Vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học toán lớp 4 nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề toán học cho học sinh
Ngày 26/12/2018, Bộ Giáo dục – Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục phổ thông [1]. Chương trình này được xây dựng trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo; kế thừa và phát triển những ưu điểm của các chương trình giáo dục phổ thông đã có của Việt Nam, đồng thời tiếp thu thành tựu nghiên cứu về khoa học giáo dục và kinh nghiệm xây dựng chương trình theo mô hình phát triển năng lực của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới. Chương trình được xây dựng gắn với nhu cầu phát triển của đất nước, phù hợp với đặc điểm con người, văn hoá Việt Nam, các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực người học thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức, kĩ năng cơ bản, thiết thực, hiện đại; hài hoà đức, trí, thể, mĩ; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để GQVĐ trong học tập và đời sống.
Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông 2018 là nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế. Trong đó, giáo dục tiểu học nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, năng lực của HS; chuẩn bị cho HS tiếp tục học trung học cơ sở. Trong chương trình giáo dục phổ thông, Toán là môn học bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12. Nội dung giáo dục toán học được phân chia theo hai giai đoạn: Giai đoạn giáo dục cơ bản và Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp.
Ở cấp Tiểu học, môn Toán giúp HS hình thành và phát triển năng lực toán học với các thao tác tư duy ở mức độ đơn giản như nêu và trả lời được câu hỏi khi lập luận, GQVĐ đơn giản, lựa chọn các phép toán và công thức số học để trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) được các nội dung, ý tưởng, cách thức GQVĐ; sử dụng được ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ thông thường, động tác hình thể để biểu đạt các nội dung toán học ở những tình huống đơn giản; sử dụng được các công cụ, phương tiện học toán đơn giản để thực hiện các nhiệm vụ học tập toán đơn giản. Mỗi bài học được xây dựng trên cơ sở các hoạt động của người dạy và người học, thể hiện quan điểm kiến tạo. Mỗi bài học không chỉ mang tính cung cấp thông tin mà được thiết kế dưới dạng chỉ dẫn, hướng dẫn người học tự lĩnh hội kiến thức, tự xây dựng kiến thức cho bản thân. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 thể hiện rõ quan điểm kiến tạo nhằm phát huy năng lực tự học, tự GQVĐ cho HS.
Việc đổi mới chương trình giáo dục phải luôn song hành cùng với sự đổi mới trong cách giáo dục của đội ngũ GV, những người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ các em hình thành và phát triển năng lực toàn diện. Tuy nhiên, vì điều kiện kinh tế, điều kiện vùng miền và vì nhiều lý do khác nữa, người GV chưa có sự nhận thức đúng đắn về quan điểm kiến tạo trong dạy và học môn Toán, dẫn đến việc đổi mới chậm được thực hiện, trong đó có đổi mới về phương pháp dạy – học. Hoạt động dạy – học toán của một số không ít GV còn mang tính cung cấp kiến thức. Dạy học theo lý thuyết kiến tạo sẽ đáp ứng được những nhu cầu mục tiêu, mà chúng ta đưa ra. Khi người GV vận dụng lý thuyết kiến tạo vào dạy học, HS sẽ tích cực hơn trong học tập và tư duy, HS tự mình chiếm lĩnh lấy kiến thức qua đó hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho bản thân.
Để nâng cao chất lượng dạy và học, việc đổi mới phương pháp giảng dạy là việc làm cấp thiết và cần tiến hành đồng bộ. Đổi mới PPDH là yêu cầu GV không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết, nhận thức, theo kịp xu hướng phát triển của giáo dục. Vai trò người GV trong công tác dạy học thể hiện được sự thành công của hoạt động giáo dục. Người GV không chỉ đơn giản là truyền thụ kiến thức mà còn phải là nhân tố giúp HS phát triển năng lực GQVĐ toán học một cách sáng tạo. Việc áp dụng các phương pháp giảng dạy mới đòi hỏi phải có những tài liệu dạy – học mới. Những tài liệu này phải gắn với các phương pháp kiểm tra mới nhằm khuyến khích không chỉ khả năng nhớ mà cả khả năng hiểu, các kỹ năng thực hành và sáng tạo của HS.
Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là “Vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học toán lớp 4 nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề toán học cho học sinh’’.
Nghiên cứu cách thức vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học toán lớp 4 nhằm phát triển năng lực GQVĐ toán học cho HS.
3.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc vận dụng quan điểm kiến tạo vào dạy học toán cho HS lớp 4.
3.2. Nghiên cứu thực trạng của việc vận dụng quan điểm kiến tạo vào dạy học toán cho HS lớp 4.
3.3. Đề xuất một số biện pháp vận dụng vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học toán lớp 4 nhằm phát triển năng lực GQVĐ toán học cho HS.
3.4. Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính hiệu quả của các biện pháp được đề xuất.
Nếu đề xuất được một số biện pháp sư phạm vận dụng lý thuyết kiến tạo vào dạy học toán cho HS lớp 4 một cách khoa học và có tính khả thi sẽ góp phần nâng cao năng lực GQVĐ toán học cho HS lớp 4.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
– Nghiên cứu quan điểm dạy học môn Toán theo lý thuyết kiến tạo.
– Nghiên cứu vận dụng quan điểm dạy học theo lý thuyết kiến tạo trong dạy học phát triển năng lực GQVĐ toán học 4 cho HS.

- Phạm vi nghiên cứu:
Vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học nhằm phát triển năng lực GQVĐ toán học cho HS lớp 4.
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
6.1.1. Phương pháp phân tích – tổng hợp lý thuyết: Thông qua các tài liệu sách, báo, tạp chí và các tài liệu khác để phân tích và tổng hợp lý thuyết liên quan đến đề tài nhằm thu thập thông tin cần thiết.
6.1.2. Phương pháp phân loại – hệ thống hóa lý thuyết: Trên cơ sở phân tích, tập hợp hệ thống hóa lý thuyết cần thiết để làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu và kiểm chứng tính khả thi của các biện pháp được đề xuất.
6.2.1. Phương pháp quan sát
– Quan sát các tiết dạy toán ở lớp 4 tại các trường tiểu học tại quận Sơn Trà và quận Hải Châu – TP.Đà Nẵng
6.2.2. Phương pháp điều tra
– Nghiên cứu thực trạng dạy và học toán lớp 4 ở các trường tiểu học tại quận Sơn Trà và quận Hải Châu – TP.Đà Nẵng hiện nay.
– Nghiên cứu thực trạng vận dụng quan điểm kiến tạo vào dạy học toán cho HS lớp 4 nhằm phát triển năng lực GQVĐ toán học cho các em.
6.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm một số bài dạy theo hướng vận dụng quan điểm kiến tạo vào dạy học toán.
Nhằm kiểm tra tính hiệu quả của một số biện pháp được đề xuất.
6.4. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng công cụ thống kê toán học nhằm xử lý các số liệu thu thập được qua khảo sát đánh giá thực trạng và thực nghiệm đánh giá tính hiệu quả, khả thi của các các biện pháp sư phạm đã đề xuất.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có cấu trúc 5 chương.
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
Chương 3: Khảo sát thực trạng vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học toán cho HS lớp 4.
Chương 4: Một số biện pháp vận dụng lý thuyết kiến tạo nhằm phát triển năng lực GQVĐ toán học cho HS lớp 4 thông qua dạy học toán.
Chương 5: Thực nghiệm sư phạm.
1.1. Lịch sử nghiên cứu trên thế giới
1.2 Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam
1.3 Kết luận chương 1
Đổi mới PPDH đang là vấn đề được chú trọng trong giáo dục hiện nay. Những lý thuyết dạy học tích cực đang từng bước được vận dụng một cách sáng tạo ở các cấp học. Và vấn đề đặt ra là làm sao kích thích tính tích cực, chủ động của người học trong hoạt động dạy và học. Vì thế, cấp học nền tảng như tiểu học cần sớm được triển khai những PPDH mới có như thế HS mới được hình thành những phẩm chất và kỹ năng tích cực trong việc học. Từ đó, làm nền tảng cho quá trình học tập tích cực ở các cấp học cao hơn.
Toán học ở tiểu học là môn học trừu tượng nhưng cũng hết sức thú vị. Việc khai thác và vận dụng tốt các PPDH tích cực sẽ góp phần thúc đẩy hiệu quả học tập môn Toán nói riêng và kích thích việc vận dụng vào dạy học các môn học khác. Lý thuyết kiến tạo được xác định là một PPDH với nhiều ưu điểm nổi bật, phù hợp với yêu cầu dạy học hiện nay. Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này vào dạy học ở tiểu học vẫn còn hết sức khiêm tốn. Nguyên nhân là do GV hiện nay vẫn còn bị ảnh hưởng quá nhiều của lối dạy học truyền thống. Kèm theo đó, trong yêu cầu của PPDH tích cực, GV phải tạo ra được những tình huống dạy học tích cực, thoát khỏi các trình bày khuôn mẫu, hàn lâm của sách giáo khoa – điều này nhiều GV hiện nay còn hạn chế, chưa làm được.
Bản thân là một GV tiểu học, chúng tôi chỉ mong muốn mọi người có cái nhìn sâu sắc hơn về PPDH này cũng như là những kinh nghiệm trong việc tạo ra những hoạt động học tập tích cực cho HS. Vì thế, chúng tôi đã chọn đề tài: “Vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học toán lớp 4 nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề toán học cho HS”.
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm tâm lý học sinh lớp 4
2.1.1 Đặc điểm một số thuộc tính tâm lý của nhân cách học sinh lớp 4
2.1.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 4
2.2 Phân tích nội dung môn toán lớp 4 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018
2.2.1 Mục tiêu dạy học môn toán ở tiểu học
2.2.2 Cơ hội vận dụng lý thuyết kiến tạo vào dạy môn Toán lớp 4 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018
2.3. Năng lực và năng lực toán học
2.3.1 Năng lực
2.3.2 Năng lực toán học
2.3.3.Các thành tố và yêu cầu cần đạt của năng lực toán học
2.3.4. Dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực toán học
2.3.5. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
2.3.6. Năng lực giải quyết vấn đề toán học
2.3.7. Một số phương pháp dạy học toán hỗ trợ nâng cao năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh
2.4. Lý thuyết kiến tạo và dạy học toán theo lý thuyết kiến tạo
2.4.2. Dạy học theo lý thuyết kiến tạo
2.4.3. Luận điểm của dạy học theo lý thuyết kiến tạo
2.4.4 Quy trình dạy học theo lối kiến tạo
2.5. Năng lực giải quyết vấn đề toán học theo con đường kiến tạo
2.5.1. Biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề toán học theo con đường kiến tạo
2.5.2. Vai trò của GV và HS trong quá trình dạy – học theo con đường kiến tạo nhằm nâng cao năng lực giải quyết vấn đề toán học
2.5.3 Thang đo năng lực giải quyết vấn đề toán học theo con đường kiến tạo
2.6 Kết luận chương 2
Trong chương này, chúng tôi đã nghiên cứu và trình bày một số vấn đề về cơ sở lý luận của đề tài, đó là:
+ Tìm hiểu về đặc điểm tâm lý HS lớp 4.
+ Tìm hiểu về nội dung môn Toán lớp 4 theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018.
+ Tìm hiểu về năng lực toán học và năng lực GQVĐ toán học. Thiết kế khung đánh giá năng lực GQVĐ toán học của HS tiểu học dựa trên các thành tố của năng lực GQVĐ toán học.
+ Nêu được một số phương pháp và kỹ thuật dạy học theo định hướng phát triển năng lực GQVĐ theo con đường kiến tạo.
+ Tìm hiểu về lý thuyết kiến tạo, quan điểm, luận điểm và các quy trình dạy học theo lối kiến tạo. Đưa ra được Mô hình quy trình dạy học toán theo con đường kiến tạo.
+ Nêu được biểu hiện của năng lực GQVĐ theo con đường kiến tạo và vai trò của người dạy lẫn người học trong quá trình dạy học theo con đường kiến tạo nhằm nâng cao năng lực GQVĐ toán học.
+ Xây dựng thang đo năng lực GQVĐ theo con đường kiến tạo.
Như vậy, việc vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học toán lớp 4 không những giúp người học phát triển năng lực GQVĐ toán học, mà còn giúp họ hình thành và phát triển kỹ năng GQVĐ, kỹ năng huy động kiến thức, kinh nghiệm cũ để tìm ra giải pháp cho vấn đề mới có liên quan. Giúp người học chủ động, tích cực trong học tập, yêu thích môn học và biết vận dụng trong cuộc sống.
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TOÁN HỌC THEO CON ĐƯỜNG KIẾN TẠO
3.2.1. Phiếu khảo sát dành cho HS
3.2.2. Phiếu khảo sát dành cho GV
3.4.1. Phục lục 1: Phiếu điều tra HS
3.4.2. Phụ lục 2: Bài tập dành cho HS
3.4.3. Phục lục 3: Phiếu điều tra dành cho GV
3.5. Phân tích kết quả khảo sát
Trong chương này, chúng tôi đã tiến hành điều tra về thực trạng dạy học theo con đường kiến tạo và dạy học để phát triển năng lực GQVĐ toán học cho HS lớp 4 qua điều tra 30 GV và 165 HS của hai trường Tiểu học Ngô Gia Tự (quận Sơn Trà, Đà Nẵng) và trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ (quận Hải Châu, Đà Nẵng).
Từ kết quả thu được, chúng tôi nhận thấy việc dạy học phát triển năng lực GQVĐ toán học theo con đường kiến tạo cho HS rất quan trọng, nhưng trên thực tế vẫn còn tồn tại một số khó khăn như sau:
– Về phía HS: năng lực GQVĐ toán học của các em còn nhiều hạn chế, HS ít có cơ hội vận dụng kiến thức, kỹ năng của môn toán vào việc GQVĐ toán học cũng như các vấn đề trong thực tế.
– Về phía GV: + Đa số GV còn lúng túng trong quá trình tổ chức dạy học theo lối kiến tạo; thiếu biện pháp dạy học hiệu quả; thiếu tài liệu hướng dẫn cụ thể.
Đứng trước thực trạng trên, việc nghiên cứu đề ra biện pháp nhằm giúp HS phát triển năng lực GQVĐ toán học theo con đường kiến tạo là rất cần thiết. Từ những kết quả thu được qua khảo sát, chúng tôi sẽ đề ra những biện pháp phù hợp để khắc phục những hạn chế, khó khăn mà HS và GV đang gặp phải trong quá trình dạy học phát triển năng lực GQVĐ toán học thì con đường kiến tạo.
MỘT SỐ BIỆN PHÁP VẬN DỤNG LÝ THUYẾT KIẾN TẠO NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TOÁN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 4
4.1.1. Kết hợp học toán với giáo dục
4.1.2. Đảm bảo tính thực tiễn và vừa sức
4.1.3. Đảm bảo tính hệ thống và tính vững chắc
4.2. Một số biện pháp vận dụng
4.2.1. Biện pháp 1: Sử dụng các công cụ, phương tiện học toán để kiến tạo một số khái niệm hình học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề toán học cho học sinh theo con đường kiến tạo
4.2.2. Biện pháp 2: Tổ chức dạy học khái niệm theo con đường kiến tạo nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề toán học cho học sinh
4.2.3. Biện pháp 3: Tổ chức dạy học quy tắc, tính chất theo con đường kiến tạo nhằm phát triển năng lực GQVĐ toán học cho HS
4.2.4. Biện pháp 4: Tổ chức cho học sinh kiến tạo trong giải toán có lời văn nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề toán học
4.2.5. Biện pháp 5: Rèn luyện năng lực tư duy thuận – nghịch qua hoạt động giải toán có lời văn nhằm nâng cao năng lực giải quyết vấn đề toán học cho HS
Dựa trên những nghiên cứu về cơ sở lý luận ở chương 2 và kết quả khảo sát ở chương 3 về dạy học phát triển năng lực GQVĐ toán học theo con đường kiến tạo của HS lớp 4, ở chương này, chúng tôi đã đưa ra một số biện pháp sư phạm như sau:
– Biện pháp 1: Sử dụng các công cụ, phương tiện học toán để kiến tạo một số khái niệm hình học nhằm phát triển năng lực GQVĐ toán học cho HS theo con đường kiến tạo.
– Biện pháp 2: Tổ chức dạy học khái niệm theo con đường kiến tạo nhằm phát triển năng lực GQVĐ toán học cho HS
– Biện pháp 3: Tổ chức dạy học quy tắc, tính chất theo con đường kiến tạo nhằm phát triển năng lực GQVĐ toán học cho HS.
– Biện pháp 4: Tổ chức cho HS kiến tạo trong giải toán có lời văn nhằm phát triển năng lực GQVĐ toán học.
– Biện pháp 5: Rèn luyện năng lực tư duy thuận – nghịch qua hoạt động giải toán có lời văn nhằm nâng cao năng lực GQVĐ toán học cho HS.
Ở mỗi biện pháp, chúng tôi đều nêu ra mục đích, cơ sở khoa học của biện pháp, nội dung và cách thực hiện biện pháp. Để biết được tính khả thi của biện pháp, ở chương 5, chúng tôi sẽ tiến hành thực nghiệm sư phạm.
5.2.1. Kế hoạch dạy học thực nghiệm 1: Hình thoi (Phụ lục 4)
5.2.2. Kế hoạch dạy học thực nghiệm 2: Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó (Phụ lục 5)
5.2.3. Bài tập thực nghiệm (Phụ lục 6)
5.2.4. Bài tập kiểm tra đánh giá sau thực nghiệm (Phụ lục 7)
5.3.3. Phương pháp tiến hành thực nghiệm
5.4.1. Phân tích tiên nghiệm qua kế hoạch dạy học thực nghiệm (phụ lục 4 và phụ lục 5)
5.4.2. Phân tích tiên nghiệm qua Bài tập thực nghiệm (phụ lục 6)
5.4.3. Phân tích tiên nghiệm qua Đề kiểm tra đánh giá năng lực (phụ lục 7)
5.5. Phân tích kết quả sau khi thực nghiệm
5.5.1. Đánh giá ban đầu về thực nghiệm
Về nội dung: HS học được cách vận dụng biện pháp 1 để nâng cao kỹ năng sử dụng các công cụ, phương tiện toán học để hình thành một số khái niệm hình học theo con đường kiến tạo. Khi gặp bài toán cần đo góc hay vẽ hình, các em thường biết sử dụng ê ke thay vì chỉ sử dụng thước thẳng như trước kia. Năng lực GQVĐ toán học cũng được phát triển và phát huy tốt qua các bài học ứng dụng của biện pháp 2, 3 và 4 khi học về khái niệm, tính chất, quy tắc trong dạy học toán. Ngoài ra với biện pháp 5, HS được nâng cao khả năng ngôn ngữ, năng lực tư duy ngược trong giải toán có lời văn.
Về PPDH: Kế hoạch dạy học và bài tập thực nghiệm được biên soạn theo hướng phát triển năng lực GQVĐ toán học theo con đường kiến tạo, đảm bảo nguyên tắc HS tự phát hiện vấn đề và tìm ra cách GQVĐ dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV. Từ đó phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động trong học tập; phát triển năng lực tự học, sáng tạo của HS.
Qua quá trình thực nghiệm, chúng tôi nhận thấy rằng:
– Kế hoạch dạy học thực nghiệm phù hợp với tâm lý của HS lớp 4, gây hứng thú và thoải mái trong quá trình học tập. Kế hoạch dạy học thực nghiệm tập trung vào hoạt động khởi động và khám phá, giúp HS rèn luyện và phát huy năng lực GQVĐ theo con đường kiến tạo. Qua các hoạt động, các em biết cách nhận diện vấn đề và tìm ra giải pháp hợp lý; biết kiểm nghiệm giải pháp và khái quát hóa vấn đề tương tự.
– Trong quá trình dạy học thực nghiệm, không khí lớp học rất hứng khởi và lan tỏa cho tất cả các đối tượng. Các hoạt động dạy học được thiết kế dưới dạng tình huống có vấn đề, kích thích nhu cầu tìm hiểu, khám phá của từng cá nhân HS.
– Thay vì chỉ ngồi đợi GV giảng giải bài toán, cung cấp kiến thức, HS biết tự đọc bài trước, biết nêu được vấn đề thành câu hỏi, bản thân tự tham gia thảo luận, mạnh dạn nêu ý kiến trước nhóm hoặc trước lớp.
– Qua quan sát hoạt động nhóm cũng như hoạt động cá nhân trong các tiết học thực nghiệm và các tiết học thực hành luyện tập ở lớp thực nghiệm, chúng tôi thấy rõ được quá trình tiến bộ về năng lực GQVĐ toán học của các em:
+ Nhóm đối tượng đạt mức cần cố gắng (trong bài tập trước thực nghiệm) là có sự tiến bộ rõ ràng so với học kỳ I: Các em bước đầu mạnh dạn tham gia vào các hoạt động GQVĐ mà GV đề ra, năng lực tư duy cũng như năng lực phát triển ngôn ngữ toán học cũng có nhiều tiến bộ.
+ Nhóm đối tượng ở mức đạt cũng có nhiều tiến bộ trong học phát hiện và GQVĐ toán học. Các em mạnh dạn trao đổi, tự tin trình bày phát hiện cũng như các cách giải quyết vấn đề, dù đúng dù chưa chính xác. Đa số các em nắm bắt được các cách thức GQVĐ như quy lạ thành quen, tìm ra vấn đề từ những kiến thức cũ có liên quan.
+ Nhóm đối tượng đạt mức tốt là nhóm đối tượng HS có nhiều tiến bộ nhất, thời gian để phát hiện ra vấn đề và đưa ra các cách giải quyết dần dần rút ngắn theo tiến độ bài học. Các em tự tin, mạnh dạn và là nhóm đối tượng dẫn dắt nhóm, đội của mình đi đến kết quả. Ngoài ra các em còn biết giúp đỡ, hướng dẫn các bạn chậm hơn cùng tiến bộ.
– Các em nhận thức được khi giải một bài toán không chỉ là tìm ra đáp số mà còn phải biết tìm ra cách giải ngắn gọn nhất và từ đó khái quát hóa cho các bài toán tương tự. Do vậy, khi gặp lại các bài toán tương tự, khả năng phát hiện và GQVĐ của các em được phát huy nhanh chóng và chính xác, rút ngắn thời gian cho những bài toán quen thuộc.
– Qua việc giải các bài tập thực nghiệm, các em không còn cảm thấy sợ phải tóm tắt đề toán bằng sơ đồ nữa. Ngoài ra qua việc đặt đề toán cho nhiều kiểu bài khác nhau, khả năng tư duy ngôn ngữ của HS cũng được cải thiện rõ rệt. Các em đến gần với các bài toán, các dạng toán cũng như biết đưa các bài toán vào thực tiễn.
– Về phía GV, các GV ở lớp thực nghiệm cũng như một số GV đang giảng dạy lớp 4 khác được chúng tôi chia sẻ các phương pháp, kỹ thuật dạy học ứng dụng các biện pháp đề ra ở luận văn này, ý kiến thu nhận được là các biện pháp giúp GV hiểu rõ hơn con đường dạy học môn toán theo lý thuyết kiến tạo cũng như con đường phát triển, nâng cao năng lực GQVĐ toán học cho học sinh lớp 4. GV hiểu rõ và thống nhất được tầm quan trọng cũng như tính cấp thiết của vấn đề dạy học phát hiện và GQVĐ theo con đường kiến tạo.
– GV ở lớp thực nghiệm cũng chia sẻ nhiều kết quả khả quan về sự tiến bộ của HS trong lớp không chỉ về mặt định lượng. Sự tìm tòi, nghiên cứu phương pháp kỹ thuật mới nhằm áp dụng các biện pháp sư phạm trong dạy học cũng như trong học tập của cả cô và trò trong lớp làm cho tiết học sôi nổi, hứng thú hẳn lên. Quá trình này cũng giúp GV đúc kết được nhiều kinh nghiệm và nâng cao kỹ năng dạy học của bản thân.
Như vậy có thể nói rằng, các biện pháp mà chúng tôi đề xuất được vận dụng phù hợp với quá trình học tập của HS lớp 4. Các biện pháp này không những tăng hứng thú trong học tập mà còn giúp các em phát triển năng lực GQVĐ trong học tập cũng như trong cuộc sống.
5.5.3. Phân tích định lượng
a) Về kết quả chung:
Nhận xét:
Qua bảng thống kê và biểu đồ so sánh kết quả bài kiểm tra sau thực nghiệm của hai lớp đối chứng và lớp thực nghiệm, chúng tôi nhận thấy rằng:
– Số lượng HS đạt điểm 8; 9 và 10 ở nhóm lớp thực nghiệm cao hơn hẳn so với nhóm lớp đối chứng, ngược lại, số HS đạt điểm 7; 6; 5 và dưới 5 ở nhóm thực nghiệm thấp hơn.
– Điểm trung bình của nhóm đối chứng thấp hơn nhóm thực nghiệm (Điểm trung bình của nhóm đối chứng là 7,1 còn nhóm thực nghiệm là 8,4)
Vậy có thể kết luận: chất lượng nắm vững kiến thức, khả năng GQVĐ và vận dụng vào giải toán của HS ở nhóm lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng.
b) Về mức độ phát triển năng lực GQVĐ toán học theo con đường kiến tạo
Nhận xét:
Qua bảng thống kê và biểu đồ so sánh mức phát triển năng lực GQVĐ toán học theo con đường kiến tạo sau thực nghiệm của hai nhóm, chúng tôi nhận thấy:
– HS ở nhóm lớp thực nghiệm có mức phát triển năng lực GQVĐ toán học cao hơn HS nhóm lớp đối chứng, số lượng HS đạt mức 3 cao hơn hẳn lớp đối chứng.
– Qua quan sát thực tế học tập trên lớp, khả năng phát hiện và GQVĐ của HS ở nhóm lớp thực nghiệm cũng nhanh nhạy hơn so với HS ở nhóm lớp đối chứng.
c) Về mặt hứng thú học tập của HS
Thông qua quan sát các tiết dạy thực nghiệm và trao đổi cùng với các GV hai lớp đối chứng và thực nghiệm, chúng tôi nhận thấy việc áp dụng các biện pháp sư phạm đã mang lại một số kết quả nhất định:
– Trong quá trình học tập HS đã tích cực suy nghĩ, hứng thú học tập, phát hiện và GQVĐ, tích cực tham gia phát biểu ý kiến làm cho lớp học sôi nổi hẳn lên.
– Các em nắm được và nhớ lâu hơn kiến thức mới, biết vận dụng vào giải toán. Các em không còn ngại ngần trong việc tóm tắt đề toán, biết dành thời gian phân tích đề bài, phát hiện và GQVĐ trước khi bắt tay vào giải.
– Hơn nữa, năng lực tư duy ngôn ngữ của các em cũng được cải thiện khá nhiều. Rất nhiều HS biết đặt đề toán hay, không những hợp lý mà còn gần gũi với cuộc sống của các em. Những HS có tính rụt rè, thiếu tự tin trong học tập cũng có nhiều tiến bộ. Các em mạnh dạn đặt đề toán, biết học tập bạn để sửa chữa bài và cùng nhau tiến bộ.
– Thông qua các hoạt động, HS cảm thấy thích thú hơn với việc học tập theo phương pháp phát hiện và GQVĐ, khơi dậy khả năng tiềm ẩn của mỗi cá nhân, đồng thời cũng giúp HS thêm yêu thích môn Toán.
Ở chương 5, chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm các kế hoạch dạy học và bài tập thực nghiệm nhằm kiểm chứng tính khả thi của 5 biện pháp sư phạm đã đề ra ở chương 4 của luận văn này.
Thời gian thực nghiệm kéo dài 2 tháng tại trường Tiểu học Ngô Gia Tự (Quận Sơn Trà) và trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ (Quận Hải Châu), trên 165 HS, trong đó có 82 HS thuộc nhóm lớp thực nghiệm và 82 HS thuộc nhóm lớp đối chứng.
Sau thời gian thực nghiệm sư phạm, chúng tôi thiết kế đề kiểm tra có dụng ý sư phạm để kiểm tra năng lực GQVĐ toán học theo con đường kiến tạo. Khi thống kê kết quả thực nghiệm, chúng tôi đã đi đến kết luận ban đầu về các biện pháp sư phạm đã đề ra: nếu vận dụng một cách hợp lý vào quá trình dạy học môn Toán sẽ góp phần nâng cao năng lực GQVĐ toán học theo con đường kiến tạo cho HS lớp 4.
Nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã thu được các kết quả chính sau đây:
– Nghiên cứu sự phù hợp của đặc điểm tâm lý học của HS lớp 4 với việc học tập theo lý thuyết kiến tạo.
– Phân tích đặc điểm môn Toán lớp 4 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018.
– Làm rõ cơ sở lý luận liên quan đến các khái niệm về Năng lực, Năng lực GQVĐ toán học của HS tiểu học.
– Thiết kế khung đánh giá năng lực GQVĐ toán học của HS tiểu học dựa trên các thành tố của năng lực GQVĐ toán học.
– Tìm hiểu về lý thuyết kiến tạo, quan điểm, luận điểm và các quy trình dạy học theo lối kiến tạo. Đưa ra được Mô hình quy trình dạy học toán theo con đường kiến tạo.
– Nêu được biểu hiện của năng lực GQVĐ theo con đường kiến tạo và vai trò của người dạy lẫn người học trong quá trình dạy học theo con đường kiến tạo nhằm nâng cao năng lực GQVĐ toán học. Xây dựng thang đo năng lực GQVĐ theo con đường kiến tạo.
– Luận văn đã phần nào làm sáng tỏ thực trạng về việc dạy và học năng lực GQVĐ toán học theo con đường kiến tạo thông qua phiếu khảo sát, điều tra và bài tập.
– Trên cơ sở khảo sát đó, chúng tôi đã đề xuất được 5 biện pháp sư phạm, vận dụng vào quá trình dạy học toán lớp 4 nhằm nâng cao năng lực GQVĐ toán học cho HS lớp 4 theo con đường kiến tạo.
+ Biện pháp 1: Sử dụng các công cụ, phương tiện học toán để kiến tạo một số khái niệm hình học nhằm phát triển năng lực GQVĐ toán học cho HS theo con đường kiến tạo.
+ Biện pháp 2: Tổ chức dạy học khái niệm theo con đường kiến tạo nhằm phát triển năng lực GQVĐ toán học cho HS
+ Biện pháp 3: Tổ chức dạy học quy tắc, tính chất theo con đường kiến tạo nhằm phát triển năng lực GQVĐ toán học cho HS.
+ Biện pháp 4: Tổ chức cho HS kiến tạo trong giải toán có lời văn nhằm phát triển năng lực GQVĐ toán học.
+ Biện pháp 5: Rèn luyện năng lực tư duy thuận – nghịch qua hoạt động giải toán có lời văn nhằm nâng cao năng lực GQVĐ toán học cho HS.
– Tổ chức thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.
– Kết quả thực nghiệm sư phạm là một minh họa, xác nhận tính khả thi của các biện pháp đã được đề xuất về dạy học theo con đường kiến tạo nhằm phát triển năng lực GQVĐ cho HS lớp 4.
– Kết luận của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho GV Tiểu học trong quá trình dạy học toán, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học ở trong trường tiểu học.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\GIAO DUC TIEU HOC\VẬN DỤNG LÝ THUYẾT KIẾN TẠO TRONG DẠY HỌC TOÁN LỚP 4\SAU BAO VE\TOM TAT


