Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố cá ở sông Bàn Thạch
1. Tính cấp thiết đề tài
Cá là nhóm động vật có xương sống, số loài tương đối lớn và có ý nghĩa quan trọng trong tự nhiên, là một mắt xích trong các hệ sinh thái ở nước, góp phần làm tăng độ đa dạng sinh học, tạo sự phát triển bền vững cho môi trường. Mặt khác, cá còn là một nguồn lợi thực phẩm quan trọng cho đời sống của nhân dân và phục vụ phát triển kinh tế cho đất nước.
Phú Yên là một tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn, có nhiều hệ thống sông suối, thành phần các loài thủy sinh vật khá phong phú, đa dạng sinh học cao như sông Ba, đầm Ô Loan… Hiện nay các nghiên cứu mới tập trung ở con sông Ba và đầm Ô Loan, các hệ thống sông ở khu vực này chưa được nghiên cứu một cách tổng thể. Trong số đó có sông Bàn Thạch, sông nằm ở phía nam thành phố Tuy Hòa, dài 60 cây số, có diện tích lưu vực 590km2, sông chảy qua các xã thuộc tổng Hòa Đa và Hòa Đồng rồi ra cửa Đà Nông. Sông chảy tới vùng Hội Cư thì tiếp nhận một chi từ đèo Cục Kịch giáp giới với Khánh Hòa. Bắt đầu từ Hội Cư sông mang tên Bàn Thạch, chảy ra biển ở cửa Đà Nông. Sông Bàn Thạch có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, nguồn thức ăn giàu đạm như cá, tôm, …cho dân cư sống trong vùng. Đặc biệt, vùng hạ lưu thường có nước mặn hoặc nước lợ tạo nên sự đa dạng và phong phú cho khu hệ sinh vật góp phần phát triển kinh tế – xã hội trên toàn tỉnh. Tuy nhiên, hiện nay chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ về thành phần loài, đặc điểm sinh học, sinh thái, phân bố của các loài cá ở sông Bàn Thạch. Việc nghiên cứu thành phần loài cá và đề xuất những giải pháp phát triển bền vững nguồn lợi là rất cần thiết. Xuất phát từ những lý do trên, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên”
2. Mục tiêu đề tài
2.1. Mục tiêu tổng quát:
Góp phần vào việc nghiên cứu khu hệ cá Miền Trung, Việt Nam.
2.2. Mục tiêu cụ thể:
– Xác định được thành phần loài cá ở sông Bàn Thạch, qua đó xác định được loài kinh tế, loài quý hiếm hiện có ở sông này.
– Xác định được khu vực phân bố của các loài cá, đặc điểm phân bố, các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố cá ở sông Bàn Thạch, Tỉnh Phú Yên.
– Tìm hiểu tình hình khai thác và đề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển bền vững đa dạng sinh học về cá ở sông Bàn Thạch, Tỉnh Phú Yên.
3. Nội dung nghiên cứu:
3.1. Nghiên cứu về thành phần loài
– Lập danh mục thành phần loài cá ở sông Bàn Thạch, qua đó lập danh sách các loài kinh tế, quý hiếm hiện có.
– Đặc điểm cấu trúc, tính đặc trưng về đa dạng sinh học của thành phần loài cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên.
– Phân tích, đánh giá các loài ưu thế, loài quý hiếm, loài kinh tế ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên.
3.2. Nghiên cứu về đặc điểm phân bố
– Phân tích đặc điểm phân bố theo lưu vực, theo sinh cảnh của các loài cá thuộc khu vực nghiên cứu.
– So sánh thành phần loài cá sông Bàn Thạch với một số sông khác trong nước và lân cận làm cơ sở cho công tác bảo vệ và quản lý cá ở sông Bàn Thạch.
3.3. Tình hình khai thác cá và bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên
– Tình hình khai thác cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên.
– Đề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển bền vững đa dạng sinh học về cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên.
4. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm các phần sau
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 2: Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả và bàn luận
Kết luận và kiến nghị

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU CÁ
1.1.1. Tình hình nghiên cứu cá ở Việt Nam
a. Thời kỳ trước năm 1945
b. Thời kỳ từ 1945 – 1975
c. Thời kỳ sau 1975 đến nay
Từ năm 2005 đến nay, các công trình nghiên cứu về cá được quan tâm và chú trọng góp phần vào công tác nghiên cứu, phát triển và bảo vệ nguồn lợi thủy sản của đất nước.
Về phân loại học cá nước ngọt Việt Nam còn có tác giả Nguyễn Văn Hảo với công bố “Cá nước ngọt Việt Nam” gồm ba tập, tập 1 (2001), tập 2, 3 (2005). Trong đó tác giả đã mô tả chi tiết 1027 loài và phân loài, 427 giống, 97 họ, 22 bộ [21], [22]. Đây là công trình tổng hợp đầy đủ nhất ở đầu thế kỷ XXI về cá nước ngọt Việt Nam.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu cá ở tỉnh Phú Yên
Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu cá ở tỉnh Phú Yên: Đa dạng về thành phần loài cá ở đầm Ô Loan của Võ Văn Phú, Nguyễn Thị Phi Loan và Hồ Thị Hồng (2003) gồm 108 loài [40]; Nghiên cứu đặc tính sinh học và phân bố của cá Dìa (Siganus guttatus) ở đầm Ô Loan tỉnh Phú Yên của Lê Văn Mậu (2003). Thành phần loài khu hệ cá sông Ba của Võ Văn Phú và Nguyễn Minh Ty (2005) với 71 loài. Thành phần loài cá ở đầm Ô Loan, tỉnh Phú Yên của Nguyễn Thị Phi Loan(2008) [29]. Nghiên cứu khu hệ cá hệ thống sông Ba của Nguyễn Minh Ty (2010) gồm 182 loài [55].
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này chưa khái quát hết các khu vực nghiên cứu của tỉnh. Vì thế cần phải tiến hành việc nghiên cứu và điều tra các nơi khác để có những dẫn liệu mới về khu hệ cá ở tỉnh Phú Yên và đây là điều rất cần thiết để đóng góp nguồn tư liệu cho những nghiên cứu tiếp theo.
1.2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU
1.2.1. Điều kiện địa lí, ranh giới, diện tích
Phú Yên trải dài từ 12°42’36” đến 13°41’28” vĩ bắc và từ 108°40’40” đến 109°27’47” kinh đông, phía bắc giáp tỉnh Bình Định, phía nam giáp Khánh Hòa, phía tây giáp Đăk Lăk và Gia Lai, phía đông giáp biển Đông.
Diện tích tự nhiên: 5.045 km², chiều dài bờ biển 189 km.
Sông Bàn Thạch chảy qua hai huyện Tây Hòa và Đông Hòa của tỉnh Phú Yên với chiều dài 60km, diện tích lưu vực 590km2.
1.2.2. Tình hình kinh tế – xã hội
a. Các đơn vị hành chính và dân số
b. Đời sống kinh tế
c. Giáo dục
d. Y tế
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
– Các loài cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên.
– Tìm hiểu thực trạng khai thác và nuôi trồng thủy hải sản.
2.2. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Đề tài được tiến hành từ tháng 3 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014
2.3. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Đã tiến hành điều tra khảo sát và thu thập 878 mẫu cá trên sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên. Từ xã Hòa Tâm đến xã hòa Mỹ, sông có chiều dài 60km, diện tích lưu vực 590km2.
2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1. Ngoài thực địa
a. Phương pháp thu thập mẫu cá
b. Phương pháp xử lý và bảo quản cá
– Mẫu được xử lý bằng focmol và chụp ảnh ngay khi còn tươi. Định hình trong dung dịch focmol 9%. Bảo quản mẫu trong dung dịch focmol 4%.
– Tất cả mẫu vật được lưu trữ ở phòng thí nghiệm khoa Sinh – trường Đại học Quảng Nam.
c. Phương pháp điều tra có sự tham gia của cộng đồng
d. Phương pháp thu thập tài liệu
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
a. Phân tích các chỉ tiêu hình thái
b. Phương pháp giám định tên khoa học của loài
c. Phương pháp sử dụng công thức trong tính toán
d. Phương pháp nghiên cứu về sinh thái phân bố của các loài cá
e. Phương pháp xử lý số liệu
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. THÀNH PHẦN LOÀI CÁ Ở SÔNG BÀN THẠCH, TỈNH PHÚ YÊN
3.1.1. Danh mục thành phần loài cá
Thành phần loài cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên gồm 115 loài với 85 giống nằm trong 47 họ thuộc 14 bộ khác nhau. Danh mục thành phần loài cá được sắp xếp theo hệ thống phân loại của Eschemeyer W.T (2005). (bảng 3.1).
Bảng 3.1. Danh mục thành phần loài cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên
| STT | Tên khoa học | Tên Việt Nam | Phân bố | |
| Mùa | Mùa | |||
| khô | mưa | |||
| I | OSTEOGLOSSIFORMES | BỘ CÁ THÁT LÁT | ||
| (1) | Notopteridae | Họ cá Thát lát | ||
| 1 | Notopterus notopterus (Pallas, 1769) | Cá Thát lát * | + | + |
| II | ELOPIFORMES | BỘ CÁ CHÁO | ||
| (2) | Megalopidae | Họ cá Cháo lớn | ||
| 2 | Megalops cyprinoides Brousonet, 1782 | Cá Cháo lớn ** | + | + |
| III | ANGUILLIFORMES | BỘ CÁ CHÌNH | ||
| (3) | Anguillidae | Họ cá Chình | ||
| 3 | Anguilla marmorata (Quoy & Gaimard, 1824) | Cá Chình hoa ** | + | + |
| 4 | A. bicolor Mc Clelland, 1844 | Cá Chình mun ** | + | + |
| IV | ATHERINIFORMES | BỘ CÁ SUỐT | ||
| (4) | Atherinidae | Họ cá Suốt | ||
| 5 | Atherina bleekeri Günther, 1861 | Cá Suốt mắt nhỏ | + | + |
| V | CLUPEIFORMES | BỘ CÁ TRÍCH | ||
| (5) | Clupeidae | Họ cá Trích | ||
| 6 | Herkiotsichthys quadrimaculatus (Rüppell, 1837) | Cá Trích vẩy xanh mắt to | + | |
| 7 | Konosirus punctatus (Schlegel, 1846) | Cá Mòi cờ chấm ** | + | |
| 8 | Nematalosus nasus (Bloch, 1795) | Cá Mòi mõm tròn ** | + | |
| (6) | Engraulidae | Họ cá Trỏng | ||
| 9 | Stolephorus commersonii Lacépefde, 1903 | Cá Cơm thường | + | + |
| 10 | S.tri (Bleeker, 1852) | Cá Cơm sông | + | + |
| VI | CYPRINIFORMES | BỘ CÁ CHÉP | ||
| (7) | Cyprinidae | Họ cá chép | ||
| 11 | Hemiculter leucisculu (Basilewsky, 1855) | Cá Mương xanh * | + | + |
| 12 | H. krempffi (Pellegrin & Chevey, 1938) | Cá Mương | + | + |
| 13 | Barbonymus gonionotus (Bleeker, 1850) | Cá Mè vinh * | + | + |
| 14 | Hypsibarbus wetmorei (Smith, 1931) | Cá Mè vinh giả | + | + |
| 15 | Hampala dispar (Smith, 1934) | Cá Ngựa chấm * | + | |
| 16 | Puntius brevis(Bleeker, 1860) | Cá Dầm | + | + |
| 17 | Osteochilus prosemion (Fowler, 1934) | Cá Lúi | + | + |
| 18 | O. brachynotopteroides Chevey, 1934 | Cá Lúi xanh | + | + |
| 19 | Systomus binotatus (Valenciennes, 1842) | Cá Trắng | + | + |
| 20 | Cirrhinus molitorel (Cuvier&Valenciennes,1844) | Cá Trôi * | + | |
| 21 | Sinilabeo lemassoni (Pellegrin & Chevey, 1936) | Cá Rầm xanh | + | + |
| 22 | Carassius auratus (Linnaeus, 1758) | Cá Diếc * | + | + |
| 23 | Cyprinus carpio Linnaeus, 1758 | Cá Chép * | + | + |
| 24 | C. centralus (Nguyen & Mai, 1994) | Cá Dầy * | + | + |
| 25 | Puntius semifasciatus (Günther, 1868) | Cá Cấn | + | |
| 26 | Aristichthys nobilis (Richardson, 1844) | Cá Mè hoa * | + | |
| 27 | Hypophthalmichthys molitrix (Cuvier & Valenciennes, 1844) | Cá Mè trắng * | + | |
| 28 | Carassioides cantonensis (Heincke, 1892) | Cá Rưng | + | + |
| 29 | Puntioplites falcifer (Smith, 1929) | Cá Dảnh | + | + |
| 30 | Rasborinus lineatus (Pellegrin, 1907) | Cá Mại bầu | + | |
| 31 | Esomus metallicus Ahl, 1942 | Cá Lòng tong sắt | + | + |
| 32 | E. longimanus (Lunel, 1881) | Cá Lòng tong dài | + | |
| 33 | E. danricus (Hamilton, 1822) | Cá Lòng tong bay | + | |
| 34 | Paralaubuca barroni Fowler, 1934 | Cá Thiểu mại | + | + |
| 35 | P. riveroi Fowler, 1935 | Cá Thiểu nam | + | |
| 36 | Megalobrama skolkovii Dybowsky, 1872 | Cá Vền | + | |
| 37 | Onychostoma fusiforme Kottetlat, 1998 | Cá Xanh | + | + |
| 38 | Hampala macrolepidota Van Hasselt, 1823 | Cá Ngựa nam | + | |
| 39 | Labeo rohita (Hamilton, 1822) | Cá Rô hu | + | + |
| (8) | Cobitidae | Họ cá Chạch | ||
| 40 | Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842 | Cá Chạch bùn * | + | + |
| 41 | M. tonkinensis Rendahl, 1937 | Cá Chạch bùn núi * | + | + |
| 42 | Corbitis taenia Linnaeus, 1758 | Cá Chạch hoa đốm tròn | + | |
| 43 | Acantopsis choirorhynchos (Bleeker, 1854) | Cá Khoai sông | + | + |
| VII | CHARACIFORMES | BỘ CÁ HỒNG NHUNG | ||
| (9) | Characidae | Họ cá Hồng nhung | ||
| 44 | Clossoma brachypomun (Cuvier, 1818) | Cá Chim trắng nước ngọt | + | + |
| VIII | SILURIFORMES | BỘ CÁ NHEO | ||
| (10) | Bagnidae | Họ cá Lăng | ||
| 45 | Mystus gulio Hamilton, 1822 | Cá Chốt | + | + |
| 46 | Hemibagrus nemurus (Valenciennes, 1839) | Cá Lăng nha | + | + |
| 47 | Leiocassis siamensis Regan, 1913 | Cá Chốt bông | + | + |
| (11) | Cranoglanididae | Họ cá Ngạnh | ||
| 48 | Cranoglanis bouderius (Richardson, 1846) | Cá Ngạnh thon ** | + | + |
| 49 | C. henrici (Vallant, 1893) | Cá Ngạnh thường | + | + |
| (12) | Siluridae | Họ cá Nheo | ||
| 50 | Silurus asotus (Linnaeus, 1758) | Cá Nheo * | + | |
| 51 | Pterocryptis cochinchinensis (Cuvier & Valenciennes, 1840) | Cá Thèo | + | |
| (13) | Clariidae | Họ cá Trê | ||
| 52 | Clarias fuscus (Lacépède, 1803) | Cá Trê đen * | + | |
| 53 | C. batrachus (Linnaeus, 1785) | Cá Trê trắng | + | + |
| (14) | Sisoridae | Họ cá Chiên | ||
| 54 | Bagarius bagarius (Hamilton, 1822) | Cá Chiên ** | + | |
| (15) | Ariidae | Họ cá Úc | ||
| 55 | Arius sciurus Smith, 1931 | Cá Úc trắng | + | + |
| 56 | A. maculatus (Thunberg, 1791) | Cá Úc chấm | + | + |
| (16) | Plotosidae | Họ cá Ngát | ||
| 57 | Polotosus lineatus (Thunberg, 1791) | Cá Ngát | + | |
| IX | BELONIFORMES | BỘ CÁ NHÁI | ||
| (17) | Belonidae | Họ cá Nhái | ||
| 58 | Strongylura strongylura (Hasselt, 1823) | Cá Nhái đuôi chấm | + | + |
| (18) | Hemiramphidae | Họ cá Lìm kìm | ||
| 59 | Hyporhamphus unifasciatus (Ranzant, 1842) | Cá Kìm sông | + | + |
| X | SYNBRANCHIFORMES | BỘ MANG LIỀN | ||
| (19) | Synbranchidae | Họ Lươn | ||
| 60 | Monopterus albus (Zuiew, 1793) | Lươn đồng * | + | + |
| (20) | Mastacembelidae | Họ cá Chạch sông | ||
| 61 | Mastacembelus armatus (Lacépède, 1800) | Cá Chạch sông | + | + |
| 62 | M. favus (Hora, 1924) | Cá Chạch bông lớn | + | + |
| 63 | Macrognathus siamensis (Günther, 1861) | Cá Chạch lá tre * | + | + |
| XI | SCORPAENIFORMES | BỘ CÁ MÙ LÀN | ||
| (21) | Platycephalidae | Họ cá Chai | ||
| 64 | Platycephalus indicus (Linnaeus, 1758) | Cá Chai | + | + |
| XII | PERCIFORMES | BỘ CÁ VƯỢC | ||
| (22) | Centropomidae | Họ cá Chẽm | ||
| 65 | Lates calcarifer (Bloch, 1790) | Cá Chẽm * | + | |
| (23) | Seranidae | Họ cá Mú | ||
| 66 | Epinephelus fario (Thunberg, 1793) | Cá Mú sao | + | + |
| (24) | Ambassidae | Họ cá Sơn | ||
| 67 | Ambassis Kopsi Bleeker, 1858 | Cá Sơn kôpsô | + | |
| 68 | A. gymnocephalus (Lacépède, 1802) | Cá Sơn xương | + | |
| 69 | Parambassis ranga (Hamilton, 1822) | Cá Sơn gián | + | |
| (25) | Teraponidae | Họ cá Căng | ||
| 70 | Terapon jarbua (Forsskăl, 1775) | Cá Ong căng* | + | + |
| 71 | T. theraps (Cuvier, 1829) | Cá Căng | + | + |
| 72 | T. oxyrhynchus Temminck & Schlegel, 1846 | Cá Căng mõm nhọn | + | + |
| (26) | Sillaginidae | Họ cá Đục | ||
| 73 | Sillago sihama (Forsskăl, 1775) | Cá Đục trắng | + | |
| (27) | Leignathidae | Họ cá Liệt | ||
| 74 | Leiognathus equilus (Forsskăl, 1775) | Cá Liệt lớn | + | + |
| 75 | L. bindus (Valenciennes, 1835) | Cá Liệt mõm ngắn | + | + |
| (28) | Lutjanidae | Họ cá Hồng | ||
| 76 | Lutjanus fulviflammus (Forsskăl, 1775) | Cá Hồng ánh vàng | + | + |
| (29) | Gerridae | Họ cá Móm | ||
| 77 | Gerres filamentosus Cuvier, 1829 | Cá Móm gai dài* | + | + |
| 78 | G. lucidus Cuvier, 1830 | Cá Móm gai ngắn | + | + |
| (30) | Pomadasyidae | Họ cá Sạo | ||
| 79 | Pomadasys maculatus (Bloch, 1970) | Cá Sạo chấm | + | + |
| (31) | Sparidae | Họ cá Tráp | ||
| 80 | Acanthopagrus latus (Houttuyn, 1782) | Cá Tráp vây vàng* | + | + |
| 81 | A. berda (Forsskăl, 1775) | Cá Tráp berda | + | + |
| (32) | Sciaenidae | Họ cá Đù | ||
| 82 | Nibea albiflora (Richardson, 1846) | Cá Đù nanh | + | |
| (33) | Monodactylidae | Họ cá Chim mắt to | ||
| 83 | Monodactylus argenteus (Linnaeus, 1758) | Cá Chim trắng mắt to | + | |
| (34) | Scatophagidae | Họ cá Nầu | ||
| 84 | Scatophagus argus (Linnaeus, 1785) | Cá Nầu | + | |
| (35) | Mugilidae | Họ cá Đối | ||
| 85 | Mulgil kelaartii Bloch, 1973 | Cá Đối lá * | + | + |
| 86 | M. strongylocephalus Richardson, 1846 | Cá Đối nhọn | + | |
| 87 | M. cephalus Linnaeus, 1758 | Cá Đối mục * | + | + |
| 88 | M. carinatus (Valenciennes, 1836) | Cá Đối lưng gồ | + | |
| 89 | Valamugil engeli (Bleeker, 1858) | Cá Đối anh | + | |
| 90 | Liza tade (Forsskăl, 1775) | Cá Đối gành | + | |
| (36) | Eleotridae | Họ cá Bống đen | ||
| 91 | Eleotris melanosoma (Bleeker, 1852) | Cá Bống đen lớn | + | |
| 92 | E. fusca (Schneider & Forster, 1801) | Cá Bống mọi | + | |
| (37) | Gobiidae | Họ cá Bống trắng | ||
| 93 | Acentrogobius viridipunctatus Cuvier & Valenciennes, 1837 | Cá Bống lá tre | + | + |
| 94 | Butis butis (Hamilton, 1822) | Cá Bống cau | + | |
| 95 | Glossogobius aureus Akihito & Meguro, 1975 | Cá Bống cát | + | + |
| 96 | G. giuris (Hamilton, 1822) | Cá Bống cát tối * | + | + |
| 97 | G. fasciato punctatus (Richardson, 1838) | Cá Bống chấm gáy | + | + |
| (38) | Siganidae | Họ cá Dìa | ||
| 98 | Siganus fuscescens (Houttuyn, 1782) | Cá Dìa tro | + | |
| (39) | Anabantidae | Họ cá Rô đồng | ||
| 99 | Anabas testudineus (Bloch, 1927) | Cá Rô đồng * | + | + |
| (40) | Beloniidae | Họ cá Sặc | ||
| 100 | Trichogaster trichopterus (Pallas, 1770) | Cá Sặc bướm | + | + |
| 101 | T. pectoralis (Regan, 1910) | Cá Sặc rằn * | + | + |
| 102 | T. microlepis (Günther, 1861) | Cá Sặc điệp | + | |
| 103 | Trichopsis vittatus (Cuvier, 1831) | Cá Bã trầu | + | |
| 104 | Macropodus opercularis (Linnaeus, 1788) | Cá Đuôi cờ | + | |
| 105 | Betta taeniata Regan, 1910 | Cá Thia ta | + | |
| (41) | Cichlidae | Họ cá Rô phi | ||
| 106 | Oreochromis mossambicus (Peters, 1852) | Cá Rô phi * | + | + |
| 107 | O. niloticus (Linnaeus, 1758) | Cá Rô phi vằn * | + | + |
| (42) | Channidae | Họ cá Quả | ||
| 108 | Channa striata Bloch, 1793 | Cá Lóc * | + | + |
| 109 | C. micropeltes (Cuvier, 1831) | Cá Lóc bông ** | + | |
| XIII | PLEURONECTIFORMES | BỘ CÁ BƠN | ||
| (43) | Bothidae | Họ cá Bơn vĩ | ||
| 110 | Pseudorhombus sinensis Lacépède, 1802 | Cá Bơn vĩ | + | + |
| 111 | P. arsius (Hamilton, 1822) | Cá Bơn vỉ răng to | + | + |
| (44) | Soleidae | Họ cá Bơn | + | |
| 112 | Euroglossa siamensis (Sauvage, 1878) | Cá Bơn lá mít | + | + |
| (45) | Cynoglossidae | Họ cá Bơn cát | ||
| 113 | Cynoglossus puncticeps Richardson, 1846 | Cá Bơn điểm | + | |
| XIV | TETRAODONTIFORMES | BỘ CÁ NÓC | ||
| (46) | Triacanthidae | Họ cá Nóc ba gai | ||
| 114 | Triacanthus revirostris (Bloch, 1786) | Cá Nóc ba gai | + | |
| (47) | Tetraodontidae | Họ cá Nóc | ||
| 115 | Takifugu oblongus (Bloch, 1786) | Cá Nóc chày | + | + |
*Ghi chú: * Các loài cá kinh tế. ** Các loài cá quý hiếm.
3.1.2. Cấu trúc thành phần loài
Taxon bậc loài: Trong 115 loài thì bộ cá Vược (Perciformes) có số loài nhiều nhất 45 loài chiếm 39,13%, tiếp đến là bộ cá Chép (Cypriniformes) 33 loài chiếm 28,70%, bộ cá Nheo (Siluriformes) 13 loài chiếm 11,30%, bộ cá Trích (Clupeiformes) có 5 loài chiếm 4,35%, bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) và bộ cá Mang liền (Synbranchiformes) cùng có 4 loài chiếm 3,48%, bộ cá Chình (Anguilliformes), bộ cá Nhái (Beloniformes) và bộ cá Nóc (Tetraodontiformes) đều có 2 loài chiếm 1,74%. Các bộ còn lại, mỗi bộ có 1 loài chiếm 0.87%.
Hình 3.1. Biểu đồ tỉ lệ số loài trong các bộ cá ở sông Bàn Thạch
Taxon bậc giống: Trong 47 họ và 85 giống, đa dạng nhất là bộ cá Vược (Perciformes) với 29 giống chiếm 34,12% trong tổng số giống. Tiếp đến là bộ cá Chép (Cypriniformes) có 26 giống chiếm 30,59%, bộ cá Nheo (Siluriformes) với 10 giống chiếm 11,76%, bộ cá Trích có 4 giống chiếm 4,71%, bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) và bộ cá Mang liền (Synbranchiformes) đều có 3 giống chiếm 3,53%, bộ cá Nhái (Beloniformes) và bộ cá Nóc (Tetraodontiformes) cùng có 2 giống chiếm 2,35%. Các bộ còn lại, mỗi bộ có 1 giống chiếm 1,18%.
Hình 3.2. Biểu đồ tỉ lệ số giống trong các bộ cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên
Taxon bậc họ: Trong số 14 bộ và 47 họ đa dạng nhất là bộ cá Vược (Perciformes) với 21 họ chiếm 44,68%. Tiếp đến là bộ cá Nheo (Siluriformes) 7 họ chiếm 14,89%, bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) có 3 họ chiếm 6,38%. Các bộ có 2 họ chiếm 4,26% là: Bộ cá Trích (Clupeiformes), Bộ cá Chép (Cypriniformes), Bộ cá Nhái (Beloniformes), Bộ cá Mang liền (Synbranchiformes) và Bộ cá Nóc (Tetraodontiformes). Còn lại các bộ chỉ có 1 họ chiếm tỷ lệ thấp 2,13%.

Hình 3.3. Biểu đồ tỉ lệ số họ trong các bộ cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên
Thành phần các taxon bậc họ, bậc giống và bậc loài của bộ cá Vược (Perciformes) có số lượng chiếm ưu thế chứng tỏ sự mặn hóa của sông Bàn Thạch. Phần lớn cá đều có nguồn gốc từ biển.
Sự đa dạng cá sông Bàn Thạch không chỉ thể hiện ở bậc taxon loài mà còn cả bậc giống, họ, bộ. Trung bình mỗi bộ có 3,36 họ, mỗi họ có 1,81 giống, mỗi giống có 1,35 loài. Trong đó, các bộ chỉ chứa 1 họ, 1 giống, 1 loài đó là các bộ cá Thát lát (Osteoglossiformes), bộ cá Cháo (Elopiformes), bộ cá Suốt (Atheriniformes), bộ cá Hồng nhung (Characiformes) và bộ cá Mù làn (Scorpaeniformes) (bảng 3.2).
3.1.3. Nhóm loài ưu thế
Sự đa dạng về các bậc taxon trong khu hệ cá sông Bàn Thạch không giống nhau. Ở mỗi bậc taxon, một vài quần thể có số lượng cá thể khá nhiều được xem là nhóm cá ưu thế.
Trong 47 họ và 85 giống cá phân bố ở sông Bàn Thạch, ưu thế về họ thuộc bộ cá Vược (Perciformes) với 21 họ nhưng ưu thế về giống lại là họ cá Chép (Cyprinidae) với số lượng là 23 giống và 29 loài. Tiếp đến là họ cá Sặc (Belontidae) có 4 giống và 6 loài. Họ cá Đối (Mugilidae) có 3 giống và 6 loài. Họ cá Bống trắng (Gobiidae) có 3 giống và 5 loài. Họ cá Chạch (Cobitidae) có 3 giống và 4 loài. Còn ưu thế về loài thuộc giống cá Đối (Mulgil) với 4 loài.
3.1.4. Các loài cá quý hiếm
Trong thành phần loài cá ở Sông Bàn Thạch tỉnh Phú Yên, đã xác định được 8 loài cá quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 như cá Cháo lớn (Megalops cyprinoides), cá Chình hoa (Anguilla marmorata), cá Chình mun (Anguilla Bicolor), cá Mòi cờ chấm (Konosirus punctatus), cá Mòi mõm tròn (Nematolosa nasus), Cá Ngạnh thon (Cranoglanis bouderius), cá Chiên (Bagarius bagarius) và cá Lóc bông (Channa micropeltes). (bảng 3.5).
Bảng 3.5. Các loài cá quý hiếm ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên
| TT | Tên khoa học | Tên Việt Nam | Mức độ |
| 1 | Megalops cyprinoides | Cá Cháo lớn | VU |
| 2 | Anguilla marmorata | Cá Chình hoa | VU |
| 3 | Anguilla bicolor | Cá Chình mun | VU |
| 4 | Konosirus punctatus | Cá Mòi cờ chấm | VU |
| 5 | Nematolosa nasus | Cá Mòi mõm tròn | VU |
| 6 | Cranoglanis bouderius | Cá Ngạnh thon | VU |
| 7 | Bagarius bagarius | Cá Chiên | VU |
| 8 | Channa micropeltes | Cá Lóc bông | EN |
*Ghi chú: EN (Endangered): nguy cấp
VU (Vulnerable): sẽ nguy cấp
Trong tổng số 115 loài cá thu được ở Sông Bàn Thạch tỉnh Phú Yên, đã thống kê được 28 loài cá kinh tế chiếm 24,35% thuộc 24 giống, 17 họ nằm trong 5 bộ khác nhau. (bảng 3.6).
Bảng 3.6. Các loài cá kinh tế ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên
| STT | Tên khoa học | Tên Việt Nam |
| 1 | Notopterus notopterus | Cá Thát lát |
| 2 | Hemiculter leucisculus | Cá Mương xanh |
| 3 | Barbonymus gonionotus | Cá Mè vinh |
| 4 | Hampala dispar | Cá Ngựa chấm |
| 5 | Cirrhinus molitorella | Cá Trôi |
| 6 | Carassius auratus | Cá Diếc |
| 7 | Cyprinus carpio | Cá Chép |
| 8 | Cyprinus centralus | Cá Dầy |
| 9 | Aristichthys nobilis | Cá Mè hoa |
| 10 | Hypophthalmichthys molitrix | Cá Mè Trắng |
| 11 | Misgurnus tonkinensis | Cá Chạch bùn núi |
| 12 | Misgurnus anguillicaudatus | Cá Chạch bùn |
| 13 | Silurus asotus | Cá Nheo |
| 14 | Clarias fuscus | Cá Trê đen |
| 15 | Monopterus albus | Lươn đồng |
| 16 | Macrognathus siamensis | Cá Chạch lá tre |
| 17 | Lates calcarifer | Cá Chẽm |
| 18 | Terapon jarbua | Cá Ong căng |
| 19 | Gerres filamentosus | Cá Món gai dài |
| 20 | Acanthopagrus latus | Cá Tráp vây vàng |
| 21 | Mulgil kelaartii | Cá Đối lá |
| 22 | Mulgil cephalus | Cá Đối mục |
| 23 | Glossogobius giuris | Cá Bống cát tối |
| 24 | Anabas testudineus | Cá Rô đồng |
| 25 | Trichogaster pectoralis | Cá Sặc rằn |
| 26 | Oreochromis niloticus | Cá Rô phi vằn |
| 27 | Oreochromis mossambicus | Cá Rô phi đen |
| 28 | Channa striatus | Cá Lóc |
Qua bảng 3.6 ta thấy trong tổng số các loài cá kinh tế của sông Bàn Thạch chủ yếu là các loài cá sống trong môi trường nước lợ và nước ngọt, một số ít loài sống trong môi trường nước mặn. Bộ cá Vược (Perciformes) ưu thế nhất với 12 loài chiếm 42,86%, tiếp đến là bộ cá Chép (Cypriniformes) có 11 loài chiếm 39,29%, bộ cá Nheo (Siluriformes), bộ cá Mang liền (Synbranchiformes) cùng có 2 loài chiếm 7,14%, bộ cá Thát lát (Osteoglossiformes) có 1 loài chiếm 3,57% (hình 3.5).
Trong 115 loài cáởsông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên đã xác định 5 loài cá có nguồn gốc nhập nội. Các loài cá nhập nội này đã đóng góp đáng kể cho sản lượng cũng như cho giá trị thương phẩm cao. Các loài cá này trước kia do con người nhập từ nơi khác đến nuôi và trong quá trình nuôi đã phát tán ra sông trong mùa mưa lũ, lâu ngày thành những “cư dân” ở sông Bàn Thạch (bảng 3.7).
Bảng 3.7. Các loài cá nhập nội ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên
| STT | Tên khoa học | Tên Việt Nam | Nguồn gốc |
| 1 | Aristichthys nobilis | Cá Mè hoa | Trung Quốc |
| 2 | Hypophthalmichthys molitrix | Cá Mè Trắng | Trung Quốc |
| 3 | Clossoma branchypomun | Cá Chim nước ngọt | Nam Mỹ |
| 4 | Oreochromis niloticus | Cá Rô phi vằn | Châu Phi |
| 5 | Oreochromis mossambicus | Cá Rô phi đen | Châu Phi |
3.2. ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CÁ Ở SÔNG BÀN THẠCH, TỈNH PHÚ YÊN
3.2.1. Đặc điểm phân bố theo không gian và theo thời gi a. Cá nước ngọt
Nhóm cá nước ngọt phân bố ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên có 14 họ với 57 loài chiếm 49,57% tổng số loài cá. Trong đó, họ cá Chép (Cyprinidae) có số loài nhiều nhất với 29 loài chiếm 25,22% tổng số loài cá; Tiếp đến là họ cá Sặc (Belontidae) có 6 loài chiếm 5,22%; Họ cá Chạch (Cobitidae) có 4 loài chiếm 3,48%. Họ cá Chạch sông (Mastacembelidae) 3 loài chiếm 2,61%; Họ cá Chình (Anguillidae), họ cá Nheo (Siluridae), họ cá Trê (Clariidae), họ cá Rô phi (Cichlidae), họ cá Quả (Channidae) mỗi họ có 2 loài chiếm 1,74%; Họ cá Thát lát (Notopteridae), họ cá Hồng nhung (Characidae), họ cá Chiên (Sisoridae), họ Lươn (Synbranchidae), họ cá Rô đồng (Anabantidae) đều có 1 loài chiếm 0,87%. Như vậy, nhóm cá nước ngọt tương đối đa dạng về họ và có số loài nhiều nhất.
b. Nhóm cá nước lợ
Nhóm cá nước lợ có 21 họ chiếm 44,68% với 42 loài chiếm 36,52% tổng số loài cá. Đây là nhóm có số họ nhiều nhất. Trong 21 họ thì họ có số loài nhiều nhất là họ cá Đối (Mugilidae) với 6 loài chiếm 5,22% tổng số loài. Tiếp đến là họ cá Bống trắng (Gobiidae) có 5 loài chiếm 4,35%. họ cá Sơn (Ambassidae), họ cá Lăng (Bagnidae), họ cá Căng (Teraponidae) đều có 3 loài chiếm 2,61%. Có 6 họ có 2 loài chiếm 1,74% đó là: Họ cá Trỏng (Engraulidae), Họ cá Ngạnh (Cranoglanididae), họ cá Úc (Ariidae), họ cá Móm (Gerridae), họ cá Tráp (Sparidae) và họ cá Bống đen (Eleotridae); Các họ còn lại có 1 loài chiếm 0,87% là: Họ cá Cháo lớn (Megalopidae), họ cá Suốt (Atherinidae), họ cá Ngát (Plotosidae), họ cá Chẽm (Centropomidae), họ cá Đục (Sillaginidae), họ cá Hồng (Lutjanidae), họ cá Sạo (Pomadasyidae), họ cá Đù (Sciaenidae), họ cá Nầu (Scatophagidae), Họ cá Dìa (Siganidae). Ta thấy có đến 16 họ chiếm 76,19% tổng số họ trong nhóm cá nước lợ chỉ có 1 đến 2 loài. Nhóm cá nước lợ có số họ đa dạng nhất do vùng phân bố của nhóm cá nước lợ tương đối rộng và chúng có khả năng thích nghi với sự thay đổi về nồng độ muối ở mùa khô và mưa.
c. Nhóm cá nước mặn
Nhóm cá nước mặn ở sông Bàn Thạch có tổng số 12 họ chiếm 25,53% tổng số họ và 16 loài chiếm 13,91% tổng số loài cá. Trong đó, có nhiều loài nhất là họ cá Trích (Clupeidae) có 3 loài chiếm 2,61%. Có 2 họ có 2 loài chiếm 1,74% là: Họ cá Bơn vỉ (Paralichthyidae) và họ cá Liệt (Leignathidae). 9 họ chỉ có 1 loài chiếm 0.87% đó là: Họ cá Nhái (Belonidae), họ cá Lìm kìm (Hemiramphidae), họ cá Chai (Platycephalidae), họ cá Mú (Seranidae), họ cá Chim mắt to (Monodactylidae), họ cá Bơn (Soleidae), họ cá Bơn cát (Cynoglossidae), họ cá Nóc ba gai (Triacanthidae) và họ cá Nóc chày (Lagocephalidae). Đa số các họ có 1 hoặc 2 loài chiếm tỉ lệ thấp nhưng số họ đa dạng nên số loài cũng khá phong phú. Vì vậy, nhóm cá nước mặn ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên cũng khá phong phú.
d. Nhóm cá di cư
– Di cư kiếm mồi: Một số loài cá ở sông Bàn Thạch có đặc tính di chuyển từ vùng nước ngọt hoặc lợ đến vùng nước mặn như cá Nhái đuôi chấm (Strongylura strongylura), cá Kìm sông (Hyporhamphus unifasciatus)… và ngược lại, cá biển di cư vào như cá bống cát tối (Glossogobius giuris) cá Hồng ánh vàng (Lutjanus fulviflammus)…
– Di cư sinh sản: một số loài thường di chuyển xuôi dòng sông ra biển để sinh sản như cá Chình hoa (Anguilla marmorata), cá Chình mun (Anguilla bicolor)… hoặc ngược lại, cá biển di cư vào đẻ trứng như cá Mòi cờ chấm (Konosirus punctatus)….
3.2.2. So sánh thành phần loài cá sông Bàn Thạch với các khu hệ cá khác ở Việt Nam
a. Đặc trưng đa dạng về thành phần loài
Để có thể đánh giá độ đa dạng thành phần loài cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên chúng tôi tiến hành so sánh tỷ lệ các bậc taxon của khu hệ cá đang nghiên cứu với một số khu hệ cá khác ở Việt Nam (bảng 3.12).
Bảng 3.12. Số họ, giống, loài ở các khu hệ phân bố cá cửa sông Việt Nam
| Tỷ lệ | Các khu hệ cá trong nước | |||||||||
| Sông Bàn Thạch | Miền Nam | Nam Trung Bộ | Sông Ba | Sông Thu Bồn-Vu Gia | Sông Ô Lâu | Sông Sài Gòn | Sông Bến Hải | Sông Gianh | Miền Bắc | |
| Loài/giống | 1,35 | 1,83 | 1,65 | 1,64 | 1,63 | 1,43 | 1,70 | 1,28 | 1,31 | 1,73 |
| Loài/họ | 2,45 | 5,93 | 4,32 | 3,31 | 4,10 | 3,52 | 3,88 | 2,22 | 2,51 | 7,44 |
| Loài/bộ | 8,21 | 18,21 | 13,40 | 12,13 | 13,13 | 9,91 | 16,50 | 8,33 | 10,25 | 18,27 |
| Giống/họ | 1,81 | 3,23 | 2,61 | 2,02 | 2,52 | 2,45 | 2,28 | 1,73 | 1,92 | 4,29 |
| Giống/bộ | 6,07 | 9,93 | 8,10 | 7,40 | 8,07 | 6,91 | 9,69 | 6,50 | 7,83 | 10,55 |
| Họ/bộ | 3,36 | 3,07 | 3,10 | 3,67 | 3,20 | 2,82 | 4,25 | 3,75 | 4,08 | 2,45 |
– Tỉ lệ loài/giống ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên cao hơn so với tỉ lệ loài/giống ở các khu hệ sông Bến Hải và sông Gianh nhưng thấp hơn so với khu hệ cá Miền Nam, Nam Trung Bộ, sông Ba, sông Thu Bồn-Vu Gia, sông Ô Lâu, sông Sài Gòn và khu hệ cá Miền Bắc.
– Tỉ lệ giống/họ ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên chỉ cao hơn so với tỉ lệ giống/họ của khu hệ cá sông Bến Hải còn lại thì thấp hơn các khu hệ cá được so sánh là Miền Nam, Nam Trung Bộ, sông Ba, sông Thu Bồn-Vu Gia, sông Ô Lâu, sông Sài Gòn, sông Gianh và khu hệ cá Miền Bắc.
– Tỉ lệ họ/bộ ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên chỉ thấp hơn so với tỉ lệ họ/bộ khu hệ cá sông Ba, sông Sài Gòn, sông Bến Hải và sông Gianh nhưng cao hơn các khu hệ cá còn lại.
Như vậy, thành phần loài cá sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên đa dạng về bậc họ, bậc bộ nhưng kém đa dạng về bậc giống và loài so với các khu hệ cá cửa sông ở nước ta.
b. Quan hệ thành phần loài cá sông Bàn Thạch với các khu hệ cá ở Việt Nam
Bảng 3.13. Quan hệ thành phần loài cá sông Bàn Thạch với các khu hệ cá khác
| TT | Khu hệ cá | Số loài | Số loài chung | Hệ số S (**) | Tác giả năm công bố | |
| Số lượng | Tỉ lệ (%) (*) | |||||
| 1 | Miền Nam | 255 | 58 | 50,43 | 0,21 | Mai Đình Yên, 1992 [80]. |
| 2 | Nam Trung Bộ | 251 | 79 | 68,70 | 0,38 | Nguyễn Hữu Dực, 1995 [18] |
| 3 | Sông Ba | 182 | 83 | 72,17 | 0,63 | Nguyễn Minh Ty, Hoàng Đức Đạt, 2010 [71]. |
| 4 | Thu Bồn- Vu Gia | 197 | 71 | 61,74 | 0,42 | Vũ Thị Phương Anh, Võ Văn Phú, 2010 [1]. |
| 5 | Sông Ô Lâu | 109 | 43 | 37,39 | 0,35 | Võ Văn Phú, Nguyễn Duy Thuận, 2009 [53]. |
| 6 | Sông Sài Gòn | 264 | 62 | 53,91 | 0,24 | Tống Xuân Tám, 2012 [62]. |
| 7 | Sông Bến Hải | 100 | 41 | 35,65 | 0,31 | Võ Văn Phú, Nguyễn Vinh Hiển, 2007 [24]. |
| 8 | Sông Gianh | 123 | 32 | 27,83 | 0,18 | Nguyễn Hữu Dực, Mai Thị Thanh Phương, 2011 [19]. |
| 9 | Miền Bắc | 201 | 41 | 35,65 | 0,14 | Mai Đình Yên, 1978 [76]. |
* Ghi chú: (*): Tỷ lệ so với 119 loài cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên
(**): S là hệ số Sorencen – Hệ số gần gũi
Như vậy, thành phần loài cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên và khu hệ cá sông Ba vừa gần gũi về mặt địa lý vừa có những đặc điểm tương đồng rất lớn về điều kiện sinh thái nên hai khu hệ này có số lượng loài chung nhiều nhất là 83 loài chiếm 72,17% và hệ số gần gũi cao nhất S=0,63.
Thành phần loài khu hệ cá sông Bàn Thạch có số loài chung với thành phần loài cá nước ngọt phía Bắc và số loài chung với thành phần loài cá nước ngọt phía Nam mang nhiều khác biệt. Tỷ lệ thành phần loài cá sông Bàn Thạch chung với thành phần loài cá nước ngọt phía Nam là (50,43%). Ngược lại tỷ lệ này giảm đối với thành phần các loài cá nước ngọt phía Bắc (35,65%), tỷ lệ số loài mang yếu tố Bắc giảm dần từ ngoài vào trong, số loài mang yếu tố Nam chiếm tỷ lệ cao. Điều này chứng tỏ cá ở sông Bàn Thạch mang tính chất chuyển tiếp giữa khu hệ cá miền Bắc và khu hệ cá miền Nam.
3.3. TÌNH HÌNH KHAI THÁC CÁ VÀ BẢO VỆ NGUỒN LỢI THỦY SẢN Ở SÔNG BÀN THẠCH, TỈNH PHÚ YÊN
3.3.1. Tình hình khai thác cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên
a. Tình hình khai thác ở Sông Bàn Thạch
b. Một số nghề đánh bắt chính ở Sông Bàn Thạch
* Nghề lưới
* Nghề rớ giàn
* Nghề trủ
* Nghề kích điện
* Nghề lờ Trung Quốc
3.3.3. Một số giải pháp để phát triển bền vững nguồn lợi
a. Khai thác hợp lý nguồn lợi cá sông Bàn Thạch
b. Bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi
c. Phối hợp quản lý liên ngành
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
1.1. Kết quả nghiên cứu ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên đã xác định được 115 loài cá thuộc 85 giống nằm trong 47 họ và 14 bộ khác nhau.
1.2. Trong 14 bộ cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên, bộ cá Vược (Perciformes) là bộ có số loài ưu thế nhất với 45 loài chiếm 39,13%. Đa dạng nhất là họ cá Chép (Cyprinidae) với số lượng là 23 giống chiếm 27,06% và 29 loài chiếm 25,22%. Sự ưu thế về thành phần loài của bộ cá Vược (Perciformes) đã thể hiện tính chất nước lợ điển hình ở sông Bàn Thạch.
1.3. Trong tổng số 115 loài cá có mặt ở sông Bàn Thạch thì có 28 loài cá kinh tế. Có 8 loài nằm trong danh lục Sách Đỏ Việt Nam (2007), trong đó có 1 loài ở mức EN – nguy cấp và 7 loài ở mức VU – sẽ nguy cấp. Xác định 5 loài cá có nguồn gốc nhập nội.
1.4. Thành phần loài cá sông Bàn Thạch được chia theo 3 nhóm sinh thái khác nhau dựa theo nồng độ muối: gồm nhóm cá nước ngọt, nhóm cá nước lợ, nhóm cá nước mặn và một nhóm di cư có số lượng không nhiều. Sự phân bố của các nhóm cá này tùy thuộc vào địa điểm và thời gian.
1.5. Thành phần loài cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên mang tính chất chuyển tiếp giữa khu hệ cá miền Bắc và khu hệ cá miền Nam, trong đó mang yếu tố gần với khu hệ cá miền Nam nhiều hơn.
1.6. Tình hình khai thác cá trên sông Bàn Thạch diễn ra quá mức với nhiều ngư cụ khai thác mang tính tận diệt. Nuôi trồng thủy sản mang tính tự phát, chưa quy hoạch tổng thể nên gây ô nhiễm môi trường, làm ảnh hưởng đến nguồn lợi cá và năng suất giảm sút nghiêm trọng. Đó là dấu hiệu cơ bản của suy thoái tài nguyên và đa dạng sinh học.
2. KIẾN NGHỊ
2.1. Cần có các đề tài nghiên cứu về sinh thái, sinh học các loài cá kinh tế, loài cá quý hiếm, các đối tượng nuôi nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc quản lý và phát triển nguồn lợi một cách bền vững.
2.2. Cần quy hoạch tổng thể và chi tiết các khu vực nuôi thủy sản. Sử dụng hợp lý các mặt nước trên lưu vực sông nhằm nâng cao hiệu quả và hạn chế sự ô nhiễm nguồn nước.
2.3. Cần nuôi các loài cá có giá trị kinh tế cao như cá Chẽm (Lates calcarifer), cá Lóc (Channa striata), cá Chạch bùn (Misgurnus anguillicaudatus), cá Chạch bùn núi (Misgurnus tonkinensis) để mang lại nguồn thu nhập cho người dân.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\LUAN VAN KHOA HỌC\DIEP\SAU BAO VE


