Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động khai thác nước suối phục vụ du lịch đến sự phong phú và đa dạng thành phần loài lưỡng cư bò sát tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Phát triển du lịch ngày nay mang lại lợi ích rất lớn cho quốc gia, địa phương và người dân xung quanh khu du lịch. Du lịch ngày càng có vai trò quan trọng tại Việt Nam. Với tiềm năng lớn, từ năm 2001, du lịch Việt Nam đã được Chính phủ quy hoạch, định hướng để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Riêng thành phố Đà Nẵng, tốc độ tăng trưởng về khách du lịch bình quân hàng năm giai đoạn 2006 – 2010 là 22% (tăng 8% so với kế hoạch đề ra). Đà Nẵng có vị trí thuận lợi để phát triển loại hình du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng. Loại hình du lịch này chủ yếu tập trung ở nơi có điều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi cho việc nghỉ ngơi, thư dãn. Thành phố đã đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, các công trình để phục vụ cho dân sinh và tạo thuận lợi cho phát triển du lịch như: đường du lịch ven biển Hoàng Sa, Trường Sa, đường lên đỉnh Sơn Trà (DRT), đường lên Khu du lịch Bà Nà – Suối Mơ (đường ĐT 602) với hàng loạt sản phẩm du lịch mới có sức hấp dẫn và thu hút khách du lịch phải kể đến đó là: KDL sinh thái bán đảo Sơn Trà, điểm du lịch văn hóa tâm linh chùa Linh Ứng, KDL Bà Nà (Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng, 2012).
Bên những lợi ích kinh tế, hoạt động du lịch đã gây ra một số tác động tiêu cực ở các mức độ khác nhau đến hệ sinh thái, môi trường. Bán đảo Sơn Trà từ khi được hình thành đi vào hoạt động du lịch cho đến nay đã và đang tác động đến các hệ sinh thái tại đây (Liên, 2014). Bán đảo Sơn Trà với những cánh rừng nguyên sinh và dưới chân là những bãi cát, vịnh nhỏ rất thích hợp để xây dựng các khu du lịch độc lập, kín đáo. Hiện nay, toàn bộ bán đảo Sơn Trà có 6 bãi, vịnh; tất cả đã được xây dựng các nhà hàng, resort phục vụ du khách. Các nhà hàng, quán ăn tập trung theo 02 tuyến chính là tuyến núi và tuyến biển, các hộ kinh doanh ở đây chủ yếu khai thác nguồn nước tại các con suối để phục vụ cho hoạt động kinh doanh du lịch (Trung tâm kĩ thuật môi trường thành phố Đà Nẵng, 2012).
Bán đảo Sơn Trà phần lớn là rừng thứ sinh với hơn 20 con suối lớn nhỏ, là môi trường sống rất thuận lợi cho các loài lưỡng cư và bò sát (Hoa, 2014). Theo các kết quả nghiên cứu, Sơn Trà có hệ lưỡng cư, bò sát rất đa dạng và phong phú. Đã ghi nhận được 70 loài trong đó bao gồm 18 loài lưỡng cư và 52 loài bò sát, 9 loài được liệt kê trong Danh lục Đỏ IUCN (2012), 15 loài trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), 8 loài trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ, 12 loài trong Công ước quốc tế về Buôn bán động, thực vật hoang dã (CITES 2003) (Hoa, 2014). Việc khai thác nguồn nước từ các con suối tại bán đảo Sơn Trà sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lưu lượng nước tại các con suối, là môi trường sống cần thiết và không thể thiếu trong vòng đời của các loài lưỡng cư, bò sát. Đặc biệt, trong mùa khô, việc khai thác nước suối có thể làm mất môi trường sống, gây suy giảm số lượng hay có thể dẫn đến tuyệt chủng một số loài lưỡng cư, bò sát tại bán đảo Sơn Trà.
Do đó, cần có những đánh giá cụ thể về các tác động của hoạt động khai thác nước suối phục vụ du lịch tới các loài lưỡng cư, bò sát nhằm đưa ra các biện pháp hiệu quả để giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học các loài lưỡng cư, bò sát tại bán đảo Sơn Trà.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động khai thác nước suối phục vụ du lịch đến sự phong phú và đa dạng thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng”.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu tổng quát
Góp phần bảo tồn đa dạng sinh học các loài lưỡng cư, bò sát tại KBTTN Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
2.2. Mục tiêu cụ thể
– Xác định được hiện trạng khai thác nguồn nước suối phục vụ cho hoạt động kinh doanh du lịch tại bán đảo Sơn Trà.
– Xác định được hiện trạng lưu lượng nước trên các con suối tại khu vực có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch và khu vực không có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch.
– Xác định được sự phong phú và đa dạng thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại khu vực có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch và khu vực không có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch.
– Đánh giá được ảnh hưởng của lưu lượng nước đến sự phong phú và đa dạng thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại khu vực nghiên cứu.
– Đề xuất được giải pháp hạn chế tác động của hoạt động khai thác nguồn nước suối phục vụ du lịch tại bán đảo Sơn Trà.
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Các loài lưỡng cư, bò sát
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng.
3.3. Thời gian nghiên cứu: Tháng 06 – 11/2015.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu gồm:
– Phương pháp hồi cứu thông tin, số liệu từ các nghiên cứu trước.
– Phương pháp phỏng vấn trong cộng đồng.
– Phương pháp khảo sát tuyến trên thực địa.
– Tham khảo ý kiến chuyên gia.
– Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê sinh học
5. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm các phần chính sau:
Mở đầu
Chương 1. Tổng quan tài liệu
Chương 2. Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu.
Chương 3. Kết quả và bàn luận
Kết luận và kiến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo

1. 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM
1.2.1. Sự đa dạng và tính mềm dẻo của bò sát, lưỡng cư Việt Nam
1.2.2. Lịch sử nghiên cứu đa dạng hệ lưỡng cư, bò sát tại Việt Nam
1.2.3. Tổng quan về du lịch và những nghiên cứu về khu hệ lưỡng cư, bò sát ở bán đảo Sơn Trà
1.2.3.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu khu hệ lưỡng cư, bò sát ở Bán đảo Sơn Trà
Những nghiên cứu về khu hệ lưỡng cư, bò sát tại đây chưa nhiều (Hoa và cộng sự, 2014). Trong Danh lục lưỡng cư, bò sát của Nguyen et al., 2009 ghi nhận có 4 loài lưỡng cư và 19 loài bò sát. Nghiên cứu của Đinh Thị Phương Anh và cs. (2000, 2009) thống kê được 12 loài lưỡng cư và 38 loài bò sát.
Theo Bảo (2010), Kết quả điều tra khu hệ Bò sát – Lưỡng cư ở Khu BTTN Sơn Trà có 34 loài lưỡng cư và bò sát thuộc 12 họ, 3 bộ, trong đó Bò sát có 24 loài thuộc 8 họ, 2 bộ và Lưỡng cư có 10 loài thuộc 4 họ, 1 bộ. Đặc biệt, khu BTTN Sơn Trà đã ghi nhận được loài Thằn lằn giải bốn vạch (Cyrtodactylus pseudoquadrivirgatus) – một loài mới cho khoa học thuộc họ Tắc Kè (Gekkonidae), lần đầu tiên thu được mẫu ở vùng A Lưới tỉnh Thừa Thiên Huế, công bố vào năm 2008.
Gần đây nhất, điều tra khu hệ lưỡng cư, bò sát từ tháng 2/2012 đến tháng 10/2013 tại KBTTN Sơn Trà, Phan Thị Hoa và cộng sự đã ghi nhận được 70 loài trong đó bao gồm 18 loài lưỡng cư (thuộc 6 họ, 1 bộ) và 52 loài bò sát (thuộc 13 họ, 2 bộ). Trong đó, 9 loài được liệt kê trong Danh lục Đỏ IUCN (2013), 15 loài trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), 8 loài trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ, 12 loài trong Công ước CITES. So với các kết quả công bố trước đây, nghiên cứu này đã bổ sung cho KBTTN Sơn Trà 30 loài, cho thành phố Đà Nẵng 13 loài lưỡng cư và bò sát. Nghiên cứu sự phân bố của các loài lưỡng cư, bò sát trên 4 sinh cảnh chính tại khu vực nghiên cứu cho thấy sinh cảnh rừng thứ sinh có số loài lưỡng cư, bò sát nhiều nhất với 16 loài lưỡng cư (chiếm 88,9%) và 33 loài bò sát (chiếm 63,5%) – vì sinh cảnh rừng thứ sinh với hơn 20 con suối lớn nhỏ, là môi trường sống rất thuận lợi cho các loài lưỡng cư và bò sát (Hoa, 2014)
1.2.3.2. Tổng quan những nghiên cứu phát triển du lịch ở bán đảo Sơn Trà
Bán đảo Sơn Trà là khu hệ sinh thái đặc trưng, có giá trị đặc biệt về an ninh quốc phòng, sinh thái, du lịch và xã hội. Thành phố Đà Nẵng đã định hướng quy hoạch bán đảo Sơn Trà thành một công viên quốc gia, khai thác môi trường tự nhiên của bán đảo Sơn Trà thành một địa điểm tuyệt vời cho giải trí và du lịch sinh thái.
Trong các năm qua đã có nhiều nghiên cứu hướng dẫn quản lý các vườn quốc gia, khu bảo tồn nhằm giúp các nhà quản lý hoạch định kế hoạch quản lý tốt hơn, hướng dẫn quản lý và hoạch định du lịch sinh thái hiệu quả. Các nghiên cứu phải kể đến là của tổ chức IUCN về “Hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch và quản lý” đã cung cấp nền tảng, cũng như những hiểu biết về kế hoạch và quản lý hoạt động du lịch đang diễn ra ở các nước đang phát triển loại hình du lịch sinh thái.
Năm 2003, Sở Văn hóa và Du lịch TP Đà Nẵng đã có báo cáo: Nghiên cứu phát triển các loại hình và hoạt động dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Đề tài đã nghiên cứu và phát triển các loại hình sản phẩm và hoạt động dịch vụ du lịch trên địa bàn TP Đà Nẵng trong giai đoạn 2003 – 2010. Cụ thể, đề tài đã nghiên cứu các sản phẩm du lịch, các hoạt động dịch vụ du lịch của TP Đà Nẵng trong mối liên hệ tác động với môi trường trên cơ sở đó, nghiên cứu và đề xuất hệ thống các giải pháp phát triển các sản phẩm và hoạt động dịch vụ du lịch Đà Nẵng (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP Đà Nẵng, 2003)
Ngoài ra, nhiều nghiên cứu đã đề cập đến du lịch Đà Nẵng trong thời gian qua. Tác giả Lê Đức Viên (2008), đã triển khai đề tài: “Chiến lược phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng đến 2015”. Tác giả đã hệ thống hóa về mặt lý luận những nội dung liên quan đến du lịch và chiến lược phát triển du lịch, phân tích thực trạng phát triển của du lịch Đà Nẵng trong giai đoạn 2001 – 2007, đồng thời đề xuất chiến lược phát triển du lịch của TP Đà Nẵng đến 2015.
Tác giả Cao Cẩm Hương (2008) đã triển khai đề tài: “Phát triển loại hình du lịch MICE trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” và đã làm rõ các vấn đề liên quan đến loại hình du lịch. Đề tài đã tổng hợp một khối lượng lớn thông tin, dữ liệu lớn liên quan đến hoạt động kinh doanh du lịch nói chung và du lịch nói riêng và đưa ra các phương hướng, giải pháp phát triển du lịch tại TP Đà Nẵng.
Năm 2012, Ban quản lí bán đảo Sơn Trà đã triển khai nghiên cứu đề tài “Xây dựng khung chương trình, nội dung, mô hình du lịch sinh thái trên cạn và dưới nước và xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng gắn với môi trường tự nhiên tại bán đảo Sơn Trà”. Bên cạnh đó cũng đã nghiên cứu “Xây dựng mô hình du lịch sinh thái ngắm Voọc Chà vá chân nâu ở KBTTN Sơn Trà”. Các nghiên cứu này đã góp phần phát triển thu hút khách du lịch đến với bán đảo Sơn Trà nói riêng và TP Đà Nẵng nói chung (Ban quản lí bán đảo Sơn Trà, 2012a), (Ban quản lí bán đảo Sơn Trà, 2012b). Các tour, tuyến du lịch trên cạn bán đảo Sơn Trà: Tour vòng quanh bán đảo Sơn Trà, Tuyến trekking xuyên rừng, Các tuyến du lịch ngắm Voọc Chà vá Chân nâu tại KBTTN Sơn Trà, các tuyến ngắm Voọc: tuyến “Không gian xanh”, tuyến “Tiên Sa – đỉnh Bàn Cờ”. Quy hoạch không gian phát triển du lịch tại bán đảo Sơn Trà theo các phân khu tài nguyên trên cạn cụ thể như sau:
- Khu vực tuyến Suối Ôm: 14 ha. Thuộc tiểu khu 63
- Khu vực tuyến Không gian xanh: 56,12 ha. Thuộc tiểu khu 63
- Khu vực Rừng dâu 11 ha. Thuộc tiểu khu 63
- Khu vực Đồi sim: 2 ha. Thuộc tiểu khu 62
- Khu vực tuyến Hố sâu: 8,6 ha. Thuộc tiểu khu 63
Các nghiên cứu này góp phần làm cho phát triển du lịch ngày càng hoàn thiện hơn, dần đi sâu vào lĩnh vực chuyên môn và giải quyết được một số vấn đề đặt ra. Tuy nhiên, những nghiên cứu này chưa đi sâu vào tập trung nghiên cứu các hoạt động du lịch tác động lên hệ sinh thái.
Vì vậy, nghiên cứu đánh giá tác động của hoạt động du lịch đến hệ sinh thái trên cạn, đặc biệt là đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác nước suối phục vụ du lịch đến sư phong phú và đa dạng thành phần loài lưỡng cư, bò sát ở bán đảo Sơn Trà góp phần đề xuất các giải pháp quản lý bảo vệ và phát triển bền vững hệ sinh thái này.
1.3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA BÁN ĐẢO SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loài lưỡng cư, bò sát tại bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
2.2. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện từ tháng 6/2015 đến tháng 11/2015.
Bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
2.3.1. Phương pháp hồi cứu thông tin, số liệu từ các nghiên cứu trước
Phương pháp này được sử dụng để thu thập thông tin trong các tài liệu có sẵn để hoàn thiện phần tổng quan và phần cơ sở lý luận cho đề tài
Thu thập các thông tin, số liệu từ sách báo, internet, bản đồ (bản đồ hiện trạng, bản đồ phân bố tài nguyên, bản đồ du lịch), cũng như các dữ liệu về lịch sử hình thành, điều kiện tự nhiên và xã hội, vị trí địa lí, khí hậu thủy văn, địa hình, đa dạng sinh học các loài lưỡng cư, bò sát, hoạt động phát triển du lịch tại bán đảo Sơn Trà.
2.3.2. Phương pháp phỏng vấn trong cộng đồng
– Phỏng vấn không sử dụng bảng câu hỏi: Đối tượng phỏng vấn là các cán bộ tại Ban quản lý bán đảo Sơn Trà. Thu thập thông tin về tình hình thực tế hiện nay ở bán đảo Sơn Trà: Hiện trạng hoạt động du lịch; số lượng các quán ăn, nhà hàng; nguồn nước được sử dụng trong hoạt động của các quán ăn, nhà hàng tại bán đảo Sơn Trà hiện nay.
– Sử dụng bảng câu hỏi: Đây là phương pháp chính được áp dụng để thu thập các thông tin, số liệu cần thiết cho việc nghiên cứu tình hình khai thác nguồn nước suối của các hộ kinh doanh tại bán đảo Sơn Trà. Tiến hành đi thực địa, phỏng vấn chủ nhà hàng hoặc nhân viên đang làm việc tại nhà hàng, quán ăn tại bán đảo Sơn Trà.
2.3.3. Phương pháp khảo sát tuyến trên thực địa.
– Phương pháp này được sử dụng với mục đích điều tra về lưu lượng nước tại các con suối; điều tra sự phong phú và đa dạng thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại khu vực các con suối nghiên cứu.
– Chúng tôi tiến hành khảo sát tại 02 khu vực nghiên cứu: Khu vực có hoạt động khai thác nước suối phục vụ du lịch, gồm suối 19 và suối Rạng; Khu vực không có hoạt động khai thác nước suối phục vụ du lịch, suối Ôm, suối sâu 03, suối sâu 04, suối sâu 06.
2.3.3.1. Điều tra về lưu lượng nước tại các con suối
Điều tra theo lộ trình đã xác định dọc hai bên bờ suối và tuyến vuông góc với con suối để quan sát, mô tả, chụp ảnh theo tuyến nghiên cứu.
– Đo độ sâu: Độ sâu ký hiệu là h, đo bằng đơn vị m, khoảng cách từ mặt thoáng nước tới đáy sông theo chiều thẳng đứng.
+ Dụng cụ: Thước đo độ sâu là thước dây. Thước đo chỉ dùng trong trường hợp độ sâu điểm đo không vượt quá 02m. Đo bằng thước thường rất chính xác, dễ sử dụng.
+ Phương pháp: Đo sâu theo mặt cắt ngang. Chọn mặt cắt ngang và xác định điểm đo trên mặt cắt: Số lượng mặt cắt và số điểm đo trên mặt cắt sẽ quy định độ chính xác của số liệu. Số điểm đo sâu trên mỗi mặt cắt ngang phụ thuộc vào chiều rộng B của suối và địa hình đáy (ghồ ghề, bằng phẳng) mà bố trí cho hợp lý.
Dùng phương pháp căng dây để xác định điểm đo trên mặt cắt. Tại mỗi mặt cắt, chúng tôi tiến hành đo sâu 5 điểm (Hình 2.2)
Với h < 3m cho phép sai số là ± 2 cm
b1
b2
b3
b4
b5
b6
h1
h2
h3
h4
h5
Hình 2.1: Sơ đồ tính diện tích mặt cắt ngang và xác định các điểm đo
Diện tích mặt cắt ngang: W = W1 + W2 + W3+ W4 + W5
W = ½ [h1b1 + (h1+h2)b2 + (h2+h3)b3 + (h3+h4)b4 + h4b5]
– Đo độ rộng suối:
+ Độ rộng suối hay độ rộng mặt nước: Là khoảng cách từ mép bờ nước này tới mép bờ nước kia. Xác định chiều rộng suối bằng phương pháp căng dây. Dụng cụ sử dụng là thước dây.
– Đo lưu lượng nước: Sử dụng phương pháp thể tích: Đo trực tiếp dựa trên việc đo thể tích bằng các dụng cụ đo đặt dưới dòng nước, đồng thời đo cả thời gian lúc đầy dụng cụ chứa. Lưu lượng là tỷ số giữa thể tích và thời gian đo. Phương pháp này có độ chính xác cao.
Q = V/t với V – thể tích chứa trong dụng cụ đo, t – thời gian đo
Tiến hành đo lưu lượng, đo độ rộng và độ sâu của mỗi con suối tại 05 vị trí, mỗi vị trí cách nhau với khoảng cách dao động 50 – 70m, tùy địa hình dòng chảy. Vị trí 01 là vị trí có nước thấp nhất của mỗi suối.
2.3.3.2. Điều tra sự phong phú và đa dạng thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại khu vực các con suối nghiên cứu
– Thời gian, địa điểm nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành khảo sát từ tháng 7/2015 đến tháng 10/2015 chia làm 06 đợt, mỗi đợt 02 ngày tại 06 tuyến nghiên cứu, trong đó có 02 tuyến tại khu vực có khai thác nước suối phục vụ du lịch (Suối 19 và suối Rạng ) và 04 tuyến nghiên cứu tại khu vực không có khai thác nước suối phục vụ du lịch (suối Ôm, suối sâu 03, suối sâu 04, suối sâu 06).
– Phương pháp nghiên cứu: Mẫu vật được thu thập bằng tay, vợt. Tiến hành quan sát 02 bên bờ suối, đếm, ghi chép số liệu và chụp hình các loài lưỡng cư, bò sát. Thời gian thu thập số liệu vào ban ngày: từ 9h00 đến 17h00 và ban đêm từ 19 giờ đến 01 giờ sáng hôm sau.
So sánh mẫu thu được với danh lục có sẵn về lưỡng cư, bò sát ở Khu BTTN Sơn Trà theo tài liệu của Phan Thị Hoa và cộng sự (2014) để xác định loài. Đối với các loài không định danh được, sau khi chụp ảnh, các mẫu vật được định hình và cố định trong cồn 900 và gởi cho chuyên gia phân loại.
Định tên khoa học: Định loại dựa vào tài liệu của các tác giả: Đào Văn Tiến (1977, 1979, 1981, 1982) ; Nguyễn Văn Sáng (2009).
Tên khoa học, tên Việt Nam, thứ tự sắp xếp của loài trong danh sách thống nhất theo tài liệu của Nguyễn Văn Sáng và cộng sự (2009).
Loài quý hiếm: Sách Đỏ Việt Nam, 2007 (SĐVN); Danh lục Đỏ, 2011 (IUCN).
2.3.4. Tham khảo ý kiến chuyên gia
Trong suốt quá trình nghiên cứu sẽ tham khảo, tiếp nhận những ý kiến từ chuyên gia – Tiến sĩ Hoàng Minh Đức trong định danh các loài lưỡng cư, bò sát.
2.3.5. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê sinh học
Từ những số liệu đã thu thập được từ công tác nghiên cứu, khảo sát thực địa và kết quả điều tra phỏng vấn sẽ tiến hành thống kê, phân tích và xử lý để đưa ra được những kết quả cụ thể.
– Sử dụng một số nhóm hàm thông dụng và cơ bản như hàm logic, toán học, thống kê, chuỗi, ngày tháng…trong Excel để thống kê số liệu.
+ Trung bình số học: =
+ Tính toán các chỉ số đa dạng bằng công thức: Dựa trên kết quả thống kê tính toán các chỉ số sinh học: Chỉ số đa dạng loài Shannon- Wiener (H’, Chỉ số đa dạng Simpson (D), Chỉ số phong phú Margalef (d), Tính tần suất bắt gặp.
– Sử dụng phầm mềm Excel để vẽ các biểu đồ, diễn giải các số liệu thu thập được để xử lý các thông tin định lượng.
3.1. HIỆN TRẠNG KHAI THÁC NƯỚC SUỐI PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DU LỊCH TẠI BÁN ĐẢO SƠN TRÀ
3.1.1. Tình hình hoạt động kinh doanh du lịch tại bán đảo Sơn Trà
Hiện nay, tại bán đảo Sơn Trà có tổng số 16 quán ăn, nhà hàng kinh doanh phục vụ khách du lịch. Các cơ sở này tập trung theo 02 khu vực chính là tuyến núi và tuyến biển.
Hầu hết các nhà hàng tại bán đảo Sơn Trà có thời gian kinh doanh khá lâu, trên 05 năm là 81% và trên 10 năm là 13%, 6% nhà hàng có thời gian kinh doanh từ 1 đến 5 năm, không có nhà hàng nào có thời gian kinh doanh dưới 1 năm. Chứng tỏ việc khai thác nguồn nước suối phục vụ du lịch đã diễn ra trong một thời gian dài.
Loại hình kinh doanh chính của các nhà hàng tại bán đảo Sơn Trà là dịch vụ ăn uống chiếm 68.75%, 31.25% nhà hàng ngoài dịch vụ ăn uống còn có thêm dịch vụ vui chơi giải trí.
Biểu đồ 3.2: Các loại hình kinh doanh tại Bán đảo Sơn trà
Lượng khách du lịch đến các nhà hàng tại đây tương đối đông, đặc biệt là vào ngày cuối tuần, các dịp nghỉ lễ và các ngày hè nắng nóng.
Dựa vào biểu đồ 3.3, cho thấy:
+ Các nhà hàng có lượng khách trung bình trong 01 ngày trên 50 người chiếm phần lớn (81.25%), trong đó các nhà hàng có lượt khách dao động từ 50 – 100 người chiếm tỷ lệ cao nhất: 43.75%, tiếp đến là các nhà hàng có số lượng khách trung bình 01 ngày từ 100-150 người chiếm 31.25%, 01 nhà hàng có lượng khách trung bình từ 150 – 200 người, chiếm 6.25%.
+ Các nhà hàng có số lượng khách trung bình 01 ngày dưới 50 người ít, chỉ chiếm 18.75%.
Biểu đồ 3.3: Lượng khách trung bình trong 01 ngày
Như vậy, tính bình quân trong một ngày, tổng lượng khách của 16 nhà hàng khảo sát khoảng 1350 người. Do đó, các nhà hàng, quán ăn tại bán đảo Sơn Trà cần nhu cầu cao về nước ngọt phục vụ hoạt động nấu ăn của nhà hàng, sinh hoạt và vệ sinh của khách du lịch.
3.1.2. Tình hình khai thác nước suối phục vụ hoạt động kinh doanh du lịch tại bán đảo Sơn Trà
3.1.2.1. Nguồn nước ngọt sử dụng
Có 13 trong tổng số 16 nhà hàng (chiếm 81.25%) hoàn toàn sử dụng nước ngọt từ các con suối, 03 nhà hàng vừa sử dụng nước suối kết hợp sử dụng nước thủy cục, chiếm 18.75%. Đây là áp lực lớn đối với các con suối nằm trong khu vực có hoạt động kinh doanh nhà hàng phục vụ khách tham quan du lịch tại bán đảo Sơn Trà.
Có 02 con suối chính bị tác động bởi hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch là Suối Rạng và Suối 19.
3.1.2.2. Hiện trạng sử dụng nước ngọt phục vụ du lịch của các nhà hàng tại bán đảo Sơn Trà
Biểu đồ 3.4: Nhu cầu sử dụng nước suối của các nhà hàng trong 01 ngày
Tại biểu đồ 3.4, đa số các nhà hàng sử dụng lưu lượng nước dưới từ 2 – 5m3, chiếm 37.5%, 31.25% các nhà hàng sử dụng lưu lượng nước 2m3, 25% các nhà hàng có nhu cầu sử dụng nước từ 5 – 7m3, và 6.25% nhà hàng sử dụng lưu lượng nước từ 7 – 10m3 trong một ngày.
Các nhà hàng tại bán đảo Sơn Trà đã chú trọng đầu tư vật liệu chứa nước nước và dẫn nước. Vật liệu dẫn nước được sử dụng chủ yếu là ống nhựa tổng hợp (62%) và ống cao su (38%).
Bán đảo Sơn Trà có khoảng 20 con suối lớn, nhỏ (Hoa và cộng sự, 2014) nhưng đa phần nằm trong sinh cảnh rừng thứ sinh và rừng nguyên sinh; do đó, các con suối nằm cách xa địa điểm kinh doanh du lịch. Kết quả nghiên cứu: tỷ lệ các nhà hàng phải đầu tư đường ống dẫn có chiều dài hơn 1000m chiếm trên 50%, cụ thể là 56.25%; 37.5% các nhà hàng có đường ống dẫn từ 500-1000m, chỉ có 6.25% nhà hàng lấy nước với chiều dài đường ống từ 100 – 500m, không có nhà hàng nào lấy nước với đường ống dẫn dưới 100m.
Nhiều hộ kinh doanh đã xây các đập ngăn suối thành các đoạn nhỏ, xây bể chứa hoặc dùng bồn chứa ngay trên suối. Hoạt động này đã làm thay đổi sinh cảnh và dòng chảy tự nhiên của suối. Tại suối 19 và suối Rạng dòng chảy đã bị thay đổi nghiêm trọng. Những đoạn suối nằm phía dưới các đập ngăn dòng chảy trở nên khô hạn và trơ sỏi đá..
Về kích thước ống dẫn nước, kết quả nghiên cứu cho thấy, đường ống được sử dụng nhiều nhất là ống Φ60 với 07 nhà hàng sử dụng, chiếm 43.75%, tiếp đến có 04 nhà hàng sử dụng ống dẫn Φ90, chiếm 25%, còn lại các ống dẫn có kích thước Φ34, Φ42, Φ48 chỉ có từ một đến hai nhà hàng sử dụng, chiếm 6.25 đến 12.5%.
3.2. HIỆN TRẠNG LƯU LƯỢNG NƯỚC TRÊN CÁC CON SUỐI TẠI 02 KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.2.1. Lưu lượng nước tại khu vực suối có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch (sau đây gọi tắt là khu vực DL)
a) Độ rộng mép nước tại khu vực suối có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch
Độ rộng mép nước tại 05 vị trí đo của suối 19 dao động trong khoảng từ 41.5cm đến 65cm và tương đối đồng đều. Độ rộng mép nước tại 05 vị trí đo của suối Rạng có sự sai khác nhiều ở mỗi vị trí, điểm hẹp nhất là 40cm đến điểm rộng nhất là 195cm.
b) Độ sâu mực nước tại khu vực suối có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch
Độ sâu mực nước tại 05 vị trí đo của suối 19 lớn hơn so với suối Rạng. Cụ thể, độ sâu mực nước tại 05 điểm đo của suối 19 dao động trong khoảng từ 8.3cm đến 13.9cm, độ sâu mực nước tại 05 vị trí của suối Rạng đạt từ 1.4cm đến 10.3cm.
c) Lưu lượng nước trung bình tại khu vực suối có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch
Kết quả nghiên cứu cho thấy lưu lượng trung bình của suối 19 là 36.98 m3/ngày-đêm và lưu lượng nước trung bình tại suối Rạng là 28.85 m3/ngày-đêm. Trên cả 02 con suối, lưu lượng nước tại những vị trí trên cao (vị trí 03, 04 và 05) có lưu lượng cao hơn so với vị trí hạ lưu (vị trí 01 và vị trí 02). Điều này trái với quy luật tự nhiên về phân bố dòng chảy và lưu lượng nước trên sông, suối. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp sử dụng nguồn nước tại hai con suối này đã xây dựng các đập chắn, đập tràn ở phần trên của các con suối. Điều này dẫn đến lưu lượng nước phía dưới suối giảm đi.
Biểu đồ 3.10: Lưu lượng nước trung bình trên các con suối tại khu vực có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch
Tổng lưu lượng nước trung bình của suối 19 và suối Rạng là 65.83 m3/ngày-đêm.
3.2.2. Lưu lượng nước tại khu vực suối không có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch (sau đây gọi tắt là khu vực KDL)
a) Độ rộng mép nước tại khu vực suối không có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch
Kết quả cho thấy độ rộng mép nước tại 05 vị trí đo của mỗi suối có sự khác nhau. Độ rộng mép nước của suối Sâu 06 là cao nhất so với ba suối còn lại ở cả 05 vị trí, dao động trong khoảng từ 350 – 520cm. Độ rộng mép nước của suối Ôm là hẹp nhất trong 04 suối, dao động từ 88 – 250cm.
b) Độ sâu mực nước tại khu vực suối không có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch
Độ sâu của 04 suối có sự thay đổi qua 05 vị trí. Cụ thể:
+ Tại vị trí 01 suối Sâu 03 có độ sâu mực nước cao nhất (30.6cm), suối Sâu 04 có độ sâu mực nước thấp nhất (21.6cm).
+ Tại vị trí 02, suối Sâu 04 có độ sâu mực nước cao nhất (30.2cm), suối Sâu 03 có độ sâu mực nước thấp nhất (25.4cm).
+ Tại vị trí 03 suối Sâu 06 có độ sâu mực nước cao nhất, suối Ôm có độ sâu mực nước thấp nhất;
+ Tại vị trí 04 suối Ôm có độ sâu mực nước cao nhất và suối Sâu 03 có độ sâu mực nước thấp nhất.
c) Lưu lượng nước trung bình tại khu vực suối không có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng lưu lượng nước trung bình của suối Sâu 06 cao nhất: 163.98m3/ngày-đêm, tiếp đến là suối Ôm với lưu lượng trung bình là 148.95m3/ngày-đêm, suối Sâu 04 có lưu lượng trung bình là 147.45m3/ngày-đêm, suối Sâu 03 có lưu lượng nhỏ nhất trong 04 suối nghiên cứu: 77.32m3/ngày-đêm.
Có sự khác nhau về lưu lượng nước ở 05 vị trí đo của các suối. Trong đó, suối 04 có lưu lượng nước cao nhất tại vị trí 01 với 273.42 m3/ngày-đêm. Tại vị trí 02, suối Ôm có lưu lượng nước cao nhất: 257.91m3/ngày-đêm. Suối sâu 03 có lưu lượng thấp nhất tại vị trí 05 với lưu lượng là 53.83 m3/ngày-đêm.
Biểu đồ 3.13: Lưu lượng nước trung bình tại khu vực suối không có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch
Ngoài ra, có sự biến đổi lưu lượng nước tại 05 vị trí của mỗi suối. Lưu lượng nước đo tại các vị trí 01 và 02 (phần phía dưới của các con suối) cao hơn lưu lượng nước tại 03 vị trí còn lại (phần trên của các con suối). Điều này phù hợp với quy luật dòng chảy tự nhiên của sông, suối.
3.3. THÀNH PHẦN LOÀI LƯỠNG CƯ, BÒ SÁT TẠI 02 KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.3.1. Đa dạng thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại 02 khu vực nghiên cứu
Tại 06 tuyến nghiên cứu, đã điều tra và định danh được 14 loài thuộc gồm 09 họ thuộc 02 bộ, trong đó có 06 loài lưỡng cư thuộc 04 họ, 01 bộ; 08 loài bò sát thuộc 05 họ, 01 bộ
Kết quả nghiên cứu của Phan Thị Hoa và cộng sự năm 2014 đã thống kê được ở khu vực nghiên cứu có 70 loài thuộc 19 họ, 3 bộ, gồm 18 loài ếch nhái (chiếm 25,7% tổng số loài) thuộc 6 họ, 1 bộ và 52 loài bò sát (chiếm 74,3% tổng số loài) thuộc 13 họ, 2 bộ. Qua so sánh với nghiên cứu này, kết quả nghiên cứu là tương đồng và phù hợp. Trên 06 tuyến khảo sát chúng tôi cũng đã ghi nhận sự xuất hiện của cóc mày Leptolalax applebyi và thằn lằn đuôi dẹp Cosymbotus platyurus, đây là những loài bổ sung mới cho bán đảo Sơn Trà theo công bố mới nhất của Hoa và cộng sự năm 2014. Như vậy nghiên cứu của chúng tôi đã góp phần khẳng định sự tồn tại của hai loài này trên bán đảo Sơn Trà.
3.3.2. Đa dạng loài trong các họ lưỡng cư, bò sát tại 02 khu vực nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong lớp lưỡng cư, đa dạng nhất là họ Ếch nhái chính thức (Dicroglossidae) với 03 loài, 03 họ còn lại là chỉ khảo sát được 01 loài gồm họ Cóc (Bufonidae), họ Cóc bùn (Megophryidae) và họ Ếch nhái (Ranidae). Trong lớp bò sát, số loài trong các họ tương đối đồng đều. Trong đó, họ Tắc kè (Gekkonidae), họ Rắn nước (Colubridae) và họ Rắn lục (Viperidae), mỗi họ có 02 loài. Còn lại, họ Nhông (Agamidae) và họ Thằn lằn bóng (Scincidae) chỉ gồm có 01 loài.
3.3.3. Các loài có giá trị bảo tồn nguồn gen
Với 14 loài khảo sát được có 02 loài quý, hiếm có giá trị bảo tồn nguồn gen. Trong đó, Ếch polian (Limnonectes poilani) đang ở mức độ LR/nt là loài sắp bị đe dọa theo IUCN (2014), loài Rồng đất (Physignathus cocincinus) ở mức độ sẽ nguy cấp UV theo Sách đỏ Việt Nam (2007).
3.3.4. Thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại khu vực suối có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch
3.3.4.1. Đa dạng thành phần loài lưỡng cư, bò sát
Kết quả khảo sát thực địa tại 02 tuyến suối thuộc khu vực DL có 8 loài thuộc 6 họ. Trong đó, lớp lưỡng cư rất ít, chỉ có 01 họ với 02 loài (chiếm 33,33% tổng số loài); lớp bò sát với 6 loài (chiếm 75%) thuộc 5 họ. Cho thấy khu vực này có số lượng loài lưỡng cư rất ít. Có thể việc nguồn nước bị khai thác đã ảnh hưởng đến sự đang dạng thành phần loài lưỡng cư ở đây
3.3.4.2. Sự phong phú các loài lưỡng cư, bò sát
Sự phong phú các loài lưỡng cư, bò sát trên 02 suối là khác nhau. Trong đó về số lượng, chiếm ưu thế nhất ở Suối 19 là loài Thạch sùng chân ngón giả 4 vạch với số lần gặp là 14 lần, tiếp đến là loài Ếch polian với 10 lần gặp, ít phong phú nhất là các loài thuộc họ rắn lục, với 1 lần gặp.
Số liệu thu được tại suối Rạng cho thấy loài Rồng đất phong phú nhất ở đây với 12 lần gặp, tiếp đến là thạch sùng chân ngón giả 4 vạch với 6 lần gặp, các loài còn lại số lần gặp ít hơn. Đáng chú ý, tại Suối Rạng chỉ gặp duy nhất 01 loài lưỡng cư là Ếch Polian với 03 lần gặp.
Biểu đồ 3.15: Số lần gặp các loài lưỡng cư, bò sát tại khu vực suối có khai thác nước phục vụ du lịch
Ngoài ra, cả 02 loài gồm Ếch polian (Limnonectes poilani) và Rồng đất (Physignathus cocincinus) có giá trị bảo tồn đều có mặt tại khu vực này.
3.3.5. Thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại khu vực suối không có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch
3.3.5.1. Đa dạng thành phần loài lưỡng cư, bò sát
Tại khu vực suối KDL, khảo sát được 13 loài thuộc 09 họ. Trong đó, lưỡng cư có 06 loài thuộc 04 họ; bò sát có 07 loài thuộc 05 họ. Chứng tỏ thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại đây chiếm phần lớn trong tổng số loài nghiên cứu được. Thể hiện rõ nhất là các loài lưỡng cư được phát hiện ở khu vực KDL là 6 loài, trong khi đó chỉ có 1 loài lưỡng cư được phát hiện ở khu vực DL.
3.3.5.2. Sự phong phú các loài lưỡng cư, bò sát
Cũng giống như khu vực DL, sự phong phú các loài lưỡng cư, bò sát tại khu vực KDL cũng thay đổi theo các suối.
Tại suối Ôm, Ếch polian (Limnonectes poilani) là loài chiếm ưu thế nhất, với 8 lần gặp, tiếp đến là Ếch suối (Hylarana nigrovittata ) với 5 lần gặp, tần suất gặp ít nhất là các loài thuộc lớp bò sát, như rắn Dẻ (Dryocalamus davisonii) và rắn Lục xanh (Viridovipera stejnegeri), chỉ gặp 01 lần.
Tại suối Sâu 04, lớp lưỡng cư có Ếch trơn (Limnonectes kuhlii) và Ếch polian (Limnonectes poilani) là 02 loài chiếm ưu thế nhất với số lần gặp lần lượt là 14 và 13 lần. Đối với lớp bò sát, Thạch sùng chân ngón giả 4 vạch (Cyrtodactylus pseudoquadrivirgatus) phong phú nhất với 8 lần gặp so với các loài bò sát còn lại tại khu vực.
Tại suối 06, lớp bò sát có loài Thạch sùng chân ngón giả 4 vạch (Cyrtodactylus pseudoquadrivirgatus) phong phú nhất, gặp 10 lần, lớp lưỡng cư phong phú nhất có loài cóc Mày applebyi (Leptolalax applebyi) với 8 lần bắt gặp và nghe tiếng kêu. Đây là suối duy nhất trong 06 suối có loài cóc Mày applebyi. Rồng đất (Physignathus cocincinus) là loài ít gặp nhất tại suối 06, chỉ gặp 1 lần.
Trong 04 suối tại khu vực không có hoạt động khai thác nước suối phục vụ du lịch thì độ phong phú của các loài lưỡng cư, bò sát tại suối sâu 03 tương đối đồng đều. Số lần gặp các loài dao động trong khoảng từ 01 – 04 lần kể cả lớp lưỡng cư và lớp bò sát.
3.4. MỐI QUAN HỆ GIỮA LƯU LƯỢNG NƯỚC VÀ MỨC ĐỘ ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI LƯỠNG CƯ, BÒ SÁT TẠI 02 KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.4.1. So sánh lưu lượng nước tại 02 khu vực nghiên cứu
3.4.1.1. Độ rộng trung bình mép nước tại 02 khu vực nghiên cứu
Các con suối tại khu vực DL có độ rộng trung bình mép nước nhỏ hơn so với các con suối tại khu vực KDL. Cụ thể,
+ Khu vực DL: độ rộng trung bình mép nước của suối 19 là 53.1cm, suối Rạng là 117cm.
+ Khu vực KDL: độ rộng trung bình mép nước của 04 suối đều đạt trên 150cm. Độ rộng trung bình của suối Ôm là 156cm, suối Sâu 03 là 258cm, suối Sâu 04 là 319cm và độ rộng trung bình mép nước của suối sâu 06 là cao nhất, đạt 450cm.
3.4.1.2. Độ sâu trung bình mực nước tại 02 khu vực nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự phân biệt rõ ràng ở 02 khu vực nghiên cứu. Khu vực DL có độ sâu trung bình mực nước là 6.76cm (suối Rạng) và 11.22cm (suối 19) thấp hơn so với độ sâu trung bình mực nước của các con suối tại khu vực KDL với độ sâu trung bình dao động từ 20cm đến 24cm.
3.4.1.3. Lưu lượng nước trung bình của các con suối tại 02 khu vực nghiên cứu
Kết quả biểu đồ 3.19 cho thấy, suối Rạng có lưu lượng nước trung bình thấp nhất 27.07m3/ngày-đêm, suối Sâu 06 có lưu lượng trung bình cao nhất 163,98 m3/ngày-đêm.
Chênh lệch lưu lượng nước trung bình giữa suối 19 là suối có lưu lượng nước cao nhất (36.98 m3/ngày-đêm) tại khu vực DL với suối Sâu 03 là suối có lưu lượng nước thấp nhất (77.73 m3/ngày-đêm) tại khu vực KDL là 40.75 m3/ngày.đêm. Chứng tỏ khu vực suối có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch có lưu lượng nước nhỏ hơn so với khu vực suối không có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch.
Biểu đồ 3.19: Lưu lượng nước trung bình tại các con suối
3.4.1.4. Lưu lượng nước hạ lưu của các con suối tại 02 khu vực nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu cho thấy lưu lượng nước hạ lưu của các con suối tại 02 khu vực nghiên cứu khác nhau.
+ Đối với 04 con suối tại khu vực KDL, lưu lượng dòng chảy tuân theo quy luật tự nhiên đó là lưu lượng nước tại vùng hạ lưu cao hơn so với lưu lượng nước vùng trung lưu và thượng lưu. Theo biểu đồ 3.20, tại ví trí 01 và 02 tại 04 con suối có lưu lượng nước cao hơn so với vị trí 03, 04 và 05.
+ Đối với 02 con suối tại khu vực DL thì ngược lại.
Tại vị trí 01 và vị trí 02, lưu lượng nước thấp hơn so với lưu lượng nước ở các vị trí 03, 04 và 05. Nguyên nhân: tại khu vực này, các hộ kinh doanh đã ngăn đập, chặn dòng nước từ phía đầu nguồn và tại các mạch nước dẫn đến gián đoạn dòng chảy và khô nước vùng hạ lưu.

Biểu đồ 3.21: Lưu lượng nước hạ lưu tại 02 khu vực nghiên cứu
Đồng thời, khoảng cách từ điểm đầu suối đến vị trí 01 của các con suối tại khu vực DL xa hơn so với các con suối tại khu vực KDL. Kết quả khảo sát:
+ Khu vực DL: khoảng cách từ điểm đầu suối đến vị trí 01 có nước của suối 19 là 17m, và suối Rạng là 32m.
+ Khu vực KDL: điểm đầu suối là điểm có lưu lượng cao nhất.
3.4.2. So sánh sự phong phú và đa dạng thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại 02 khu vực nghiên cứu thông qua các chỉ số đa dạng sinh học
Trước đây, khi nghiên cứu về sự phong phú về loài, các nhà khoa học chỉ mới dừng lại ở mực độ định tính và mô tả. Các nghiên cứu gần đây đã sử dụng một số chỉ số nhằm đánh giá mức độ phong phú và đa dạng của loài. Tại bán đảo Sơn Trà, các nghiên cứu về khu hệ lưỡng cư, bò sát ở đây mới chỉ dừng lại ở mức độ định danh loài và mô tả. Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn một số chỉ số sau: Chỉ số ưu thế Simpson (D), Chỉ số đa dạng Shannon – Wiener (H’), Chỉ số phong phú Margalef để phân tích tính đa dạng và phong phú thành phần loài lưỡng cư, bò sát trên 02 khu vực nghiên cứu tại Bán đảo Sơn Trà. Kết quả nghiên cứu như sau:
Bảng 3.8: Chỉ số đa dạng về thành phần loài lưỡng cư, bò sát
| TT | Suối | Chỉ số đa dạng Shannon – Wiener H’ | Chỉ số ưu thế Simson D | Chỉ số phong phú Margalef d |
| 1 | Suối 19 | 1.45 | 0.26 | 1.41 |
| 2 | Suối Rạng | 1.23 | 0.33 | 1.28 |
| 3 | Suối Ôm | 1.84 | 0.14 | 2.46 |
| 4 | Suối sâu 03 | 2.03 | 0.10 | 2.95 |
| 5 | Suối sâu 04 | 1.84 | 0.18 | 2.04 |
| 6 | Suối sâu 06 | 1.74 | 0.18 | 1.72 |
3.4.2.1. Chỉ số đa dạng Shannon – Wiener (H’)
Kết quả phân tích cho thấy chỉ số Shannon – Wiener (H’) tại khu vực DL thấp hơn khu vực KDL.
+ Tại khu vực DL (suối 19 và suối Rạng): chỉ số H’ dao động từ 1.23 đến 1.45;
+ Tại khu vực KDL (suối Ôm, suối Sâu 03, 04 và 06): chỉ số H’ dao động ở mức cao hơn, từ 1.74 đến 2.03.
Theo phương pháp Shannon – Wiener, chỉ số H’ càng cao thì khu hệ càng đa dạng và càng đồng đều về số lượng cá thể giữa các loài. Do đó, khu hệ lưỡng cư, bò sát tại khu vực KDL đa dạng hơn và số lượng cá thể giữa các loài đồng đều hơn khu vực DL.
3.4.2.2. Chỉ số phong phú Margalef d
Bên cạnh chỉ số đa dạng Shannon – Wiener, Chỉ số Margalef cũng là một chỉ số thể hiện mức độ phong phú loài của quần xã. Chỉ số Margalef càng cao thì quần xã càng phong phú về loài.
Kết quả cho thấy suối 19 và suối Rạng có Chỉ số d nhỏ hơn 1.5 (1.28 – 1.41), trong khi Chỉ số d tại suối Ôm, Suối sâu 03, 04, 06 đều đạt ở mức trên 1.5 (1.72 – 2.95) chứng tỏ khu DL có đa dạng thành phần loài thấp hơn so với khu vực KDL.
3.4.2.3. Chỉ số ưu thế simson D
Chỉ số mức độ chiếm ưu thế D được dùng để đánh giá sự đa dạng về số lượng loài của một quần xã sinh vật, có giá trị và ý nghĩa ngược lại với H’, tức là giá trị D càng cao thì tính đa dạng loài càng thấp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy khu vực suối 19 và suối Rạng có chỉ số Simson D lần lượt là 0.26 và 0.33 cao hơn so với chỉ số Simson D tại 04 suối còn lại với các chỉ số lần lượt từ 0.14 – 0.1 – 0.18 – 0.18. Chứng tỏ khu vực DL có loài chiếm ưu thế nên ít đa dạng hơn so với khu vực KDL.
3.4.3. Mối quan hệ giữa lưu lượng nước và đa dạng thành phần loài lưỡng cư, bò sát
3.4.4.1. Mối quan hệ giữa lưu lượng nước với các chỉ số đa dạng
a) Mối quan hệ giữa lưu lượng nước với chỉ số đa dạng Shannon – Wiener H’
Kết quả biểu đồ 3.25 cho thấy đường biểu diễn lưu lượng nước và chỉ số đa dạng H’ có sự tương quan giữa khu vực DL và khu vực KDL.
+ Tại khu vực suối 19 và suối Rạng, lưu lượng nước nhỏ (1.13 -1.54m3/giờ) và chỉ số đa dạng H’ nhỏ (từ 1.23 – 1.45).
+ Tại khu vực suối Ôm, suối Sâu 03, 04 và 06 lưu lượng nước lớn (3.22 – 6.83 m3/giờ) và chỉ số đa dạng H’ lớn (1.74 – 2.03).
Chứng tỏ, suối 19 và suối Rạng thuộc khu vực DL có lưu nước nhỏ nên đa dạng loài thấp và ngược lại suối Ôm, suối Sâu 03, 04 và 06 thuộc khu vực KDL có lưu lượng nước lớn nên đa dạng loài cao hơn.
Biểu đồ 3.25: Mối quan hệ giữa lưu lượng nước
với chỉ số đa dạng Shannon – Wiener H’
b) Mối quan hệ giữa lưu lượng nước với chỉ số ưu thế D
Biểu đồ 3.27: Mối quan hệ giữa lưu lượng nước với chỉ số ưu thế D
Kết quả cho thấy tuy lưu lượng nước tại suối 19 và suối Rạng nhỏ hơn so với lưu lượng nước tại suối Ôm, suối Sâu 03, 04 và 06 nhưng chỉ số ưu thế Simson D ở suối 19 và suối Rạng lại cao hơn so với chỉ số Simson D tại suối Ôm, suối Sâu 03, 04 và 06.
Chứng tỏ hoạt động khai thác nước tại khu vực DL đã làm cho môi trường sống của các loài lưỡng cư, bò sát đã bị thay đổi dẫn đến có những loài thích nghi với môi trường sống mới sẽ chiếm ưu thế. Ngược lại, khu vực KDL, môi trường sống không bị thay đổi nên khu hệ lưỡng cư, bò sát ở đây đạt trạng thái cân bằng, không có loài ưu thế.
3.4.4.2. Hiện trạng loài nguy cấp tại khu vực suối có khai thác nước phục vụ du lịch và vấn đề bảo tồn
a) Tần suất bắt gặp loài Rồng đất (Physignathus cocincinus)
Rồng đất là loài đang ở cấp độ sẽ nguy cấp VU trong Sách đỏ Việt Nam (2007) thì càng phải được ưu tiên bảo tồn.Kết quả tần suất bắt gặp loài Rồng đất (Physignathus cocincinus) tại 02 khu vực nghiên cứu thể hiện tại biểu đồ 3.28. Tại Suối Rạng, tần suất bắt gặp loài Rồng đất cao nhất, bằng 6. Các suối còn lại số lần gặp rất ít, cụ thể Suối Sâu 03, 04 và 06 tần suất gặp chỉ bằng 0.5, suối Ôm và suối 19 không gặp. Chứng tỏ, loài Rồng đất phân bố phong phú tại khu vực suối Rạng.
Biểu đồ 3.28: Tần suất bắt gặp loài Rồng đất
Đáng chú ý, suối Rạng có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch và lưu lượng nước thấp nhất trong 06 con suối nghiên cứu. Do đó, nếu tình trạng khai thác nước suối Rạng phục vụ cho hoạt động du lịch vẫn tiếp tục diễn ra như hiện nay, đặc biệt trong mùa khô với lượng lớn khách du lịch và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ngày càng tăng thì lưu lượng nước ở suối Rạng sẽ tiếp tục giảm và có thể cạn kiệt. Điều này sẽ đe dọa nghiêm trọng đến sự tồn tại của loài Rồng đất tại khu vực này.
b) Tần suất bắt gặp loài Ếch polian (Limnonectes poilani)
Biểu đồ 3.29: Tần suất bắt gặp loài ếch Polian
Ếch Polian là loài sắp bị đe dọa ở cấp độ LR/nt nên cần phải được chú trọng bảo tồn. Kết quả tại biểu đồ 3.28 cho thấy loài ếch Polian phân bố trên cả 06 tuyến suối nghiên cứu. Tuy nhiên, mức độ phong phú khác nhau ở các suối. Tại suối Sâu 04 tần suất bắt gặp loài Ếch Polian cao nhất với tần suất bằng 6.5, tiếp đến là suối 19 với tần suất bắt gặp bằng 5, suối Rạng có tần suất bắt gặp loài Ếch Polian thấp nhất: tần suất bắt gặp bằng 1.5.
Suối Rạng là suối thuộc khu vực DL có lưu lượng nước nhỏ nhất so với các suối tại 02 khu vực nghiên cứu. Trong quá trình khảo sát, tại suối Rạng chỉ gặp duy nhất 01 loài lưỡng cư là Ếch Polian với tần suất bắt gặp ít nhất trong 06 suối. Chứng tỏ, hoạt động khai thác nước tại suối Rạng đã tác động đến môi trường sống của Ếch Polian nói riêng và lưỡng cư nói chung, làm suy giảm số lượng loài cũng như suy giảm số lượng cá thể trong quần thể.
Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Carlos Guilherme Becker et al., 2007 tại rừng Atlantic, Brazil, là một trong năm điểm nóng về đa dạng sinh học với hơn 480 loài lưỡng cư (trong đó có 80% loài có giai đoạn nòng nọc phát triển dưới nước). Kết quả nghiên cứu của Carlos cho thấy chỉ còn ít hơn 7% các loài ở rừng Atlantic còn tồn tại. Tác giả chỉ ra rằng chia cắt môi trường sống là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến sự đa dạng loài của các loài lưỡng cư có giai đoạn nòng nọc phát triển dưới nước.
Bên cạnh đó, theo biểu đồ 3.29, loài ếch Polian phân bố nhiều ở suối 19 thuộc khu vực DL với tần suất bắt gặp bằng 5. Tuy nhiên nếu hoạt động khai thác nước tại khu vực này vẫn tiếp tục diễn ra như hiện nay thì loài ếch Polian sẽ giảm số lượng do mất môi trường sống.
3.5. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC NƯỚC PHỤC VỤ DU LỊCH ĐẾN ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI LƯỠNG CƯ, BÒ SÁT TẠI BÁN ĐẢO SƠN TRÀ
Với các hoạt động khai thác tài nguyên nước suối phục vụ du lịch đang diễn ra tại bán đảo Sơn Trà, cần phải có các giải pháp và hành động cụ thể chung tay góp sức của các cấp, các ngành cùng mỗi người dân, du khách nhằm bảo vệ đa dạng sinh học nói chung và bảo vệ đa dạng các loài lưỡng cư, bò sát nói riêng tại đây.
Thứ nhất, đối với chính quyền địa phương cần tham mưu Ủy ban nhân dân thành phố đầu tư và triển khai các dự án cấp nước sinh hoạt cho tất cả các hộ đang kinh doanh dịch vụ du lịch tại bán đảo Sơn Trà.
Thứ hai, tuyên truyền đến các hộ kinh doanh tại bán đảo Sơn Trà vai trò của đa dạng sinh học, những tác động tiêu cực của hoạt động khai thác nước suối đến môi trường sống, sự đa dạng và tồn tại của các loài lưỡng cư, bò sát.
Chính quyền địa phương cần kiểm tra, rà soát những tổ chức, cá nhân khai thác nguồn nước mặt trái phép tại bán đảo Sơn Trà. Sử dụng công cụ pháp luật, có chế tài nghiêm đối với những hộ kinh doanh khai thác trái phép nguồn tài nguyên nước mặt tại đây.
Thứ 3, mỗi hộ kinh doanh cần tự giác chấp hành chủ trương của thành phố, thực hiện đấu nối và sử dụng nước sinh hoạt từ hệ thống nước thủy cục, không khai thác trái phép nguồn tài nguyên nước mặt từ các con suối tại bán đảo Sơn Trà.
Thứ 4, khách du lịch khi đến nghỉ ngơi, tham quan giải trí và ăn uống tại các nhà hàng, quán ăn tại bán đảo Sơn Trà cần sử dụng nước tiết kiệm, khóa các vòi nước khi không sử dụng.
Thứ 5, cần nghiên cứu cải tạo lại dòng chảy tại khu vực suối 19 và suối Rạng nhằm phục hồi môi trường sống cho các loài lưỡng cư, bò sát tại khu vực này, đặc biệt là loài ếch Polian và loài Rồng đất.
Cuối cùng, phát triển du lịch sinh thái tai bán đảo Sơn Trà trên quan điểm phát triển bền vững, quy hoạch phát triển du lịch sinh thái cần phải nghiên cứu xem xét đầy đủ về “sức chứa” của các điểm du lịch. Đó là sự vượt trội của các thành phần tự nhiên so với thành phần nhân tạo, hạn chế tối đa sự can thiệp vào môi trường thiên nhiên. Phân khu chức năng trong việc định hướng phát triển được chia thành: Vùng bảo vệ nghiêm ngặt, vùng bảo tồn phát triển, vùng đệm và vùng phát triển. Từ đó làm cơ sở để quản lý và bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường, tính đa dạng sinh học.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
– Điều tra và định danh được 14 loài thuộc 09 họ, 02 bộ, trong đó có 06 loài lưỡng cư (chiếm 42,86% tổng số loài) thuộc 04 họ, 01 bộ và 08 loài bò sát (chiếm 57,14% tổng số loài) thuộc 05 họ, 01 bộ. Có 02 loài quý, hiếm có giá trị bảo tồn nguồn gen, gồm loài ếch Polian và loài Rồng đất.
– Có 02 con suối bị tác động bởi hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch là Suối Rạng và Suối 19. Lưu lượng nước tại khu vực suối không có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch cao hơn lưu lượng nước tại khu vực suối có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch. Hoạt động ngăn đập, xây bể trên suối Rạng và suối 19 đã làm thay đổi dòng chảy tự nhiên và môi trường sống của các loài lưỡng cư, bò sát.
– Khu vực suối có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch có loài chiếm ưu thế nên đa dạng loài thấp, ngược lại khu vực không có hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch môi trường sống không bị tác động nên đa dạng loài cao hơn. Đặc biệt, 02 loài quý, hiếm có giá trị bảo tồn nguồn gen là Rồng đất và Ếch Polian đều phân bố ở suối Rạng (khu vực DL) nên cần chú trọng công tác bảo tồn 02 loài này.
– Với các hoạt động khai thác tài nguyên nước suối phục vụ du lịch đang diễn ra tại bán đảo Sơn Trà, cần phải có các việc làm và hành động cụ thể chung tay góp sức của các cấp, các ngành cùng mỗi người dân, du khách nhằm bảo vệ đa dạng sinh học nói chung và bảo vệ đa dạng các loài lưỡng cư, bò sát nói riêng.
2. KIẾN NGHỊ
– Trên cở sở nghiên cứu này, cần phát triển thành đề tài lớn có quy mô toàn bán đảo Sơn Trà nhằm đánh giá tổng thể ảnh hưởng của hoạt động khai thác nước phục vụ du lịch đến sự phong phú và đa dạng thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại đây.
– Ngoài ra, cần có những nghiên cứu đánh giá tất cả tác động của hoạt động du lịch đến hệ sinh thái tại bán đảo Sơn Trà.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN KY THUAT\SINH THAI HOC\TRAN THI HONG PHUONG


