Dạy học Tập làm văn miêu tả ở lớp 4 theo quan điểm giao tiếp
PHẦN MỞ ĐẦU
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
- Trẻ em là những mầm non tương lai của đất nước, là chủ nhân của đất nước sau này. Bậc tiểu học là một bậc học vô cùng quan trọng, đó là nền tảng cung cấp cho các em kiến thức đầu tiên để áp dụng trong cuộc sống cũng như quá trình học tập sau này. Bởi vậy, việc giáo dục trẻ em là một trong những điều cần thiết của mỗi quốc gia.
Trong chương trình Tiểu học, Toán và Tiếng Việt là hai môn học chính, chiếm thời lượng nhiều hơn cả. Trong đó, môn tiếng Việt giúp hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) đề học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động lứa tuổi. Và Tập làm văn là một phân môn tổng hợp kiến thức của nhiều phân môn khác nhau góp phần rèn luyện kĩ năng nói, viết, cũng như rèn luyện tư duy (tư duy hình tượng, tư duy logic, kĩ năng phân tích – tổng hợp – phân loại – lựa chọn) và hình thành nhân cách (lịch sự, khuôn mẫu trong giao tiếp; bồi dưỡng tình cảm đẹp và vốn sống…) cho học sinh tiểu học.
- Giao tiếp là một hoạt động không thể thiếu được trong cuộc sống con người.Nhờ có giao tiếp mà con người hình thành nên được những mối quan hệ cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng, xã hội. Mọi người có thể trao đổi thông tin, chia sẻ những kiến thức bổ ích cho nhau. Chính vì vậy mà giao tiếp đã trở thành một trong những mục tiêu chủ yếu của việc dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy học Tập Làm Văn nói riêng. Dạy học tập làm văn theo quan điểm giao tiếp là nhằm mục đích phát triển năng lực giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết), năng lực hiểu cho học sinh. Lấy học sinh là trung tâm, cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản để học sinh biết cách sử dụng tiếng Việt, biết giữ gìn và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt. Như vậy, dạy học tập làm văn không hẳn nhằm mục đích giúp các em trở thành những nhà văn, nhà
thơ mà quan trọng hơn nó giúp các em trở thành những công dân có ích cho xã hội.
- Tập làm văn là tập làm ra văn bản, tập tạo lập văn bản. Văn bản là sản phẩm của quá trình giao tiếp và in dấu các nhân tố tham gia vào giao tiếp. Văn bản mang bản chất giao tiếp. Nhưng dạy học tập làm văn ở tiểu học thường được chú ý nhiều từ phương diện kỹ thuật tạo lập văn bản mà ít quan tâm đến phương diện giao tiếp của văn bản. Chủ thể giao tiếp, chủ thể phát ngôn trong bài văn là học sinh cũng ít được quan tâm.Trong chương trình tập làm văn ở tiểu học, có thể nói tập làm văn miêu tả là một thể loại chính của phân môn này. Qua học tập làm văn miêu tả, học sinh có cái nhìn tường tận hơn về mọi sự vật, sự việc diễn ra xung quanh trẻ. Âu cũng là một quá trình giao tiếp đầy thú vị của trẻ với đối tượng miêu tả. Tuy nhiên, trong thực tế một số giáo viên chưa định hình được phương pháp dạy Tập làm văn miêu tả cho phù hợp với mục đích và nội dụng của bài học đặt ra, nên hiệu quả của các tiết dạy tập làm văn miêu tả nhìn chung còn chưa cao. Dạy học Tập làm văn miêu tả ở Tiểu học phải đổi mới theo hướng giao tiếp Phải thay đổi quan điểm và phương pháp dạy học, lấy quan điểm giao tiếp làm quan điểm chỉ đạo và thực hiện triệt để việc tổ chức bài học tập làm văn miêu tả thông qua hoạt động giao tiếp của bản thân học sinh.
Từ những lí do trên, chúng tôi quyết định tìm hiểu nghiên cứu đề tài:
“Dạy học Tập làm văn miêu tả ở lớp 4 theo quan điểm giao tiếp”.
LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học phân môn tập làm văn, thể loại miêu tả theo quan điểm giao tiếp.
Quán triệt hơn nữa việc thực hiện quan điểm giao tiếp trong dạy học phân môn tập làm văn nói riêng, trong dạy học tiếng Việt ở Tiểu học nói chung.
NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Tổng hợp các cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của việc dạy học tập làm văn miêu tả theo quan điểm giao tiếp.
Phân tích chương trình SGK Tiếng Việt lớp 4, hướng dẫn làm bài tập làm văn miêu tả ở lớp 4.
Xây dựng một số biện pháp vận dụng quan điểm giao tiếp vào trong dạy học phân môn Tập làm văn nói chung và thể loại văn miêu tả nói riêng cho học sinh lớp 4.
Thực nghiệm sư phạm, đánh giá kết quả quá trình vận dụng quan điểm giao tiếp vào dạy học tập làm văn miêu tả.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Nội dung và phương pháp dạy học tập làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4 trong giờ tập làm văn theo quan điểm giao tiếp.
Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 4 ở một số trường tiểu học ở Vĩnh
Phúc.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu lí luận Phương pháp nghiên cứu thực tiễn Phương pháp thực nghiệm sư phạm Phương pháp thống kê, so sánh Phương pháp điều tra, khảo sát Phương pháp thực nghiệm sư phạm
GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
CẤU TRÚC CỦA KHÓA LUẬN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2 Biện pháp dạy học tập làm văn miêu tả theo quan điểm giao tiếp Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Văn miêu tả
Thế nào là văn miêu tả
Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông, NXB TP. Hồ Chí Minh, 2005, Miêu tả là “dùng ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung được sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người”.
Theo Từ điển Tiếng Việt, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1997, Miêu tả có nghĩa là “Thể hiện sự vật bằng lời hay bằng nét vẽ”.
Theo Đào Duy Anh trong Hán Việt tự điển, miêu tả là “lấy nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện cái chân tướng của sự việc”.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo Dục, 2006, Miêu tả là “một phương pháp thuộc tu từ học điển, bao gồm nhiều kiểu miêu tả hình tượng hóa, đối lập với trần thuật.”
Miêu tả là thể loại dùng lời nói có hình ảnh và có cảm xúc làm cho người nghe, người đọc hình dung một cách rõ nét, cụ thể về người, vật, cảnh vật, sự việc như nó vốn có trong đời sống. Một bài văn miêu tả hay hay không, không chỉ dừng lại ở việc miêu tả những nét đặc trưng, đặc điểm, tính chất … của sự vật, hiện tượng bằng những lời bình luận, những đánh giá, nhận xét chung chung hay sự sao chép một cách máy móc về sự vật, con người, đối tượng miêu tả như bông hoa này đẹp, cái cặp này đẹp quá… Mà phải nhìn nhận bằng sự tinh tế, sự nhạy cảm, bằng những ngôn từ sinh động để cho người đọc người, người nghe cảm thấy như mình đang đứng trước những sự vật, hiện tượng đó và có thể cảm nhận được tất cả những gì mà người viết muốn hướng tới. Điều này đặt ra rằng, người làm văn phải đặt bản thân vào đối tượng mà mình cần miêu tả để có thể hiểu được đối tượng đó.
Đặc điểm của văn miêu tả
Môn Tập làm văn lâu nay có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau:
Ý kiến thứ nhất cho rằng phân môn tập làm văn thuộc môn tiếng Việt. Nó ứng dụng các kiến thức kĩ năng tiếng Việt vào một bài cụ thế.
Ý kiến thứ hai cho rằng phân môn tập làm văn thuộc môn văn. Những người theo quan niệm này, họ coi trọng chất văn trong quá trình dạy học làm văn, thường lướt qua các kĩ năng và thao tác làm bài văn.
Ý kiến thứ ba cho rằng phân môn tập làm văn nằm ở biên giới của văn học và tiếng Việt. Với quan niệm đó, môn làm văn được xem là môn học độc lập, riêng biệt với môn văn và môn tiếng Việt.
Ý kiến thứ tư cho rằng môn làm văn là môn học tích hợp, tổng hợp của văn và tiếng việt.
Trong khóa luận này, chúng tôi đồng tình với ý kiến thứ tư – cho rằng môn làm văn là môn học tích hợp, tổng hợp của văn và tiếng việt.
Dạy học tập làm văn cho học sinh Tiểu học phải chú ý đến rèn luyện cho học sinh cả hai mặt: kỹ năng và tri thức, tâm hồn. Trong quá trình dạy học Tập làm văn, giáo viên không chỉ nên quan tâm đến việc rèn kĩ năng mà quên mất việc cung cấp tri thức về cuộc sống, đặc biệt rèn luyện tâm hòn và cảm xúc cho các em. Nếu như thiếu một trong hai yếu tố trên, học sinh không thể nào viết được một bài văn miêu tả hay, sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn người đọc.
Từ những ý nghĩa đó, môn tập làm văn miêu tả có các đặc điểm sau:
Văn miêu tả là loại văn sáng tác
Mỗi bài tập làm văn miêu tả là sản phẩm của mỗi cá nhân, nó mang đậm dấu ấn chủ quan của người viết. Thông qua mỗi bài tập làm văn miêu tả, người đọc thấy được những suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm, cách tả, cách diễn đạt, lối hành văn của người viết. Chính vì vậy, miêu tả là một loại văn sáng tác.
Văn miêu tả nhằm hướng dẫn cho học sinh biết cách nhận thức cuộc sống và thể hiện nhận thức cuộc sống ấy bằng ngôn từ
Việc dạy cho học sinh viết các bài tập làm văn miêu tả không phải là lắp ghép các từ ngữ lại với nhau để trở thành một bài văn. Làm văn miêu tả là dạy cho học sinh biết nhận thức, khám phá, phát hiện, tìm tòi ra những điều mới lạ ở xung quanh cuộc sống. Dạy học văn miêu tả góp phần bồi dưỡng tâm hồn trẻ thơ, hình thành ở học sinh vốn sống, vốn hiểu biết. Tâm hồn của các em không thờ ơ trước những sự vật, hiện tượng mà thay vào đó là các em cảm nhận được vẻ đẹp, cái hay, cái mới lạ của đối tượng miêu tả. Chẳng hạn,khi học sinh miêu tả về cái cặp sách thì các em không chỉ biết rằng cặp sách có hình chữ nhật, hình vuông, có những màu sắc khác nhau mà cặp sách còn được dùng để đựng sách, đề đồ dùng học tập, cặp sách như người bạn thân thiết của các em.
Văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mỹ, chứa đựng tình cảm của người viết
Bất kì một sự vật, hiện tượng nào cũng có thể trở thành đối tượng miêu tả. Một cái bàn, bút chì, thước kẻ… đều có thể trờ thành đề tài để học sinh miêu tả. Tuy nhiên, không phải sự miêu tả nào cũng trở thành văn miêu tả. Trong các môn khoa học cũng có sự miêu tả. Nhưng đó là sự miêu tả khách quan gạt bỏ những cảm xúc chủ quan, riêng tư của người viết nhằm thông báo những đơn vị kiến thức cho người đọc. Trong khi đó, đối tượng của bài văn miêu tả luôn được người viết xem xét cẩn thận, kĩ lưỡng. Người đọc khi đến với văn miêu tả đều dễ tìm thấy ở đây những cảm xúc riêng tư, những lời tâm sự của tác giả. Đó là tình cảm yêu, ghét, quý trọng hay những ý kiến đánh giá, những lời nhận xét về đối tượng miêu tả. Vì vậy, văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mỹ, chứa đựng tình cảm của người viết.
Văn miêu tả mang tính sinh động và tạo hình
Một bài văn miêu tả được coi là sinh động và tạo hình khi các sự vật, đồ vật, phong cảnh, con người… được miêu tả trong đó hiện lên qua từng câu, từng dòng như trong cuộc sống thực, tưởng như có thể cầm nắm được, có thể nhìn ngắm hoặc sờ mó như cách nói của Goocki.
Tuy nhiên, trong quá trình tạo lập văn bản, người viết cần phải gạt bỏ những chi tiết không cần thiết, không có sự gợi tả, gợi cảm. Từ đó chọn lọc những chi tiết sống, gây ấn tượng mạnh mẽ vào bài văn miêu tả, không nên rập khuôn, máy móc, bắt chước để rồi đưa vào văn bản các chi tiết rườm rà theo kiểu liệt kê, đơn điệu.
Ngôn ngữ của bài văn miêu tả bao giờ cũng là ngôn ngữ giàu cảm xúc và hình ảnh
Ngôn ngữ của bài văn miêu tả đó phải là ngôn ngữ giàu cảm xúc và hình ảnh, phải là những từ ngữ hết sức “đắt” giá, thể hiện được cảm xúc của người viết, mang tính tạo hình làm nổi rõ đối tượng miêu tả.
Trong bài văn miêu tả, ngôn ngữ thường giàu tính từ, động từ. Người viết thường xuyên sử dụng các biện pháp tu từ: nhân hóa, ẩn dụ, so sánh để miêu tả. Do sự phối hợp của các tính từ, động từ với các biện pháp tu từ, ngôn ngữ miêu tả luôn tỏa sáng lung linh trong lòng người đọc, gợi lên trong lòng họ những cảm xúc, tình cảm ấn tượng, hình ảnh về sự vật được miêu tả.
Các bước làm bài văn miêu tả
+ Xác định các đối tượng miêu tả
+Quan sát đối tượng miêu tả bằng các giác quan theo một trình tự nhất định về không gian, thời gian, tâm lý.
+ Xây dựng cấu trúc bài văn miêu tả gồm ba phần: mở bài, thân bài, kết
bài.
+ Viết bài văn miêu tả.
Các dạng bài văn miêu tả ở Tiểu học
– Tả đồ vật
Tả đồ vật là dùng lời văn có hình ảnh gợi cho người đọc như thấy cụ thể trước mắt đồ vật đó hình dạng như thế nào, kích thước thế nào, màu sắc ra sao, gắn bó với người làm ra hoặc đang sử dụng nó như thế nào.
Các đồ vật HS tiểu học miêu tả thường là những đồ vật quen thuộc với các em: cái cặp sách đi học mang bên mình, cái bàn học ngồi học, tấm lịch treo, cái trống trường…
Việc miêu tả đồ vật không nhằm vào giới thiệu những tri thức thuần quý về sự vật: cấu tạo, công dụng, ích lợi của nó. Đó là công việc của người chào hàng, của nhà kĩ thuật… Văn miêu tả đồ vật thông qua việc tả những đặc điểm đặc sắc của đồ vật cần gợi nhớ đến mối quan hệ của nó với đời sống tình cảm của con người.
- Tả cây cối
Đối tượng của tả cây cối là cây cối xung quanh chúng ta. Tả cây cối là nêu ra những đặc điểm cụ thể, riêng biệt về hình dáng hoa, quả, hương thơm… của cây ở một thời kì phát triển nào đó, làm cho người đọc tưởng tượng như mình đang nhìn, đang ngắm cây.
- Tả loài vật
Đối tượng miêu tả của thể loại văn này là những con vật, các em đã có dịp tiếp xúc: con lợn hay ăn chóng lớn, con mèo rình chuột, con gà trống đang gáy sáng.
Bài văn miêu tả loài vật làm cho người đọc như sống cùng với chúng, nhìn ngắm hình dáng bên ngoài, chứng kiến các hoạt động của chúng.
- Tả cảnh
Cảnh miêu tả rất đa dạng. Mỗi cảnh lại có phần trọng tâm, có miêu tả được phần đó mới là nổi lên cảnh cần tả. Khi miêu tả không nên theo lối liệt kê, tả cho đủ các bộ phận, cần chọn những nét đặc sắc nhất, nổi bật nhất về màu sắc âm thanh, hương vị, đường nét, về đồ vật, cây cối, nhà cửa, con người… có trong cảnh.
- Tả người
Mỗi người sống trong một không gian, một thời gian cụ thể có những điểm riêng thuộc về tầm vóc, hình dáng, tuổi tác… lại khác nhau ở tính tình,
hứng thú, sở thích. Tả người chính là tả những nét riêng đó. Ở cấp tiểu học, HS tả những người mà các em thường xuyên có quan hệ khăng khít (bố, mẹ, anh, chị…) hoặc có nhiều dịp tiếp xúc (cô giáo, thầy giáo, bạn bè …). Nếu đó là những người ít gặp thì phải để lai ấn tượng mạnh, nhiều tình cảm sâu sắc cho các em. Những mối quan hệ, các dịp tiếp xúc đó tạo ra cho HS điều kiện thu thập các chi tiết cần thiết để làm bài miêu tả
Cơ sở lí luận của văn miêu tả
Cơ sở ngôn ngữ học
Những cách hiểu khác nhau về văn bản
Bàn về khái niệm văn bản có rất nhiều ý kiến khác nhau. Sau đây là một số khái niệm về văn bản:
“Văn học được hiểu là bậc điển thể là phát ngôn bất kì có kết thúc và có liên kết, có tính chất độc lập và đúng về ngữ pháp”. (W.Koch, 1966).
Văn bản “là chuỗi nối tiếp các đơn vị ngôn ngữ được làm thành bởi một dây chuyền của các phương tiện thế có hai trắc diện” (trục dọc và ngang – D.Q.B) (R.Harweg, 1968)
“Văn bản là một chuỗi ngôn ngữ giải thuyết được ở mặt hình thức, bên ngoài ngữ cảnh” (Cook,1989)
Nói một cách chung nhất thì văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là các phần tử. Ngoài các câu – phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc. Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung. Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên kết ấy”. (Trần Ngọc Thêm, 1985).
Văn bản là sản phẩm của ngôn ngữ do con người tạo ra trong quá trình giao tiếp, được tổ chức từ các câu, bao gồm nhiều câu và là đơn vị giao tiếp quan trọng nhất, cơ bản nhất của ngôn ngữ. Có những trường hợp chỉ có một
câu tục ngữ, một câu khẩu hiệu hay một lời quảng cáo…, tuy ngắn nhưng cũng là một văn bản.
Văn bản thường là một chuỗi câu được sắp xếp phù hợp với nguyên tắc tổ chức nhất định, theo một kết cấu nhất định. Không phải sự lắp ghép nào giữa các câu cũng cho ta đoạn văn, mặc dù các câu trong đoạn văn đó đều đúng ngữ pháp và nghĩa. Và không phải sự lắp ghép nào giữa các đoạn văn cũng cho ta một bài văn đúng. Vì vậy, việc rèn luyện cho các em các kĩ năng làm văn – tạo lập văn bản là một công việc hết sức cần thiết.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\ĐẠI HỌC SƯ PHẠM\Vận dụng quan điểm giao tiếp vào việc dạy học viết cho học sinh lớp 3\LUẬN VĂN THAM KHẢO/ Dạy học Tập làm văn miêu tả ở lớp 4 theo quan điểm giao tiếp


