Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Sơn

Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Sơn

Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Sơn

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Có thể nói rằng , thế giới ngày nay đang chứng kiến sự biến đổi vô cùng to lớn của xã hội loài người với đặc trưng là: Toàn cầu hoá, công nghệ thông tin, xã hội học tập. Sự toàn cầu hoá, sự đổi mới công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và nhu cầu học tập suốt đời đã thôi thúc và giúp chúng ta tổ chức lại một cách cơ bản đời sống xã hội, đưa loài người đến một nền kinh tế trí thức, bước vào nền văn minh trí tuệ. Sự biến đổi này đang có những tác động không nhỏ đến sự phát triển giáo dục. Trong bối cảnh này, giáo dục phải vừa đảm bảo nhiệm vụ đào tạo những công dân tốt cho đất nước, vừa đảm bảo đào tạo con người trở thành những thành viên tốt của cộng đồng nhân loại .Trong đó giáo dục và đào tạo đóng một vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của con người cũng như sự phát triển của của đất nước. Chính vì thế mà Hiến pháp năm 1992 đã xác định “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã xác định: “Cùng với khoa học và công nghệ, GD&ĐT là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.”

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cũng nhấn mạnh: “Phát triển GD&ĐT là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát triển nguồn nhân lực, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế bền vững”.

Thực hiện chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09/6/2014, Bộ GDĐT có Quyết định số 2653/QĐ-BGDĐT ngày 25/7/2014 về việc ban hành Kế hoạch hành động của Ngành Giáo dục triển khai Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW đã khẳng định: “Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo với mục tiêu tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”.

Trong chiến lược phát triển con người toàn diện, Đảng và nhà nước ta đã rất quan tâm đến chất lượng của việc dạy và học ở các cấp, ngành học và ở các hình thức đào tạo. Với xu thế hội nhập, ngoại ngữ đóng một vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực: khoa học kỹ thuật, giáo dục, du lịch, thương mại và đời sống hàng ngày… Ngoại ngữ là một môn văn hóa cơ bản, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp giáo dục. Ngoại ngữ không chỉ góp phần trang bị cho HS những tri thức cần thiết về các đối tượng nhận thức thế giới khách quan thuộc các lĩnh vực chuyên ngành mà còn là một công cụ rất quan trọng giúp cho họ nắm chắc hơn các tri thức cơ sở của các chuyên ngành khác, đồng thời giúp cho việc phát triển năng lực trí tuệ của họ được phát triển hơn. Ngoại ngữ là công cụ giao tiếp mới, giúp người học nâng cao và mở rộng tầm hiểu biết của mình qua việc tiếp xúc, tìm hiểu và chọn lọc những tri thức văn hóa không những của riêng dân tộc đó mà còn của cả loài người.

Trước những yêu cầu đổi mới của nền kinh tế, xã hội của đất nước trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hóa, ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng là một công cụ, phương tiện đắc lực và hữu hiệu trong quá trình hội nhập và phát triển. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp nhằm phát triển giáo dục vững chắc và mạnh mẽ hơn trong thời gian tới đó là đổi mới việc quản lý tổ chức hoạt động dạy học ngoại ngữ trong hệ thống GDQD để cung cấp cho thế hệ trẻ một phương tiện giao tiếp, học tập và làm việc hữu hiệu trong môi trường đa ngôn ngữ của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Theo kết luận số 51-KL/TW ngày 30/5/2019 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Quyết định số 2658/QĐ-BGDĐT ngày 23/7/2018 của Bộ giáo dục và đào tạo về việc ban hành kế hoạch triển khai việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống GDQD giai đoạn 2017-2025 đòi hỏi phải đổi mới căn bản quá trình dạy và học ngoại ngữ cho thế hệ trẻ…”. Ngoại ngữ đã trở thành nhu cầu ngày càng phát triển cùng với sự phát triển đi lên của toàn xã hội. Chính vì vậy việc học ngoại ngữ nói chung, dạy học tiếng Anh nói riêng vừa là xu hướng tất yếu, vừa là một nhiệm vụ của các nhà trường THPT hiện nay.

Có thể nói rằng việc dạy học ngoại ngữ trong hệ thống GDQD đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp của HS còn hạn chế. Nguyên nhân là do việc tổ chức dạy học NN ở các cấp học còn nhiều bất cập, một bộ phận GV dạy ngoại ngữ còn hạn chế về năng lực chuyên môn, phương pháp chưa đổi mới, chưa thích ứng với sự thay đổi để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Hiện nay tiếng Anh đã được xem như là ngôn ngữ Quốc tế. Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc dạy học ngoại ngữ trong các nhà trường. Tiếng Anh là một trong những ngoại ngữ bắt buộc được đưa vào dạy học ở các trường và bậc học khác nhau trong hệ thống GDQD.

Thực tế cho thấy việc dạy học tiếng Anh ngày nay ở nước ta đang phát triển với nhiều thuận lợi, số lượng người có nhu cầu học ngày càng tăng; Hệ thống tài liệu dạy học phong phú; Các trang thiết bị hỗ trợ dạy học đa dạng, hiện đại v.v… Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những khó khăn, bất cập trong thực tế dạy học bộ môn này. Người dạy, người học còn lúng túng trong việc lựa chọn tài liệu, phương pháp, phương tiện dạy học hữu hiệu nhất. Các nhà QLGD đang tìm phương pháp QL hiệu quả tốt nhất đối với quá trình dạy học bộ môn tiếng Anh.

Trong những năm qua hoạt động dạy học bộ Tiếng Anh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam đã đạt được những thành quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập về thực hiện nội dung chương trình để phù hợp với trình độ HS, việc đổi mới phương pháp giảng dạy chưa được thực hiện đồng bộ, đội ngũ GV chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội, trang thiết bị cho dạy học được đầu tư nhiều nhưng chưa được sử dụng có hiệu quả. Việc quản lý các khâu trong quá trình dạy học bộ môn còn lỏng lẻo. Việc dạy học ngoại ngữ chưa được coi trọng đúng mức, một số HS học tiếng Anh mang tính đối phó chưa tự giác.

Là một GV giảng dạy bộ môn tiếng Anh ở Trường THPT Nguyễn Văn Cừ nằm trên địa bàn huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam , bản thân nhận thấy việc nghiên cứu thực trạng hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường nhằm tìm ra các biện pháp có hiệu quả để khắc phục những hạn chế, khó khăn trong công tác dạy học bộ môn, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường là rất cần thiết. Song để đảm bảo và nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh, tôi thiết nghĩ cần phải đánh giá đúng thực trạng, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch dạy học và các biện pháp nâng cao chất lượng dạy học nhằm phát triển năng lực người học, tạo nên sự đổi mới trong việc dạy học nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội và phát triển đất nước.

Xuất phát từ lý do nêu trên, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam” với mong muốn xây dựng được các biện pháp khả thi và hiệu quả trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn nhằm quản lý tốt hoạt động dạy học môn Tiếng Anh, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường THPT, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại các trường THPT huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam góp phần nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường.

3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1. Khách thể nghiên cứu

Hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường THPT

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam.

4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Hiện nay, hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT trên địa bàn huyện huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam còn nhiều bất cập, kết quả dạy học chưa cao. Nguyên nhân chính của những bất cập này là các cấp quản lý triển khai các chỉ đạo về quản lý dạy học không dựa trên tiếp cận quản lý phù hợp. Dựa trên lý thuyết sư phạm tương tác, lý thuyết khoa học về quản lý hoạt động dạy học và thực tiễn quản lý dạy học tiếng Anh ở trường THPT, có thể đề xuất được các biện pháp quản lý hợp lý, khả thi nhằm quản lý tốt hoạt động dạy học tiếng Anh ở các trường THPT trên địa bàn huyện huyện Quế Sơn tỉnh

5.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh.

5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT huyện huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam.

5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam.

6. GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

– Đề tài tiến hành nghiên cứu tại 3 trường THPT trên địa bàn huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam gồm: Trường THPT Nguyễn Văn Cừ; Trường THPT Quế Sơn; Trường THPT Trần Đại Nghĩa.

– Đề tài nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhà trường đối với hoạt động dạy môn tiếng Anh ở trường THPT

– Thực trạng vấn đề nghiên cứu được khảo sát trong giai đoạn 2019-2021. Các biện pháp quản lý được đề xuất cho giai đoạn 2021-2025.

7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa lý thuyết. Các PP này được sử dụng để xây dựng cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT.

7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Đề tài sử dụng các phương pháp: điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn, nghiên cứu hồ sơ lưu trữ, quan sát, chuyên gia.

7.2.1. Phương pháp điều tra

7.2.2. Phương pháp phỏng vấn

7.2.3. Phương pháp nghiên cứu hồ sơ lưu trữ

7.2.4. Phương pháp quan sát

7.2.5. Phương pháp chuyên gia

7.3. Nhóm các phương pháp xử lí thông tin

Dùng phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả điều tra, khảo sát.

8. CẤU TRÚC LUẬN VĂN

– Phần nội dung gồm ba chương:

+ Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường trung học phổ thông.

+ Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam.

+ Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam.

Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Sơn
Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Sơn

 

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.2. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1. Quản lý, Quản lý giáo dục, Quản lý nhà trường

a. Khái niệm Quản lý

b. Khái niệm Quản lý giáo dục .

1.2.2. Hoạt động dạy học

a. Khái niệm về hoạt động dạy học 

Nhiều nhà khoa học đã tiếp cận khái niệm dạy học từ cơ sở lý luận của quá trình giáo dục tổng thể. Mặt khác, xét quan hệ giữa các thành tố cấu trúc của hoạt động, một số tác giả đã luận giải về nội hàm của khái niệm dạy học từ những góc độ khoa học khác nhau như: giáo dục học, tâm lý học, điều khiển học,…

– Tiếp cận dạy học từ góc độ giáo dục học “Dạy học – một trong các bộ phận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn – là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn, để trên cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng phát triển các phẩm chất của nhân cách người học theo mục đích giáo dục”. [30, 22]

Như vậy, dạy học là khái niệm chỉ quá trình hoạt động chung của người dạy và người học.

b. Các thành tố của hoạt động dạy học

HĐDH bao gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng là hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS.

* Hoạt động dạy

Hoạt động dạy là sự tổ chức, điều khiển tối ưu quá trình học sinh lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển quá trình học tập của học sinh, giúp cho họ nắm được kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ. Hoạt động dạy có chức năng kép truyền đạt và điều khiển. Nội dung dạy học được thực hiện trong một môi trường thuận lợi, chính là nhà trường, ở đó được thực hiện một nội dung chương trình qui định, phù hợp với từng lứa tuổi.

* Hoạt động học

Hoạt động học là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh khái niệm khoa học, bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách toàn diện. Vai trò tự điều khiển của hoạt động học thể hiện ở sự tự giác, tích cực, tự lực và sáng tạo dưới sự điều khiển của thầy, nhằm chiếm lĩnh khái niệm khoa học bằng hoạt động tự lực, sáng tạo của học sinh để đạt được 3 mục đích: kiến thức – kỹ năng – thái độ.

Quá trình học là quá trình học sinh biến kinh nghiệm xã hội lịch sử loài người thành kiến thức, kinh nghiệm bản thân, từ đó mà hình thành và phát triển nhân cách.

1.2.3. Quản lý hoạt động dạy học

Quản lý HĐDH chính là sự tác động lên đội ngũ GV, HS qua việc thực thi các chức năng quản lý kế hoạch, tổ chức chỉ đạo, kiểm tra, điều chỉnh nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vốn có, tạo động lực đẩy mạnh quá trình dạy học nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường theo yêu cầu trong năm học. Quản lý HĐDH đảm bảo việc người thầy đóng vai trò hướng dẫn, dẫn dắt HS đi tìm chân lý; người học chủ động tiếp cận chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu. Đặc biệt vai trò người học trên cơ sở hướng dẫn của người GV biết tự xây dựng kế hoạch, tự kiểm tra đánh giá để đạt chuẩn với yêu cầu trong giáo dục

1.3. HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG ANH TRONG TRƯỜNG THPT

1.3.1. Bản chất của hoạt động dạy học Tiếng Anh

HĐDH tiếng Anh là hoạt động cùng nhau giữa thầy và trò, trong đó thầy tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS nắm vững tri thức khoa học phổ thông, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn; HS độc lập, tự giác lĩnh hội các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo ngôn ngữ, hình thành năng lực lời nói tiếng Anh làm công cụ giao tiếp ngoài tiếng mẹ đẻ.

1.3.2. Cấu trúc hoạt động dạy học Tiếng Anh

a. Mục tiêu HĐDH tiếng Anh trong trường THPT

b. Nội dung dạy học Tiếng Anh trong trường THPT

c. PPDH tiếng Anh trong trường THPT

d. Hình thức tổ chức dạy học Tiếng Anh trong trường THPT

e. Phương tiện dạy học tiếng Anh trong trường THPT

1.3.3. Yêu cầu dạy học tiếng Anh trong giai đoạn hiện nay

Dạy và học môn tiếng Anh ở trường phổ thông nhằm giúp học sinh:

– Sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp ở mức độ cơ bản dưới các dạng nghe, nói, đọc, viết.

– Có kiến thức cơ bản, tương đối hệ thống và hoàn chỉnh về tiếng Anh, phù hợp với trình độ, đặc điểm tâm lí lứa tuổi.

– Có hiểu biết khái quát về đất nước, con người và nền văn hóa của một số nước nói tiếng Anh, từ đó có tình cảm và thái độ tốt đẹp đối với đất nước, con người, nền văn hóa và ngôn ngữ của các nước nói tiếng Anh; biết tự hào, yêu quý và tôn trọng nền văn hóa và ngôn ngữ của dân tộc mình.

Yêu cầu cụ thể:

– Hết lớp 10, 11,12 học sinh có khả năng sử dụng những kiến thức tiếng Anh đã học để đáp ứng accs kỹ năng: Nghe, Nói, Đọc, Viết.

1.4. QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG ANH TRONG TRƯỜNG THPT

Quản lý HĐDH thực chất là quản lý hoạt động dạy của GV, quản lý hoạt động học của HS và quản lý môi trường dạy học.

1.4.1. Quản lý hoạt động dạy của GV

a. Quản lý thực hiện mục tiêu, nội dung dạy học

b. Quản lý thực hiện phương pháp dạy học

c. Quản lý hình thức tổ chức HĐDH

d. Quản lý việc bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học của GV

a. Quản lý việc xây dựng thái độ, tình cảm và động cơ học tập cho HS

b. Quản lý hoạt động học tập trên lớp của HS

c. Quản lý hoạt động tự học của HS

1.4.3. Quản lý môi trường dạy học

a. Quản lý đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ HĐDH

b. Quản lý công tác xây dựng bầu không khí tâm lý tích cực ở lớp học, trường học

c. Quản lý thực hiện chế độ, chính sách với GV, HS

d. Quản lý công tác phối hợp giữa Tổ chuyên môn với giáo viên chủ nhiệm lớp và các tổ chức khác trong nhà trường

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH TẠI CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN QUẾ SƠN TỈNH QUẢNG NAM

2.1. KHÁI QUÁT VỀ GIÁO DỤC CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN QUẾ SƠN TỈNH QUẢNG NAM

2.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội huyện Quế Sơn

2.1.2. Sự phát triển giáo dục của huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam

a. Về qui mô, số lượng HS THPT

c. Về đội ngũ GV tiếng Anh

d. Về HS THPT

2.2. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT

2.2.1. Xây dựng các mẫu phiếu khảo sát

Bộ công cụ sử dụng để khảo sát thực trạng gồm các phiếu thăm dò ý kiến để tìm hiểu về nhận thức, ý kiến đánh giá và ý kiến đóng góp về các nội dung của vấn đề nghiên cứu.

– Phiếu hỏi 01: Phiếu hỏi ý kiến CBQL, GV nhằm thu thập ý kiến các vấn đề về thực trạng quản lý HĐDH tiếng Anh tại các trường THPT huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam.

– Phiếu hỏi 02: Phiếu hỏi ý kiến GV nhằm thu thập ý kiến các vấn đề về thực trạng năng lực thực tế của đội ngũ GV tiếng Anh tại các trường THPT huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam.

– Phiếu hỏi 03: Phiếu hỏi ý kiến HS nhằm thu thập ý kiến các vấn đề về thực trạng nhận thức và năng lực học tập môn tiếng Anh của HS tại các trường THPT huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam.

– Phiếu hỏi 04: Phiếu hỏi ý kiến CBQL và GV về tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp QLHĐ DH tiếng Anh tại các trường THPT huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam.

– Biên bản phỏng vấn , biên bản quan sát.

2.2.2. Chọn mẫu khảo sát

Mẫu khảo sát được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng CBQL, GV và HS các trường THPT tại huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam. Bên cạnh đó, mẫu khảo sát được lựa chọn đảm bảo tính đặc thù của quá trình quản lý HĐDH tiếng Anh tại các trường THPT huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam.

2.2.3. Tổ chức khảo sát

– Phát phiếu hỏi đến 8 CBQL, 23 TTCM, 20 GV và 351 HS của 3 Trường THPT của huyện Quế Sơn.

2.2.4. Xử lý số liệu và viết báo cáo kết quả khảo sát

Sử dụng các công tác toán học xử lý các phiếu điều tra thu được; lựa chọn các số liệu để phân tích, so sánh, xây dựng các biểu đồ, sơ đồ, bảng phục vụ cho việc nghiên cứu. Đồng thời viết báo cáo kết quả khảo sát nhằm đánh giá thực trạng quản lý HĐDH tiếng Anh tại các trường THPT huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam.

2.3. THỰC TRẠNG HĐDH MÔN TIẾNG ANH TẠI CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN QUẾ SƠN TỈNH QUẢNG NAM

2.3.1. Nhận thức của GV và HS THPT về môn Tiếng Anh

a. Nhận định của GV và HS về độ khó của nội dung kiến thức tiếng Anh

Kết quả điều tra cho thấy không có GV hay HS nào cho là kiến thức tiếng Anh không khó. Từ vựng được cho là khó nhất với 39,5% nhưng lại có độ chênh lệch về nhận thức giữa GV (15%) và HS (41,5%) vì vậy tôi đã tiến hành phỏng vấn một số GV và HS sau khi có kết quả điều tra. Phần lớn GV cho ngữ pháp là khó nhất vì đây là kiến thức mà HS phải nắm vững để vận dụng trong quá trình của hoạt động học, là kiến thức mà HS khó có thể tự học tốt được. Song trái lại HS lại cho từ vựng là khó vì các em chưa có ý thức tự trau dồi vốn từ vựng, chưa thường xuyên sử dụng từ đã học trong giao tiếp cho nên dần dần vốn từ bị giảm xuống và các em luôn cảm thấy lúng túng vì thiếu vốn từ trong khi nói và viết hoặc làm bài tập đọc hiểu. Còn về ngữ pháp, HS cho rằng dễ hơn vì hằng ngày các em được GV truyền đạt và thông qua luyện tập các em sẽ nhớ được. Vì vậy ngữ pháp được xem là khó thứ hai sau từ vựng nhưng theo lần lượt là GV 60%, HS 32,5% với tổng là 34,5%. Ngữ âm đứng thứ ba với tổng là 26%, trong đó GV 25% và HS 26%. Không có GV và HS nào cho là không có kiến thức nào khó (Xem Biểu đồ 2.2)

b. Nhận định của GV và HS về độ khó của các kỹ năng ngôn ngữ

Kết quả điều tra cho thấy kỹ năng nghe được GV và HS nhận định là khó nhất với 140/432 GV và HS (chiếm tỷ lệ 32,5%). Tiếp đến là kỹ năng viết với 109/432 GV và HS (chiếm tỷ lệ 27,5%); với 101/432 GV và HS ý kiến đề cập (chiếm 23,4%) kỹ năng nói được xếp sau kỹ năng viết; và được xem dễ nhất trong 4 kỹ năng là kỹ năng đọc với chỉ 71/432 chiếm 16,6% ý kiến cho là khó. Qua phỏng vấn thêm một số HS cho thấy sở dĩ 2 kỹ năng nghe và viết được xem là khó cũng do một trong những nguyên nhân là thiếu từ vựng. Các em luôn thấy lúng túng trong khi thực hành các kỹ năng ngôn ngữ vì không có vốn từ vựng để diễn đạt.

2.3.2. Thực trạng hoạt động giảng dạy môn Tiếng Anh của GV

a. Về hình thức tổ chức dạy học

b. Về phương pháp giảng dạy của GV

c. Về năng lực của GV

d. Về đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS

Để tìm hiểu thực trạng việc KT – ĐG kết quả HS chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu 83 bài kiểm tra định kỳ và thường xuyên của HS năm học 2019 – 2020 và 2020 – 2021 và phỏng vấn 3 CBQL, 3 GV của 3 trường và kết quả cho thấy:

  • Về cách thức tổ chức KT – ĐG học sinh:

Có 3 CBQL và 3 GV cho biết ở trường họ việc tổ chức KT – ĐG thường xuyên, định kỳ được thực hiện theo phân phối chương trình và việc tiến hành kiểm tra là do GV tổ chức độc lập ở lớp và báo cáo kết quả cho CBQL (trừ bài thi học kỳ); Cả 3 CBQL và 3 GV cho biết ngoài việc thực hiện kiểm tra thường xuyên và định kỳ theo phân phối chương trình, mỗi học kỳ CBQL tổ chức kiểm tra tập trung giữa kỳ và cuối kỳ cho toàn thể HS trong khối để đánh giá chung kết quả học tập của HS đồng thời so sánh kết quả giảng dạy của GV. Theo ý kiến của họ, việc kiểm tra tập trung này đã đem lại hiệu quả cao trong việc đổi mới KT – ĐG.

  • Về hình thức đề kiểm tra:

Số bài đã áp dụng đổi mới theo tinh thần đổi mới KT – ĐG của Bộ với kiểu định dạng văn bản đúng, font chữ, cỡ chữ phù hợp (font chữ Times New Roman, cỡ chữ 14) đạt tốt và khá chiếm 60,5%, vẫn còn 23,5% số bài chưa đạt; số đề kiểm tra bảo đảm tốt và khá việc kết hợp hình thức tự luận với trắc nghiệm phù hợp với đặc trưng bộ môn chiếm 69,3%, vẫn còn 11,8% số bài chưa đạt; 66,2% số đề kiểm tra bảo đảm theo ma trận thiết kế một cách phù hợp với các cấp độ nhận thức (nhận biết, thông hiểu, vận dụng), trong khi đó vẫn còn 12,6% số đề thi chưa được soạn thảo theo ma trận đề; Số câu hỏi, bài tập có dựa vào chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông do Bộ GDĐT ban hành đảm bảo đạt tốt và khá chiếm 63,3%; Số câu hỏi, bài tập chưa đạt là 14,6%. Có thể nói việc đổi mới về hình thức đề kiểm tra đã được thực hiện khá tốt song vẫn còn một số GV chưa thực hiện một cách triệt để.

  • Về nội dung đề kiểm tra:

Trước hết phải nói đến về độ chính xác của kiến thức và tính khoa học. Qua kết quả khảo sát cho thấy có 64,8% đề kiểm tra đạt ở mức độ tốt và khá song vẫn còn 18,9% số bài kiểm tra chưa đạt, trong một số đề kiểm tra GV phạm nhiều lỗi khi biên soạn; cần nói đến tiếp theo là việc thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông do Bộ ban hành trong quá trình biên soạn đề kiểm tra, với tỷ lệ 27,3% số bài đạt ở mức trung bình và chưa đạt; một vấn đề khác về nội dung kiến thức đó là sự đảm bảo đánh giá và phân loại HS (Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu) thì nhìn chung GV thực hiện tốt (với 72,7% đạt ở mức tốt và khá). Kết quả chung của các vấn đề nêu trên được thể hiện ở Bảng 2.8.

2.3.3. Thực trạng hoạt động học tập môn Tiếng Anh của HS

Khi tiến hành điều tra thực trạng học tập của HS, chúng tôi vừa xem xét sản phẩm kết hợp với phỏng vấn, vừa điều tra bằng phiếu. Với số lượng phát ra 355 phiếu; trong đó có 324 phiếu dành cho HS, 23 phiếu dành cho GV và 8 phiếu dành cho CBQL và kết quả thu được về một số vấn đề liên quan đến thực trạng hoạt động học tập của HS như sau:

a. Về tình cảm đối với môn học và thái độ học tập trên lớp của HS

Kết quả ở Biểu đồ 2.4 cho thấy tình cảm và thái độ tỷ lệ thuận với nhau. Ý kiến của HS về tình cảm đối với môn học là bình thường chiếm tỷ lệ cao nhất (48,9%) và đã dẫn đến thái độ học tập trên lớp của các em bình thường cũng cao nhất (48,7%); tiếp theo vị thứ 2 chỉ có 21,9% ý kiến HS cho là thích tiếng Anh vì vậy tỷ lệ có thái độ tích cực ở giờ học trên lớp chỉ chiếm 21,2%; xếp vị thứ 3 sau thích tiếng Anh là rất thích học tiếng Anh có 15,7% HS, và 13,5% HS có thái độ rất tích cực trong giờ học; vẫn còn 11,6% HS không hề thích môn học và dẫn đến thái độ rất thụ động trong giờ học với tỷ lệ 13,5%. Qua phỏng vấn thêm một số HS cho thấy phần lớn các em chưa xác định được mục đích và động cơ học tập nên dẫn đến không có thái độ đúng đắn đối với môn học. Những HS cho là rất thích hoặc thích môn tiếng Anh rơi vào các HS có ý định thi vào đại học khối A1 hoặc D. Số HS cho là không thích, thậm chí là rất ghét học môn này vì các em học rất yếu và cảm thấy lo sợ khi đến giờ học, không có thái độ đúng đắn đối với môn học vì cho rằng sẽ không cần đến tiếng Anh khi đã thi vào các trường thuộc khối khác. Vấn đề này các nhà quản lý cần phải tính đến việc tuyên truyền, hướng nghiệp để các em xác định đúng động cơ học tập.

Qua kết quả điều tra về phong trào học tiếng Anh ở các trường THPT từ 8 CBQL, 23 GV cùng 324 HS cho thấy có 53,4% ý kiến cho là bình thường và chiếm tỷ lệ cao nhất; tiếp theo có 24,3% ý kiến cho là không sôi nổi; xếp vị thứ 3 là ý kiến cho rằng phong trào học tiếng Anh sôi nổi với tỷ lệ 13,1% và cuối cùng chỉ có 9,2% ý kiến cho là rất sôi nổi. (Xem Biểu đồ 2.5)

Qua so sánh kết quả điều tra ở Biểu đồ 2.4 và Biểu đồ 2.5 cho thấy có sự trùng hợp ý kiến nhận xét về tình cảm, thái độ học tập và phong trào học tiếng Anh của HS. Tất cả kết quả ở hai biểu đồ với 3 nội dung đều ở mức bình thường là cao nhất.

c. Về động cơ học tiếng Anh của HS

Thái độ đối với môn học phần lớn phụ thuộc vào động cơ học tập của HS. Phần lớn các em học tiếng Anh như một môn học bắt buộc trong chương trình mà chưa thấy được mục đích của việc học tiếng Anh như yêu cầu mục tiêu đề ra, chưa hình thành động cơ học tập đúng đắn. Kết quả điều tra ở phụ lục 3 cho thấy chỉ có 60/324 HS (18,5%) được điều tra cho là học tiếng Anh với mục đích thi vào Đại học và học cao hơn nữa; 65/324 (20,1%) HS cho rằng học tiếng Anh để sau này xin việc làm và sử dụng trong công việc; số còn lại cho là học vì nó là môn học bắt buộc chiếm tỷ lệ cao nhất với 38,3% (124/324 HS); chỉ có 10,5% (34/324) ý kiến cho rằng học tiếng Anh để giao tiếp với người nước ngoài khi cần thiết; có 41/324 HS (12,6%) không biết chọn câu trả lời nào. Có thể thấy rằng HS chưa xác định được mục đích học tập và chưa có động cơ học tập. Qua đó, chúng tôi thấy rằng việc xây dựng tình cảm và động cơ học tập cho HS ở cấp THPT chưa được thực hiện tốt.

d. Về phương pháp học tập và thời gian tự học của HS

Có thể nói rằng từ việc chưa có tình cảm, thái độ và động cơ học tập đúng đắn đã dẫn đến kết quả chưa tốt về kỹ năng tự học. Qua kết quả điều tra (Phụ lục 3) và qua phỏng vấn một số GV và HS cho thấy rằng đa số HS chỉ dựa vào việc tập trung nghe giảng, ghi chép trên lớp và làm theo những nhiệm vụ mà GV giao sau mỗi tiết học. Những kỹ năng như làm việc độc lập với sách, kỹ năng tìm kiếm thông tin qua sách báo, tài liệu, kỹ năng khai thác Internet…vẫn còn rất hạn chế. Vẫn còn HS chưa thực sự quen thuộc với cách dạy của GV khi có ứng dụng CNTT vì cho rằng rất khó ghi chép vào vở bài học.

Có 32,4% HS tự làm bài tập luyện thêm trong sách bài tập tham khảo; số ý kiến cho là thường tự làm bài tiếng Anh hoặc tìm tài liệu trên mạng chiếm 19,6%; tiếp đến là xem phim, đọc sách, nghe nhạc bằng tiếng Anh chiếm 14,8%; vẫn còn một số rất lớn HS chỉ làm bài tập trong SGK theo yêu cầu của GV (với 33,2%).

Về kỹ năng ứng dụng CNTT vào việc tự học, khai thác các nguồn khác ngoài SGK để hỗ trợ nâng cao chất lượng học tập cũng chưa thực sự hiệu quả.

Từ thực trạng trên, chúng tôi kết luận rằng phương pháp học tập của phần lớn HS hiện nay chưa thực sự chuyển biến một cách đồng bộ với việc đổi mới PPDH của GV, chủ yếu HS quen cách học: nghe giảng, ghi nhớ và tái hiện. Các kỹ năng phân tích, tổng hợp, đánh giá; kỹ năng tự học, tự nghiên cứu tìm hiểu tài liệu, SGK, khai thác thông tin trên mạng Internet,… vẫn còn là những kỹ năng mà người thầy cần phải trang bị cho các em trong quá trình đổi mới PPDH.

e. Về kết quả học tập của HS

Qua nghiên cứu các báo cáo thống kê kết quả học tập môn tiếng Anh năm học 2020 – 2021 của các trường, chúng tôi có được kết quả điểm trung bình môn của HS các trường THPT huyện Quế Sơn như ở Bảng 2.9.

Kết quả điều tra ở Bảng 2.9 cho thấy rằng kết quả học tập của HS Khối 10 với tổng số HS đạt khá, giỏi chiếm 43,0% và có chiều hướng phát triển tăng dần từ khối 10 đến khối 11 và đến khối 12; kết quả trung bình là 35,0%; song bên cạnh đó vẫn còn 18,3% HS có kết quả học tập yếu và 3,7% HS bị xếp loại kém. Để bổ sung cho việc nghiên cứu sản phẩm, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn một số GV và HS về đánh giá kết quả học tập của HS cho thấy rằng các đánh giá của GV và HS hoàn toàn chính xác theo kết quả khảo sát sản phẩm.

2.3.4. Thực trạng môi trường dạy học môn Tiếng Anh

a. Về đầu tư cơ sở vật chất phục vụ HĐDH tiếng Anh

Để tìm hiểu thực trạng về CSVC hỗ trợ HĐDH, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 3 CBQL, 3 GV phòng vi tính, 3 GV giảng dạy và được biết:

BGH nhà trường rất quan tâm đến việc trang bị CSVC, TBDH cho GV và HS có điều kiện dạy – học tốt nhất. Tất cả các trường đều có đầy đủ phòng học, đủ chổ ngồi cho HS. Các trường đều có thư viện và phòng máy tính được trang bị hệ thống nối mạng Internet phục vụ cho việc HS đọc, mượn sách, tài liệu và sử dụng Internet cho việc học tập. Song qua phỏng vấn GV phụ trách phòng vi tính cho thấy việc khai thác mạng Internet cho việc học tiếng Anh, việc sử dụng máy tính cho việc soạn giảng chưa thường xuyên và chưa đem lại hiệu quả. Vì vậy CBQL cần xem lại biện pháp quản lý và tổ chức sử dụng TBDH.

Khi được hỏi về chất lượng của trang thiết bị, máy móc phục vụ dạy và học tiếng Anh ở trường, 75% ý kiến trả lời rất tốt và tốt (2/3 trường), 25% ý kiến trả lời không tốt và máy hay gặp sự cố, mất nhiều thời gian sửa chữa (1/3 trường). Như vậy, về trang thiết bị, máy móc phục vụ dạy và học tiếng Anh vẫn còn 25% ý kiến nhận xét ở mức trung bình và yếu, do đó, nhà trường, đặc biệt là bộ phận CSVC, phòng máy cần phải xem xét lại chất lượng của các trang thiết bị, máy móc phục vụ việc dạy và học tiếng Anh nhằm phục vụ tốt nhất việc dạy và học.

Qua việc đi khảo sát thực tế ở các trường cho thấy việc tổ chức cho GV tự làm và sử dụng ĐDDH chưa được quan tâm đúng mức. Trong thực tế cũng thấy ĐDDH cho môn tiếng Anh theo danh mục TBDH cũng rất hạn chế; ĐDDH phục vụ cho môn tiếng Anh chủ yếu là máy cát xét, băng đĩa và phòng máy tính. Song việc khai thác các phòng máy tính cho việc kích thích HĐDH tiếng còn là một vấn đề cần bàn đến.

b. Về việc xây dựng môi trường dạy học

Khi được hỏi về việc xây dựng môi trường dạy học như tranh thủ sự ủng hộ của cha mẹ HS, chính quyền địa phương, các tổ chức có liên quan trong việc tổ chức dạy học và tổ chức các hoạt động nhằm khuyến khích và tạo môi trường tiếng thì các ý kiến của những người được hỏi đều trả lời là rất cần thiết song việc thực hiện chưa tốt và cần được quan tâm hơn. Qua kết quả điều tra các phụ lục 1,2,3 cho thấy cha mẹ HS chưa thực sự quan tâm đến hoạt động học tập của HS. Số lượng CBQL, GV và HS cho rằng cha mẹ HS ít quan tâm chiếm tỷ lệ khá lớn với 41,4%; và không quan tâm chiếm tỷ lệ 17,6%; số còn lại là rất quan tâm chiếm tỷ lệ 15,7% và có quan tâm chiếm 25,3%.

2.4. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HĐDH MÔN TIẾNG ANH TẠI CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN QUẾ SƠN TỈNH QUẢNG NAM

2.4.1. Nhận thức về tầm quan trọng của các nội dung quản lý HĐDH Tiếng Anh trong nhà trường của HT và GV

2.4.2. Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy tiếng Anh của GV

a. Thực trạng quản lý công tác lập kế hoạch DH và thực hiện nội dung chương trình

Thể hiện qua kết quả điều tra ở Bảng 2.10

b. Thực trạng quản lý quá trình thực hiện đổi mới PPDH

Thể hiện qua kết quả điều tra ở Bảng 2.11

c. Thực trạng quản lý hồ sơ chuyên môn, nề nếp DH và sinh hoạt của tổ chuyên môn

Thể hiện qua kết quả điều tra ở Bảng 2.12

d. Thực trạng quản lý công tác KT – ĐG kết quả học tập tiếng Anh của HS

Thể hiện qua kết quả điều tra ở Bảng 2.13

e. Thực trạng quản lý công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học của GV

Thể hiện qua kết quả điều tra ở Bảng 2.14,

2.4.3. Thực trạng quản lý hoạt động học tập môn Tiếng Anh của HS

a. Thực trạng quản lý công tác xây dựng thái độ, tình cảm và động cơ học tập cho HS

Việc xây dựng thái độ, tình cảm và động cơ học tập cho HS là một trong những nhiệm vụ mà các nhà quản lý cần phải thực hiện.

Thể hiện qua kết quả điều tra ở Bảng 2.15

b. Thực trạng quản lý việc thực hiện nội qui, qui chế học tập trên lớp và tự học ở nhà của HS

Thể hiện qua kết quả điều tra ở Bảng 2.16

2.4.4. Thực trạng quản lý môi trường dạy học môn Tiếng Anh

a. Thực trạng quản lý công tác tăng cường đầu tư CSVC, trang thiết bị phục vụ HĐDH

Thể hiện qua kết quả điều tra ở Bảng 2.17

b. Thực trạng quản lý công tác xây dựng môi trường dạy học

Thể hiện qua kết quả điều tra ở Bảng 2.18

2.5. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HĐDH MÔN TIẾNG ANH TẠI CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN QUẾ SƠN TỈNH QUẢNG NAM

2.5.1. Điểm mạnh

2.5.2. Điểm yếu

2.5.3. Thời cơ

2.5.4. Thách thức

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

CHƯƠNG 3

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH TẠI CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN QUẾ SƠN TỈNH QUẢNG NAM

3.1. CÁC NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ

3.1.1. Nguyên tắc tính hệ thống

3.1.2. Nguyên tắc tính thực tiễn

3.1.3. Nguyên tắc tính hiệu quả

3.1.4. Nguyên tắc tính đồng bộ

3.2. CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HĐDH MÔN TIẾNG ANH TẠI CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN QUẾ SƠN TỈNH QUẢNG NAM

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận dạy học nói chung và lý luận dạy học ngoại ngữ nói riêng cùng với kết quả khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý HĐDH tiếng Anh ở các trường THPT huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam, chúng tôi đề xuất các biện pháp cụ thể như sau:

3.2.1. Nhóm biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy của GV

a. Tăng cường quản lý công tác lập kế hoạch và thực hiện nội dung chương trình

b. Chỉ đạo đổi mới PPDH một cách tích cực và thường xuyên

c. Đổi mới phương pháp quản lý hồ sơ chuyên môn, nề nếp dạy học và sinh hoạt của tổ chuyên môn

d. Tăng cường đổi mới quản lý công tác KT- ĐG kết quả học tập tiếng Anh của HS

3.2.2. Nhóm biện pháp quản lý hoạt động học của HS

a. Chú trọng xây dựng thái độ, tình cảm và động cơ học tập cho HS

b. Tăng cường quản lý việc thực hiện nội qui, qui chế học tập trên lớp và tự học ở nhà của HS

3.2.3. Nhóm biện pháp quản lý môi trường dạy học tiếng Anh

a. Tăng c­ường đầu tư CSVC, trang thiết bị phục vụ HĐDH tiếng Anh

b. Chú trọng quản lý công tác xây dựng môi trường dạy học tiếng Anh

3.3. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC NHÓM BIỆN PHÁP QUẢN LÝ

Các biện pháp trên phải được thực hiện một cách đồng bộ trong cả một hệ thống từ CBQL đến GV và HS và phải được sự hỗ trợ của cha mẹ HS cũng như các tổ chức có liên quan mà đặc biệt là có sự chỉ đạo sâu sát và kịp thời của ngành GD&ĐT thì việc quản lý HĐDH tiếng Anh ở các trường THPT huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam mới có thể có sự chuyển biến mạnh mẽ, và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.

3.4. KHẢO SÁT TÍNH CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ

Hệ thống các biện pháp đã nêu là kết quả của quá trình nghiên cứu lý luận, tìm hiểu phân tích thực trạng công tác quản lý HĐDH tiếng Anh ở các trường THPT huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam. Để có thể vận dụng được các biện pháp nêu trên vào thực tiễn quản lý HĐDH trước hết cần phải đánh giá tính cần thiết và khả thi của các biện pháp vì thế cho nên chúng tôi đã tiến hành trưng cầu ý kiến 52 thầy cô giáo, trong đó có 1 chuyên viên thuộc Sở GD&ĐT, 3 HT, 5 Phó HT, 23 tổ trưởng chuyên môn của 3 trường và 20 GV trực tiếp giảng dạy.

Tóm lại, các biện pháp đề xuất đều được đánh giá là cấp thiết và khả thi. Song trong quá trình áp dụng tuỳ theo tình hình thực tế về đội ngũ GV, đối tượng HS và CSVC của trường mà xây dựng kế hoạch cụ thể để áp dụng các biện pháp.

3.5. KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TẠI CƠ SỞ

Trường THPT Nguyễn Văn Cừ là một trường nằm ở phía Đông của huyện Quế Sơn, địa bàn tuyển sinh thuộc các xã vùng Đông của huyện (Quế Mỹ, Quế Cường, Hương An, Quế Phú, Quế Xuân 1, Quế Xuân 2), điều kiện kinh tế của vùng còn khó khăn, chất lượng HS đầu vào tương đối thấp so với các trường khác trên địa bàn huyện. Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của HĐDH tiếng Anh. Là CBQL, chúng tôi luôn trăn trở và suy nghĩ rất nhiều đến những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng HĐDH nói chung và chất lượng dạy học môn tiếng Anh nói riêng nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường.

Qua bước đầu áp dụng một số biện pháp mang tính thử nghiệm chúng tôi đã có được một số kết quả tương đối khả quan trong hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS. Và những chuyển biến đó đã dẫn tới kết quả học tập môn tiếng Anh có khả quan hơn so với cùng thời gian này năm trước.

Qua số liệu thống kê trong Bảng 3.2 cho thấy tuy con số thay đổi về tỷ lệ HS đạt điểm từ trung bình trở lên không lớn song đối với một trường có HS đầu vào lớp 10 thấp so với các trường khác thì đây là một thành tích đáng kể. Số HS đạt điểm Giỏi, Khá, Trung bình tăng trong khi đó số HS đạt điểm Yếu giảm, song một điều cần lưu ý là có khoảng 10% bị xếp loại học lực kém, những HS này do tuyển sinh đầu vào của trường thiếu chỉ tiêu nên chất lượng rất thấp.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. KẾT LUẬN

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng quản lý HĐDH tiếng Anh các trường THPT huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam, bằng những luận cứ khoa học, luận văn đã thực hiện được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề ra. Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi rút ra một số kết luận chung như sau:

– Quản lý HĐDH tiếng Anh ở trường THPT là quản lý mục tiêu và nội dung dạy học tiếng Anh, quản lý việc thực hiện chương trình, nội dung SGK, quản lý về đào tạo và bồi dưỡng GV dạy tiếng Anh, quản lý về phương pháp giảng dạy tiếng Anh trên lớp và hướng dẫn hoạt động tự học ở nhà của HS qua các phương tiện khác nhau, quản lý về CSVC, thiết bị và ĐDDH, quản lý về KT – ĐG môn tiếng Anh trong trường THPT và đặc biệt là quản lý quá trình xây dựng môi trường dạy học và nâng cao nhận thức của người dạy, người học và toàn thể hội đồng sư phạm cũng như các lực lượng hỗ trợ khác của xã hội nhằm tạo ra một hệ thống quản lý đồng bộ cùng thúc đẩy HĐDH tiến hành một cách có hiệu quả.

– Qua khảo sát thực trạng cho thấy công tác quản lý dạy học của CBQL các trường THPT huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam trong những năm qua đã góp phần đưa hoạt động của nhà trường vào nề nếp, chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề đòi hỏi người CBQL phải suy nghĩ, tìm những biện pháp hiệu quả, phù hợp với thực tế của nhà trường để đưa công tác dạy và học của trường mỗi ngày một tốt hơn.

– Trên cơ sở thực trạng, chúng tôi đã đề ra được 3 nhóm biện pháp với 9 biện pháp cụ thể. Toàn bộ 3 nhóm biện pháp mà luận văn nêu ra được xem là một hệ thống; trong đó, mỗi nhóm biện pháp bao gồm các biện pháp cụ thể; các biện pháp trong hệ thống có mối quan hệ hữu cơ với nhau, vận động trong sự ràng buộc lẫn nhau, đan xen vào nhau, kết nối với nhau tạo nên sự thống nhất trong quá trình quản lý HĐDH tại các trường THPT. Mỗi biện pháp có tính độc lập tương đối về mục tiêu, nội dung, cách tổ chức thực hiện cũng như khả năng phát huy trong từng thời điểm, từng hoàn cảnh cụ thể cũng khác nhau.

2. KHUYẾN NGHỊ

2.1. Đối với Bộ GD&ĐT

2.2. Đối với Sở GD&ĐT Quảng Nam

2.3. Đối với CBQL của các trường THPT huyện Quế Sơn

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\GIAO DUC HOC\THAY HOANG DHSP\K39.QUANG NAM\24. TRUONG VAN NGUYEN VU (R)\TOM TAT

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *