản lý): là những gì chủ thể quản lý tác động (tập thể người, nhóm người ..) để thực hiện mục tiêu quản lý.

Mục tiêu quản lý (chung cho cả đối tượng quản lý và chủ thể quản lý): là cơ sở để chủ thể quản lý đưa ra các tác động quản lý. Mục tiêu quản lý có thể do chủ thể quản lý đặt ra hoặc do yêu cầu trong thực tiễn đời sống xã hội hình thành. Các mục tiêu này có thể định lượng được, nhưng có lúc chúng mang tính định tính.

Mục tiêu của QL là tạo ra một môi trường mà mỗi thành viên có thể hoàn thành nhiệm vụ cá nhân và nhóm với những hạn chế về thời gian, tiền bạc và vật chất.

Các yếu tố của quản lý có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và nằm trong môi trường kinh tế – xã hội bao gồm trình độ dân trí, trình độ học vấn, tâm lý xã hội, phong tục tập quán, văn hóa, pháp luật, các tác động quốc tế … Môi trường này là nguồn gốc của thông tin và cũng quyết định hiệu quả của quản lý. Cụ thể thông qua sơ đồ sau:

Chủ thể

QL

Công cụ

QL

Phương pháp QL

Đối tượng

QL

Mục tiêu QL

MÔI TRƯỜNG QUẢN LÝ

Sơ đồ 1.2: Quá trình hoạt động quản lý

Biện pháp quản lý

a) Biện pháp:

Theo từ điển tiếng Việt: “Biện pháp là cách làm, cách giải quyết vấn đề cụ thể…”.

b) Biện pháp quản lý:

BPQL là tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý với mục đích thực hiện những công việc nhất định, nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Biện pháp quản lý một mặt xuất phát từ các quy luật kinh tế, tâm lý xã hội, các quy tắc tổ chức và các nguyên tắc quản lý chung. Đồng thời, BPQL cũng còn thể hiện rõ tính năng động của chủ thể quản lý. Thông thường, người ta căn cứ vào nội dung quản lý để đề xuất BPQL phù hợp. Các BPQL thường được sử dụng là:

Biện pháp tâm lý: tức là biện pháp tác động vào nhận thức của con người, giúp cho con người nhận thức được nhiệm vụ, tự giác thực hiện các yêu cầu của người quản lý, từ đó điều chỉnh thái độ và hành vi phù hợp.

Biện pháp kinh tế: tức là biện pháp qua đó tác động đến đối tượng quản lý thông qua lợi ích kinh tế mà cơ sở của nó là các quy luật kinh tế.

Biện pháp hành chính – tổ chức: là biện pháp tác động trực tiếp đến đối tượng quản lý trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính trong hệ thống quản lý do nhà nước đặt ra. Nó bao gồm các mối quan hệ giữa cá nhân và tổ chức, giữa các bộ phận với tập thể… Bất kỳ bộ máy quản lý nào cũng được quy định với tính chất của các mối quan hệ đó.

Mỗi phương pháp quản lý đều có những điểm mạnh và điểm yếu riêng. Một người quản lý tài giỏi là người biết vận dụng hài hòa các biện pháp qua đó có thể phát huy mặt mạnh và mặt hạn chế của từng biện pháp, từ đó tạo nên sức mạnh tổng hợp và mang lại hiệu quả thiết thực trong từng tình huống quản lý.

      1. Quản lý giáo dục

Khái niệm

Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người. Trong rất nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực quản lý giáo dục, đã có rất nhiều tác giả trong và ngoài nước đã đưa ra các khái niệm với các cách diễn đạt khác nhau:

Theo tác giả P.V Khudominky: Quản lý giáo dục là sự tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích. bảo đảm giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm cho họ phát triển toàn diện và hài hòa. [11]

Theo tác giả M.M Mechity Zade: Quản lý giáo dục là một tập hợp các biện pháp (tổ chức, đội ngũ giáo dục, kế hoạch, tài chính …) nhằm đảm bảo hoạt động bình thường của các cơ quan trong hệ thống. hệ thống giáo dục tiếp tục phát triển và mở rộng cả về số lượng và chất lượng.

Tác giả Lê Quang Sơn: Quản lý giáo dục là quản lý hệ thống giáo dục bằng mọi mắt có mục đích, có kế hoạch, có ý thức và tuân thủ các quy luật khách quan của chủ thể quản lý giáo dục. chuỗi của hệ thống giáo dục nhằm đưa hoạt động giáo dục của toàn hệ thống đạt được mục tiêu giáo dục [10].

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: QLGD là hệ thống tác động có mục đích, kế hoạch, phù hợp với quy luật của chủ thể quản lý, làm cho hệ thống vận hành theo đường lối, nguyên tắc giáo dục của Đảng. nhận thức rõ đặc điểm của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là quá trình dạy học và giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đạt được mục tiêu đã định, chuyển sang trạng thái mới về chất lượng. .

Theo tác giả Trần Kiệm: Quản lý giáo dục là sự tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục tiêu của chủ thể quản lý ở các cấp nhằm đảm bảo hình thành nhân cách cho thế hệ sau. trẻ em trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật chung của xã hội, các quy luật quản lý giáo dục, về sự phát triển tâm lý và thể chất của trẻ em. [thứ mười hai]

Theo tác giả Phạm Viết Vượng: Mục tiêu cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức một quá trình giáo dục có hiệu quả nhằm đào tạo những thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu. vì hạnh phúc của bản thân và xã hội.

Theo quan điểm giáo dục hiện đại của nhóm tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì rõ ràng: “Quản lý giáo dục là sự tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục tiêu của chủ thể quản lý ở các cấp, các cấp khác nhau đến mọi liên kết của toàn bộ hệ thống nhằm đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật của xã hội cũng như các quy luật của quá trình xã hội. [13]

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý giáo dục là quản lý nhà trường, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường hoạt động theo nguyên lý giáo dục, nhằm tiến tới mục tiêu. mục tiêu đào tạo cho ngành giáo dục, cho thế hệ trẻ và cho mỗi học sinh. [14]

Mục tiêu và nội dung của quản lý giáo dục

Mục tiêu: tạo lập nên được một môi trường thuận lợi nhất qua đó các cơ sở giáo dục và các thành viên trong đó hoàn thành được mục tiêu, nhiệm vụ phát triển giáo dục của mình.

Nội dung: tùy theo sự phân cấp quản lý mà nội dung QLGD được thực hiện theo các mức độ khác nhau, và chủ yếu tập trung ở một số nội dung cơ bản sau:

+ Xây dựng và chỉ đạo thực hiện các chính sách, quy hoạch, chiến lược, kế hoạch phát triển giáo dục.

+ Ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục, ban hành điều lệ nhà trường.

+ Quy định và chỉ đạo việc thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục, cơ sở vật chất, thiết bị trường học và tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp của một nhà giáo.

+ Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục.

+ Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên.

+ Huy động, quản lý sử dụng các nguồn lực.

      1. Quản lý hoạt động dạy học

Khái niệm

Quản lý HĐDH đó là những tác động của chủ thể quản lý lên HĐDH được tiến hành bởi GV, HS và sự hỗ trợ của các lực lượng giáo dục khác nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học.

Chủ thể quản lý HĐDH: hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, TTCM

Đối tượng QL: hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS

Nhiệm vụ quản lý hoạt động dạy học

  • Gắn liền hoạt động dạy học với việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
  • Tạo động lực, môi trường và các điều kiện thuận lợi, đồng thời kích thích tinh thần lao động sáng tạo của đội ngũ CB, GV.
  • Kết hợp với việc phát huy cao độ tính chủ động sáng tạo của mỗi thành viên với sự QL thống nhất của đội ngũ CBQL nhà trường.
  • Bảo đảm chất lượng dạy học cách bền vững.
  • Xây dựng cơ chế chính sách phù hợp, phát huy tối đa nội lực đi đối với sự tranh thủ tiền lực các LLGD phía ngoài nhà trường.

Yêu cầu quản lý HĐDH

  • Xác định mô hình quản lý rõ ràng: quản lý tập trung chủ yếu vào HĐ dạy của GV, trực tiếp với GV, giám tiếp với HS; thông qua quản lý HĐ dạy để quản lý HĐ học.
  • Bám sát mục tiêu dạy học của cấp học và từng khối lớp.
  • Bảo đảm quản lý song song cả hai mặt dạy và học.
  • Tạo khuôn khổ kỷ cương nhưng vẫn bảo đảm phát huy tính chủ động sáng tạo của GV, HS.
  • Tiếp cận lý luận giáo dục và lý luận quản lý giáo dục hiện đại.
  • Vận dụng các phương tiện quản lý hiện đại, tiến bộ…
      1. Hoạt động dạy học môn tiếng Việt
  • Tiếng Việt là môn học nền tảng trong môi trường giáo dục tiểu học, rèn luyện năng lực ngôn ngữ của học sinh, qua đó cung cấp kiến thức về văn hóa – xã hội, khoa học – công nghệ; Đồng thời giáo dục đạo đức, thẩm mỹ cho học sinh. Môn Tiếng Việt được chia thành nhiều phân môn hẹp: Tập đọc; Đánh vần; Ngữ pháp từ ngữ; Tập làm văn; Kể chuyện. Vì vậy, dạy học Tiếng Việt là một hoạt động tổng hợp ở nhiều lĩnh vực và môn học khác nhau, là một bộ phận của tổng thể quá trình giáo dục nhân cách, là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh. Truyền thụ, tiếp thu tri thức khoa học, kinh nghiệm xã hội, kỹ năng, kỹ xảo, hoạt động nhận thức và xây dựng phẩm chất cá nhân của người học.
  • Các thành tố trong hoạt động dạy học môn tiếng Việt

Quá trình dạy học bao gồm ba thành tố cơ bản: khái niệm khoa học, dạy và học.

Khái niệm khoa học tức là nội dung bài học, là đối tượng lĩnh hội, chiếm lĩnh của học sinh. Nó là một trong các thành tố khách quan quyết định logic của bản thân quá trình dạy học.

Hoạt động dạy: tức là một sự điều khiển được tối ưu hoá trong quá trình tự học dành cho học sinh để hình thành và phát triển nhân cách cho các em. Nếu như học nhằm mục đích chiếm lĩnh khái niệm khoa học thì hoạt động dạy lại có mục đích là điều khiển sự học tập. Dạy có hai chức năng thường xuyên tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau là truyền đạt thông tin dạy học và điều khiển hoạt động dạy học.

Học là một hoạt động trong đó học sinh là chủ thể, trong đó khái niệm khoa học là đối tượng chiếm lĩnh. Học là một quá trình người học tự giác, tích cực, tự chiếm lĩnh tri thức dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên.

Như vậy, dạy học tức là một quá trình dưới sự điều khiển của giáo viên, học sinh tự giác, tích cực cải biến hoạt động nhận thức của mình, nhằm thực hiện tốt các hoạt động dạy học. Hoạt động dạy học là quá trình thống nhất biện chứng giữa hai bộ thành tố cấu thành của quá trình dạy học đó là hoạt động dạy và hoạt động học. Để đạt được mục đích dạy học, cả hai phía người dạy và người học đều phải phát huy các yếu tố chủ quan của cá nhân (phẩm chất, năng lực) để xác định nội dung, lựa chọn phương pháp, tìm kiếm hình thức … Các nội dung trên được thực hiện phù hợp với sự quản lý, điều hành của các cấp quản lý giáo dục theo một kế hoạch thống nhất là tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá.

Để hoạt động dạy học có hiệu quả cần có môi trường sư phạm thuận lợi ở cả tầm vĩ mô và vi mô. Môi trường vi mô có nghĩa là môi trường giáo dục của gia đình, nhà trường và các mối quan hệ trong cộng đồng. Còn môi trường vĩ mô tức là môi trường phát triển kinh tế – xã hội, môi trường công nghệ tiên tiến. Bởi lẽ hoạt động dạy học có sự tham gia của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực, nhiều khía cạnh, đa dạng và phong phú. Thực tế cho thấy hoạt động dạy học quyết định chất lượng giáo dục của nhà trường. Cho nên, để nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường thì điều quan trọng và trước nhất cần nâng cao chất lượng hoạt động dạy.

      1. Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt
      2. Quản lý hoạt động dạy học là việc tổ chức có hệ thống những tác động có mục đích, được xây dựng theo kế hoạch, đúng theo quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong quá trình dạy học để hoàn thành kết quả nhắm tới. Như vậy, quản lý hoạt động dạy học thực chất là quá trình xây dựng kế hoạch chương trình dạy để tổ chức triển khai và giám sát đánh giá thực hiện của giáo viên và học sinh; quản lý các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động dạy học của cán bộ quản lý nhà trường.
  1. Quản lý việc giảng dạy của giáo viên

Quản lý việc giảng dạy của giáo viên bao gồm: quản lý việc thực hiện mục tiêu chương trình, nội dung dạy, hoạt động dạy học môn tiếng Việt. Đồng thời quản lý hoạt động học, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ hoạt động dạy học môn tiếng Việt theo định mức dạy học.

  1. Quản lý việc học tập của học sinh.

Quản lý hoạt động học của học sinh nhằm mục đích hướng đến phát triển năng lực học sinh. Việc quản lý việc học tập của học sinh bao gồm:

  • Quản lý động cơ học tập của học sinh.
  • Quản lý phương pháp học tập của học sinh.
  • Quản lý nề nếp, thái độ học tập.
  • Quản lý hoạt động học trên lớp.
  • Quản lý việc tự học của học sinh.

Quá trình quản lý các hoạt động này của học sinh sẽ giúp người dạy để nâng cao chất lượng học tập của học sinh.

Hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học

      1. Môn Tiếng Việt và những yêu cầu đổi mới trong hoạt động dạy học

Ngữ văn là một môn học quan trọng trong các cấp học và đặc biệt là cấp tiểu học. Thông qua môn học này, học sinh được hình thành và phát triển các năng lực chung và bộ môn như năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mỹ để sống và làm việc có hiệu quả, cũng như giúp học sinh học tốt các môn học khác và yêu thích việc học tập suốt đời.

Nội dung trọng yếu của môn học này bao gồm: mạch kiến ​​thức, kỹ năng cơ bản, thiết yếu về văn học và tiếng Việt, đáp ứng yêu cầu về phẩm chất và năng lực của học sinh ở từng cấp học. Trên cơ sở quán triệt những quy định cơ bản nêu trong chương trình giáo dục phổ thông. Chương trình Tiếng Việt nhấn mạnh một số quan điểm về xây dựng chương trình như sau: (i) Xây dựng trên cơ sở lý luận và thực tiễn, cập nhật những thành tựu của khoa học hiện đại. (ii) Lấy kỹ năng giao tiếp (đọc, viết, nói, nghe) làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình định hướng năng lực và đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất liên tục ở tất cả các cấp / lớp. Nền tảng về văn học và ngôn ngữ Việt Nam được lồng ghép vào dạy đọc, viết, nói và nghe. (iii) Xây dựng theo hướng mở; không quy định chi tiết nội dung giảng dạy và các văn bản cụ thể mà chỉ quy định các yêu cầu về đọc, viết, nói, nghe đối với từng lớp; quy định một số kiến ​​thức cơ bản, trọng tâm về văn học, tiếng Việt và một số văn bản quan trọng của văn học dân tộc là nội dung bắt buộc thống nhất đối với học sinh cả nước. (iv) Vừa đáp ứng yêu cầu đổi mới, vừa chú trọng kế thừa và phát huy những ưu điểm của chương trình Ngữ văn hiện có, nhất là chương trình hiện hành. Điểm khác biệt lớn nhất so với các chương trình trước là chương trình Ngữ văn lần này được xây dựng từ những phẩm chất, năng lực cần có của người học để lựa chọn nội dung dạy học. Các yêu cầu đối với mỗi lớp tập trung vào bốn kỹ năng chính: đọc, viết, nói và nghe. Đọc bao gồm các yêu cầu về đọc và hiểu chính xác. Yêu cầu về đọc hiểu bao gồm yêu cầu về hiểu văn bản (bao gồm đọc thẩm mỹ, cảm thụ, đánh giá và đánh giá cao) và hiểu bản thân (người đọc). Tập làm văn không chỉ đòi hỏi học sinh phải biết viết chữ, câu, đoạn văn mà còn phải biết tạo lập các kiểu văn bản, trước hết là các kiểu văn bản thông thường, sau đó là một số kiểu văn bản phức tạp hơn. Nói và nghe dựa trên nội dung đọc và viết để học sinh trình bày, nói và nghe một cách tự tin, hiệu quả; từ nói đúng đến nói tốt.

Mục tiêu môn học: thông qua các văn bản ngôn từ, đặc biệt là các văn bản văn học đặc sắc, môn tiếng Việt tạo cơ hội cho học sinh khám phá bản thân và thế giới xung quanh, hiểu con người, đồng cảm, chia sẻ, có nhân cách và đời sống tinh thần phong phú, có quan niệm và cách ứng xử nhân văn; bồi dưỡng cho học sinh tình yêu đối với ngôn ngữ và văn học Việt Nam, ý thức về cội nguồn, bản sắc dân tộc, góp phần bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa Việt Nam.

  • Mục tiêu: Ngữ văn là môn học thuộc lĩnh vực giáo dục ngôn ngữ và văn học, nó được trải đều từ lớp 1 đến lớp 12. Riêng ở cấp tiểu học, môn học này có tên là Tiếng Việt; ở trung học cơ sở và trung học phổ thông có tên là Ngữ văn.

Đây là một môn học vừa mang tính công cụ, vừa mang tính thẩm mỹ – nhân văn. Môn Tiếng Việt có vai trò vô cùng to lớn trong việc giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất cao đẹp; có những cảm xúc lành mạnh, biết tôn trọng cái đẹp; có đời sống tinh thần phong phú; có tâm hồn nhân hậu và lối sống nhân ái, vị tha. Thông qua môn học này học sinh được hình thành, phát triển các kĩ năng sử dụng tiếng Việt thống qua các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói. Góp phần rèn luyện các thao tác tư duy. Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giảng về tiếng Việt. Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt nam. Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học cho học sinh.

  • Nội dung: Nội dung cốt lõi của môn học bao gồm các mạch kiến thức và kỹ năng cơ bản, thiết yếu về văn học và tiếng Việt như: Dạy kỹ năng đọc hiểu. Dạy kỹ năng viết chính tả (viết đúng chính tả và đúng tốc độ). Cung cấp kiến thức về từ và câu qua đó giúp học sinh dùng từ, viết câu, viết đoạn văn đúng quy tắc ngữ pháp tiếng Việt. Rèn kỹ năng tạo văn bản nói và viết cho học sinh
  • Phương pháp: theo sách Những vấn đề chung của phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học của Lê Phương Nga (chủ biên) thì phương pháp dạy học tiếng Việt được hiểu như sau:

Với tư cách là một môn khoa học: phương pháp dạy học tiếng Việt là một hệ thống lí thuyết và các kĩ năng cơ bản để tổ chức quá trình dạy học tiếng Việt với tư cách là tiếng mẹ đẻ. Phương pháp học tiếng Việt bao gồm: Phương pháp giải quyết vấn đề; Phương pháp thực hành trải nghiệm; Phương pháp đàm thoại; Phương pháp thảo luận nhóm; Phương pháp trò chơi; Các phương pháp khác

  • Hình thức tổ chức: Tiếng Việt là một môn học trọng yếu trong chương trình tiểu học. Để giúp học sinh chiếm lĩnh được đầy đủ nhất những nội dung bài học, người giáo viên cần đa dạng trong việc sử dụng các phương pháp và phối hợp với các hình thức dạy học như: Dạy học theo lớp; Dạy học theo nhóm; Dạy học trong môi trường giả định; Dạy học trong môi trường thực tế; Tổ chức ngoại khóa, tham quan; Hình thức khác….
  • Đánh giá trong dạy học môn tiếng Việt: đánh giá là một trong những việc hết sức quan trọng để có thể lượng định những mục tiêu giáo dục đã đặt ra. Có nhiều hình thức đánh giá như: quan sát, đánh giá qua sản phẩm hoạt động của học sinh; Đánh giá qua quá trình thực hành; Xây dựng công cụ đánh giá kết quả phù hợp năng lực của học sinh; Đánh giá kết quả của học sinh theo chuẩn kiến thức, kỹ năng môn tiếng Việt; Đánh giá khách quan, công bằng

Bên cạnh việc góp phần phát triển năng lực chung, chương trình môn tiếng Việt chú trọng giúp học sinh phát triển năng lực giao tiếp, năng lực thẩm mỹ; cung cấp hệ thống kiến ​​thức chung cơ bản về văn học và ngôn ngữ Việt Nam góp phần phát triển vốn học thức cơ bản của một người có văn hóa; hình thành và phát triển con người nhân văn, biết tiếp nhận, cảm nhận, thưởng thức và trân trọng những sản phẩm ngôn từ và những giá trị cao đẹp trong cuộc sống.

Tiếng Việt là một trong những môn học bắt buộc trong chương trình học ở bậc tiểu học, chiếm thời lượng lớn. Đây là môn học cơ bản để học sinh tiếp thu kiến ​​thức. Vì vậy, nhà trường cần có đội ngũ giáo viên đạt chuẩn, có cơ cấu hợp lý, đủ số lượng. Mỗi giáo viên cần hội đủ những yêu cầu cần thiết như: linh hoạt, sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm nhằm đảm bảo chất lượng theo yêu cầu cần đạt về kiến ​​thức, kỹ năng, phẩm chất và năng lực cho học sinh. Đồng thời, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, cải thiện môi trường, đổi mới phương pháp dạy học để thực hiện có hiệu quả việc dạy học tiếng Việt, đáp ứng chương trình phổ thông mới.

      1. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học

Học sinh tiểu học thường có độ tuổi từ 6 đến 11 tuổi, đây được xem là những mầm non xanh ươm của cuộc sống. Các em thường rất hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng và có nhiều tiềm năng để phát triển trí tuệ, tài năng. Đây cũng là lứa tuổi mà các em sẽ có thêm nhiều mối quan hệ như bạn bè, thầy cô dẫn đến những thay đổi trong tâm lý, cảm xúc.

  • Về thể chất: đây là giai đoạn hệ cơ và hệ xương đang nằm trong thời kỳ phát triển rất mạnh, tuy nhiên vẫn chưa hoàn chỉnh vì còn nhiều mô sụn. Do vậy, hệ xương vẫn còn yếu và rất dễ bị tổn thương như bị gãy, dập, cong vẹo khi có va đập mạnh.
  • Đặc điểm quá trình nhận thức

Tri giác: giai đoạn này tri giác của học sinh tiểu học chưa hoàn thiện mà chỉ mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và không ổn định. Ở đầu cấp tiểu học tri giác của học sinh thường gắn với các hành động trực quan, cụ thể. Đến cuối cấp tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ bắt đầu thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn… Tri giác của trẻ đã bắt đầu mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng – Tri giác có chủ định tức là trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó,…Người dạy cần cần nắm bắt được các vấn đề này để có thể thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, như cậy sẽ dễ dàng kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác.

Trí nhớ: trong giai đoạn tiểu học thì loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ – lôgic. Giai đoạn lớp 1,2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa. Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu. Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường. Ghi nhớ có chủ định đã phát triển. Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em… Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức.

Tư duy: tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động. Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát. Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận. Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn ở giai đoạn sơ đẳng.

Tưởng tượng: tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn. Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau: ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi. Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh,…. Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em.

  • Về ngôn ngữ: ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ. Thông qua ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ. Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ. Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo. Khi trẻ vào lớp một bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết. Đến lớp năm thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm. Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau. Tuy nhiên lứa tuổi này thường ghi nhớ nhanh nhưng cũng nhanh quên. Trẻ có khả năng ghi nhớ rất nhanh vì não bộ đang phát triển mạnh về chức năng nhưng các em lại thường không tập trung vào một việc nào đó lắm.
  • Hiếu kỳ cũng là một đặt điểm tâm sinh lý nổi bật nơi học sinh tiểu học mà ai cũng dễ nhìn thấy. Bằng chứng là các cháu rất hay thích khám phá thế giới xung quanh, thích hỏi những điều mình không biết, thích chạm vào những vật lạ và hay bị thu hút bởi những cái mới, và luôn luôn hướng tới cái mới.
  • Tâm lý, cảm xúc và tình cảm của trẻ trong lứa tuổi tiểu học rất đa dạng, các cháu thường vô tư, sảng khoả

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\ĐẠI HỌC SƯ PHẠM\Vận dụng quan điểm giao tiếp vào việc dạy học viết cho học sinh lớp 3\CHUYỂN VÙNG/ HoangThiCay-K41.QLGD.Luanvan

Quản lý hoạt động dạy học tiếng Việt cho học sinh trường tiểu học huyện Đak Đoa Quản lý hoạt động dạy học tiếng Việt cho học sinh trường tiểu học huyện Đak Đoa Quản lý hoạt động dạy học tiếng Việt cho học sinh trường tiểu học huyện Đak Đoa Quản lý hoạt động dạy học tiếng Việt cho học sinh trường tiểu học huyện Đak Đoa

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *