Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng theo chuẩn nghề nghiệp
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang phát triển ngày càng nhanh. Kinh tế tri thức ngày càng có vai trò nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Trong bối cảnh đó, giáo dục trở thành nhân tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế – xã hội. Các nước trên thế giới kể cả những nước phát triển đều coi giáo dục là nhân tố hàng đầu quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia.
Giáo dục và đào tạo là môi trường để phát triển và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, bởi vậy Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đóđổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”.
Điều 14, Luật Giáo dục khẳng định: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục”. Chất lượng đội ngũ giáo viên phản ánh trực tiếp chất lượng của giáo dục. Có thể nói rằng đội ngũ nhà giáo là lực lượng quyết định đến sự thành công của ngành giáo dục. Trong đó, đội ngũ giáo viên mầm non có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, là lực lượng nòng cốt thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 – 72 tháng tuổi, tạo tiền đề vững chắc cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Có thể nói, trong nhà trường đội ngũ giáo viên là lực lượng quan trọng nhất, trực tiếp biến các chủ trương, chương trình, mục tiêu giáo dục, đổi mới giáo dục thành hiện thực; trực tiếp quyết định chất lượng, hiệu quả giáo dục. Vì vậy, phát triển toàn diện đội ngũ giáo viên mầm non luôn là việc làm vô cùng quan trọng và cấp bách của mỗi nhà trường hiện nay.
Hoạt động trung tâm của trường mầm non là chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ; chất lượng giáo dục của trường mầm non phần lớn do đội ngũ giáo viênquyết định; do đó việc bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giáo viên vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển trường mầm non. Tăng cường xây dựng phát triển đội ngũ giáo viên mầm non một cách toàn diện theo hướng chuẩn hoá là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển giáo dục mầm non.
Nhận thức rõ điều đó, những năm gần đây, cấp uỷ, chính quyền, ban ngành chức năng của huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã đặc biệt quan tâm coi trọng xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên nói chung, giáo viên mầm non nói riêng. Thực tế cho thấy, giáo dục mầm non ở huyện Hòa Vang đang có những chuyển biến rất tích cực. Hệ thống trường học ngày càng được mở rộng, cơ sở vật chất được trang bị tương đối đầy đủ, hiện đại đáp ứng nhu cầu học tập và vui chơi của trẻ, đời sống của giáo viên ngày càng được quan tâm.
Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay, chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non chưa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của xã hội. Một bộ phận giáo viên lớn tuổi mang nặng phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ theo hướng cải cách, rập khuôn máy móc, chưa có sự sáng tạo. Một bộ phận giáo viên mới được tuyển viên chức có tuổi đời rất trẻ, thiếu kinh nghiệm trong công tác chăm sóc giáo dục. Nhiều giáo viên chuyển từ nơi khác về nên vốn hiểu biết về địa phương còn hạn chế, kỹ năng sư phạm và phong cách chưa thực sự phù hợp với quận nội thành. Do trình độ nhận thức của đội ngũ giáo viên không đồng đều nên dẫn đến việc tiếp nhận chương trình giáo dục mầm non một cách khá máy móc. Khả năng cập nhật và ứng dụng công nghệ thông tin vào giáo dục còn rất mức độ, hiệu quả còn hạn chế. Mặt khác, hệ thống trường lớp mầm non ở huyện Hòa Vang phát triển quá nhanh do nhu cầu tăng nhanh dân số, nhiều trường lớn được chia tách và thành lập mới, đội ngũ giáo viên mỏng, chưa ổn định. Trong khi đó, mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo của quốc gia cũng như của huyện Hòa Vang giai đoạn 2010 – 2020 hướng tới là xây dựng một nền giáo dục tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, làm nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tạo điều kiện cơ hội học tập cho mọi người và có khả năng hội nhập với nền giáo dục thế giới. Đào tạo những người lao động Việt Nam có phẩm chất đạo đức, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp của thời đại, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, có ý thức làm chủ, có tinh thần trách nhiệm cao.
Xuất phát từ những lý do trên, học viên chọn vấn đề “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang , thành phố Đà Nẵng theo chuẩn nghề nghiệp” để nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục với mong muốn tìm được những giải pháp khắc phục những hạn chế, bất cập trên.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Môi trường giáo dục đầu đời đóng vai trò thiết yếu trong việc xây dựng nền tảng phát triển tổng thể của con người. Do vậy, lĩnh vực giáo dục mầm non là rất quan trọng, đã thu hút sự nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý lãnh đạo. Cho đến nay, ở phạm vi trong nước cũng như quốc tế đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này được nghiệm thu, công bố, tiêu biểu như:
* Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Tổ chức Economist Intelligence Unit mới đây đã nghiên cứu và công bố danh sách những nước có chất lượng giáo dục hàng đầu thế giới, dựa trên hai tiêu chí cơ bản là chỉ số nhận thức và thành tựu giáo dục.Theo những số liệu vừa được công bố, bốn quốc gia thuộc khu vực châu Á là Hàn Quốc, Nhật Bản , Singapore và Hồng Kông đứng đầu thế giới về hệ thống giáo dục. Cụ thể:
Ở Hàn Quốc, trẻ mầm non nhận được sự chăm sóc rất lớn của toàn xã hội. Nhà nước có đến sáu Bộ cùng chăm lo cho giáo dục mầm non. Trong đó, Bộ Gia đình và Bình đẳng giới, Bộ Giáo dục và Nguồn nhân lực nắm vai trò chủ chốt. Bên cạnh đó, Bộ Y tế, Bộ Nội vụ, Bộ Lao động, Bộ Nông nghiệp và rừng thì liên đới về việc lập chính sách và luật pháp chăm sóc trẻ. Cả nước có tới hai viện nghiên cứu chuyên về giáo dục mầm non do nhà nước tài trợ. Chính sách với trẻ mầm non liên tục được cải tiến, đặc biệt từ năm 1997, khi kế hoạch “Đổi mới hệ thống giáo dục mầm non” ra đời. Kế hoạch này được ghi nhận là có sự tham gia bàn thảo góp ý một cách “dày đặc” của công chúng. Năm 2005, Hàn Quốc có khoảng 4 triệu trẻ dưới 6 tuổi. Đầu tư cho giáo dục mầm non chiếm 0,16% GDP, trong đó nhà nước đóng góp 0,05% và tư nhân đóng góp 0,11%. Chi phí cho mầm non chiếm 2% tổng chi cho toàn hệ thống giáo dục.
Ở Nhật Bản, giáo dục mầm non có 2 loại hình: mẫu giáo và nhà trẻ. Mẫu giáo do Bộ Giáo dục quản lý, thời gian giữ trẻ giới hạn trong phạm vi 4 giờ và chỉ nhận trẻ từ 3-5 tuổi, tất cả phụ huynh phải trả mức học phí như nhau.Trong khi đó, nhà trẻ là do Bộ Lao động – Y tế quản lý, thời gian giữ trẻ kéo dài hơn so với tại trường mẫu giáo và trẻ được gửi vào nhà trẻ là từ sơ sinh đến 5 tuổi. Tiền học phí được tính theo mức thu nhập của từng phụ huynh. Mục đích của nhà trẻ là để phụ huynh đi làm không có điều kiện chăm sóc con cái gửi con mình cho nhà trẻ chăm sóc, nuôi dạy. Vì vậy, việc chăm sóc và dạy dỗ trẻ là điều bắt buộc theo quy định. Nhật Bản xác định nhà trẻ là một hệ thống hỗ trợ mang tính xã hội đối với những trẻ mà cha mẹ chúng vì phải đi làm nên không thể chăm sóc, dạy dỗ. Do đó, nhà trẻ ở Nhật Bản được ngành Giáo dục đặc biệt coi trọng và đầu tư chu đáo.
Ở Singapore, từ lâu đã được biết đến là một quốc gia có hệ thống giáo dục phát triển, với nhiều hệ đào tạo từ mầm non cho đến đại học, từ hệ thống trường công lập, tư thục cho đến cáctrường quốc tế, đây là điều kiện thuận lợi giúp học sinh có nhiều lựa chọn cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh bản thân.Hệ thống giáo dục tại Singapore là một hệ thống đã được thử nghiệm và kiểm định. Nó hướng đến việc nuôi dưỡng và đào tạo điều kiện cho mỗi cá nhân phát triển hết tiềm năng của bản thân. Giáo dục ở bậc mầm non giúp trẻ em ở giai đoạn nền tảng phát triển về ngôn ngữ và các kỹ năng đọc, các khái niệm về khoa học và số học, các kỹ năng về xã hội và sự thưởng thức âm nhạc, các hoạt động và cách thức vui chơi…
Tác giả người Mỹ Mary – Louise Kearney trong cuốn sách “Higher education staff development for the 21st century” – Phát triển đội ngũ cán bộ, giáo viên ở đại học cho thế kỷ XXI cho rằng, đây là vấn đề rất cần thiết cho nguồn nhân lực giáo dục đại học, nhằm mở rộng và phát triển kỹ năng chuyên nghiệp của họ, đáp ứng các nhu cầu phát sinh trong quá trình làm việc. Phát triển đội ngũ cán bộ, giáo viên ở đại học bao gồm các vấn đề như: phong cách làm việc; kiến thức, kỹ năng chuyên môn về sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục; kỹ năng giao tiếp. Vì vậy, các nhà trường đại học cần có kế hoạch tổng thể và sự đầu tư thích hợp cho phát triển nguồn nhân lực trong quá trình phát triển nhà trường, với một quy trình phát triển và quản lý sự phát triển nhân sự của nhà trường.
Tác giả MarcoAntonioR.Diaz (chủ biên), Giám đốc Phòng Giáo dục Đại học, UNESCO, trong cuốn sách “Higher education staff development: Directions for the 21st century”- Phát triển đội ngũ cán bộ giáo dục đại học: Định hướng cho thế kỷ 21 đã bàn về quản lý phát triển cán bộ giáo dục đại học và quy hoạch nhân tài. Mục đích chính của một trường đại học là tạo ra và phổ biến kiến thức. Đó là quá trình phát triển quản lý với các điều khoản quản lý và các bước trong quy trình lập kế hoạch nguồn nhân lực, nhằm thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.
Tác giả Yasuhiko INOUE, Trưởng phòng Quan hệ quốc tế, Trung tâm Năng suất Nhật bản khi bàn về “Kinh nghiệm Nhật Bản về phát triển nguồn nhân lực” (Human of resources development – HRD) đã khẳng định: Nhân tố quan trọng nhất chính là yếu tố con người. Chất lượng nguồn nhân lực bao gồm những kỹ năng và sự thích nghi của mỗi con người trong môi trường làm việc mới phản ánh cơ bản về chất lượng nguồn nhân lực, biểu hiện thông qua các kỹ năng, sự sáng tạo và hiệu suất công việc. Để phát triển nguồn nhân lực, trước tiên các nhà lãnh đạo, nhà sử dụng nguồn nhân lực hãy đối xử với mỗi cá nhân người lao động như đối xử với một con người có trí óc, chứ không được coi họ như là một phần của máy móc, và để cho họ tự do trình bày những nhận định và những ý tưởng cải tiến trong công việc. Từ đó, người lao động thể hiện khả năng của mình, công ty phải ủng hộ, hỗ trợ họ theo những cách khác nhau, mà trong số đó quản lý nguồn nhân lực là cách thức chủ chốt.
Trong cuốn sách “Các học thuyết quản lý”, các tác giả Nguyễn Thị Doan, Đỗ Minh Cương, Phương Kỳ Sơn đã khái quát các tư tưởng của các nhà khoa học về quản lý và cán bộ quản lý. Trong đó đã chỉ ra: Từ giữa thế kỷ XX đến thập niên 80, đã xuất hiện các trường phái quản lý từ Nhật Bản như: Thuyết J của William Ouchi, lý thuyết Kaijen của Massakimai. Các tác giả đã tiếp cận vấn đề quản lý trên cơ sở xem xét những yếu tố văn hoá và mang tính hiện đại và đưa ra quan niệm về văn hoá của quản lý: Thể hiện ở phẩm chất và năng lực của người quản lý. Tư tưởng của William (Trường Đại học California, Mỹ) đã nghiên cứu về quản lý trên cơ sở xem xét tổng thể sơ đồ 7S: Structure (cơ cấu), Strategy (chiến lược), Skills (các kỹ năng), Style (cách thức), System (hệ thống), Shared value (những giá trị chung), đặc biệt là về Staff (đội ngũ).
Trong cuốn sách “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”, các tác giả Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich đã chỉ ra: Cuối thế kỷ XX, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý, như: Quản lý theo quan điểm hệ thống, quản lý tình huống; trong đó, vấn đề nâng cao chất lượng người quản lý được đề cập, nổi bật là các yêu cầu về chất lượng của người quản lý.
* Các công trình nghiên cứu ở trong nước
Tác giả Nguyễn Phúc Châu trong cuốn sách “Quản lý nhà trường” đã đưa ra quy trình quản lý đội ngũ trong một tổ chức bao gồm: Bước 1: Kế hoạch hoá nguồn nhân lực. Bước 2: Tuyển mộ nhân sự. Bước 3: Lựa chọn, trắc nghiệm kỹ năng, nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra sức khoẻ nhân sự. Bước 4: Định hướng (xã hội hoá) giúp cho nhân sự mới tuyển vào tiếp cận nhanh với công việc. Bước 5: Đào tạo, bồi dưỡng, phát triển toàn diện nhân sự. Bước 6: Sử dụng nhân sự phù hợp với trình độ, năng lực và khả năng từng người. Bước 7: Đánh giá, thẩm định kết quả so với tiêu chuẩn đã xác định cho từng vị trí nhân sự. Bước 8: Đề bạt, thuyên chuyển, biệt phái, giáng cấp và sa thải nhân sự không hoàn thành nhiệm vụ. Tác giả đã đề xuất 5 biện pháp quản lý hoạt động phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý trường học, bao gồm: Xây dựng và hoàn thiện chính sách; Nâng cao chất lượng hệ thống các trường sư phạm; rà soát, sắp xếp lại đội ngũ; Đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại, phù hợp; Đổi mới, nâng cao chất lượng quản lý đội ngũ; Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ.
Tác giả Trần Khánh Đức trong cuốn sách “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI” đã luận giải những vấn đề về giáo dục và phát triển nguồn nhân lực ở nước ta trong thế kỷ XXI; đồng thời, đưa ra một số giải pháp điều chỉnh cơ cấu đào tạo nhân lực cần dựa trên những cơ sở như: Nghiên cứu đánh giá rõ thực trạng cơ cấu nhân lực; đầu tư phát triển hệ thống thông tin về thị trường lao động nói chung và thị trường lao động cho đào tạo nhân lực nói riêng; tăng cường dự báo phát triển nguồn nhân lực trên phạm vi cả nước và ở từng vùng, ngành kinh tế phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, khoa học và công nghệ trong từng giai đoạn; hoạch định và thực thi các chính sách phát triển nguồn nhân lực; trong đó, xác định rõ vai trò, lợi ích, trách nhiệm của Nhà nước, các doanh nghiệp, người sử dụng lao động, bản thân người lao động trong tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng lao động; xây dựng và phát triển hệ thống kiểm định chất lượng đào tạo đại học, trung học chuyên nghiệp và doanh nghiệp.
Trong cuốn sách “Quản lý và lãnh đạo nhà trường”, các tác giả Bùi Minh Hiền, Nguyễn Vũ Bích Hiền (đồng chủ biên) đã chỉ ra một số vấn đề về quản lý nguồn nhân lực trong nhà trường. Quá trình quản lý nguồn nhân lực trong nhà trường, nếu phân chia theo các giai đoạn tiến hành, thì sẽ bao gồm từ khâu tuyển dụng, tuyển chọn đến bố trí sử dụng, kiểm tra, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển, tạo động lực và xây dựng môi trường làm việc. Ở mỗi giai đoạn, tuỳ theo từng phương thức quản lý mà các cấp quản lý nhà trường sẽ tiến hành những biện pháp quản lý phù hợp, hiệu quả. Nội dung quản lý nguồn nhân lực trong nhà trường, bao gồm: Kế hoạch hoá nguồn nhân lực; tuyển mộ (tuyển dụng) và tuyển chọn; bố trí nhân lực; đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực; đánh giá thực hiện công việc của nguồn nhân lực theo chuẩn nghề nghiệp. Theo quan điểm mới của quản lý nguồn nhân lực, đây là việc xây dựng nhà trường thành một tổ chức học hỏi, mỗi thành viên trở thành một mắt xích quan trọng trong mục tiêu phát triển nhà trường; mỗi cá nhân có thể tự học tập và phát triển trong một nhà trường học hỏi.
Hiện nay, Việt Nam thực hiện chính sách cải cách toàn diện giáo dục đào tạo, theo đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong thực hiện các chính sách phát triển giáo dục mầm non.
Đội ngũ giáo viên mầm non được Nhà nước hỗ trợ ngân sách để trả lương theo thang bảng lương giáo viên mầm non, được nâng lương theo định kỳ, được tham gia đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và các chế độ chính sách.
Giáo viên mầm non công tác tại các cơ sở giáo dục mầm non tư thục được Nhà nước hỗ trợ chi phí bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị và chuyên môn, nghiệp vụ. Có thể nói, giáo dục mầm non đã và đang nhận được sự quan tâm rất lớn của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Vì vậy, việc xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên mầm non của quốc gia là lĩnh vực rất cần được đầu tư, nghiên cứu, trên thực tế có khá nhiều công trình đề tài trong nước đã nghiệm thu công bố, tiêu biểu như:
Hướng nghiên cứu về qui hoạch phát triển đội ngũ giáo viên mầm non có các công trình: Xây dựng quy hoạch phát triển giáo dục mầm non và phổ thông, Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Ngô Thượng Chính, năm 2004; Một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên mầm non ở các xã đặc biệt khó khăn tỉnh Sơn La, Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân, năm 2006; Một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Bắc Giang đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Nguyễn Thị Lư, năm 2006,…
Hướng nghiên cứu về đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non có công trình: Giải pháp bồi dưỡng chuẩn hoá giáo viên mẫu giáo các tỉnh Duyên hải Miền trung, Nguyễn Huy Thông, năm 1999.
Hướng nghiên cứu về quản lý đội ngũ giáo viên mầm non có các công trình: Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên mầm non Hà Nội, Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Vũ Thị Minh Hà, năm 2004; Một số giải pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non trên địa bàn huyện Từ Sơn,tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả, Vũ Đức Đạm, năm 2005; Các biện pháp tăng cường quản lý đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng trường mầm non quận Tân Bình – Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Trần Thị Kim Thoa, năm 2006; Biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non thành phố Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Lưu Thị Kim Phương, năm 2009; Phát triển đội ngũ giáo viên mầm non Huyện Cái Nước, Tỉnh Cà Mau theo chuẩn nghề nghiệp, Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Trần Thị Hằng, năm 2015.
Hướng nghiên cứu về trường mầm non có công trình: Phát triển các trường mầm non công lập trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu đến năm 2020, Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Cao Xuân Thu Vân, năm 2013.
Các tác giả trên với đề tài, hướng nghiên cứu, tiếp cận chủ yếu là của luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục, đã tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề cơ bản xoay quanh các vấn đề công tác phát triển và chuẩn hoá đội ngũ, quản lý đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên khác của cơ sở giáo dục mầm non, quy hoạch phát triển mầm non. Hướng nghiên cứu cụ thể của mỗi tác giả đều mang tính riêng, tính đặc thù của mỗi địa phương, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục bậc mầm non ở từng địa phương.
Tuy nhiên, nhìn tổng thể thì những nghiên cứu dành cho bậc học này cũng còn chưa nhiều, chưa phổ biến, đặc biệt chưa có công trình, đề tài nào đi sâu nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng hiện nay. Vì vậy, đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang , thành phố Đà Nẵng hiện nay được học viên chọn để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp là vấn đề nghiên cứu độc lập, không trùng lặp với các công trình, đề tài đã công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn, đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở các trường mầm non trên địa bàn trong tình hình hiện nay.
*Nhiệm vụ nghiên cứu
– Làm rõ cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên mầm non;
– Khảo sát, phân tích, đánh giá đúng thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng theo chuẩn nghề nghiệp.
– Đề xuất các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng theo chuẩn nghề nghiệp.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý phát triểnđội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng theo chuẩn nghề nghiệp.
*Đối tượng nghiên cứu:
Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng theo chuẩn nghề nghiệp.
* Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
– Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên mầm non các trường công lập trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng theo chuẩn nghề nghiệp.
– Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Đề tài tập trung khảo sát, nghiên cứu tại 15 trường Mầm non công lập trên địa bàn Hòa Vang: Trường mầm non Hòa Tiến 1, Trường mầm non Hòa Tiến 2, Trường mầm non Hoa Mai, Trường mầm non Hòa Phước, Trường mầm non Hòa Khương, Trường mầm non Hòa Phong, Trường mầm non Hòa Phong 2, Trường mầm non Hòa Phú, Trường mầm non Hòa Nhơn, Trường mầm non Hòa Sơn, Trường mầm non Hòa Liên 2, Trường Mầm non Hòa Liên, Trường Mầm non Hòa Bắc, Trường Mầm non Hòa Ninh, Trường mầm non Hòa Châu.
-Giới hạn về khách thể khảo sát.
Đề tài khảo sát 30 cán bộ quản lý, 150 giáo viên ở 10 trường mầm non công lập trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
5. Giả thuyết khoa học
Chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non các trường công lập trên địa bàn huyện Hòa Vang phụ thuộc vào nhiều yếu tố, một trong nhữngyếu tố hết sức quan trọng đó là sự quản lý, phát triển, đào tạo, bồi dưỡng của các chủ thể quản lý. Nếu trong phát triển đội ngũ giáo viên mầm non, các chủ thể quản lý thực hiện tốt các biện pháp như: Tổ chức tốt việc giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho các lực lượng về phát triển đội ngũ giáo viên mầm non; Đề cao trách nhiệm của các chủ thể trong xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên mầm non; Tích cực đổi mới hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non; Tổ chức tốt hoạt động tự học, tự bồi dưỡng của đội ngũ giáo viên mầm non; Tăng cường kiểm tra, đánh giá và rút kinh nghiệm về phát triển đội ngũ giáo viên mầm non thì sẽ nâng cao được chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non, đáp ứng tốt phương hướng, mục tiêu đổi mới sự nghiệp giáo dục đào tạo và yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục mầm non các trường công lập trên địa bàn huyện Hòa Vang thì việc phát triển đội ngũ giáo viên mầm non trên địa bàn quận sẽ đem lại chất lượng, hiệu quả cao và ngược lại sẽ làm hạn chế kết quả của hoạt động này.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
*Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục, về xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên mầm non, về công tác quản lý giáo dục; đồng thời tác giả vận dụng các quan điểm hệ thống – cấu trúc, lôgíc – lịch sử và quan điểm thực tiễn để phân tích, đánh giá, xem xét các vấn đề nghiên cứu.
* Các phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Bao gồm phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá một số vấn đề lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; văn kiện, nghị quyết của tổ chức đảng các cấp về giáo dục, đào tạo; các văn bản quản lý giáo dục mầm non của các cấp; tạp chí, thông tin, sách báo, công trình khoa học; chỉ thị, quy chế, quy định về công tác có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xác định cơ sở lý luận phát triển đội ngũ giáo viên mầm non.
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Điều tra bằng phiếu hỏi đối với 180 người (30 cán bộ các cơ quan chuyên môn, 150 giáo viên) các cơ sở trường mầm non công lập trong địa bàn huyện Hòa Vang.
Phỏng vấn trực tiếp đối với cán bộ quản lý là hiệu trưởng, phó hiệu trưởng 10 trường mầm non công lập trong huyện Hòa Vang.
Tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn, thống kê, tổng hợp các số liệu để làm rõ thực trạng, rút ra nguyên nhân hạn chế, bất cập trong hoạt động nghiên cứu phát triển đội ngũ giáo viên mầm non làm cơ sở xác lập các biện pháp khả thi trong quản lý.
Xin ý kiến một số chuyên gia, nhà khoa học về những nội dung nghiên cứu.
Sử dụng phương pháp khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp.
Các phương pháp hỗ trợ
Sử dụng toán thống kê để tổng hợp, tính toán các số liệu điều tra đã thu thập được. Sử dụng một số phần mềm tin học để xử lý thông tin và một số sơ đồ, biểu đồ biểu diễn kết quả nghiên cứu.
7. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp thêm luận cứ khoa học về phát triển đội ngũ giáo viên mầm non và đề xuất biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên mầm non trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng; làm cơ sở cho lãnh đạo, chính quyền địa phương và cơ quan chức năng, trực tiếp là cơ quan quản lý giáo dục các cấp của địa phương chỉ đạo phát triển đội ngũ giáo viên mầm non đáp ứng yêu cầu chăm sóc, giáo dục trẻ trong những năm tới đây. Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các địa phương khác có nét tương đồng với huyện Hòa Vang trong việc phát triển đội ngũ giáo viên mầm non.
8.Kết cấu của đề tài
Cấu trúc của đề tài luận văn gồm: Mở đầu; nội dung (3 chương, 8 tiết); kết luận và kiến nghị; danh mục tài liệu tham khảo; phụ lục.

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON HUYỆN HÒA VANG,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Giáo viên mầm non và đội ngũ giáo viên mầm non
* Giáo viên mầm non
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên rất quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ em, có ảnh hưởng lớn đến chất lượng của các cấp học sau. Trong đó, yếu tố quan trọng quyết định chất lượng giáo dục mầm non là đội ngũ giáo viên mầm non vì họ là người trực tiếp chăm sóc – giáo dục trẻ, là người đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện của trẻ và là người mẹ thứ hai của trẻ. Lao động của giáo viên mầm non là lao động mang tính khoa học và nghệ thuật đòi hỏi công phu vì cô giáo là tấm gương cho trẻ học tập và bắt chước. Vì vậy, giáo viên mầm non phải hội tụ đầy đủ những yêu cầu về phẩm chất và năng lực chuyên môn để thực hiện mục tiêu, chương trình giáo dục mầm non mới có thể phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ.
Lao động của giáo viên mầm non là một loại hoạt động sư phạm đặc biệt. Trẻ em vừa là đối tượng tác động, vừa là chủ thể của lao động sư phạm. Đây là yếu tố quan trọng để biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục. Quá trình lao động này, sẽ mang lại hiệu quả cao khi cô giáo biết cách hướng dẫn trẻ khám phá để trẻ hiểu biết nhưng phải phù hợp với lứa tuổi của trẻ. Có thể nói lao động của cô giáo mầm non là loại hình lao động vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật cao. Có nhiều ý kiến cho rằng: cô giáo mầm non vừa là mẹ, vừa là bác sĩ và là nghệ sĩ.
Theo đó, có thể quan niệm: GVMN huyện Hòa Vang là những người làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong các trường mầm non, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo trên địa bàn của huyện.
Về nhiệm vụ của giáo viên mầm non huyện Hòa Vang,thực hiện theo Điều 30, chương IV, Điều lệ trường mầm non, bao gồm:
Thực hiện chương trình và kế hoạch nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theo lứa tuổi, thực hiện đúng quy chế chuyên môn và chấp hành nội quy của nhà trường;
Gương mẫu, yêu thương, tôn trọng và đối xử công bằng với trẻ;
Chủ động phối hợp với gia đình trẻ trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và tuyên truyền phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ theo khoa học cho các bậc cha mẹ;
Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và hiệu quả nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ;
Thực hiện các quy định của hiệu trưởng, chịu sự kiểm tra của hiệu trưởng và của các cấp quản lý giáo dục;
Thực hiện các quy định khác của pháp luật.
Về quyền của giáo viên mầm non huyện Hòa Vang,thực hiện theo Điều 31, chương IV, Điều lệ trường mầm non đã xác định, bao gồm:
Được nhà trường tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ;
Được hưởng mọi quyền lợi về vật chất và tinh thần, được chăm sóc sức khoẻ theo chế độ, chính sách quy định đối với nhà giáo;
Được trực tiếp hoặc thông qua tổ chức của mình để tham gia quản lý nhà trường;
Được cử đi học để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ;
Được hưởng các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật.
Về các hoạt động chuyên môn của giáo viên mầm non huyện Hòa Vang: Trong trường học, hoạt động chuyên môn là hoạt động trọng tâm, quan trọng nhất. Hoạt động này chiếm nhiều thời gian nhất trong các hoạt động của nhà trường. Nội dung của quản lý chuyên môn bao gồm nhiều hoạt động, quan hệ đến nhiều đối tượng, nhiều mặt, đến nhiều lĩnh vực, nhiều phương diện, rất đa dạng và rất phong phú. Tất cả các hoạt động diễn ra trong nhà trường đều nhằm tạo điều kiện tốt nhất để hoạt động chuyên môn đạt chất lượng và hiệu quả cao nhất. Các hoạt động chuyên môn của giáo viên mầm non bao gồm:
Các hoạt động nuôi dưỡng – chăm sóc, giáo dục trẻ của giáo viên ở trong các lớp theo phân phối chương trình như quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
Lập kế hoạch, làm sổ sách liên quan đến vấn đề chăm sóc – giáo dục trẻ;
Hoạt động đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ, thực hiện chương trình giáo dục mầm non;
Hoạt động tự học, tự bồi dưỡng theo chuyên đề bồi dưỡng giáo viên định kỳ, thường xuyên, đột xuất theo chương trình của Bộ, Sở, phòng giáo dục vàđào tạo;
Hoạt động bồi dưỡng, nâng cao năng lực giảng dạy của giáo viên, thi giáo viên dạy giỏi các cấp, đồng thời viết sáng kiến kinh nghiệm;
Hoạt động đánh giá kết quả nuôi dưỡng – chăm sóc và giáo dục trẻ;
Ngoài các hoạt động chuyên môn, các giáo viên còn tham gia các công tác khác như: Các phong trào bề nổi, công tác đoàn thể như Công đoàn, Đoàn thanh niên khi hiệu trưởng hoặc tổ chức đoàn thể giao nhiệm vụ.
* Đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang
Từ điển Tiếng Việt – Viện ngôn ngữ học định nghĩa: “Đội ngũ là tập hợp một số đông người, cùng chức năng, nghề nghiệp thành một lực lượng”.
Đội ngũ ở đây có thể hiểu là một tập thể với những cá nhân có những khả năng, kinh nghiệm và nền tảng giáo dục khác nhau cùng hợp lực vì một mục đích chung. Đội ngũ cùng làm việc tạo ra một tinh thần hợp tác, cùng nhau phối hợp vì mục đích chung. Bên cạnh sự khác biệt của mỗi cá nhân nhưng vì cùng một mục đích chung nên các thành viên phải hỗ trợ cho nhau và tạo ra một sợi chỉ xuyên suốt gắn kết họ lại thành một nhóm. Đội ngũ chính thức có tổ chức, có tính chất cố định, thực hiện công việc có tính thi đua, có sự phân công rõ ràng. Họ có cùng chung tay nghề chuyên môn nhất định nào đó.
Khi đề cập đến khái niệm đội ngũ giáo viên, một số tác giả đã nêu lên quan niệm “Đội ngũ giáo viên là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họ nắm vững tri thức và hiểu biết về dạy học như thế nào và có khả năng cống hiến toàn bộ sức lực và tài năng của họ đối với giáo dục ”.
Có thể hiểu, đội ngũ giáo viên mầm non được cấu thành từ các thành tố, như: một tập thể giáo viên, hoạt động cùng một mục đích, cùng chung một chức năng, nhiệm vụ là chăm sóc giáo dục trẻ, gắn bó với nhau về chuyên môn, nghĩa vụ và quyền lợi của một tập thể sư phạm.
Theo đó có thể quan niệm: Đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang là một tập hợp những người cùng làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập trên địa bàn huyện.
Đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang là lực lượng cơ bản tham gia vào hoạch định chiến lược và xây dựng các kế hoạch phát triển các trường mầm non trên địa bàn quận; là lực lượng nòng cốt, trực tiếp tạo dựng nên diện mạo văn hoá của nhà trường; cùng với hiệu trưởng họ tham gia vào các hoạt động của cộng đồng, huy động và sử dụng các nguồn lực để phát triển nhà trường về mọi mặt.
1.1.2. Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phát triển là một phạm trù triết học, dùng chỉ khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp lên cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật, hiện tượng. Như vậy, phát triển là khái niệm biểu hiện sự thay đổi tăng tiến cả về chất và lượng, cả về không gian lẫn thời gian của sự vật, hiện tượng, con người trong xã hội. Do đó, phát triển được hiểu là sự tăng trưởng, là sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực, tiến lên. Phát triển là một quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, trong đó cái cũ dần chuyển biến mất đi và cái mới ra đời; đây là quá trình nội tại của sự vật, hiện tượng. Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam, phát triển là “Mở mang rộng rãi; Làm cho tốt hơn lên”.
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Phát triển là biến đổi hoặc làm biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ đơn giản đến phức tạp.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, nguồn gốc của sự phát triển là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập bên trong bản thân mỗi sự vật, đó là quá trình đấu tranh giải quyết các mâu thuẫn bên trong từng sự vật, hiện tượng. Phát triển là quá trình khách quan, độc lập với ý thức con người.
Phát triển là một quá trình tiến hoá của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc, trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống.
Phát triển đội ngũ giáo viên nói chung, phát triển đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang nói riêng thực chất là quá trình xây dựng và phát triển các yếu tố cơ bản về: Số lượng, cơ cấu, chất lượng, tạo sự đồng thuận cao trong đội ngũ giáo viên mầm non, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chung.
Số lượng đội ngũ giáo viên mầm non được thể hiện ở việc bố trí, sắp xếp đầy đủ theo tổ chức, biên chế.
Cơ cấu thể hiện ở sự đồng bộ, hợp lý trong đội ngũ. Sự đồng thuận trong đội ngũ thể hiện ở sự thống nhất về ý chí, hành động, đồng tâm hiệp lực, hỗ trợ nhau trong thực hiện nhiệm vụ vì mục tiêu chung.
Chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non thể hiện toàn diện ở các phẩm chất: chính trị, đạo đức, lối sống; trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ; năng lực, kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ; phương pháp, tác phong công tác. Phát triển về chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non là vấn đề cốt lõi, có ý nghĩa quyết định trong phát triển đội ngũ giáo viên mầm non.
Có nhiều cách tiếp cận để hiểu về vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên mầm non. Song chúng tôi cho rằng, quan niệm phát triển đội ngũ giáo viên mầm non dựa trên cơ sở kết hợp giữa sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, quy hoạch, kế hoạch, tuyển chọn, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng của các chủ thể, nhất là các trường, cơ sở giáo dục mầm non với sự nỗ lực phấn đấu, tự học tập, tự bồi dưỡng của từng giáo viên mầm non trong dạy học – giáo dục là chủ yếu và đạt hiệu quả cao nhất, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ và phát triển đội ngũ này.
Phát triển đội ngũ giáo viên mầm non chính là quá trình phát triển nguồn nhân lực giáo dục trong các cơ sở giáo dục mầm non. Nghị quyết Trung ương 8 (khoá XI) đã xác định: “Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế…”.
Để phát triển đội ngũ giáo viên mầm non cần tập trung vào các nội dung như: quy hoạch, kế hoạch, số lượng, cơ cấu, chất lượng đội ngũ, bố trí, sử dụng hợp lý, hiệu quả đội ngũ giáo viên mầm non đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý đòi hỏi ngày càng cao, làm cho các yếu tố này ngày càng tăng lên. Bên cạnh đó, từng cơ sở giáo dục mầm non cần có kế hoạch tuyển chọn, luân chuyển đội ngũ giáo viên mầm non trong quá trình công tác. Phát triển đội ngũ giáo viên mầm non phải trên cơ sở kế thừa những ưu điểm, phát huy nhân tố tích cực, khắc phục những hạn chế, bất cập. Đồng thời, đây cũng là trách nhiệm của ngành giáo dục, của cấp uỷ đảng, ban giám hiệu các trường mầm non và của các nhà quản lý cơ sở giáo dục mầm non.
Từ luận giải trên, có thể quan niệm:
Phát triển đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng là tổng hợp các tác động của các chủ thể quản lý trong các nhà trường (cơ sở giáo dục) mầm non đến đội ngũ giáo viên mầm non, nhằm làm cho đội ngũ này có đủ về số lượng, chuẩn về chất lượng, hợp lý về cơ cấu đảm bảo cho họ thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non ở huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng và không ngừng phát triển đáp ứng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục hiện nay.
Mục tiêu, yêu cầu phát triển đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang là thường xuyên đảm bảo cho đội ngũ giáo viên mầm non trên địa bàn quận luôn có đủ số lượng, cơ cấu hợp lý, chất lượng cao, đạt chuẩn quy định và ngày càng biến đổi, nâng lên trong từng giai đoạn. Trong phát triển về chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non, việc phát triển năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ của đội ngũ này là nội dung trọng tâm, cấp bách và quan trọng nhất để đáp ứng yêu cầu chuẩn hoá đội ngũ giáo viên mầm non và phát triển trong từng giai đoạn. Đây là một nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài, nhằm tạo tiền đề cơ sở để thực hiện thành công công cuộc đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non thể hiện ở nhiều mặt: đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, đảm bảo về trình độ đào tạo và có phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Phát triển đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang hiện nay hướng trọng tâm vào nâng cao chất lượng học tập, rèn luyện và giảng dạy; rèn luyện kỹ năng tư duy độc lập, khả năng sáng tạo, nâng cao năng lực thiết kế tiết dạy; bồi dưỡng phương pháp, tác phong công tác và giải quyết các vấn đề lý luận, thực tiễn đặt ra một cách khoa học, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giảng dạy, chăm sóc giáo dục trẻ trong nhà trường.
Chủ thể phát triển đội ngũ giáo viên mầm non: Bao gồm chủ thể gián tiếp và chủ thể trực tiếp.
Chủ thể gián tiếp phát triển đội ngũ giáo viên mầm non bao gồm lãnh đạo ngành giáo dục, gần nhất là Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Hòa Vang; cấp uỷ, chính quyền, các tổ chức chính trị, xã hội khác ở địa phương. Chủ thể trực tiếp phát triển đội ngũ giáo viên mầm non là các cấp uỷ, ban giám hiệu, các chủ thể quản lý của các trường mầm non (cơ sở giáo dục mầm non) và bản thân đội ngũ giáo viên mầm non đang làm việc ở các trường mầm non thuộc địa bàn huyện.
Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang, bao gồm: quy hoạch, kế hoạch xây dựng đội ngũ; số lượng, cơ cấu, chất lượng đội ngũ; các điều kiện đảm bảo cho đội ngũ giáo viên mầm non phát triển. Trong đó, đặc biệt chú trọng chuẩn hoá, đồng thời coi trọng phát triển năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ của đội ngũ này, tạo sự đồng thuận cao trong đội ngũ giáo viên mầm non đối với nhiệm vụ.
Phương thức phát triển đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang: Phát triển đội ngũ giáo viên mầm non có thể thông qua nhiều phương thức cụ thể, sinh động, song xuất phát từ thực tiễn mọi mặt của huyện Hòa Vang hiện nay, việc phát triển đội ngũ giáo viên mầm non trên địa bàn quận có thể thông qua các phương thức cơ bản như: thông qua đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng, chăm lo giải quyết chính sách của các chủ thể quản lý và việc tự học tập, bồi dưỡng của đội ngũ giáo viên mầm non. Đây là phương thức chủ yếu có ý nghĩa quyết định đối với phát triển đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang hiện nay. Đồng thời, thông qua thực tiễn công tác tại trường mầm non (cơ sở giáo dục mầm non) là cơ sở chủ yếu giúp đội ngũ giáo viên mầm non tự rèn luyện, phát triển, nâng cao năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ nhằm chuẩn hoá đội ngũ. Thông qua việc tự học tập, tự bồi dưỡng, tự phát triển của từng giáo viên mầm non trong quá trình công tác, cùng với đào tạo, bồi dưỡng của các cơ sở giáo dục, các trường sư phạm là yếu tố quyết định nhất để phát triển đội ngũ giáo viên mầm non, nhất là năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ. Quá trình phát triển đội ngũ giáo viên mầm non, cần coi trọng phát triển năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ; đây làyếu tố quan trọng tạo nên chất lượng đội ngũ này. Do vậy, trong phát triển đội ngũ giáo viên mầm non, các chủ thể giáo dục và chủ thể quản lý cần phải đặc biệt coi trọng phát triển năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ của đội ngũ này, đáp ứng yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục mầm non.
1.2. Nội dung và tiêu chí quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
1.2.1. Nội dung quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang
2.2.1.1. Phát triển đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, có lượng dự trữ theo quy định, có sự phát triển trong từng giai đoạn của đội ngũ giáo viên mầm non.
Đây là nội dung rất quan trọng trong quá trình quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang. Theo đó, ngành giáo dục, trực tiếp là ban giám hiệu các trường mầm non cần thường xuyên bố trí, kiện toàn đủ số lượng giáo viên theo biên chế và có lượng dự trữ. Khi quy mô giáo dục có sự thay đổi, các nhà trường cần kịp thời tham mưu, đề xuất với cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục (sở, phòng giáo dục và đào tạo) và chính quyền địa phương điều chỉnh biên chế số lượng giáo viên mầm non cho phù hợp, đảm bảo nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ. Đồng thời, khi có sự thay đổi, biến động, luân chuyển giáo viên trên địa bàn huyện, các nhà trường cần kịp thời kiện toàn đủ số lượng, tránh để thiếu, khuyết vị trí giáo viên trong thời gian dài.
Các trường mầm non thường xuyên bố trí, sắp xếp đội ngũ giáo viên mầm non đảm bảo có cơ cấu hợp lý, đồng bộ; đảm bảo sự kế tiếp giữa các thế hệ giáo viên. Việc bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên mầm non cần có cơ cấu phù hợp về độ tuổi, trình độ, năng lực, kinh nghiệm chuyên môn nghiệp vụ. Bên cạnh đó, Phòng Giáo dục và Đào tạo cần có kế hoạch tuyển chọn, luân chuyển đội ngũ giáo viên mầm non trong quá trình công tác.
1.2.1.2. Phát triển về chất lượng, chú trọng phát triển năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ của đội ngũ giáo viên mầm non.
Đây là nội dung quan trọng nhất trong quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang. Năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ của đội ngũ giáo viên mầm non có ý nghĩa quyết định đến chất lượng giáo dục mầm non của nhà trường, cũng như sự phát triển đội ngũ cán bộ này. Phát triển chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non cần tập trung vào các nội dung, như: Phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; trình độ học vấn, kiến thức, kỹ năng sư phạm; năng lực thích nghi, kinh nghiệm chăm sóc, giáo dục trẻ.
Để phát triển về chất lượng đòi hỏi các chủ thể quản lý cần thực hiện các biện pháp quản lý như: tuyển chọn giáo viên theo biên chế của ngành cho từng năm học phù hợp; bồi dưỡng, cử đi đào tạo và đào tạo lại giáo viên chưa tiếp xúc với chương trình giáo dục mầm non mới, không ngừng nâng cao tay nghề cho đội ngũ giáo viên mầm non; bố trí, sử dụng giáo viên hợp lý, thường xuyên theo dõi, kiểm tra đánh giá giáo viên hằng năm; sắp xếp giáo viên vào các vị trí phù hợp với trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Cùng với quan tâm phát triển về số lượng, cơ cấu đội ngũ giáo viên mầm non, các nhà quản lý cần quan tâm đến đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có trình độ cao về mọi mặt. Ngành Giáo dục huyện cần quan tâm đến tính chủ động trong tạo nguồn, tăng cường công tác hướng nghiệp, tham mưu cho chính quyền địa phương trong việc lựa chọn xem xét đối tượng đưa đi cử tuyển đào tạo giáo viên mầm non. Nâng cao chất lượng đào tạo của trường sư phạm; cần phải quan tâm đến chất lượng đào tạo giáo viên mầm non. Trường sư phạm phải đánh giá được sản phẩm đào tạo và thường xuyên bồi dưỡng phát triển đội ngũ giáo viên kịp với sự phát triển chung của địa phương. Giữa trường sư phạm với các trường mầm non trên địa bàn huyện cần có mối liên hệ nhất định trong đào tạo giáo viên mầm non; các trường sư phạm mầm non cần phải quan tâm và thường xuyên nắm bắt, đánh giá chính xác đội ngũ giáo viên đã qua đào tạo của trường, hiệu quả sử dụng của các trường mầm non. Trong công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cần coi trọng bảo đảm chuẩn về trình độ của đội ngũ giáo viên, cụ thể là: chuẩn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ; chuẩn về trình độ nghiệp vụ sư phạm; chuẩn về đạo đức, tư cách người giáo viên, không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, tận tuỵ với sự nghiệp trồng người.
Để nâng cao chất lượng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên cần quan tâm đến việc đảm bảo các yêu cầu như: Sự phong phú của các hình thức bồi dưỡng giáo viên (Bồi dưỡng thường xuyên, định kỳ, nâng cao); tính thiết thực, hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng giáo viên; chất lượng nội dung và cách thức tổ chức bồi dưỡng.
1.2.1.3. Quản lý chặt chẽ kết quả thực hiện nhiệm vụ và bảo đảm các điều kiện cho quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang
Việc quản lý kết quả thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ giáo viên mầm non trên địa bàn huyện rất cần quan tâm đến vấn đề trọng tâm như: Sự tiến bộ của đội ngũ giáo viên mầm non về phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp; mức độ tăng tiến về trình độ đào tạo, kỹ năng sư phạm và năng lực công tác, nhất là năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ; sự tiến bộ về phương pháp giáo dục và sử dụng phương tiện giáo dục – dạy học hiện đại; kết quả phân loại giáo viên mầm non trên địa bàn.
Vấn đề rất quan trọng để phát triển đội ngũ giáo viên mầm non là cần có chế độ, chính sách, hỗ trợ kinh phí, thời gian cho giáo viên tham gia học tập, động viên tinh thần, tạo không khí thoải mái trong môi trường giáo dục. Phân công giảng dạy hợp lý, tạo môi trường thuận lợi cho trẻ để đem lại kết quả học tập tốt nhất.
1.2.2. Tiêu chí quản lý phát triển đội ngũ đội ngũ giáo viên mầm non huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng theo chuẩn nghề nghiệp.
1.2.2.1. Tiêu chí về công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên mầm non trong từng giai đoạn phát triển của nhà trường.
Các trường mầm non có quy hoạch, kế hoạch tổng thể về xây dựng, phát triển nguồn nhân lực của nhà trường, đặc biệt là đội ngũ giáo viên mầm non. Xây dựng quy hoạch có tính dự báo, căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ giáo dục mầm non và nhu cầu thực tiễn đang đặt ra đối với công tác chăm sóc, giáo dục trẻ theo từng giai đoạn; kế hoạch xây dựng, kiện toàn đội ngũ giáo viên mầm non hằng năm, dài hạn, đảm bảo cho đội ngũ này luôn có sự phát triển.
Từng trường mầm non cần thực hiện tốt quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên mầm non đã xác định. Ngành giáo dục huyện mà trực tiếp là các trường mầm non phải thường xuyên, định kỳ rà soát, kịp thời điều chỉnh, bổ sung quy hoạch, kế hoạch phù hợp với thực tiễn phát triển giáo dục và đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ này.
Từng giáo viên mầm non có kế hoạch tự học tập, tự bồi dưỡng, tự phấn đấu trưởng thành và phát triển trong quá trình công tác.
1.2.2.2. Tiêu chí bảo đảm về số lượng và cơ cấu đội ngũ giáo viên mầm non.
Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện thường xuyên đảm bảo biên chế đủ số lượng giáo viên mầm non cho các trường mầm non trên địa bàn và có lượng dự trữ để các trường mầm non kịp thời bổ sung giáo viên thay thế khi có sự thay đổi, bổ sung nhiệm vụ và hoàn cảnh giáo viên.
Các trường mầm non trên địa bàn huyện bố trí, sắp xếp đội ngũ giáo viên mầm non đảm bảo có cơ cấu hợp lý, đồng bộ, có sự kế tiếp và phát triển hợp lý giữa các thế hệ giáo viên trong từng giai đoạn; đặc biệt coi trọng cơ cấu độ tuổi, trình độ học vấn; năng lực, kỹ năng sư phạm, kinh nghiệm chăm sóc, giáo dục trẻ.
1.2.2.3. Tiêu chí về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non.
Ngành giáo dục huyện và các trường mầm non có kế hoạch và tổ chức tốt việc đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non hằng năm, từng giai đoạn; hướng tới đảm bảo cho đội ngũ này đều được đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên về kiến thức, năng lực, kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ, hướng tới đạt chuẩn và vượt chuẩn theo quy định của ngành giáo dục.
Từng trường mầm non phải có chủ trương, biện pháp rõ ràng, cụ thể về bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên mầm non, đảm bảo đúng người, đúng việc, phù hợp với nhiệm vụ, chức trách của từng giáo viên, trên cơ sở phát huy tối đa trình độ, khả năng, sở trường, kinh nghiệm và sự phát triển của từng giáo viên mầm non.
1.2.2.4. Tiêu chí phát triển về chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non.
Đội ngũ giáo viên mầm non phải đạt chuẩn về chất lượng và có sự phát triển trong từng giai đoạn về: phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm chăm sóc, giáo dục trẻ. Trong đó, đặc biệt coi trọng trình độ chuyên môn và năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ; cụ thể:
Về phẩm chất chính trị: Đội ngũ giáo viên mầm non phải luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm minh, lối sống trong sạch lành mạnh, trung thực, giản dị.
Gắn bó với trường mầm non và tâm huyết yêu nghề, yêu trẻ; sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Về trình độ, năng lực chuyên môn: Đội ngũ giáo viên mầm non phải có trình độ kiến thức toàn diện, có trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm, nghiệp vụ đạt chuẩn giáo viên mầm non theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Có năng lực thực hiện chuyên môn khá và tốt, thể hiện ở việc thực hiện tốt các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ; có đầy đủ năng lực theo yêu cầu chuẩn hoá giáo viên mầm non; đặc biệt là các năng lực: chăm sóc, giáo dục, kỹ năng tổ chức vui chơi, khám phá cho trẻ, làm việc với con người, xử lý các tình huống trong nuôi dưỡng, dạy dỗ, giáo dục trẻ.
1.2.2.5. Tiêu chí về kiểm tra, thanh tra, đánh giá và điều kiện bảo đảm cho phát triển đội ngũ giáo viên mầm non.
Các trường mầm non thường xuyên coi trọng và làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ. Đồng thời phải đảm bảo tốt các điều kiện về vật chất và tinh thần cho các mặt hoạt động của giáo viên.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\GIAO DUC HOC\TRAN THI THE


