Vận dụng lý thuyết hoạt động hình thành kiến thức mới cho học sinh trong dạy học toán lớp 1 theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết 29 của Bộ Chính trị về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, chuyển từ nền giáo dục truyền thụ kiến thức sang dạy học phát triển phẩm chất năng lực học sinh. Trong bối cảnh đó, ngày 26 tháng 12 năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT về Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể [2]. Điểm mới làm nên “hồn, cốt” của Chương trình GDPT năm 2018 là chương trình giáo dục phát triển phẩm chất năng lực học sinh. Phương pháp dạy học hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực được định hướng là phương pháp dạy học tích cực hóa các hoạt động của học sinh. Các hoạt động học tập trung xung quanh các hoạt động chủ đạo: Khởi động; hình thành kiến thức mới; thực hành luyện tập; vận dụng sáng tạo.
Giáo dục tiểu học là cấp học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách học sinh tiểu học. Với mục tiêu là cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản ban đầu về số học, các số tự nhiên, các số thập phân, phân số, các đại lượng cơ bản và một số yếu tố hình học, thống kê đơn giản; đồng thời góp phần hình thành và rèn luyện phẩm chất của người lao động trong xã hội hiện đại. Do đó, môn Toán thực sự là “chìa khóa” để mở cửa các ngành khoa học khác, giải quyết các vấn đề của thế giới.
Trong những năm gần đây, nền giáo dục của chúng ta chuyển dần từ phương pháp tiếp cận nội dung sang phát triển năng lực. Tuy nhiên, năng lực chỉ được phát triển thông qua hoạt động tích cực của bản thân người học, qua rèn luyện và đào tạo. Đồng thời, với đặc trưng của môn Toán là giúp cho học sinh có những kiến thức khoa học, thì hoạt động hình thành kiến thức mới vô cùng quan trọng. Nếu chỉ sử dụng phương pháp truyền thống – giáo viên là người truyền đạt kiến thức, mà không tổ chức các hoạt động để học sinh tự chiếm lĩnh tri thức thì sẽ không đáp ứng được mục tiêu giáo dục hiện nay.
Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tiến hành tập huấn chương trình giáo dục phổ thông 2018, cùng với việc thay đổi về chương trình thì thay đổi phương pháp dạy học cho phù hợp với nhu cầu cũng là điều quan trọng. Tuy nhiên, giáo viên tiểu học hiện nay vẫn đang loay hoay trong việc tìm ra hướng đi, do chủ nghĩa “kinh nghiệm”, lối mòn của dạy học truyền thống. Năng lực của nhiều giáo viên còn hạn chế để đáp ứng được mục tiêu giáo dục.
Với mong muốn mọi người quan tâm hơn đến vấn đề này cũng như để rút kinh nghiệm cho bản thân, chúng tôi đã chọn đề tài: “Vận dụng lý thuyết hoạt động hình thành kiến thức mới cho học sinh trong dạy học toán lớp 1 theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cách thức vận dụng lý thuyết hoạt động vào một số hoạt động hình thành kiến thức mới cho học sinh trong dạy học môn Toán lớp 1 theo lý thuyết hoạt động nhằm hình thành phẩm chất, năng lực học sinh, tạo ra niềm vui và hứng thú, nâng cao chất lượng dạy học toán trong các trường tiểu học.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Nghiên cứu những cơ sở lý luận về lý thuyết hoạt động, hoạt động hình thành kiến thức mới.
– Tìm hiểu thực trạng tổ chức hình thành kiến thức mới cho học sinh lớp 1 khi học toán.
– Vận dụng lý thuyết hoạt động để thiết kế tổ chức hoạt động hình thành kiến thức mới cho HS trong dạy học toán lớp 1.
– Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính khả thi của các hoạt động hình thành kiến thức mới trong dạy học toán lớp 1 theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018.
4. Giả thuyết khoa học
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, nếu đề xuất được cách thức vận dụng lý thuyết hoạt động trong thiết kế tổ chức hoạt động hình thành kiến thức mới cho học sinh trong dạy học toán 1 thì không những nâng cao năng lực toán học cho học sinh mà còn tạo ra niềm tin, hứng thú và nâng cao chất lượng dạy học toán trong các trường tiểu học.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học toán và nhiệm vụ phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh tiểu học.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
– Nghiên cứu vận dụng lý thuyết hoạt động hình thành kiến thức mới trong dạy học toán lớp 1 theo Chương tình giáo dục phổ thông 2018.
– Tổ chức nghiên cứu khảo sát, thực nghiệm tại một số trường tiểu học thuộc các quận ở thành phố Đà Nẵng như Thanh Khê, Hải Châu, Ngũ Hành Sơn,…
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp điều tra
6.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
6.4. Phương pháp thống kê toán học
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục thành 5 chương:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 3: Khảo sát thực trạng dạy học toán hình thành kiến thức mới cho học sinh lớp 1 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018
Chương 4: Vận dụng lý thuyết hoạt động thiết kế một số hoạt động hình thành kiến thức mới trong dạy học toán lớp 1 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018
Chương 5: Thực nghiệm sư phạm

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về hoạt động, tiêu biểu là nhà tâm lý học nổi tiếng Xô Viết L.S.Vygotsky (1896-1934) hay như Lêôchiép (Leonchev) là nhà tâm lý học Xô Viết kiệt xuất của thế kỷ XX; Giáo sư, Viện sỹ Viện Hàn lâm khoa học giáo dục Liên xô (1950); Phó chủ tịch Hội tâm lý học thế giới; học trò, người kế tục xuất sắc của L.S.Vygotsky, có nhiều đóng góp xuất sắc cho tâm lý học Liên Xô và thế giới, một trong những người sáng lập lý thuyết tâm lý học hoạt động.
1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu trong nước
Những năm gần đây, tại Việt Nam, đã có những công trình, luận văn nghiên cứu vận dụng quan điểm hoạt động vào dạy học ở những mức độ khác nhau:
Theo Nguyễn Bá Kim [15]: “Hoạt động của học sinh là cốt lõi của phương pháp dạy học”. Ở đây cần hiểu là, phương pháp dạy học của giáo viên chính là cách thức tổ chức các hoạt động học của học sinh nhằm đạt được mục tiêu dạy học.
Trong [1], quá trình dạy học gồm có hai hoạt động chính; hoạt động học và hoạt động dạy, trong đó hoạt động dạy phải tập trung, hướng tới hoạt động học, hoạt động học là trung tâm.
Tác giả Đỗ Ngọc Đạt đã mô hình hóa cấu trúc của hoạt động như sau: “Thành phần cơ bản hợp thành những hoạt động riêng lẻ của con người là những hành động thực hiện hoạt động ấy. Chúng ta gọi hành động là quá trình bị chi phối bởi biểu tượng về cái kết quả đạt được, nghĩa là quá trình nhằm một mục đích được ý thức. Khái niệm mục đích quan hệ với khái niệm hành động cũng như khái niệm động cơ quan hệ với khái niệm hoạt động”.
Các tác giả Đỗ Thị Trinh và Lê Bá Phương [22] cũng đã có những nghiên cứu vận dụng quan điểm hoạt động trong dạy học phương trình đường tròn (hình học 10).
Tác giả Nguyễn Tiến Trung [24] vận dụng quan điểm hoạt động trong dạy học môn toán cho học sinh lớp 11 trung học phổ thông khu vực miền núi phía bắc.
Qua đó có thể thấy, cũng có nhiều tác giả trong nước nghiên cứu vận dụng lý thuyết hoạt động. Tuy nhiên, mỗi tác giả cũng như các nhóm tác giả có những hướng nghiên cứu khác nhau, những ý kiến khác nhau. Nhưng nhìn chung, tất cả đều nhấn mạnh đến vai trò chủ động, đề cao hoạt động của người học. Trong nước chưa có nghiên cứu nào vận dụng lý thuyết hoạt động trong dạy học toán lớp 1.
1.3. Kết luận Chương 1
Chương 1 đã hệ thống hóa, phân tích và làm rõ được một số quan điểm của một số tác giả trong nước và nước ngoài về hoạt động; trong đó phân tích, đối chiếu các quan điểm và rút ra một số nhận định.
Theo đó, các nghiên cứu trong nước chủ yếu vận dụng quan điểm hoạt động trong việc thiết kế các hoạt động trong dạy học môn toán trung học cơ sở, trung học phổ thông. Vận dụng lý thuyết hoạt động để tìm tòi, khám phá, hình thành kiến thức mới cho học sinh, đặc biệt là học sinh tiểu học còn hạn chế. Bên cạnh đó, rất ít tác giả vận dụng lý thuyết hoạt động trong dạy học toán tiểu học, đặc biệt chưa có nghiên cứu nào cho lớp 1 theo chương trình GDPT 2018.
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Đặc điểm học sinh tiểu học
2.2. Cấu trúc nội dung chương trình môn Toán
2.2.1. Cấu trúc nội dung môn toán hiện hành
– Mục tiêu môn toán hiện hành
– Nội dung chương trình môn toán hiện hành: số học, đại lượng – đo đại lượng, yếu tố hình học, giải toán có lời văn.
2.2.2. Cấu trúc nội dung môn Toán theo chương trình giáo dục phổ thông 2018
– Mục tiêu môn toán theo chương trình GDPT 2018
– Nội dung chương trình môn Toán theo chương trình giáo dục phổ thông 2018: số, đại số và một số yếu tố giải tích; hình học và đo lường; thống kê và xác suất.
2.3. Năng lực và năng lực toán học
2.3.1. Quan niệm về năng lực
2.3.2. Phân loại năng lực
2.3.3. Năng lực chung của HSTH
2.3.4. Năng lực toán học của HSTH
2.3.5. Con đường hình thành phẩm chất, năng lực cho HSTH
2.4. Dạy học theo lý thuyết hoạt động
A.N.Leonchev đã giải thích được bản chất của hoạt động và cơ sở tâm lí của việc hình thành nó trong dạy học. Theo ông, “Hoạt động là một quá trình thực hiện sự chuyển hoá lẫn nhau giữa hai cực: chủ thể – khách thể. Theo nghĩa rộng, nó là đơn vị phân tử, chứ không phải là đơn vị cộng thành của đời sống chủ thể. Đời sống của con người là một hệ thống (một dòng) các hoạt động thay thế nhau. Hoạt động theo nghĩa hẹp hơn, tức là ở cấp độ tâm lí học, là đơn vị của đời sống, mà khâu trung gian là phản ánh tâm lí, có chức năng hướng dẫn chủ thể trong thế giới đối tượng”.
2.5. Kế hoạch bài học hình thành và phát triển phẩm chất năng lực học sinh
2.6. Hoạt động hình thành kiến thức mới
2.7. Phân tích kế hoạch bài học toán theo hướng hình thành, phát triển năng lực học sinh
2.8. Kết luận Chương 2
Chương 2 đã phân tích và làm rõ được một số vấn đề sau:
– Chỉ rõ đặc điểm của học sinh tiểu học;
– Phân tích cấu trúc nội dung chương trình môn toán hiện hành và nội dung môn toán theo chương trình GDPT 2018. Từ đó, làm nổi bật lên những điểm mới và những thay đổi của nội dung chương trình môn toán;
– Phân tích các quan điểm và yêu cầu về phẩm chất, năng lực của học sinh tiểu học; làm rõ năng lực toán học để từ đó tìm ra con đường hình thành phẩm chất, năng lực cho học sinh;
– Phân tích quan điểm hoạt động;
– Tìm hiểu những khó khăn, hạn chế trong dạy học toán theo lý thuyết hoạt động;
– Phân tích kế hoạch bài học theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực học sinh.
– Bên cạnh đó, việc đưa ra các biểu hiện của năng lực nhằm hình thành nên khung đánh giá năng lực cho học sinh và xác định được mục tiêu bài học.
Những vấn đề lí luận đã được nghiên cứu và phân tích trên là cơ sở quan trọng làm tiền đề cho việc đưa ra những định hướng cũng như thiết kế các hoạt động hình thành kiến thức mới trong dạy học toán lớp 1.
CHƯƠNG 3
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY HỌC TOÁN
HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI CHO HỌC SINH LỚP 1
3.1. Mục đích khảo sát
– Khảo sát thực trạng dạy học toán lớp 1 hiện nay ở một số trường tiểu học.
– Tìm hiểu thực trạng nhận thức của giáo viên về dạy học toán theo quan điểm hoạt động.
– Tìm hiểu thực trạng các biện pháp vận dụng quan điểm hoạt động trong dạy học toán ở lớp 1.
– Tìm hiểu việc hình thành kiến thức mới cho học sinh ở các trường tiểu học, trên cơ sở đó khẳng định lại việc dạy học toán theo lý thuyết hoạt động mà chúng tôi đề xuất là có căn cứ.
– Kết quả khảo sát, đánh giá thu được là một cơ sở để đề xuất các giải pháp thiết kế một số hoạt động hình thành kiến thức mới cho học sinh theo lý thuyết hoạt động.
3.2. Nội dung khảo sát
Tìm hiểu hứng thú của học sinh; thực trạng hình thành kiến thức mới của học sinh trong giờ học toán; các biểu hiện năng lực của học sinh được bộc lộ trong quá trình hình thành kiến thức mới; những khó khăn có thể gặp phải và cách khắc phục những khó khăn đó (Phụ lục 1). Qua đó, xin ý kiến của các giáo viên để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học toán
3.3. Tổ chức khảo sát
Đối tượng khảo sát của chúng tôi khi thực hiện đề tài này là 13 GV thuộc khối lớp 1 tại hai trường Tiểu học ở thành phố Đà Nẵng, trong đó:
– Trường Tiểu học Lê Bá Trinh: 6 GV và trường Tiểu học Đoàn Thị Điểm: 7 GV.
– Thời gian: tháng 2/2020 đến 9/2020.
Để thu được những thông tin trung thực và khách quan, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát, phỏng vấn, dự giờ, sử dụng phiếu trả lời đối với một số giáo viên (Phụ lục 1). Đồng thời, chúng tôi nghiên cứu các tài liệu có liên quan và sử dụng phương pháp tổng kết kinh nghiệm để phân tích, đánh giá thực trạng của việc giảng dạy vận dụng lý thuyết hoạt động nhằm phát triển năng lực học sinh trong các trường tiểu học.
3.4. Phân tích kết quả khảo sát
3.4.1. Kết quả khảo sát giáo viên
GV chủ yếu giảng bài thật kĩ để HS lĩnh hội tri thức (100%). Ngoài ra, một số GV còn đặt các câu hỏi để gợi mở cho các em những kiến thức mới (76,92%). Theo như kết quả trên thì GV rất ngại giao việc cho HS vì các em lớp 1 còn rất nhỏ, thực hiện các hoạt động nhiều khi không theo đúng ý GV, dễ dẫn đến mất thời gian và không đảm bảo hiệu quả giờ dạy. Do đó, rất ít GV chọn cách giao nhiệm vụ cho HS để các em lĩnh hội tri thức.
Mỗi thầy cô khi đứng lớp sẽ có nhiều cách thức để dẫn dắt học sinh lĩnh hội tri thức. Theo quan niệm từ xưa đến nay, GV là người truyền đạt tri thức. Do đó, HS muốn lĩnh hội được tri thức thì phải chú ý, lắng nghe GV giảng bài (100%).
Chúng ta có thể thấy có nhiều con đường để hình thành năng lực cho học sinh. Nhưng cũng giống như ở trên đã phân tích, việc học thuộc bài không được sử dụng nhiều (15,38%). Muốn hình thành được năng lực học sinh thì phải thông qua các hoạt động thực hành, luyện tập (76,92%), GV hiện nay phần lớn đã nhận thức được điều này. Việc nắm vững kiến thức sẽ giúp HS chủ động hơn trong các hoạt động để bộc lộ năng lực của mình (69,23%).
Dạy học toán thường đi theo tiến trình: Khởi động – Dạy bài mới (Hình thành kiến thức mới) – Luyện tập (Thực hành) – Vận dụng (Sáng tạo). Theo thực tế khảo sát cho thấy, đa số GV đều cho rằng việc dạy bài mới là khó thực hiện nhất (92,31%). Bởi vì đó là hoạt động xương sống của tiết dạy. Còn các hoạt động như khởi động (23,08%) hay luyện tập (38,46%) thì được tổ chức thường xuyên với các hình thức như trò chơi, bài tập chạy,… nên cũng khá dễ để thực hiện. Với hoạt động vận dụng (46,15%), theo chương trình mới là mở rộng, sáng tạo, thì theo các GV chia sẻ là cũng hơi khó thực hiện vì thường thiếu thời gian, GV chủ yếu lồng ghép vào trong nội dung luyện tập hoặc giao nhiệm vụ về nhà.
Việc lĩnh hội tri thức của học sinh cũng đánh giá được phần nào chất lượng dạy học của GV. Từ bảng 3.4.5, theo tự nhận xét của GV chúng ta có thể thấy người dạy đang khá lúng túng trong việc giúp các em lĩnh hội được kiến thức bài học. Quá trình lĩnh hội kiến thức của HS chỉ được đánh giá ở mức trung bình (38,46%; 30,77%; 23,07%).
Ngoài ra, GV còn kể đến một số khó khăn khác mà mình đã gặp phải, đó là:
– Các hoạt động không phong phú: Từ trước đến nay, GV thường đi theo một lối mòn, dạy học dựa trên cơ sở sách giáo viên và sách thiết kế bài dạy, bám vào nội dung SGK. Do đó, nhiều HS được học trước, hướng dẫn trước ở nhà sẽ cảm thấy chán với những điều mình đã biết, nên thường mất tập trung trong giờ học.
– Hoạt động nhóm chưa hiệu quả: Đối với học sinh lớp 1, việc cho các em làm việc nhóm rất khó khăn. Bởi vì, các em chưa ý thức được cũng như chưa tập trung vào nhiệm vụ. Nhiều em không nắm rõ yêu cầu của GV nên ngồi chơi, làm việc riêng. Do đó, việc hoạt động nhóm thường mất rất nhiều thời gian nhưng lại không mang lại hiệu quả như mong muốn.
3.4.2. Kết quả quan sát một tiết học toán
HS rất ít được tổ chức hoạt động và khá thụ động. Hầu như các hoạt động của HS được thực hiện trong lúc làm bài tập thực hành, mang tính cá nhân, chưa có sự tương tác nhiều giữa HS – HS, chủ yếu là GV hỏi và HS trả lời. GV chưa chú trọng nhiều đến việc giúp các em tự mình chiếm lĩnh tri thức, mà phần lớn GV giảng và HS nghe; chưa có sự liên hệ nhiều giữa các mạch kiến thức.
3.4.3. Nguyên nhân của thực trạng
3.5. Kết luận Chương 3
Từ những phân tích trên và những khó khăn mà các GV chia sẻ khi dạy học toán, chúng tôi nhận thấy rằng, việc giúp cho các em lĩnh hội tri thức rất quan trọng, thể hiện rõ nhất trong hoạt động hình thành kiến thức mới. Do đó, muốn các em bộc lộ, phát triển năng lực của mình thì người GV cần biết cách tổ chức các hoạt động phong phú, đa dạng nhưng phù hợp với trình độ HS và điều kiện cơ sở. Đó cũng là động lực để chúng tôi xây dựng, thiết kế hoạt động hình thành kiến thức mới cho học sinh, làm cơ sở cho Chương 4.
CHƯƠNG 4
THIẾT KẾ MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI TRONG DẠY HỌC TOÁN LỚP 1 THEO LÝ THUYẾT HOẠT ĐỘNG
4.1. Nguyên tắc thiết kế
Để xây dựng hoạt động hình thành kiến thức mới cho học sinh, cần dựa trên những căn cứ khoa học sau:
– Triết học: Theo Heghen: “Phương pháp là ý thức về hình thức của sự tự vận động bên trong của nội dung” [16].
– Về lí luận dạy học, căn cứ vào “tính quy luật về sự thống nhất và quy định lẫn nhau giữa các thành tố của quá trình dạy học (mục đích, nội dung, phương pháp, hoạt động dạy, hoạt động học), trong đó đặc biệt quan trọng là luận điểm nội dung dạy học quyết định PPDH và sự thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học”.
– Về Tâm lí học hoạt động, “hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của HS tiểu học” [11] và quan điểm “Dạy học thông qua hoạt động và bằng hoạt động” [11]…
– Dựa vào lí thuyết của A.N.Leonchiev về cấu trúc vĩ mô của hoạt động, bao gồm 6 thành tố và mối quan hệ giữa 6 thành tố này. Hoạt động học cũng diễn ra theo 6 thành tố nêu trên.
4.2. Một số thiết kế hình thành kiến thức mới
4.2.1. Hình thành khái niệm số tự nhiên
4.2.1.1. Nguyên tắc hình thành khái niệm số tự nhiên
4.2.1.2. Phương pháp dạy học hình thành khái niệm số tự nhiên
4.2.1.3. Dạng hoạt động hình thành khái niệm toán học
4.2.1.4. Thiết kế hoạt động học “Các số 0, 1, 2, 3, 4, 5”
* Hoạt động hình thành kiến thức mới/ Khám phá
– Gợi động cơ: GV treo tranh: Cho HS quan sát những đồ vật có 1 phần tử. HS quan sát.
– Khám phá, nhận biết số 1:
+ GV hỏi HS: Em nhìn thấy gì?
+ Sản phẩm (câu trả lời) của học sinh: Em thấy cái chậu cá/ Trong chậu có con cá/ có con cá vàng/ Có một cái chậu/ Có một con cá vàng đang bơi trong chậu/ Em thấy có một khối vuông/ Có một khối vuông màu vàng…
– Sau khi HS nêu, GV hỏi: Chúng có điểm chung gì?
– Sản phẩm (câu trả lời) của HS: Giống nhau đều có màu vàng/ Đều có một/ Chậu có một con cá còn bên kia có một khối vuông…
– GV: Giống nhau ở số lượng là một, giới thiệu số 1.
– Khám phá, nhận biết số 2, 3, 4, 5
– Tương tự, GV lần lượt treo tranh và hỏi HS: Bây giờ, em nhìn thấy gì?
– Sản phẩm (câu trả lời) của học sinh: Có hai con cá vàng đang bơi trong chậu/ Em thấy có hai khối vuông/ Có hai khối vuông màu vàng…
– Sau khi HS nêu, GV hỏi: Chúng có điểm chung gì?
– Sản phẩm (câu trả lời) của HS: Đều có hai/ Chậu có hai con cá còn bên kia có hai khối vuông …
– GV: Giống nhau ở số lượng là hai, giới thiệu số 2.
– Lần lượt, giới thiệu số 3, 4, 5.
– Khám phá, nhận biết số 0
– GV hỏi HS: Em nhìn thấy gì?
– Sản phẩm (câu trả lời) của học sinh: Em thấy cái chậu cá/ Trong chậu không có con cá nào/ Không thấy có khối vuông giống ở trên…
– GV: Để biểu thị người ta dùng số 0, giới thiệu số 0.
4.2.1.5. Yêu cầu khi tổ chức hoạt động
4.2.2. Hình thành phép toán số tự nhiên
4.2.2.1. Nguyên tắc hình thành phép toán số tự nhiên
4.2.2.2. Phương pháp dạy học hình thành phép toán số tự nhiên
4.2.2.3. Dạng hoạt động hình thành phép toán số tự nhiên
4.2.1.4. Thiết kế hoạt động học “Phép cộng trong phạm vi 10”
* Hoạt động hình thành kiến thức mới/ Khám phá
– Quan sát tình huống/ thao tác trên que tính
– GV cho 2 HS đóng vai theo yêu cầu: 2 bạn HS cầm số bóng bay theo yêu cầu và diễn tình huống: Gộp 3 quả bóng và 2 quả bóng được mấy quả bóng?
– HS quan sát tình huống, ghi nhớ các chi tiết.
– Sản phẩm của học sinh: Bạn nam có 3 quả bóng đỏ/ Bạn nữ có 2 quả bóng xanh/ Gộp lại được 5 quả bóng/ Gộp 3 quả bóng và 2 quả bóng được 5 quả bóng…
– Cho HS thao tác trên que tính: Lấy 3 que tính đỏ và 2 que tính xanh, gộp lại được mấy que tính?
– GV giới thiệu phép cộng và dấu cộng.
– Khái quát hóa phép tính
– Cho HS tự gắn phép tính trên bảng gài: 3 + 2 = 5
– GV treo tranh và cho HS quan sát, HS tự gắn phép tính thích hợp trên bảng gài.
– Sản phẩm của học sinh: 1 + 3 = 4 và 3 + 1 = 4.
– Viết, đọc phép tính
– Cho 1 HS lên bảng viết phép tính: 3 + 2 = 5
GV: Ai có thể đọc được phép tính này?
– Sản phẩm của HS: Ba cộng hai bằng năm.
4.2.1.5. Yêu cầu khi tổ chức hoạt động
4.2.3. Hình thành biểu tượng hình học
4.2.3.1. Nguyên tắc hình thành biểu tượng hình học
4.2.3.2. Phương pháp dạy học hình thành biểu tượng hình học
4.2.3.3. Dạng hoạt động hình thành biểu tượng hình học
4.2.3.4. Thiết kế hoạt động học “Hình vuông, hình tròn, hình tam giác, hình chữ nhật”
* Hoạt động hình thành kiến thức mới/ Khám phá
– Quan sát đồ vật:
+ GV cho HS quan sát mẫu: Đây là gì?
– Sản phẩm của học sinh: Đây là cái khăn tay/ Đây là viên gạch…
– GV yêu cầu HS tìm trong lớp những đồ vật có hình giống như vậy?
– Sản phẩm của học sinh: Bức tranh, viên gạch, mặt ghế,…
– Hình thành biểu tượng
– GV: Theo các em, nó có hình gì?
– Sản phẩm của học sinh: hình vuông, hình thẳng,…
– GV giới thiệu hình vuông.
– Tương tự với các hình tròn, hình tam giác, hình chữ nhật.
4.2.3.5. Yêu cầu khi tổ chức hoạt động
4.3. Kết luận Chương 4
Trong chương này, chúng tôi đã thiết kế một số hoạt động hình thành kiến thức mới trong dạy học toán lớp 1 theo lý thuyết hoạt động, cụ thể là hoạt động hình thành khái niệm số tự nhiên, hoạt động hình thành phép toán số tự nhiên và hoạt động hình thành biểu tượng hình học. Trong đó, việc lựa chọn bài học minh họa phù hợp với trình độ và năng lực của HS, được lựa chọn phong phú và đa dạng. Với những đề xuất này, hi vọng được đóng góp một phần nào đó vào việc đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn giáo dục hiện nay.
CHƯƠNG 5
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
5.1. Mục đích thực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm nhằm mục đích:
– Đánh giá tính khả thi của việc vận dụng các hoạt động đã được thiết kế trong chương 4.
– Đánh giá tác động của việc dạy học theo lý thuyết hoạt động đến kết quả học tập của HS.
5.2. Nội dung thực nghiệm sư phạm
Nội dung thực nghiệm nhằm mục đích triển khai, kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các hoạt động hình thành kiến thức mới trong dạy học toán lớp 1 theo lý thuyết hoạt động đã thiết kế.
Bộ công cụ thực nghiệm bao gồm: giáo án thực nghiệm, biên bản ghi lại giờ dạy thực nghiệm, phiếu học tâp,…
5.3. Tổ chức thực nghiệm sư phạm
Chúng tôi tiến hành thực nghiệm ở lớp đối chứng và lớp thực nghiệm. GV sẽ thực hiện hai phương pháp dạy khác nhau: phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học theo lý thuyết hoạt động. GV dạy ở hai lớp đều được đào tạo chuẩn, có trình độ tương đương nhau.
– Thời gian thực nghiệm từ 20/01/2020 đến 30/09/2020.
– Địa điểm thực nghiệm: Trường Tiểu học Đoàn Thị Điểm, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
– Đối tượng thực nghiệm: Thực nghiệm sư phạm tại trường Tiểu học Đoàn Thị Điểm, TP Đà Nẵng.
Bao gồm:
– Lớp 1/6 (35 HS) là lớp thực nghiệm.
– Lớp 1/5 (35 HS) là lớp đối chứng.
5.4. Phân tích kết quả thực nghiệm
5.4.1. Đánh giá ban đầu về thực nghiệm
5.4.2. Phân tích định tính
5.4.3. Phân tích định lượng
Nhận xét:
Qua quá trình thực nghiệm sư phạm và kết quả quan sát cũng như khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng việc vận dụng lý thuyết hoạt động vào dạy học hình thành kiến thức mới cho học sinh đã góp phần đổi mới PPDH theo định hướng giáo dục hiện nay và kích thích được hứng thú học tập của HS. Các tiết dạy thực nghiệm vận dụng lý thuyết hoạt động đã giúp các em nắm bài khá tốt, các hoạt động được tổ chức một cách linh hoạt và sinh động. Các em tham gia các hoạt động học tập rất tích cực và vui vẻ. Do đó, kết quả của các tiết học rất hiệu quả.
Từ những kết quả đó, chúng ta có thể rút ra một số ưu điểm của việc vận dụng lý thuyết hoạt động vào việc tổ chức hoạt động hình thành kiến thức mới cho học sinh lớp 1 như sau:
– Không khí lớp học vui vẻ, thoải mái, không nặng nề. Tiết học diễn ra sôi nổi, hiệu quả.
– HS tham gia tích cực vào các hoạt động. Dưới sự hướng dẫn của GV, HS tự mình chiếm lĩnh tri thức một cách chủ động, sáng tạo.
– HS được mạnh dạn nêu lên ý kiến của mình thông qua việc đề xuất các phương án để giải quyết vấn đề, tình huống mà GV đặt ra.
– HS có cơ hội hợp tác với bạn bè trong các hoạt động, phát huy tinh thần đoàn kết, hợp tác.
– Bồi dưỡng cho HS sự tự tin và chủ động trong các hoạt động được tham gia.
Khi thăm dò ý kiến về việc các em có thích tham gia các hoạt động trong tiết học không thì hầu như các em đều bày tỏ rất hứng thú. HS tham gia vào bài học sôi nổi hơn, mạnh dạn hơn trong việc bộc lộ kiến thức của chính mình: Điều này là do trong quá trình dạy học, GV yêu cầu HS tự suy nghĩ, tự nghĩ ra hoạt động để giải quyết một số vấn đề; tự khám phá một số kiến thức mới, HS được thảo luận với nhau và được tự trình bày kết quả làm được.
Việc dạy học theo lý thuyết hoạt động giúp cho HS tự mình tìm ra con đường hình thành kiến thức cho bản thân, góp phần bộc lộ và phát triển được nhiều năng lực.
Bên cạnh đó, khi tự mình chiếm lĩnh tri thức bằng các hoạt động, HS sẽ tự tin hơn, chủ động hơn, điều này có ý nghĩa rất lớn, giúp cho các em hứng thú học tập và có niềm đam mê với bộ môn khoa học này.
Đồng thời, có thể thấy rằng, bài khảo sát giữa 2 lớp có sự chênh lệch đáng kể. Có thể thấy việc vận dụng của HS vào giải toán ở các lớp dạy thực nghiệm có kết quả cao hơn hẳn. Cùng một nội dung dạy nhưng khi HS được tự mình hoạt động, tự mình chiếm lĩnh tri thức thì khả năng ghi nhớ, vận dụng của các em cũng sẽ hiệu quả hơn nên kết quả ghi nhận sẽ tốt hơn.
Như vậy, có thể đánh giá rằng, việc tổ chức hoạt động hình thành kiến thức mới cho HS lớp 1 theo lý thuyết hoạt động sẽ giúp cho các em tự mình chiếm lĩnh tri thức, phát triển năng lực đa dạng ở mỗi HS. Mức độ hình thành năng lực ở HS nhóm trải nghiệm cao rõ rệt so với HS nhóm đối chứng.
5.5. Kết luận Chương 5
Qua quá trình dạy thực nghiệm, khảo sát thực nghiệm và kết quả của quá trình thực nghiệm được xử lí bằng phương pháp thống kê, đối chiếu với mục đích, nhiệm vụ chúng tôi thấy rằng:
– Đã đạt được mục đích thực nghiệm, các hoạt động được thiết kế với các ví dụ nhằm minh họa tính thực thi của hoạt động đã góp phần mang lại hiệu quả trong tiết dạy học và có thể vận dụng vào quá trình dạy học để phát triển năng lực của HS đáp ứng mục tiêu chương trình tổng thể 2018.
KẾT LUẬN
Qua quá trình nghiên cứu và phân tích một số kết quả thực nghiệm trên đối tượng HS lớp 1, luận văn “Vận dụng lý thuyết hoạt động hình thành kiến thức mới cho học sinh trong dạy học toán lớp 1 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018” đã đạt được một số kết quả sau đây:
1. Về lí luận:
– Đã hệ thống hóa, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận liên quan đến lý thuyết hoạt động hình thành kiến thức mới trong dạy học toán lớp 1.
– Hệ thống hóa một số ý kiến, quan điểm của các tác giả, nhóm tác giả trong và ngoài nước về lý thuyết hoạt động, năng lực, phẩm chất,…
– Nêu ra mục tiêu, nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học toán hiện nay theo chương trình phổ thông 2018.
2. Về thực tiễn:
– Tiến hành nghiên cứu, điều tra phân tích một số hoạt động hình thành kiến thức mới cho HS trong dạy học toán 1.
– Luận văn đã phần nào làm sáng tỏ thực trạng về hoạt động của GV và HS trong việc dạy học toán thông qua việc khảo sát bằng phiếu điều tra, đa số các em chưa được hoạt động nhiều, chưa được tự mình chiếm lĩnh tri thức.
– Nêu lên được một số khó khăn của GV và HS trong việc dạy học toán lớp 1 theo hướng phát triển năng lực làm cơ sở để thiết kế các hoạt động.
– Đưa ra những nguyên tắc, định hướng để thiết kế một số hoạt động nhằm đảm bảo tính khả thi, hiệu quả.
– Thiết kế 3 hoạt động thuộc 3 mạch kiến thức khác nhau:
+ Tạo động lực cho HS khi học toán nhằm phát triển năng lực và phẩm chất;
+ Khai thác các nhiệm vụ đòi hỏi hoạt động của HS;
+ Rèn luyện hoạt động theo quy trình;
– Tổ chức thực nghiệm sư phạm và kết quả khảo sát một phần nào đó đã góp phần vào tính khả thi của các hoạt động đã thiết kế.
– Mặc dù đối tượng HS còn nhỏ nhưng với kết quả định tính và định lượng có thể hi vọng đây là một tài liệu tham khảo hữu ích trong quá trình dạy học toán lớp 1 theo hướng phát triển năng lực cho HS, đảm bảo mục tiêu chương trình tổng thể 2018.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\GIAO DUC TIEU HOC\VẬN DỤNG LÝ THUYẾT HOẠT ĐỘNG DẠY TOÁN LỚP 1/tranthithientam


