Ngân hàng là một tổ chức tài chính trung gian thực hiện tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trong nền kinh tế, vì vậy hoạt động huy động vốn của Ngân hàng luôn được coi là nhiệm vụ hàng đầu và có ý nghĩa quyết định cho toàn bộ hoạt động của Ngân hàng, quyết định quy mô, phạm vi hoạt động và mở rộng tín dụng của ngân hàng, quyết định khả năng thanh toán, chi trả và đảm bảo hoạt động cho ngân hàng trên thị trường và đặc biệt quyết định đến năng lực cạnh tranh của NHTM trong nền kinh tế mở cửa hiện nay. Giúp cho các NHTM thực hiện đươc chức năng lưu thông tiền tệ, chức năng tạo tiền cho nền kinh tế cũng như chức năng là trung gian tài chính thúc đẩy hoạt động đầu tư, kích thích nền kinh tế phát triển.
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trong xu thế hội nhập quốc tế, cùng với sự bùng nổ của khoa học công nghệ, sự phát triển của kinh tế thì đời sống của người dân ngày một nâng cao, nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư còn rất lớn và nhu cầu gửi tiền vào ngân hàng cũng có xu hướng ngày càng tăng. Nguồn vốn của các ngân hàng được huy động từ nhiều nguồn khác nhau nhưng chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn vẫn là nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm trong dân cư. Vì thế, đây là thị trường rất quan trọng, đầy tiềm năng để ngân hàng đẩy mạnh huy động vốn và mở rộng cung cấp các sản phẩm tiền gửi để thu hút khách hàng.
Tuy nhiên, thực tế hoạt động huy động vốn, nhất là huy động tiền gửi tiết kiệm trong dân cư còn gặp nhiều khó khăn, do việc cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các ngân hàng trong việc thu hút khách hàng này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của hoạt động huy động vốn cũng như thói quen của nhiều khách hàng là thích dự trữ ngoại tệ và kim loại quý tại nhà.
Trong thời gian qua, Nguồn vốn huy động tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đông Gia Lai liên tục tăng trưởng nhưng so với định hướng phát triển thì những kết quả đạt được còn chưa cao như kỳ vọng, làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh cũng như sự phát triển lâu dài của chi nhánh. Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa lớn lao của vấn đề trên, nên tôi chọn đề tài “Hoàn thiện hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đông Gia Lai.” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp của mình.
Luận văn tập trung 3 mục tiêu chính sau đây:
– Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm, các tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm.
– Mô tả phân tích, đánh giá tình hình thực tế hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đông Gia Lai.
– Đưa ra những khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đông Gia Lai
Để đạt được những mục tiêu trên, đề tài cần giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:
– Nội dung của hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm là gì? Những tiêu chí để đánh giá hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của NHTM?
– Thực trạng hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đông Gia Lai trong thời gian qua như thế nào?
– Cần đề xuất những khuyến nghị gì để hoàn thiện hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đông Gia Lai ?
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận về hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của NHTM và thực tiễn huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đông Gia Lai.
Phạm vi nghiên cứu
+Về nội dung : Phân tích thực trạng huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đông Gia Lai. Luận văn không nghiên cứu về công tác quản trị rủi ro trong hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm.
+ Phạm vi về thời gian : Giai đoạn 2016-2018. Những khuyến nghị về phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đông Gia Lai được xem xét nghiên cứu áp dụng cho giai đoạn 2018 – 2020 và một số năm tiếp theo.
+ Phạm vi về không gian: Tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đông Gia Lai.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp, hệ thống hóa, đối chiếu được vận dụng trong xây dựng cơ sở lý luận và phân tích các thông tin phi định lượng và nghiên cứu đề xuất giải pháp.
- Phương pháp quan sát: Quan sát thực tế quá trình hoạt động của bộ máy kế toán, các quy trình nghiệp vụ để nắm bắt, hiểu rõ được hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đông Gia Lai.
- Phương pháp thống kê: các phương pháp thống kế được sử dụng bao gồm : phân tích sự biến động theo thời gian; phân tích cơ cấu; phân tích mức độ hoàn thành kế hoạch,..để phân tích đánh giá thực trạng hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đông Gia Lai trong thời gian qua.
- Phương pháp điều tra, khảo sát : thực hiện khảo sát ý kiến các nhân viên phòng kế toán – ngân quỹ nhằm tìm hiểu về những vấn đề nảy sinh trong huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đông Gia Lai. Đề tài cũng sẽ tiến hành khảo sát ý kiến của các khách hàng có giao dịch gửi tiền tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi Nhánh Chi nhánh Đông Gia Lai.
5. Nội dung nghiên cứu và tiến độ thực hiện
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
– Về mặt lý luận: Luận văn hệ thống hóa nội dung cơ bản về hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng, đưa ra các tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của NHTM.
– Về thực tiễn: Luận văn khái quát được thực trạng hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm, các nhân tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Chi Nhánh Đông Gia Lai, rút ra điểm yếu và điểm mạnh của ngân hàng. Từ đó xây dựng một số giải pháp và kiến nghị đối với các cơ quan hữu quan nhằm xử lý những khó khăn, vướng mắc hoàn thiện công tác huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn VNChi Nhánh Đông Gia Lai.
7. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn VN Chi Nhánh Đông Gia Lai.
Chương 3: Khuyến nghị nhằm thiện hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn VN Chi Nhánh Đông Gia Lai.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
– Nguồn vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
– Huy động vốn là hoạt động thu hút nguồn tiền nhàn rỗi từ nền kinh tế thông qua các hình thức tiết kiệm định kỳ, phát hành giấy tờ có giá và các hình thức khác để tạo nguồn vốn cho vay của NHTM.
Trong khi vốn chủ sở hữu coi như tài sản đảm bảo để tạo lòng tin đối với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp ngân hàng gặp thua lỗ và cũng là căn cứ tính toán tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng. Thì vốn huy động là nguồn vốn lớn và chủ yếu của bất kỳ NHTM nào, là tài sản mà ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu nhưng là những nguồn vốn sử dụng vào các hoạt động kinh doanh sinh lời của một ngân hàng.
a. Vốn chủ sở hữu
Đây là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của chính ngân hàng do chủ sở hữu đóng góp ban đầu và được bổ sung trong quá trình kinh doanh, ngân hàng có toàn quyền sử dụng gồm các trang thiết bị, cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhà cửa…Đây là nguồn vốn khá quan trọng, trước hết nó tạo uy tín cho chính ngân hàng. Đối với mỗi ngân hàng, nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành loại vốn rất đa dạng tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường. Vốn chủ sở hữu bao gồm những thành phần sau:
-Vốn điều lệ: là vốn góp của chủ sở hữu ngân hàng, là điều kiện bắt buộc để ngân hàng có được giấy phép kinh doanh.
– Các loại quỹ thuộc nguồn vốn chủ sở hữu: được hình thành theo quy định của pháp luật và nghị quyết của đại hội cổ đông, được trích từ nguồn lợi nhuận sau thuế.
+ Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: được trích 5% lợi nhuận sau thuế hàng năm, nhưng số dư của quỹ không được vượt quá vốn điều lệ
+ Quỹ dự phòng tài chính: được trích 10% lợi nhuận sau thuế, nhưng số dư của quỹ không được vượt quá 25% vốn điều lệ.
+ Quỹ đầu tư phát triển, Quỹ khen thưởng phúc lợi: ngân hàng được tự trích từ lợi nhuận sau thuế theo nhu cầu sử dụng.
– Thặng dư vốn cổ phần: là phần chênh lệch mà cổ đông phải trả thêm so với mệnh giá của cổ phiếu, để được sở hữu cổ phiếu.
– Chênh lệch đánh giá lại tài sản: thể hiện giá trị chênh lệch giữa giá trị tài sản của ngân hàng tại thời điểm lập báo cáo tài chính so với thời điểm ghi nhận tài sản vào bảng cân đối của ngân hàng.
– Lợi nhuận chưa phân phối: là phần thu nhập của ngân hàng được giữ lại trong quá trình kinh doanh.
b. Vốn huy động dưới hình thức tiền gửi
Vốn huy động là bộ phận lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại. Với việc huy động vốn, ngân hàng có được quyền sử dụng vốn và có trách nhiệm phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn cho người gửi. Ngân hàng có thể huy động vốn từ dân cư, các tổ chức kinh tế – xã hội… với nhiều hình thức khác nhau.
– Tiền gửi thanh toán: Đây là khoản tiền của các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng với mục đích là sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng. Khoản tiền gửi thanh toán này có thể được trả lãi ( trả lãi thấp ) hoặc không được trả lãi tuỳ thuộc vào mỗi ngân hàng. Người gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thu hộ tiền, trả hộ tiền… với một mức phí thấp. Các ngân hàng có thể sử dụng các số dư tiền gửi khách hàng vào các hoạt động của mình.
-Tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội: Nhiều doanh nghiệp, tổ chức xã hội có các hoạt động thu, chi tiền theo các chu kỳ xác định. Họ gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi. Tuy khoản tiền này không tiện lợi bằng tiền gửi thanh toán (do khi cần tiền phải đến ngân hàng để rút ) nhưng bù lại tiền gửi có kỳ hạn lại có lãi suất cao hơn tuỳ theo độ dài của kỳ hạn được ghi trên hợp đồng.
-Tiền gửi tiết kiệm dân cư : Trong cộng đồng dân cư luôn có những người có khoản tiền tạm thời nhàn rỗi. Họ gửi tiền vào ngân hàng nhằm thực hiện các mục đích bảo toàn và sinh lời đối với những khoản tiền đó. Người gửi tiết kiệm sẽ có sổ tiết kiệm xác định rõ thời gian và hình thức trả lãi đã thoả thuận với ngân hàng. Hiện nay tiền gửi tiết kiệm là khu vực tiềm năng đồng thời là nơi cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng, để thu hút nguồn tiền này các ngân hàng luôn đưa ra các hình thức huy động đa dạng như tiết kiệm bằng VNĐ, bằng vàng và bằng ngoại tệ, với lãi suất cạnh tranh hấp dẫn và với nhiều kỳ hạn để người gửi có nhiều cơ hội lựa chọn cho phù hợp, tiện ích nhất
-Tiền gửi của các ngân hàng khác: Đây là nguồn tiền gửi có qui mô thường nhỏ, giữa các ngân hàng luôn có tiền gửi của nhau. Mục đích của việc gửi tiền này là để đảm bảo thanh toán thuận tiện, phục vụ tối đa lợi ích cho khách hàng của mình.
c. Nguồn đi vay
Bên cạnh việc huy động tiền gửi, nhiều lúc các ngân hàng cũng phải đi vay để đảm bảo thanh toán, đảm bảo dự trữ bắt buộc… Các ngân hàng có thể vay ở:
– Vay ngân hàng nhà nước : Khi các ngân hàng thương mại có nhu cầu cấp bách về vốn thì người dang tay cứu giúp sẽ là ngân hàng trung ương. Hình thức vay chủ yếu là tái chiết khấu ( hay tái cấp vốn ). Các ngân hàng thương mại sẽ mang các trái phiếu mà mình đã chiết khấu lên ngân hàng trung ương để tái chiết khấu. Thông thường các ngân hàng trung ương chỉ cho tái chiết khấu những trái phiếu có chất lượng, thời hạn ngắn và phù hợp với mục tiêu của Nhà nước trong từng thời kỳ.
– Vay các tổ chức tín dụng khác: Đây là các khoản vay mượn lẫn nhau giữa các ngân hàng hoặc giữa ngân hàng với các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng. Hình thức vay này rất đơn giản, ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại lý. Các khoản vay có thể không cần thế chấp hoặc thế chấp bằng các chứng khoán của kho bạc. Các khoản vay này thông thường có thời hạn ngắn chủ yếu chỉ để giải quyết những nhu cầu tức thời.
– Vay trên thị trường vốn: Các ngân hàng có thể phát hành giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thị trường vốn để huy động vốn trung và dài hạn nhằm đáp ứng các nhu cầu cho vay trung và dài hạn và các nhu cầu đầu tư khác. Những ngân hàng lớn có uy tín hoặc trả lãi cao sẽ có khả năng vay được nhiều hơn các ngân hàng nhỏ. Các ngân hàng nhỏ thường vay gián tiếp thông qua các ngân hàng đại lý hoặc được sự bảo lãnh của ngân hàng đầu tư. Khả năng vay mượn này phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển của thị trường tài chính, các hình thức phát hành, chuyển đổi, thời hạn của các công cụ nợ…
d. Nguồn khác
Bao gồm nguồn ủy thác, nguồn trong thanh toán, khoản khác
– Đối với nền kinh tế:
Tiết kiệm và đầu tư là những cơ sở nền tảng của nền kinh tế. Tiết kiệm và đầu tư có mối quan hệ nhân quả, tiết kiệm góp phần thúc đẩy, mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh, tăng cường đầu tư và đầu tư cũng góp phần khuyến khích tiết kiệm. Nhưng trong nền kinh tế các khoản tiết kiệm thường nhỏ, lẻ và người tiên phong trong việc tập hợp vốn hiệu quả nhất chính là các ngân hàng thương mại. Thông qua các kênh huy động vốn, các khoản tiết kiệm chuyển thành đầu tư góp phần làm tăng hiệu quả của nền kinh tế.
Đối với những người có vốn nhàn rỗi: Việc huy động vốn của ngân hàng trước hết sẽ giúp cho họ những khoản tiền lãi hay có được các dịch vụ thanh toán đồng thời các khoản tiền không bị chết, luôn được vận động, quay vòng.
Đối với những người cần vốn: Họ sẽ có cơ hội mở rộng đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh từ chính nguồn vốn huy động của ngân hàng.
Việc huy động vốn của ngân hàng giúp cho nền kinh tế có được sự cân đối về vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Các cơ hội đầu tư luôn có điều kiện để thực hiện. Quá trình tái sản xuất mở rộng sẽ được thực hiện dễ dàng hơn với việc huy động vốn của các ngân hàng thương mại. Tuy việc huy động vốn có thể thực hiện bằng nhiều kênh: thị trường chứng khoán, ngân sách nhà nước…nhưng trong điều kiện nước ta hiện nay thì huy động vốn qua các ngân hàng thương mại vẫn là hình thức chủ yếu và quan trọng nhất.
– Đối với ngân hàng :
Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh. Để bước vào hoạt động kinh doanh thì đầu tiên ngân hàng phải cần có vốn. Ngoài lượng vốn bắt buộc phải có, ngân hàng phải huy động từ các nguồn khác. Ngân hàng đi vay để cho vay. Vậy để có hoạt động cho vay thì phải có thứ để mà cho vay. Nguồn vốn phản ánh tiềm năng và sức mạnh của ngân hàng. Đối với những ngân hàng lớn, việc tham gia tài trợ cho những dự án lớn luôn dễ dàng hơn các ngân hàng nhỏ. Vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại. Nói cách khác, không có vốn thì ngân hàng không thể thực hiện được các nghiệp vụ kinh doanh của mình.
Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng. Hoạt động tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào vốn của ngân hàng. Ngân hàng có nhiều vốn sẽ có ưu thế cạnh tranh hơn so với ngân hàng ít vốn. Có được nhiều vốn ngân hàng sẽ có điều kiện để đưa ra các hình thức tín dụng linh hoạt, có điều kiện để hạ lãi suất từ đó sẽ làm tăng quy mô tín dụng. Các ngân hàng lớn, nhiều vốn thường có rất nhiều các dịch vụ ngân hàng. Phạm vi hoạt động kinh doanh của họ sẽ rộng hơn nhiều các ngân hàng nhỏ. Chính vì vậy càng khẳng định rõ tầm quan trọng của vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Vốn quyết định khả năng thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thương trường. Các ngân hàng lớn trên thế giới là các ngân hàng có uy tín, luôn được ca ngợi và nể trọng. Điều kiện đầu tiên để xây dựng được uy tín của ngân hàng chính là vốn của ngân hàng. Có nhiều vốn, khả năng thanh toán của ngân hàng luôn được đảm bảo, các khách hàng luôn cảm thấy yên tâm khi giao thiệp với ngân hàng. Trong nền kinh tế hiện nay, khả năng thanh toán luôn được các ngân hàng ưu tiên hàng đầu và để được như vậy thì các ngân hàng luôn tìm cách huy động được nhiều vốn hơn.
Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Trong thời đại kinh tế cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, vốn là điều kiện để các ngân hàng tham gia cạnh tranh. Nó giúp cho ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động, tăng cường quan hệ với các đối tác. Đồng thời nó lôi kéo khách hàng mới, giữ chân các khách hàng truyền thống. Doanh số của ngân hàng tăng lên đồng thời làm tăng nguồn vốn của ngân hàng. Vốn của ngân hàng lớn giúp cho ngân hàng có khả năng tài chính dồi dào để cạnh tranh với các ngân hàng khác: hạ lãi suất, linh hoạt về thời hạn tín dụng, hình thức trả lãi…Các dịch vụ ngân hàng sẽ ngày càng được cải tiến, phát triển và được thực hiện tốt hơn.
1.2. HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NHTM
Khái niệm tiền gửi tiết kiệm (TGTK): Theo khoản 1 Điều 6 Quyết định số 14/VBHN-NHNN ngày 21/5/2014 của Thống đốc NHNNVN về việc ban hành quy chế về tiền gửi tiết kiệm: “Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản TGTK, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận TGTK và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.”
Về bản chất TGTK là một phần thu nhập của cá nhân người lao động chưa sử dụng cho tiêu dùng. Họ gửi vào ngân hàng với mục đích tích luỹ tiền một cách an toàn và hưởng một phần lãi từ số tiền đó. TGTK là một dạng đặc biệt để tích luỹ tiền tệ trong lĩnh vực tiêu dùng trong cá nhân. Khi gửi tiền vào ngân hàng, người gửi tiền được nhận một sổ tiết kiệm coi như giấy chứng nhận gửi tiền vào ngân hàng được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Đến thời hạn, khách hàng rút tiền và nhận được một khoản tiền lãi trên sổ tiết kiệm.
Vai trò của tiền gửi tiết kiệm: Trong hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng, bắt buộc các ngân hàng phải huy động thêm nguồn vốn từ bên ngoài. Trong đó nguồn vốn tiền gửi thường chiếm tỷ trọng trên 50% trong nguồn huy động của NHTM. Vốn TGTK góp phần tạo nên nguồn vốn lớn của NHTM, là nguồn huy động truyền thống, cơ bản của NHTM. Vốn TGTK gắn liền với sự hình thành và phát triển của ngân hàng. TGTK trong NHTM lớn thể hiện uy tín và lòng tin đối với dân chúng của ngân hàng trên thị trường.
a. Phân theo kỳ hạn của người gửi tiền
– Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn: Tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút tiền mà không phải theo định kỳ nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Do đó ngân hàng không chủ động trong việc sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng vì phải đảm bảo tồn quỹ để chi trả khi khách hàng có nhu cầu, vì vậy lãi suất thường rất thấp. Cho nên đối tượng của loại hình tiết kiệm này là khách hàng cá nhân có một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi do không thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai nên muốn gởi vào ngân hàng vì mục tiêu an toàn và sinh lời
– Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi tiết kiệm định kỳ được thiết kế dành cho khách hàng cá nhân có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an toàn, sinh lợi và thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai. Đối tượng khách hàng chủ yếu của loại tiền gửi này là các cá nhân muốn có thu nhập ổn định và thường xuyên, đáp ứng cho việc chi tiêu hàng tháng hoặc hàng quý. Mục tiêu quan trọng của họ khi chọn lựa hình thức tiền gửi này là lợi tức có được theo định kỳ. Do vậy, lãi suất đóng vai trò quan trọng để thu hút được đối tượng khách hàng này.
b. Phân theo loại tiền gửi tiết kiệm
– Tiền gửi tiết kiệm bằng nội tệ: Đây là loại TGTK bằng VND vào ngân hàng và hưởng lãi suất tiền VND được quy định tại thời điểm gửi tiền.
– Tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ: Đây là loại TGTK bằng ngoại tệ vào ngân hàng và hưởng lãi suất ngoại tệ được quy định tại thời điểm gửi tiền.
Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm là một quá trình bao gồm nhiều nội dung có quan hệ chặt chẽ với nhau:
– Đạt được mục tiêu về quy mô huy động tiền gửi, đáp ứng một cách hợp lý các yêu cầu về nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và đáp ứng được mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua gia tăng thị phần huy động tiền gửi trên thị trường mục tiêu.
Hợp lý hóa cơ cấu vốn huy động xét theo các tiêu thức cụ thể phù hợp với điều kiện hoạt động của ngân hàng (về kỳ hạn, về loại tiền huy động…)
Chi phí huy động vốn bình quân đáp ứng được các mục tiêu kinh doanh của ngân hàng và phù hợp với chiến lược kinh doanh tổng thể của ngân hàng trong từng thời kỳ.
Các phương thức cơ bản để đạt các mục tiêu trong hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm bao gồm:
Vận dụng các chính sách về sản phẩm: Hoàn thiện sản phẩm và phát triển sản phẩm mới; Xây dựng chính sách lãi suất và các loại phí của các dịch vụ liên quan đến tiền gửi phù hợp, có tính cạnh tranh; Phát triển hệ thống phân phối một cách hợp lý và có hiệu quả; Đẩy mạnh các biện pháp xúc tiến như: khuyến mãi, quảng bá… ; cải thiện chất lượng phục vụ thông qua nhân viên; hoàn thiện quy trình; Nâng cao hình ảnh, không ngừng xây dựng và củng cố thương hiệu của ngân hàng; thực hiện tốt công tác chăm sóc khách hàng nói riêng, công tác quản trị quan hệ khách hàng nói chung…
Vận dụng các biện pháp nhằm đa dạng hóa một cách hợp lý cơ cấu tiền gửi phù hợp với các mục tiêu và chiến lược kinh doanh của ngân hàng trong từng thời kỳ như đa dạng hóa về kỳ hạn, về loại tiền huy động…
Vận dụng các biện pháp nhằm kiểm soát chi phí như áp dụng các phương pháp nhằm tiết kiệm các chi phí ngoài lãi trong huy động vốn, tính toán và áp dụng các mức lãi suất phù hợp và linh hoạt….
a. Khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng
– Độ an toàn của tiền gửi: Mục đích chủ yếu của khách hàng gửi tiền tiết kiệm là đảm bảo độ an toàn và sinh lời. Vì vậy ngân hàng phải tạo cho khách hàng có lòng tin về độ an toàn về khoản tiền mà họ gửi bởi vốn tự có, cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên của ngân hàng, hoạt động kinh doanh, sự phát triển cũng như uy tín của ngân hàng.
– Đội ngũ cán bộ nhân viên của ngân hàng: Thái độ của đội ngũ cán bộ nhân viên của ngân hàng cũng ảnh hưởng rất lớn tới việc khách hàng có tới ngân hàng gửi tiền tiết kiệm hay không? Khi khách hàng tới giao dịch với ngân hàng, họ chưa nắm bắt quy trình làm việc như thế nào, nhân viên cần hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, tạo uy tín với khách hàng ngay từ lần đầu tiên giao dịch của họ. Đặc biệt với TGTK dân cư, khách hàng ở vùng nông thôn, trình độ văn hoá, khả năng nhận thức và tiếp thu chưa cao…Vì vậy thái độ ứng xử của nhân viên ngân hàng hết sức khéo léo, gây ấn tượng tốt với khách hàng.
– Thủ tục trong giao dịch của ngân hàng: Để thu hút nhiều hơn lượng khách hàng tới ngân hàng gửi tiền thì thủ tục gửi và rút tiền đơn giản, thuận tiện, kỳ hạn phù hợp cũng đóng vai trò rất quan trọng. TGTK là khoản tiền được sử dụng trong tương lai. Mà nhu cầu trong tương lai của mỗi khách hàng là khác nhau, vì thế cần đa dạng các kỳ hạn gửi để khách hàng có thêm nhiều sự lựa chọn phù hợp. Đồng thời thủ tục gửi và rút tiền phải đơn giản, giúp tiết kiệm thời gian tránh rườm rà không cần thiết, là mất uy tín của ngân hàng.
b. Quy mô vốn huy động tiền gửi tiết kiệm
Quy mô vốn huy động TGTK là tổng khối lượng vốn tiết kiệm huy động được trong một thời gian nhất định. Với quy mô ngày càng tăng sẽ hỗ trợ vốn cho ngân hàng hoạt động, phát triển và mở rộng phạm vi hoạt động của mình, quy mô cũng tạo điều kiện nâng cao tính thanh khoản, tính ổn định và tăng niềm tin của khách hàng.
Nguồn vốn huy động có quy mô khác nhau theo từng giai đoạn. Các ngân hàng có quy mô lớn thì thường có ưu thế huy động hơn các ngân hàng quy mô nhỏ. Trong tình hình cạnh tranh nhau về thị phần khách hàng, lãi suất thường không có sự khác biệt nhiều giữa các ngân hàng, do vậy khách hàng thường lựa chọn các ngân hàng có quy mô lớn để đảm bảo tính an toàn, thanh khoản cho khoản tiền gửi của mình.
c. Cơ cấu nguồn vốn huy động tiền gửi tiết kiệm
Cơ cấu nguồn vốn huy động ảnh hưởng tới cơ cấu tài sản và ảnh hưởng tới chi phí hoạt động bình quân của ngân hàng, từ đó ảnh hưởng tới chi phí đầu ra tức lãi suất cho vay của ngân hàng. Cơ cấu huy động phải phù hợp với cơ cấu sử dụng, đáp ứng yêu cầu sử dụng, để tối đa dư nợ tín dụng và đầu tư, từ đó sẽ tối đa lợi nhuận mà không phải trả lãi suất trên phần vốn huy động thừa. thông qua việc xác định cơ cấu vốn có thể xác định mặt mạnh, mặt yếu của ngân hàng trong hoạt động kinh doanh.
Cơ cấu nguồn vốn ngân hàng được đánh giá là hợp lí nếu các thành phần của nó đáp ứng được kế hoạch sử dụng vốn và có chi phí huy động thấp nhất. Có vốn sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng hoạt động thuận lợi, ngân hàng có thể cơ cấu lại nguồn vốn, mở rộng quy mô hoạt động , chủ động trong hoạch định chiến lược phát triển, nâng cao uy tín và sức cạnh tranh. Có thể đánh giá cơ cấu nguồn vốn huy động TGTK thông qua chỉ tiêu tỷ trọng nguồn vốn huy động TGTK
Tỷ trọng từng NV TGTK= (Khối lượng từng NV TGTK)/(Tổng NVHĐ)*100
Chỉ tiêu này phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa các loại vốn huy động TGTK, tính hợp lí trong quá trình huy động các loại vốn khác nhau. Cơ cấu vốn cần đa dạng, cân đối trong đó cần đảm bảo một tỷ lệ hợp lí giữa vốn huy động ngắn hạn với trung hạn và dài hạn, giữa nội tệ và ngoại tệ…mỗi nguồn vốn có điểm mạnh, điểm yếu riêng biệt trong việc huy động và khai thác. Do đó sự biến đổi về cơ cấu vốn sẽ kéo theo sự thay đổi trong cơ cấu sử dụng vốn và theo đó là sự thay đổi về lợi nhuận, mức độ an toàn của ngân hàng. Xu hướng biến đổi trong cơ cấu vốn huy động phụ thuộc một phần vào kế hoạch chủ động điều chỉnh của ngân hàng và sự biến động của các yếu tố bên ngoài, điều này đặt ra yêu cầu ngân hàng phải luôn quan tâm, nghiên cứu thị trường, để có những điều chỉnh phù hợp và kịp thời.
Trong phân tích cơ cấu nguồn vốn huy động TGTK có các loại cơ cấu quan trọng như sau:
– Cơ cấu nguồn vốn huy động TGTK theo đối tượng khách hàng
= (Khối lượng NVHĐ TGTK theo đối tượng KH)/(Tổng NVHĐ )*100
– Cơ cấu nguồn vốn huy động TGTK theo kỳ hạn
= (Khối lượng NVHĐ TGTK theo kỳ hạn)/(Tổng NVHĐ)*100
– Cơ cấu nguồn vốn huy động TGTK theo loại tiền
= (Khối lượng NVHĐ TGTK theo loại tiền)/(Tổng NVHĐ)*100
Xu hướng biến đổi trong cơ cấu vốn huy động phụ thuộc một phần vào kế hoạch chủ động điều chỉnh của ngân hàng và sự biến động của các yếu tố bên ngoài, điều này đặt ra yêu cầu ngân hàng phải luôn quan tâm, nghiên cứu thị trường, để có những điều chỉnh phù hợp và kịp thời
d. Chi phí huy động vốn tiền gửi tiết kiệm
Chi phí huy động vốn TGTK là toàn bộ chi phí ngân hàng bỏ ra để hưởng quyền sử dụng một đồng vốn trong thời gian nhất định. Chi phí huy động vốn bao gồm 2 phần: chi phí trả lãi (trả lãi suất huy động) và chi phí phi lãi.
Chi trả lãi chiếm phần lớn trong chi phí huy động, ngoài ra là các chi phí phi lãi như: Chi phí lương cán bộ huy động, chi phí quảng cáo marketing, chi phí in ấn, …
Khoản chi phí chính mà các ngân hàng quan tâm là chi phí trả lãi. Mức lãi suất huy động thường được xác định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường, khi các ngân hàng đã thừa vốn, trong khi khách hàng vẫn gửi tiền thì lãi suất huy động sẽ giảm xuống. Ngược lại trong thời kì kinh tế suy giảm, hoặc Chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, sự thiếu hụt vốn khả dụng của ngân hàng sẽ đẩy lãi suất huy động của ngân hàng lên cao. Ngoài ra tùy theo chiến lược cạnh tranh của mỗi ngân hàng mà ngân hàng có thể đặt mức lãi suất cao hay thấp hơn mức lãi suất thị trường
Khi đánh giá hiệu quả hoạt động vốn trên phương diện chi phí thì ngân hàng phải đạt được những tiêu chí sau:
-Thứ nhất: tìm kiếm các nguồn chi phí thấp nhất để đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trong khi vẫn thỏa mãn yêu cầu phù hợp về mặt quy mô, thời hạn và cơ cấu.
-Thứ hai: Tăng lợi nhuận cho ngân hàng mà không phải chấp nhận rủi ro cao vì sức ép tăng chi phí vốn. Về cơ bản, lợi nhuận ngân hàng được tính bằng tổng thu nhập trừ đi tổng chi phí, mà phần lớn ở đây là chi phí trả lãi, do vậy để tối đa lợi nhuận, ngân hàng phải tối thiểu hóa chi phí hoạt động. Nguồn ngăn hạn thường có chi phí thấp, kém ổn định và ngược lại, nguồn có thời hạn càng dài thì chi phí càng cao nhưng ổn định hơn. Do vậy để hoạch định chiến lược kinh doanh cho mỗi giai đoạn, căn cứ vào quy định pháp luật hiện hành, căn cứ trả lãi, ngân hàng sẽ đưa ra các chính sách huy động vốn phù hợp. Tùy theo đặc điểm từng nguồn vốn, ngân hàng sẽ đưa ra mức lãi suất danh nghĩa khác nhau. Để cạnh tranh mở rộng nguồn tiền, các ngân hàng đều cố gắng tạo ra ưu thế riêng của mình trong đó có ưu thế về cạnh tranh lãi suất
Việc xác định chi phí huy động vốn là việc làm rất hữu ích cho ngân hàng để từ đó xây dựng chính sách kinh doanh có hiệu quả. Các ngân hàng thường xác định chi phí huy động vốn thông qua chỉ tiêu: chi phí trả lãi bình quân và chi phí phi lãi
Chi phí trả lãi bình quân= (Chi phí trả lãi)/(Tổng NVHĐ)
Chỉ tiêu này phản ánh số tiền ngân hàng phải bỏ ra cho một đồng vốn huy động được. Chi phí trả lãi bình quân giảm qua các năm, kèm theo sự tăng trưởng về quy mô nguồn vốn, chứng tỏ công tác huy động vốn của ngân hàng đã được tổ chức một cách hiệu quả.
Chi phí phi lãi bình quân= (Chi phí phi lãi)/(Tổng NVHĐ)
- 1.2.5. Rủi ro trong hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm
a. Rủi ro lãi suất
– Quy mô và kỳ hạn của nguồn vốn huy động không phù hợp với quy mô và kỳ hạn của nguồn vốn đầu tư tài sản dẫn đến hậu quả là khi lãi suất biến động làm giảm thu nhập lãi ròng cận biên và giá trị ròng của vốn chủ sở hữu.
– Rủi ro này là hậu quả của những thay đổi lãi suất. Trong nền kinh tế, lãi suất là yếu tố rất nhạy cảm đối với biến động của nền kinh tế; hơn nữa, nó là công cụ trong việc thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ. Vì vậy, rủi ro lãi suất là rủi ro xuất hiện thường xuyên trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
– Rủi ro thanh khoản xảy ra khi mà NHTM không có đủ vốn khả dụng – cung thanh khoản để đáp ứng cho nhu cầu của người gửi tiền và người đi vay. Điều này tác động xấu đến uy tín, thu nhập và khả năng thanh toán cuối cùng của các NHTM. Do tính chất hệ thống đặc biệt chặt chẽ của ngành trong quan hệ vốn giữa các ngân hàng, chỉ cần một vài ngân hàng mất khả năng thanh khoản sẽ gây nên hiệu ứng dây chuyền và nhanh chóng lan tỏa trong hệ thống ngân hàng. Vì vậy rủi ro thanh khoản luôn được các ngân hàng quan tâm một cách đặc biệt.
Rủi ro thanh khoản cũng là rủi ro tài chính do tính lỏng của tài sản không ổn định. Một tổ chức tài chính (ngân hàng) có thể mất khả năng thanh khoản nếu chỉ số tín nhiệm tín dụng của tổ chức này giảm sút, tổ chức này đối mặt với tình trạng lượng tiền ra ồ ạt không dự kiến được trước hay một sự kiện nào đó khiến cho các đối tác không muốn giao dịch hoặc cho vay đối với tổ chức đó. Tổ chức này cũng đối mặt với rủi ro thanh khoản nếu thị trường hoạt động của tổ chức này có nguy cơ mất khả năng thanh khoản. Rủi ro thanh khoản thường đi kèm với nhiều rủi ro khác. Nếu một đối tác vay tiền của ngân hàng có nguy cơ vỡ nợ thì ngân hàng sẽ phải huy động tiền từ những nguồn khác để thanh toán khoản đi vay của ngân hàng, bù đắp vào chi trả này. Nếu ngân hàng không có khả năng huy động tiền từ các nguồn khác để thanh toán khoản nợ thì chính ngân hàng này cũng phải đối mặt với rủi ro vỡ nợ. Như vậy, rủi ro thanh khoản gắn liền với rủi ro tín dụng.
Là khả năng khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá so với dự tính.
d. Rủi ro hoạt động
– Rủi ro hoạt động là rủi ro gây ra tổn thất do các nguyên nhân như con người, sự không đầy đủ hoặc vận hành không tốt các quy trình, hệ thống; các sự kiện khách quan bên ngoài. Rủi ro hoạt động bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng loại trừ về rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín. Rủi ro hoạt động bao gồm:
+ Rủi ro con người: Là rủi ro liên quan đến nhân viên của ngân hàng; như nhân viên thiếu kinh nghiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ dẫn tới hạch toán sai, nhầm lẫn …
+ Rủi ro hệ thống: Là rủi ro có thể xảy ra như nhập dữ liệu sai, kiểm soát thay đổi kém, kiểm soát dự án kém, lỗi lập trình, lỗi dịch vụ, an ninh hệ thống, sự không phù hợp của hệ thống….
+ Rủi ro tác động bên ngoài: Là các rủi ro xảy ra bên ngoài nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng và thường do các sự kiện của ngân hàng khác nhưng ảnh hưởng tác động đến ngành như gian lận và trộm cắp bên ngoài, hỏa hoạn, thiên tai, bố trí thuê ngoài không thành công, biểu tình, bạo loạn…
+ Rủi ro pháp lý: Là rủi ro từ sự không rõ ràng của các hoạt động pháp lý hoặc không rõ ràng trong việc áp dụng và hiểu các hợp đồng, luật hay quy chế. Ở một số nước, rủi ro pháp lý bắt nguồn từ sự không rõ ràng của quan điểm pháp lý.
- 1.2.6. Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của NHTM
Cũng như mọi hoạt động kinh tế khác, Ngân hàng muốn hoạt động được thì trước hết phải có vốn. Nhưng mặt hàng kinh doanh của Ngân hàng rất đặc biệt đó là tiền tệ. Thực tế các NHTM kinh doanh “quyền sử dụng vốn tiền tệ”. Do đó nhu cầu về vốn của các NHTM là rất lớn và việc tạo lập vốn cho Ngân hàng là một vấn đề quan trọng hàng đầu trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Để tạo lập và duy trì được khối lượng vốn với qui mô lớn và có tính ổn định cao thì Ngân hàng phải có chiến lược khai thác vốn hợp lý trên cơ sở tận dụng tối đa những nhân tố tích cực và hạn chế những nhân tố tiêu cực ảnh hưởng tới công tác huy động vốn của Ngân hàng. Cụ thể trong công tác huy động vốn của các NHTM chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau.
a. Nhóm nhân tố bên ngoài
Đây là nhóm nhân tố mà bản thân Ngân hàng không kiểm soát được, nó gồm có các nhân tố sau: Môi trường kinh tế; Môi trường pháp lý; Môi trường xã hội và các chính sách của Nhà nước.
a1. Môi trường kinh tế
Tình trạng phát triển của nền kinh tế là một nhân tố vĩ mô có tác động trực tiếp đến hoạt động của NHTM nói chung và đến hoạt động huy động vốn nói riêng. Trong điều kiện nền kinh tế phát triển tăng trưởng và ổn định, thu nhập của người dân được đảm bảo và ổn định thì nhu cầu tích luỹ của dân cư cao hơn từ đó lượng tiền gửi vào Ngân hàng tăng lên hay khả năng huy động vốn tăng lên. Mặt khác khi nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định thì nhu cầu sử dụng vốn tăng lên, Ngân hàng có thể mở rộng khối lượng tín dụng bằng cách tăng lãi suất huy động nhằm kích thích người dân gửi tiền vào Ngân hàng để tạo nguồn vốn nhằm đáp ứng nhu cầu tiền tín dụng của nền kinh tế. Ngược lại, khi nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, thu nhập thực tế của người lao động giảm và ngày càng biến động, điều này sẽ làm giảm lòng tin của khách hàng vào sự ổn định của đồng tiền hơn nữa khi thu nhập thấp thì lượng tiền nhàn rỗi trong toàn nền kinh tế sẽ giảm xuống mà lượng tiền dân cư đã ký thác vào hệ thống Ngân hàng còn có nguy sơ bị rút ra. Khi đó Ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong công tác huy động vốn, quản lý dự trữ và củng cố lòng tin của khách hàng vào hệ thống Ngân hàng.
a2. Môi trường pháp lý
Mọi hoạt động kinh doanh, trong đó hoạt động của Ngân hàng đều phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Các hoạt động của các NHTM chịu sự điều chỉnh của luật các tổ chức tín dụng và hệ thống các văn bản pháp luật khác của nhà nước. Mặt khác, ở Việt nam hiện nay các NHTM được tổ chức theo mô hình tổng công ty do vậy các chi nhánh Ngân hàng trong hoạt động của mình ngoài việc phải tuân thủ theo pháp luật và các văn bản dưới luật của nhà nước ban hành còn phải tuân thủ theo các quy định mà NHTƯ ban hành cụ thể trong từng thời kỳ về lãi suất, dự trữ, hạn mức cho vay… trong sự ràng buộc của pháp luật, các yếu tố của nghiệp vụ huy động vốn thay đổi làm thay đổi qui mô và chất lượng hoạt động huy động vốn. Mặt khác, các NHTM là các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực tiền tệ, là lĩnh vực chứa đựng rủi ro rất lớn do vậy mà Ngân hàng phải tuân thủ chặt chẽ các qui định của pháp luật.
a3. Môi trường cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và khách quan. Ngành Ngân hàng là một trong những ngành có mức độ cạnh tranh cao và ngày càng phức tạp. Trong những năm qua, thị trường tài chính ngày càng trở nên sôi động hơn do sự tham gia của nhiều loại hình Ngân hàng và các tổ chức tài chính phi Ngân hàng. Hiện nay số lượng Ngân hàng được phép hoạt động ngày càng tăng cùng với sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của nhiều tổ chức phi Ngân hàng, trong khi đó nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và các tổ chức kinh tế là có hạn. Từ đó làm mất tính độc quyền của hệ thống Ngân hàng. Ngoài ra, hình thức cạnh tranh không đa dạng như các ngành khác làm cho tính cạnh tranh của Ngân hàng ngày càng cao. Các Ngân hàng cạnh tranh chủ yếu bằng hình thức lãi suất và dịch vụ. Hiện nay ở nước ta các Ngân hàng chủ yếu cạnh tranh bằng hình thức lãi suất, chưa phổ biến hình thức cạnh tranh bằng dịch vụ. Do đó Ngân hàng phải xây dựng được mức lãi suất như thế nào là hợp lý nhất, hấp dẫn nhất kết hợp với danh tiếng và uy tín của mình để tăng được thị phần huy động. Điều này là rất khó khăn vì nếu lãi suất cao hơn đối thủ cạnh tranh thì lãi suất cho vay cũng phải tăng lên để đảm bảo Ngân hàng vẫn có lãi, nếu lãi suất thấp hơn thì không hấp dẫn được khách hàng. Do cạnh tranh tăng lên, lãi suất huy động hiện nay có xu hướng tăng lên trong khi các dịch vụ liên quan dến tiền gửi không tăng lên một cách tương ứng..
a4. Yếu tố tiết kiệm của dân cư
Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng chủ yếu được hình thành từ việc huy động các nguồn tiền tệ nhàn rỗi trong dân cư. Đây là lượng tiền nhàn rỗi chủ yếu có được do việc người dân tiết kiệm tiêu dùng ở hiện tại để kỳ vọng sẽ được chi tiêu nhiều hơn trong tương lai. Do đó công tác huy động vốn của Ngân hàng chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố này. Nếu không có tiết kiệm thì sẽ không có vốn để đầu tư cho sản xuất và ngược lại.
Yếu tố tiết kiệm của dân cư lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như thu nhập của dân cư, thói quen chi tiêu bằng tiền mặt và đặc biệt là sự ổn định của nền kinh tế. Nếu nền kinh tế mất ổn định, giá trị đồng tiền luôn biến động thì xu hướng chung của dân cư sẽ đổi các đồng tiền bản tệ ra các đồng tiền mạnh (Ngoại tệ) hay cất trữ vàng bạc, mua bất động sản.. là những tài sản có tính ổn định cao hơn.
Ngoài ra việc phân bố dân cư ở các vùng lãnh thổ khác nhau thì yếu tố tâm lý, văn hoá và lối sống cũng khác nhau. Do đó. Ngân hàng phải nắm bắt được yếu tố tâm lý của dân từ đó để đưa ra các hình thức huy động vốn phù hợp.
b. Nhóm nhân tố bên trong
Đây là nhóm nhân tố xuất phát từ phía bản thân các ngân hàng. Đây có thể coi là nhóm nhân tố quyết định hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm. Ngân hàng cần phải xác định vị trí hiện tại của mình trong hệ thống, thấy được điểm mạnh, điểm yếu, thấy được những cơ hội và thách thức. Trên cơ sở đó dự đoán sự thay đổi của môi trường để xây dựng được chiến lược kinh doanh phù hợp mà trong đó chiến lược phát triển qui mô và chất lượng nguồn vốn là một bộ phận quan trọng trong chiến lược tổng thể của Ngân hàng.
b1. Chính sách lãi suất.
Điều đầu tiên mà bất kỳ một cá nhân hay tổ chức kinh tế nào cũng muốn tham khảo khi gửi tiền vào Ngân hàng chính là lãi suất. Vì vậy chính sách lãi suất là một trong những chính sách quan trọng nhất trong số các chính sách bổ trợ cho công tác huy động vốn của Ngân hàng.
Ngân hàng sử dụng hệ thống lãi suất như là một công cụ quan trọng trong việc huy động và thay đổi qui mô nguồn vốn thu hút vào Ngân hàng, đặc biệt là quy mô tiền gửi. Để duy trì và thu hút thêm nguồn vốn, Ngân hàng cần phải ấn định mức lãi suất cạnh tranh, thực hiện ưu đãi về lãi suất cho khách hàng lớn, gửi tiền thường xuyên.
b2. Chất lượng tiện ích và mức độ đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ
Trong nền kinh tế thị trường thì hiện tượng cạnh tranh là tất yếu, việc đáp ứng nhu cầu khách hàng là điều kiện tiên quyết để đạt được thắng lợi trong kinh doanh. Một Ngân hàng có các hình thức huy động và kỳ hạn huy động vốn phong phú, linh hoạt, thuận tiện hơn sẽ có sức thu hút khách hàng mới và duy trì những khách hàng hiện có hơn những Ngân hàng khác. Các Ngân hàng hiện nay không chỉ huy động tiền gửi tiết kiệm mà còn khuyến khích người dân gửi tiền dưới nhiều hình thức khác nhau như mở tài khoản tiền gửi, huy động qua kỳ phiếu, trái phiếu phong phú cả về mệnh giá, kỳ hạn và chủng loại….
Khi hình thức huy động vốn đa dạng và hấp dẫn thì sẽ làm cho số lượng người gửi tiền tăng lên và khi đó chi phí huy động sẽ giảm xuống. Hơn nữa, hình thức huy động vốn phong phú cũng là điều kiện để thu hút những khoản vốn đa dạng từ nhiều nguồn khác nhau với những tính chất khác nhau về số lượng, chất lượng và kỳ hạn… Từ đó sẽ giúp Ngân hàng sử dụng vốn linh hoạt, an toàn và hiệu quả hơn.
Dịch vụ Ngân hàng chỉ là sản phẩm phụ trong hoạt động của Ngân hàng nhưng trong chiến lược cạnh tranh đã cho thấy Ngân hàng nào có dịch vụ đa dạng, chất lượng dịch vụ cao, đáp ứng được những nhu cầu của khách hàng thì sẽ thu hút được khách hàng đến với mình. Hiện nay với sự tham gia của nhiều loại hình Ngân hàng và các tổ chức phi Ngân hàng cùng cạnh tranh với nhau, điều đó có nghĩa là khách hàng càng có điều kiện thuận lợi để lựa chọn Ngân hàng tốt nhất đáp ứng được nhu cầu của mình. Vì vậy dịch vụ Ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng và chính là một yếu tố góp phần thu hút khách hàng có hiệu quả nhất.
b3. Hoạt động marketing và chiến lược huy động vốn tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng
Đây là vấn đề hết sức quan trọng nhằm giúp cho Ngân hàng nắm bắt được yêu cầu, nguyện vọng của khách hàng. Từ đó Ngân hàng đưa ra được các hình thức huy động vốn, chính sách lãi suất, chính sách tín dụng… cho phù hợp. Đồng thời các NHTM phải tiến hành thu thập thông tin đầy đủ, kịp thời để nắm bắt được nhu cầu của thị trường từ đó để có các biện pháp hơn đối thủ cạnh tranh nhằm giành ưu thế về mình.
b4. Thương hiệu, uy tín và năng lực tài chính của ngân hàng
Trên cơ sở thực tế sẵn có, mỗi Ngân hàng đã, đang và sẽ tạo được hình ảnh riêng của mình trong lòng thị trường. Một Ngân hàng lớn, có uy tín sẽ có lợi thế hơn trong các hoạt động Ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng. Sự tin tưởng của khách hàng sẽ giúp cho Ngân hàng có khả năng ổn định khối lượng vốn huy động và tiết kiệm chi phí huy động từ đó giúp Ngân hàng chủ động hơn trong kinh doanh. Một Ngân hàng có một bề dày lịch sử với danh tiếng, cơ sở vật chất, trình độ nhân viên… sẽ tạo ra hình ảnh tốt về Ngân hàng, gây được sự chú ý của khách hàng từ đó lôi kéo được khách hàng đến quan hệ giao dịch với mình.
b5. Chất lượng nguồn nhân lực và cơ sở vật chất thiết bị
Có thể khẳng định rằng, hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm có phát triển tốt hay không phụ thuộc phần lớn vào trình độ cán bộ, nhân viên và cơ sở vật chất, trang thiết bị của ngân hàng. Dưới con mắt của khách hàng thì cán bộ, nhân viên ngân hàng chính là hình ảnh của ngân hàng. Nếu như trong quá trình giao tiếp với cán bộ, nhân viên ngân hàng mà khách hàng cảm thấy an toàn về trình độ nghiệp vụ của các cán bộ và cảm thấy an toàn khi giao dịch với ngân hàng thì chắc chắn khách hàng sẽ tìm đến đó. Đồng thời, việc ngân hàng trang bị đầy đủ các thiết bị tiên tiến, phù hợp với phạm vi và qui mô hoạt động để phục vụ chính xác, nhanh chóng các yêu cầu của khách hàng thì sẽ giúp ngân hàng có khả năng cạnh tranh và thực hiện việc mở rộng các hoạt động của ngân hàng, trong đó có hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm.
Qua nội dung của chương 1, Luận văn đã làm rõ được những vấn đề sau:
Tổng quan chung về hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm, khái niệm về huy động tiền gửi tiết kiệm.
Nêu rõ được hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng thương mại, phân loại tiền gửi và đặc điểm của từng loại, nội dung của hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm, các hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm của NHTM.
Các tiêu chí đánh giá hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm và các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm.
Những nội dung trình bày trong chương 1 đã làm rõ câu hỏi được nêu ra ở mục câu hỏi nghiên cứu của luận văn là nội dung hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm và tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng là gì, là cơ sở để triển khai các nội dung phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi Nhánh Đông Gia Lai trong chương 2 và đề xuất các khuyến nghị trong chương 3.
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VN CHI NHÁNH ĐÔNG GIA LAI
2.1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VN CHI NHÁNH ĐÔNG GIA LAI
- 2.1.1. Khái quát về đặc điểm kinh tế – xã hội và những khó khăn, thuận lợi của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn VN Chi Nhánh Đông Gia Lai
- 2.1.2. Chức năng và nghiệm vụ của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn VN Chi Nhánh Đông Gia Lai
- 2.1.3. Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn VN Chi Nhánh Đông Gia Lai
- 2.1.4. Kết quả kinh doanh chủ yếu tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn VN Chi Nhánh Đông Gia Lai từ năm 2016 đến năm 2018
2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG
F:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\TAI CHINH NGAN HANG\DE CUONG CHI TIET\NGUYEN VIET HAN
Hoàn thiện hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Hoàn thiện hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam


