Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển quần thể dừa nước tại xã Tam Nghĩa

Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển quần thể dừa nước tại xã Tam Nghĩa

Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển quần thể dừa nước tại xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Dừa nước (Nipa fruticans Wurmb.) là loài thực vật sống ở các bãi lầy vùng cửa sông, ven các kênh rạch nước lợ, ven biển nơi có độ mặn thấp và quần tụ thành rừng [13], [24].

Dừa nước có giá trị rất lớn trong việc chống xói mòn, sạt lở đất, giữ đất bồi bảo vệ bờ sông, kênh rạch, là bức tường xanh bảo vệ vùng cửa sông, ven biển [13], [21]. Hệ sinh thái dừa nước có sự đa dạng sinh học rất cao, nhất là các loài tôm, cua, ghẹ, động vật thân mềm và là nơi trú ngụ của các loài chim di cư giúp duy trì đa dạng sinh học thủy vực và trên cạn [13], [21]. Ngoài ra, hệ sinh thái dừa nước còn mang đến cho con người nhiều nguồn lợi kinh tế từ các bộ phận của cây dừa nước, là nơi phục vụ cho các hoạt động vui chơi, giải trí, du lịch sinh thái [12], [14].

Tam Nghĩa là xã duy nhất của huyện Núi Thành có diện tích dừa nước khá lớn. Nơi đây đặc trưng bởi dừa nước phân bố dọc theo hai bờ sông Trầu và sông Bến Đình, thuộc địa phận thôn Tịch Tây. Khu vực này là một trong số ít các địa phương của tỉnh Quảng Nam có dừa nước còn sót lại [9], [19], [26].

Tuy nhiên, những năm gần đây, quá trình phát triển kinh tế – xã hội diễn ra nhanh chóng ở địa phương như nuôi trồng thủy sản, khai hoang đất nông nghiệp, nước thải công nghiệp, đánh bắt thủy sản bằng phương tiện hủy diệt và gia tăng cường độ khai thác làm suy giảm đa dạng sinh học trong vùng dừa nước, gây những tác động làm suy thoái hệ sinh thái dừa nước trong khu vực [9], [19], [26], [31]. Đồng thời, tác động của biến đổi khí hậu đang diễn ra từng ngày ảnh hưởng rất lớn đến sinh kế của người dân. Thế nhưng, cho đến nay hệ sinh thái dừa nước tại xã Tam Nghĩa vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ.

Xuất phát từ những diễn biến thực tế đang diễn ra và xu thế phát triển tại vùng bờ trên địa bàn huyện Núi Thành, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển quần thể dừa nước tại xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam” nhằm làm cơ sở khoa học cho việc quy hoạch, bảo tồn phát triển tài nguyên dừa nước trong điều kiện biến đổi khí hậu, góp phần vào xây dựng chính sách phát triển các vùng ven biển huyện Núi Thành gắn với phục hồi và bảo vệ rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng ở huyện Núi Thành.

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

– Đánh giá được thực trạng phân bố cũng như các yếu tố tác động đến quần thể dừa nước tại xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành.

– Đề xuất được giải pháp phát triển quần thể dừa nước tại xã Tam Nghĩa, Núi Thành, Quảng Nam góp phần bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường sinh thái và đảm bảo an toàn bờ sông trong bối cảnh biến đổi khí hậu cũng như các tác động nhân sinh.

3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIẾN CỦA ĐỀ TÀI

– Ý nghĩa khoa học: góp phần cung cấp những thông tin khoa học về thực trạng khu hệ dừa nước tại xã Tam Nghĩa cũng như những định hướng quy hoạch, bảo tồn phát triển tài nguyên dừa nước tại địa phương.

– Ý nghĩa thực tiễn: góp phần tìm kiếm các giải pháp quản lý có tính khoa học và khả thi đối với nguồn tài nguyên sinh vật tại địa phương; đồng thời qua đó góp phần nâng cao vai trò của cộng đồng trong việc quản lý tài nguyên.

4. BỐ CỤC ĐỀ TÀI

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, Tài liệu tham khảo, luận văn còn có các chương sau: Chương 1. Tổng quan tài liệu; Chương 2. Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu; Chương 3. Kết quả và bàn luận

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. SỰ PHÂN BỐ CỦA DỪA NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

1.1.1. Sự phân bố dừa nước trên thế giới

Trên thế giới, dừa nước phân bố chủ yếu ở vùng xích đạo và cận xích đạo từ 100 Bắc đến 100 Nam kéo dài từ Sri Lanka qua vùng Đông Nam Á đến phía bắc Australia. Dừa nước rất thường gặp dọc theo bờ biển và các cửa sông đổ vào Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, từ Bangladesh tới các hải đảo Thái Bình Dương [65]. Dừa nước được tìm thấy ở Nam Á bao gồm: Bangladesh, Brunei, Campuchia, đảo Hải Nam (Trung Quốc), Ấn Độ, Indonesia, đảo Iriomote (Nhật Bản), Malaysia, Myanmar, Singapore, Srilanka, Thái Lan, Việt Nam. Ở Úc, dừa nước phân bố ở Tây Bắc và Đông Bắc. Ngoài ra, dừa nước còn phân bố ở Palau [13], [46].

1.1.2. Sự phân bố dừa nước ở Việt Nam

Ở Việt Nam dừa nước phân bố ở các tỉnh từ đèo Hải Vân trở vào. Trong đó, dừa nước phân bố nhiều nhất ở các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Ngoài ra, dừa nước còn phân bố ở các tỉnh miền trung như Quảng Nam, Quảng Ngãi.

1.2. ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA DỪA NƯỚC

1.2.1. Đặc điểm của dừa nước (Nippa fructicans Wurmb.)

Dừa nước có tên khoa học là Nippa fructicans Wurmb., thuộc họ Cau (Arecaeae), bộ Cau (Arecales) [24]. Dừa nước mọc thành dãy ven bờ sông lạch nước lợ, có thân ngầm đơn trục mọc ngang dưới lòng đất, đường kính đến 45cm, mang nhiều sẹo lá lớn xếp chồng lên nhau, mặt dưới có rễ [13]. Lá mọc cụm, 3 – 5 lá, vươn lên theo chiều đứng thẳng, dài 3,0 – 6,5 m, dạng lông chim [64].

Cụm hoa đơn độc, nằm trong nách lá, đứng thẳng và phân nhánh, cao đến 60-90cm, có nhiều lá bắc, cuống mập hình trụ, dài. Dừa nước có buồng quả to, gần hình cầu. Mỗi buồng từ 40 – 60 quả, mỗi kilogram có 9-12 quả [13].

1.2.2. Vai trò của dừa nước

a. Vai trò của dừa nước đối với sinh kế người dân

Dừa nước là một loài cây lâm sản ngoài gỗ đa tác dụng. Từ rất lâu đời, người dân địa phương đã sử dụng cây dừa nước vào nhiều mục đích khác nhau. Lá dừa nước được dùng để lợp và làm vách nhà, làm chổi, gàu múc nước, gió, túi sách, đan rổ rá, làm chiếu và đan mũ, nón, gói bánh. Nội nhũ sừng (cùi non) trong quả dừa có vị hơi ngọt và béo để ăn tươi, nấu chè, làm siro hoặc kem. Sọ dừa già làm nút áo, đồ mỹ nghệ [13].

b. Vai trò của dừa nước trong giảm nhẹ thiên tai và thích ứng biến đổi khí hậu

Dừa nước là cây có vai trò quan trọng bảo vệ các bờ kênh rạch, chống xói mòn, sạt lở đất do sóng mạnh đánh vào bờ. Nó cũng có tác dụng giữ đất bồi ven kênh rạch [14]. Ở bờ các đầm nuôi tôm nước lợ, trồng dừa nước dọc theo mương, vừa có tác dụng giữ đất, vừa che bóng cho đầm, giữ nước mát làm chỗ trú cho tôm lúc nắng nóng [13], [21].

1.3. TÌNH HÌNH KHAI THÁC, SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ, PHỤC HỒI DỪA NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

1.3.1. Tình hình khai thác và sử dụng nguồn lợi dừa nước trên thế giới và Việt Nam

1.3.2. Tình hình quản lý, phục hồi dừa nước trên thế giới và ở Việt Nam

a. Tình hình quản lý, phục hồi dừa nước trên thế giới

Dừa nước có vai trò quan trọng đối với sinh kế của người dân nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, diện tích dừa nước đang có xu hướng suy giảm do nhiều nguyên nhân như khai thác quá mức, thiên tai, chuyển đổi sang diện tích nuôi trồng thủy sản …Vì vậy, công tác quản lý, trồng phục hồi dừa nước đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm.

b. Tình hình quản lý, phục hồi dừa nước ở Việt Nam

Phục hồi rừng dừa nước ở nước ta nhằm duy trì cân bằng sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học là việc làm cần thiết. Việc này chỉ có thể làm được khi đặt cây dừa nước thành đối tượng khai thác kinh tế có hiệu quả, đồng thời quy hoạch các rừng dừa nước phục vụ cho nhu cầu phát triển bền vững.

1.4. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ – XÃ HỘI XÃ TAM NGHĨA, HUYỆN NÚI THÀNH [4], [23], [27], [40], [41], [65].

1.4.1. Điều kiện tự nhiên

Xã Tam Nghĩa là một xã phía Nam thuộc huyện Núi Thành có tọa độ Vĩ độ 15024’28’’Bắc, kinh độ 108044’36’’Đông. Diện tích tự nhiên: 51,71 km2. Dân số hiện nay 10943 người trong đó nam chiếm khoảng 60%. Mật độ dân số 212 người/ km2.

1.4.2. Điều kiện kinh tế – xã hội

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

– Đối tượng nghiên cứu: quần thể dừa nước xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam; các hoạt động khai thác, sử dụng nguồn lợi dừa nước của người dân thôn Tịch Tây, xã Tam Nghĩa.

– Phạm vi nghiên cứu: Lưu vực sông Trầu và sông Bến Đình thuộc thôn Tịch Tây, xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành, Tỉnh Quảng Nam từ tháng 2/2016 – 10/2016.

2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

– Hiện trạng phân bố và biến động diện tích quần thể dừa nước tại xã Tam Nghĩa.

– Các yếu tố tự nhiên tác động đến quần thể dừa nước xã Tam Nghĩa.

– Hiện trạng khai thác, sử dụng và các tác động nhân sinh đến quần thể dừa nước tại xã Tam Nghĩa.

– Đề xuất giải pháp phát triển quần thể dừa nước tại Tam Nghĩa.

2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu

a. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Tiến hành thu thập thông tin, dữ liệu, số liệu thông qua tài liệu thứ cấp, phân tích, tổng hợp và xác định những vấn đề liên quan đến đề tài.

b. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Điều tra thu thập, đo đạt, phân tích số liệu tại hiện trường

– Điều tra, khảo sát thực địa theo tuyến:

Khảo sát ở phạm vi dọc ven sông Bến Đình và sông Trầu trên địa bàn xã Tam Nghĩa (từ thôn Tịch Tây đến thị trấn Núi Thành). Các tuyến điều tra được bố trí dọc theo dải ven bờ sông kết hợp với tuyến mặt cắt ngang theo hướng Tây – Đông để nghiên cứu đặc điểm phân bố của cây dừa nước. Vị trí các điểm và tuyến mặt cắt được xác định bằng máy định vị vệ tinh GPS.

Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển quần thể dừa nước tại xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển quần thể dừa nước tại xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

– Phương pháp xác định mật độ phân bố dừa nước:

Sử dụng các mặt cắt ngang khu dừa nước, lấy mẫu theo ô tiêu chuẩn. Hình dạng ô tiêu chuẩn là ô vuông. Ô tiêu chuẩn (ÔTC) được lấy với kích thước 100m2 (10m x10m) được lập trên tuyến đại diện của lô rừng.

Thiết lập 20 ÔTC tại khu vực sông Bến Đình và 10 ÔTC tại khu vực sông Trầu. Bấm và lưu điểm trên máy GPS tại vị trí các điểm chọn làm ÔTC. Sau khi tạo ra một ô thì tiến hành đếm (mỗi đọt là một cây). Các số liệu về số lượng cây, số lá trên mỗi cây…trong ô nghiên cứu được ghi chép cụ thể [16], [38].

– Nghiên cứu yếu tố môi trường:

+ Đo độ mặn: bằng thiết bị Salinity meter SM-802

+ Đo biên độ triều: đo bằng thước đo chia đơn vị đến cm

+ Phân tích Nts theo phương pháp TCVN 6643 : 2000;

Lân (P2O5ts) theo phương pháp TCVN 8563 : 2010

– Phương pháp PRA [70].

Điều tra bằng bảng câu hỏi cấu trúc và câu hỏi bán cấu trúc. Các thông tin thu thập liên quan đến diện tích dừa nước, mức độ phụ thuộc trực tiếp và gián tiếp của người dân vào nguồn lợi dừa nước.

2.3.2. Phương pháp tổng hợp và thống kê số liệu

– Xử lý các thông tin điều tra bằng phương pháp thống kê mô tả.

– Dùng GIS và phần mềm Mapinfo Professional để xây dựng bản đồ hiện trạng phân bố.

– Xử lý số liệu và vẽ bản đồ bằng phần mềm Microsoft Excel 2010.

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ VÀ BIẾN ĐỘNG DIỆN TÍCH QUẦN THỂ DỪA NƯỚC TẠI XÃ TAM NGHĨA

3.1.1. Hiện trạng phân bố quần thể dừa nước tại xã Tam Nghĩa

Dừa nước phân bố thành từng cụm nhỏ dọc theo hai bên bờ sông Trầu, sông Bến Đình thuộc địa phận thôn Tịch Tây, xã Tam Nghĩa. Diện tích dừa nước hiện nay khoảng 6,3 hecta. Để tiến hành nghiên cứu về mật độ dừa nước, chúng tôi đã tiến hành lập ÔTC điều tra trên khu vực sông Bến Đình và sông Trầu.

a. Mật độ dừa nước tại khu vực sông Bến Đình

Qua điều tra về cấu trúc mật độ dừa nước tại khu vực nghiên cứu trên sông Bến Đình, kết quả được trình bày ở bảng 3.1.

Bảng 1.1: Vị trí và mật độ quần thể dừa nước ở các ÔTC tại khu vực sông Bến Đình (BĐ)

TTKý hiệuToạ độMật độ (cây/ 10x10m)Mật độ (cây/ ha)Số lá/ câyVùng đệm
1BĐ1X= 0597719

Y= 1704529

141141002 láRuộng lúa
2BĐ2X=0597687

Y= 1704492

8686004 láRuộng lúa
3BĐ3X= 0597690

Y= 1704760

121121002 láHồ nuôi tôm
4BĐ4X= 0597631

Y= 1704701

102102002 láĐầm lầy
5BĐ5X= 0597595

Y= 1704673

9898003 láRạch sông
6BĐ6X= 0597579

Y= 1704658

134134002 láRạch sông
7BĐ7X= 0597683

Y= 1704654

270270005 láRạch sông
8BĐ8X= 0597659

Y= 1704745

101101002 láĐầm lầy
9BĐ9X= 0597563

Y= 1704695

9191004 láĐầm lầy
10BĐ10X= 0597660

Y= 1704603

250250004 láRạch sông
11BĐ11X= 0597685

Y= 1704560

104104003 láĐầm lầy
12BĐ12X= 0597594

Y= 1704623

265265004 láĐầm lầy
13BĐ13X= 0597448

Y= 1704658

120120002 láSông
14BĐ14X= 0597339

Y= 1704885

301301003 láRuộng lúa, Sông
15BĐ15X= 0597316

Y= 1704938

315315006 láSông
16BĐ16X= 0597507

Y= 1704868

285285004 láĐầm lầy
17BĐ17X= 0597495

Y= 1704932

178178005 láSông
18BĐ18X= 0597659

Y= 1705376

250250004 láSông, ruộng lúa
19BĐ19X= 0597568

Y= 1705282

245245005 láSông, ruộng lúa
20BĐ20X= 0597520

Y= 1705245

140140006 láSông, ruộng

Tổng diện tích dừa nước hiện nay tại sông Bến Đình là 5,2 ha. Những cụm dừa nước nằm phía trong đê ngăn mặn Bà Quận và sâu trong nội đồng. Dừa nước phân bố và giới hạn bởi các bờ bao, bờ ao nuôi tôm hoặc diện tích đất nông nghiệp. Mật độ dừa nước phân bố tại khu vực này giao động từ 8.600 cây – 31.500 cây/ha. Mật độ thấp nhất tại các vị trí ÔTC BĐ2 với 8.600 cây/ha, BĐ9 là 9.100 cây/ha, Mật độ dừa nước cao nhất tại các vị trí BĐ15 với 31.500 cây/ha.

Dừa nước sinh trưởng phát triển tốt, trung bình mỗi cây cao khoảng từ 3,5 – 5m chất lượng lá tốt. Số lượng lá đếm được tại thời điểm nghiên cứu giao động từ 2-6 lá/cây. Lá có màu xanh đậm, bẹ lá to khỏe. Chiều dài trung bình của tàu lá khoảng 3m.

Mật độ phân bố của dừa nước ở khu vực nghiên cứu trung bình 1.79 cây/m2 và thích nghi tốt với các điều kiện môi trường tại địa phương.

b. Mật độ dừa nước tại khu vực sông Trầu

Kết quả nghiên cứu mật độ dừa nước trên khu vực sông Trầu được thể hiện ở bảng 3.2.

Bảng 2.2: Vị trí và mật độ quần thể dừa nước ở các ÔTC tại khu vực sông Trầu (ST)

TTKý hiệuToạ độMật độ (cây/10x10m)Mật độ (cây/ha)Số láVùng đệm
1ST1X= 0597280

Y= 1718443

200200008 láSông
2ST2X= 0597156

Y=1706107

216216008 láSông
3ST3X= 0597142

Y=1706088

1891890010 láĐê bao
4ST4X= 0597122

Y= 1706052

2152150010láĐê bao
5ST5X= 0597095

Y= 1705895

245245008 láHồ tôm
6ST6X= 0597129

Y= 1705895

1801800012 láHồ tôm
7ST7X= 0597145

Y= 1705970

3123120012 láSình lầy
8ST8X= 0597058

Y= 1706088

3434004 láHồ tôm
9ST9X= 0597105

Y= 1706075

2102100012 láSình lầy
10ST10X= 0597192

Y= 1706065

2362360012 láHoa màu

Diện tích dừa nước hiện nay ở sông Trầu khoảng 1,1 hecta phân bố ở hai bên đê bao chống mặn. Xung quanh dừa nước là các đìa nuôi tôm bị bỏ hoang nhiều năm nay. Các đồng lúa và hoa màu năng suất rất thấp. Mật độ phân bố khoảng 3400 – 31200 cây/ha. Mật độ dừa nước thấp nhất tại ÔTC ST13 với 3400 cây/ha. Trong khi đó tại ÔTC ST6, ST7, ST10 mật độ dừa tương đối cao. Mật độ dừa nước cao nhất tại ÔTC ST7 với 31200 cây/ha. Số lá đếm tại thời điểm nghiên cứu là 4-12 lá/cây. Chiều cao trung bình mỗi cây khoảng từ 2,5 – 3,5m. Dừa nước tại khu vực này thân khá nhỏ, chất lượng lá không tốt, tán lá nhỏ và thưa, lá có màu xanh nhạt. Đồng thời, dừa nước tại khu vực sông Trầu không được người dân khai thác lá nên tại các ÔTC ST6, ST7, ST9, ST10 có 12 lá/cây, mỗi cây có rất nhiều lá vàng, lá già đã khô héo. Mật độ dừa nước trung bình trên lưu vực sông Trầu là 20.370 cây/ha, bình quân 2.03 cây/m2.

Như vậy, tại xã Tam Nghĩa dừa nước phân bố dọc theo lưu vực sông Bến Đình và sông Trầu với tổng diện tích 6,3 ha, mật độ phân bố tương đối cao (1.79 – 2.03 cây/m2).

3.1.2. Sự biến động diện tích quần thể dừa nước ở xã Tam Nghĩa

Bảng 3.3. Biến động diện tích rừng dừa nước tại xã Tam Nghĩa

Thời gian (năm)Trước 19601990200020102015
Diện tích (ha)Chưa xác định40306.16.3

(Nguồn: UBND xã Tam Nghĩa 2016)

Kết quả nghiên cứu cho thấy diện tích dừa nước có sự biến động đáng kể theo thời gian và có xu hướng giảm dần. Trong đó, sự suy giảm diện tích lớn nhất diễn ra vào khoảng thời gian 1990- 2000 và 2000- 2010, trong khi đó giai đoạn 2010 – 2015 ít biến động.

3.2. CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN TÁC ĐỘNG ĐẾN QUẦN THỂ DỪA NƯỚC TẠI XÃ TAM NGHĨA

3.2.1. Khí hậu

a. Nhiệt độ không khí

Nhiệt độ không khí là một trong những yếu tố cơ bản nhất của khí hậu có ảnh hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây dừa nước.

Nhiệt độ trung bình tại huyện Núi Thành qua các năm 2011 – 2015 là tương đối cao từ 25,1°C – 26,4°C, biên độ nhiệt hẹp (chênh lệch khoảng 9,1 – 9,4°C). Nhiệt độ ở khu vực nghiên cứu tương đối phù hợp với sự sinh trưởng của dừa nước.

b. Lượng mưa

Lượng mưa trung bình huyện Núi Thành dao động từ 2.000 – 2.556 mm. Theo kết quả quan trắc tại trạm Tam Kỳ, trung bình trong những năm từ 2011 – 2015, tổng lượng mưa năm đạt từ 2.070 mm – 3.453 mm và thuộc mức cao so với khu vực và trong cả nước. Phân bố lượng mưa không đều theo các tháng trong năm, lượng mưa trung bình tháng cao tập trung trong các tháng 9,10,11 với tổng lượng mưa trung bình tháng trên 500 mm. Thời gian còn lại thấp hơn, đặc biệt các tháng từ tháng 2 – 8 chỉ dao động khoảng dưới 100 mm.

3.2.2. Đặc điểm môi trường nước và trầm tích

a. Độ mặn

Độ mặn là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển và sự phân bố của dừa nước.

Kết quả khảo sát ghi nhận độ mặn tại các điểm nghiên cứu được thể hiện ở bảng 3.6, bảng 3.7

Bảng 3.6. Độ mặn tại các điểm nghiên cứu trên Sông Bến Đình

TTKý hiệuVị tríĐộ mặn (‰)
Đợt 1Đợt 2
Triều lênTriều xuốngTrung bìnhTriều lênTriều xuốngTrung bình
1BĐ1X= 0597719

Y= 1704529

10,50,750,50,10,3
2BĐ2X= 0597690

Y= 1704760

1,211,10,30,50,4
3BĐ3X= 0597631

Y= 1704701

1,10,910,80,60,7
4BĐ4X= 0597563

Y= 1704695

10,80,90,90,60,75
5BĐ5X= 0597339

Y= 1704885

1,511,250,70,50,6

Độ mặn trên lưu vực sông Bến Đình trung bình vào đợt 1 dao động từ 0,75 – 1,25 ‰, trong đó độ mặn cao nhất ở vị trí BĐ5 là 1.25‰, thấp nhất ở vị trí BĐ1 là 0,75‰. Đợt 2 độ mặn dao động từ 0,3 – 0,75‰, trong đó độ mặn cao nhất ở vị trí BĐ4 là 0,75‰, thấp nhất ở BĐ1 0,3‰. Độ mặn trung bình trong khu vực sông Bến Đình là 1‰.

Bảng 3.7. Độ mặn tại các điểm nghiên cứu trên Sông Trầu

TTKý hiệuVị tríĐộ mặn (‰)
Đợt 1Đợt 2
Triều

lên

Triều xuốngTrung bìnhTriều lênTriều xuốngTrung bình
1ST1X=0597280

Y=1718443

31,52,2521,41,7
2ST2X=0597122

Y=1706052

3,522,6331,52,25
3ST3X=0597095

Y=1705895

21,31,651,81,21,5
4ST4X=0597145

Y=1705970

2,51,21,85211,5
5ST5X=0597058

Y=1706088

31,22,12,11,31,7

Độ mặn trên lưu vực sông Trầu trung bình vào đợt 1 dao động từ 1,65 – 2,63‰, trong đó độ mặn cao nhất ở vị trí ST2 là 2,63‰, thấp nhất ở vị trí ST3 là 1,65‰. Đợt 2 độ mặn dao động từ 1,5 – 2,25‰, độ mặn cao nhất ở vị trí ST2 là 2,25‰, thấp nhất ở ST3 1,5‰. Độ mặn trung bình trên lưu vực sông Trầu gần 2,1‰.

Như vậy, độ mặn chúng tôi khảo sát được ở Tam Nghĩa hiện nay là 1- 2,1 ‰. Độ mặn này phù hợp với sự phân bố của dừa nước như hiện có.

b. Thủy triều

Biên độ triều trung bình ở khu vực cửa sông được ghi nhận từ 0,8 – 1,2m. Tuy vậy, biên độ triều có sự khác nhau vào các kỳ triều cường và triều kém. Vào kỳ triều cường có biên độ triều từ 1 – 1,5 m và kỳ triều kém chỉ đạt 0,4 – 0,8 m.

c. Trầm tích đáy

  • Thành phần hạt trầm tích

Kết quả khảo sát về phân cấp hạt ghi nhận tại xã Tam Nghĩa, cát mịn có cỡ hạt < 0,1 mm có tỉ lệ lớn chiếm đến 80,6% .

  • Hàm lượng đạm (N)

Bảng 3.8. Hàm lượng đạm (Nts) trên lưu vực sông Bến Đình và sông Trầu

Hàm lượng (Nts) ở khu vực sông

Bến Đình

Hàm lượng (Nts) ở khu vực

sông Trầu

TTKý hiệuVị tríKết quảTTKý hiệuVị tríKết quả
1BĐ1X= 0597719

Y= 1704529

0,206%1ST1X= 0597280

Y= 1718443

0,209%
2BĐ2X= 0597690

Y= 1704760

0,201%2ST2X= 0597122

Y= 1706052

0,135%
3BĐ3X= 0597631

Y= 1704701

0,213%3ST3X= 0597095

Y= 1705895

0,180%
4BĐ4X= 0597563

Y= 1704695

0,192%4ST4X= 0597145

Y= 1705970

0,229%
5BĐ5X= 0597339

Y= 1704885

0,309%5ST5X= 0597058

Y= 1706088

0,179%

Hàm lượng đạm tổng số (Nts) tại khu vực dừa nước trên lưu vực sông Bến Đình có giá trị dao động trong khoảng từ 0,192% – 0,309%, trung bình đạt 0,224%. Hàm lượng đạm tổng số (Nts) tại khu vực dừa nước trên lưu vực sông Trầu có giá trị dao động trong khoảng từ 0,135% – 0,229%, trung bình đạt 0,186%.

  • Hàm lượng lân (P)

Bảng 3.9. Hàm lượng lân (P2O5 ts) trên lưu vực sông Bến Đình và sông Trầu

Hàm lượng P2O5 ts khu vực sông

Bến Đình

Hàm lượng P2O5 ts khu vực

sông Trầu

TTKý hiệuVị tríKết quảTTKý hiệuVị tríKết quả
1BĐ1X= 0597719

Y= 1704529

0,106%1ST1X= 0597280

Y= 1718443

0,109%
2BĐ2X= 0597690

Y= 1704760

0,105%2ST2X= 0597122

Y= 1706052

0,035%
3BĐ3X= 0597631

Y= 1704701

0,098%3ST3X= 0597095

Y= 1705895

0,098%
4BĐ4X= 0597563

Y= 1704695

0,113%4ST4X= 0597145

Y= 1705970

0,104%
5BĐ5X= 0597339

Y= 1704885

0,145%5ST5X= 0597058

Y= 1706088

0,129%

Hàm lượng lân P2O5 ts ở khu vực sông Bến Đình biến động từ 0,098% – 0,145%, trung bình đạt 0,113%. Hàm lượng P2O5 ts ở khu vực sông Trầu dao động từ 0,035% – 0,129%, trung bình đạt 0,095%.

Theo thang đánh giá mức độ lân P2O5 ts bằng phương pháp Lorentz (Đỗ Đình Sâm và cs., 2006) thì đất dừa nước tại các khu vực khảo sát có mức độ từ trung bình đến khá.

3.3. HIỆN TRẠNG KHAI THÁC, SỬ DỤNG VÀ CÁC TÁC ĐỘNG NHÂN SINH ĐẾN QUẦN THỂ DỪA NƯỚC TẠI XÃ TAM NGHĨA

3.3.1. Hiện trạng khai thác, sử dụng nguồn lợi dừa nước tại xã Tam Nghĩa

a. Hiện trạng khai thác và sử dụng nguồn lợi trực tiếp từ cây dừa nước ở xã Tam Nghĩa

Diện tích dừa nước do người dân trực tiếp quản lý bảo vệ và khai thác là 16.500 m2 (1,65 ha), còn lại 4,65 ha do Ban nhân dân thôn Tịch Tây trực tiếp quản lý, khai thác.

Dừa nước được khai thác định kỳ trung bình 2 đợt/năm vào tháng hai và tháng bảy âm lịch, trung bình khai thác được 8 tàu lá/cây/năm.

Hiện nay, tại thôn Tịch Tây có 9 hộ làm nghề chế biến các sản phẩm từ lá dừa nước nhỏ lẻ. Các sản phẩm chế biến từ dừa nước ở xã Tam Nghĩa như tấm lợp, mái lá, mái tranh, tấm phên chủ yếu được sử dụng trong quy mô hộ gia đình. Ngoài ra, một số hộ còn bán với giá 17.000đ – 18.000đ/ tấm lợp.

b. Hiện trạng khai thác và sử dụng nguồn lợi thủy sản trong vùng dừa nước

Tại xã Tam Nghĩa, hiện nay ở có 30 hộ gia đình chuyên làm nghề chài lưới bằng ghe vào mùa mưa và mùa nắng. Trong số đó có 11 hộ gia đình khai thác thường xuyên và 19 hộ gia đình khai thác không thường xuyên. Do nhu cầu về nguồn lợi thủy sản ngày càng tăng nên bà con sử dụng đa dạng các phương thức đánh bắt, khai thác kết hợp. Trong đó có các phương thức đánh bắt mang tính hủy diệt như xung điện, lưới 3-4 lớp, vó kích thước nhỏ.

Bảng 3.11. Phương thức khai thác thủy sản của các hộ gia đình tại xã Tam Nghĩa

Phương thức khai thácKhai thác thường xuyênKhai thác không thường xuyên
Số hộTỷ lệSố hộTỷ lệ
Lưới513.1%513.1%
Cào25,2%25,2%
Vó410,5%25,2%
Lờ410,5%37,9%
Lượm25,2%821,5%
Xung điện12,6%Không phát hiện

3.3.2. Tác động áp lực nhân sinh đến quần thể dừa nước tại Tam Nghĩa

a. Nhận thức của cộng đồng địa phương về vai trò của quần thể dừa nước

Bảng 3.12. Nhận thức của người dân về tầm quan trọng của quần thể dừa nước ở xã Tam Nghĩa

Các vai trò của quần thể dừa nướcSố ngườiTỷ lệ
Chống sạt lỡ, xói mòn3995,1%
Ngăn gió bão3585,3%
Môi trường sống của thủy sản4097,5%
Tạo phong cảnh đẹp1024,4%
Tạo nguồn thu nhập3073,1%
Xử lý nước thải512,2%

Mặc dù người dân có nhận thức cao về giá trị kinh tế và giá trị môi trường của dừa nước, nhưng việc khai thác nguồn lợi dừa nước bừa bãi đang diễn ra tại địa phương. Đây chính là thách thức lớn trong công tác bảo vệ nguồn lợi dừa nước tại địa phương.

b. Chính sách quản lý bảo vệ nguồn lợi dừa nước của chính quyền địa phương

Vào năm 2013, Phòng TN&MT huyện Núi Thành chủ trì trồng phục hồi 2 ha dừa nước tại thôn Tịch Tây bằng nguồn giống được mua từ Hội An. Và diện tích rừng dừa nước của xã hiện nay được giao cho Ban nhân dân thôn Tịch Tây trực tiếp quản lý. Ban nhân dân thôn giao khoán cho 15 hộ trong thôn khai thác, sử dụng và đóng phí khai thác cho thôn quản lý.

c. Các nguyên nhân gây suy giảm diện tích dừa nước xã Tam Nghĩa

Bảng 3.13. Các nguyên nhân làm suy giảm diện tích rừng dừa nước ở Tam Nghĩa

Nguyên nhânTỷ lệ % số người trả lời
Số ngườiTỷ lệ
Phá rừng dừa nước để làm ao nuôi trồng thủy sản3073,1%
Lấy đất sản xuất nông nghiệp3482,9%
Chiến tranh512,1%
Chặt phá lấy gỗ củi1536,6%
Thiên tai49,7%

Các nguyên nhân gây suy giảm diện tích dừa nước tại Tam Nghĩa bao gồm: phá rừng làm ao nuôi thủy sản, chuyển đổi sang đất nông nghiệp, do chiến tranh, thiên tai, chặt cây lấy gỗ, củi. Theo người dân, việc phá rừng để lấy đất sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản là nguyên nhân chính.

3.4. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUẦN THỂ DỪA NƯỚC TẠI TAM NGHĨA

3.4.1. Phân tích hiện trạng, áp lực và đáp ứng

Những vấn đề cấp bách đối với dừa nước Tam Nghĩa hiện nay là: (1) Diện tích dừa nước bị suy giảm, diện tích đất bị bỏ hoang ngày càng gia tăng; (2) Sinh kế của người dân từ cây dừa nước còn hạn chế; (3) Suy giảm nguồn lợi thủy sản trong vùng dừa nước; (4) Nhận thức của cộng đồng về vai trò của HST dừa nước hạn chế. Các chính sách bảo vệ, phục hồi dừa nước triển khai chậm, quản lý chưa chặt chẽ và còn nhiều bất cập. Điều này đã gây áp lực rất lớn đến quần thể dừa nước tại địa phương.

3.4.2. Đề xuất các giải pháp phát triển quần thể dừa nước tại Tam Nghĩa

a. Giải pháp trồng phục hồi quần thể dừa nước

– Khu vực đề xuất trồng dừa nước ở xã Tam Nghĩa là những diện tích đất ngập nước tự nhiên hoặc ruộng lúa, ao nuôi tôm đã bỏ hoang nhiều năm. Tổng diện tích đề xuất trồng khoảng 13,58 ha.

– Khu vực đề xuất quản lý, bảo vệ, trồng phục hồi là từ triền sông thôn Tịch Tây, các HST dừa nước ở mực triều thấp. Diện tích của khu vực này khoảng 10 hecta, từ khu rừng dừa thôn Tịch Tây trở ra phía triền sông và dọc theo sông Trầu đến thị trấn Núi Thành, 2/3 diện tích này là đất và 1/3 là diện tích mặt nước.

– Huy động cộng đồng tham gia trồng phục hồi và quản lý khai thác bền vững rừng dừa nước tại địa phương.

– Chính quyền địa phương tổ chức, hỗ trợ kinh phí cho người dân xây dựng vườn ươm ngay tại địa phương

b. Giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý nguồn lợi dừa nước

– Quy hoạch, khoanh định để bảo vệ và khai thác rừng dừa một cách có hiệu quả và nâng cao lợi ích từ dừa nước đối với cộng đồng là rất cần thiết. Bên cạnh việc khai thác lá dừa như hiện nay thì phải cần tăng cường việc khai thác vào vùng lõi và những vùng dừa có điều kiện đi lại khó khăn.

– Tiến hành chặt lá và dọn tạp cho 1,1 ha diện tích dừa nước ở khu vực sông Trầu tạo điều kiện môi trường thông thoáng cho cây sinh trưởng, phát triển tốt.

– Khai thác dừa nước cần quy định tối đa 1–2 lần/năm đồng thời cần có quy định giám sát hoạt động khai thác thủy sản thật chặt chẽ, cấm các phương tiện khai thác hủy diệt, quy định kích thước các loài thủy sản được khai thác và thời gian khai thác.

– Cần có giải pháp định hướng phát triển du dịch sinh thái dựa vào cộng đồng.

– Đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ từ dừa nước.

– Giảm áp lực khai thác nguồn lợi dừa nước bằng cách hỗ trợ sinh kế thay thế hiệu quả cho các hộ khai thác dừa nước và các hộ khai thác thủy sản.

c. Giải pháp quản lý, bảo vệ bền vững quần thể dừa nước

*/ Nâng cao nhận thức và năng lực quản lý

Tổ chức thực hiện các biện pháp, chương trình truyền thông, giáo dục, nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành và cộng đồng dân cư.

*/ Quản lý bảo vệ rừng dừa nước trên cơ sở cộng đồng

Xây dựng mô hình quản lý tài nguyên dừa nước dựa vào cộng đồng, vì lợi ích cộng đồng. Theo đó các diện tích dừa nước hiện nay do Ban nhân dân thôn Tịch Tây quản lý nhưng sử dụng không hiệu quả sẽ được giao cho cá nhân hay các hộ gia đình quản lý có thời hạn theo luật định.

*/ Khai thác tài nguyên rừng dừa nước và nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững

Nâng cao hiệu quả các mô hình sản xuất nông, lâm, ngư kết hợp, đa dạng hóa sinh kế, phổ biến kĩ thuật và xây dựng mô hình nuôi tôm thân thiện với rừng dừa nước với quy mô hợp lý.

Cần có quy hoạch quản lý và sử dụng rừng dừa nước một cách tổng thể ở các cấp để đảm bảo quyền và lợi ích sử dụng lâu dài cho chủ rừng, đảm bảo cân bằng về lợi ích và sự tham gia của các ngành có liên quan.

*/ Tăng cường giáo dục ý thức bảo vệ nguồn lợi dừa nước cho cộng đồng

Cần phổ biến, tuyên truyền và giáo dục pháp luật về bảo vệ, phát triển rừng bền vững cho người dân, đặt biệt là các hộ dân sống gần rừng dừa ở thôn Tịch Tây, xã Tam Nghĩa. Đặc biệt, đào tạo một số người dân nòng cốt tại địa phương về hoạt động quản lý và sử dụng họ như cán bộ quản lý địa phương tại cộng đồng.

Cần tăng cường hơn các hoạt động quản lý có hiệu quả để ngăn chặn các hành vi khai thác thủy sản bừa bãi, lấn chiếm diện tích, chặt phá rừng, xả thải chất ô nhiễm. Ngoài ra, địa phương cần phải đảm bảo các bộ phận chức năng có chuyên môn phù hợp, có cơ chế về nguồn lực tài chính để thực hiện công tác quản lý đồng thời nâng cao hiệu quả cho việc phục hồi, phát triển rừng dừa nước.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. KẾT LUẬN

– Diện tích dừa nước tại xã Tam Nghĩa hiện nay có khoảng 6,3 hecta, tập trung phân bố dọc trên lưu vực sông Trầu và sông Bến Đình. Mật độ dừa nước phân bố trên sông Bến Đình trung bình 1.79 cây/m2, trên sông Trầu 2.03 cây/m2. Xu thế biến động diện tích dừa nước theo xu hướng giảm mạnh trong giai đoạn từ 1990 – 2010, tuy nhiên đã có xu hướng tăng nhẹ từ 2010 đến nay.

– Sự suy giảm diện tích rừng dừa nước ở xã Tam Nghĩa có nguyên nhân từ các hoạt động kinh tế. Trong đó, phá rừng dừa nước để lấy diện tích đất nuôi thủy sản và sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân chính.

– Các nhân tố sinh thái như nhiệt độ không khí, lượng mưa, thủy triều, độ mặn, thành phần hạt trầm tích, đạm và lân dễ tiêu trong trầm tích tại khu vực nghiên cứu thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây dừa nước.

– Nguồn lợi dừa nước chủ yếu là khai thác làm tấm lợp, tấm phên phục vụ cho nhu cầu trong quy mô hộ gia đình. Bên cạnh đó, việc đánh bắt thủy sản cũng đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho cộng đồng địa phương mặc dù phương thức và cách quản lý khai thác chưa hiệu quả.

– Để bảo vệ và phát triển quần thể dừa nước cần phải có kế hoạch trồng phục hồi diện tích dừa nước để phủ xanh diện tích đất bị bỏ hoang tại địa phương; Có định hướng khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi dừa nước, khoanh định để bảo vệ và khai thác rừng dừa nước một cách hiệu quả, nâng cao lợi ích từ dừa nước như đa dạng hóa và tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm gián tiếp. Trong đó, cần chú trọng đến việc xây dựng mô hình quản lý dừa nước dựa vào cộng đồng, hỗ trợ các hoạt động sinh kế khác thay thế nhằm giảm áp lực lên nguồn lợi, khai thác tiềm năng du lịch sinh thái tại địa phương.

2. KIẾN NGHỊ

Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam và huyện Núi Thành cần tiếp tục đầu tư và triển khai hiệu quả các dự án nhằm bảo vệ, phục hồi và phát triển bền vững quần thể tại xã Tam Nghĩa.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN KY THUAT\SINH THAI HOC\LE THI DIEM SUONG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *