Nghiên cứu giá trị dịch vụ hệ sinh thái dừa nước tại xã Bình Phước, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi & đề xuất các giải pháp quản lý
1. Lý do chọn đề tài
Các dịch vụ hệ sinh thái (DVHST) chính là các lợi ích mà HST mang lại cho con người để đáp ứng cho các nhu cầu cuộc sống. Những lợi ích đó chia làm các nhóm: Dịch vụ cung cấp như thực phẩm và nước; Dịch vụ hỗ trợ như hình thành đất và chu trình dinh dưỡng; Dịch vụ điều tiết như: điều tiết lũ lụt, hạn hán, chống xói mòn đất và dịch bệnh; Dịch vụ du lịch và văn hóa như: giá trị du lịch, giải trí, nghiên cứu, tôn giáo và các lợi ích phi vật chất khác. Các dịch vụ này mang lại các lợi ích về kinh tế, sức khỏe và xã hội góp phần thúc đẩy sự phát triển tại địa phương.
Việt Nam có hơn 10 triệu hecta đất ngập nước, phân bố ở hầu khắp các vùng sinh thái trên cả nước, gồm nhiều loại hình đa dạng như đầm phá, đầm lầy, bãi bồi cửa sông, rừng ngập mặn ven biển, ao hồ tự nhiên và nhân tạo. Tuy nhiên, trong 15 năm qua ĐNN đã và đang bị suy giảm cả về diện tích và chất lượng. Các khu rừng ngập mặn tự nhiên ven biển đã suy giảm nhiều so với trước đây thay vào đó là các đầm nuôi thủy sản, các công trình du lịch và một số diện tích rừng trồng. Diện tích rừng ngập mặn đã giảm đi 183.724 ha trong 20 năm từ 1985-2005, trong khi diện tích nuôi trồng thủy sản đã tăng lên 1.1 triệu ha vào năm 2003. Nguyên nhân dẫn đến suy giảm diện tích và chất lượng của ĐNN như: gia tăng dân số, phát triển kinh tế-xã hội, chuyển đổi mục đích sử dụng đất,… thì việc thiếu thông tin về giá trị kinh tế hệ sinh thái đất ngập nước đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên này. Đây là thông số đầu vào quan trọng giúp cho các nhà quản lý môi trường, các nhà hoạch định chính sách cũng như các cơ quan quản lý có những luận cứ chắc chắn đưa ra những giải pháp, biện pháp phù hợp đối với từng khu vực đất ngập nước cụ thể sao cho sử dụng đi đôi với bảo tồn. Hiện nay, tại Việt Nam các thông tin về giá trị kinh tế của đất ngập nước còn rất thiếu và chưa đồng bộ. Do đó, hầu hết các quyết định về sử dụng đất ngập nước thường đứng trên quan điểm cá nhân và chỉ tính đến giá trị trực tiếp mà đất ngập nước mang lại trong khi thường bỏ qua hoặc đánh giá thấp lợi ích tổng thể mà đất ngập nước mang lại cho xã hội. Vì vậy, khi áp dụng vào thực tế thì tính hiệu quả không cao.
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về giá trị DVHST như Mai Trọng Nhuận, Nguyễn Hữu Ninh và cộng sự (2004), Đỗ Nam Thắng (2010), Đinh Đức Trường (2010), Kim Thị Thúy Ngọc (2015). Tuy nhiên, những nghiên cứu này tập trung vào việc đề xuất những phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và lượng giá kinh tế các giá trị DVHST, chưa có nhiều nghiên cứu về nhận thức của người dân địa phương về tầm quan trọng của nhóm DVHST.
Xã Bình Phước hiện có khoảng 100,71 ha đất ngập nước trong đó tập trung chủ yếu ở hồ Thái Cân với HST dừa nước. Với diện tích lớn, có nhiều vai trò quan trọng nhưng chưa được nghiên cứu, đánh giá, lượng hoá các giá trị dịch vụ do HST dừa nước mang lại, mặc dù đã bao đời nay, người dân đã và đang khai thác những giá trị này để phục vụ đời sống và sinh kế.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, đề tài “Nghiên cứu giá trị dịch vụ hệ sinh thái dừa nước tại xã Bình Phước, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi & đề xuất các giải pháp quản lý” nhằm đánh giá những giá trị DVHST dừa nước mang lại cho cộng đồng dân cư, từ đó đề xuất biện pháp quản lý, bảo vệ và khai thác bền vững HST dừa nước tại địa phương.
2. Mục tiêu đề tài
2.1. Mục tiêu tổng quát
Góp phần cung cấp thông tin về nhận thức, giá trị lượng hóa các dịch vụ hệ sinh thái để quy hoạch phát triển, khai thác, bảo vệ, quản lý hiệu quả tài nguyên đất ngập nước, hướng đến phát triển bền vững.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Điều tra được mức độ nhận thức tầm quan trọng, yếu tố rủi ro và nguyện vọng sử dụng các giá trị dịch vụ HST dừa nước gồm:
– Điều tra mức độ nhận thức tầm quan trọng của các dịch vụ hệ sinh thái dừa nước;
– Điều tra các yếu tố tác động đến hệ sinh thái dừa nước;
– Điều tra nguyện vọng sử dụng hệ sinh thái dừa nước.
Đánh giá được các giá trị kinh tế của hệ sinh thái đến sự phát triển kinh tế của xã Bình Phước, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
– Lượng hóa được các giá trị kinh tế trực tiếp:
+ Khai thác thủy hải sản; + Nuôi trồng thủy sản;
+ Khai thác lâm sản.
– Lượng hóa được các giá trị gián tiếp:
+ Giá trị cung cấp nguồn nước tưới; + Giá trị tùy chọn;
+ Giá trị để lại.
Đề xuất được các giải pháp khả thi đối với việc quản lý, bảo vệ, bảo tồn và khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên HST dừa nước.
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Ý nghĩa khoa học: Cung cấp thông tin về khoa học, góp thêm dẫn liệu về đánh giá giá trị dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước làm cơ sở cho việc quy hoạch phát triển bền vững khu vực đất ngập nước huyện Bình Sơn. Góp phần bổ sung tư liệu vào việc nghiên cứu đất ngập nước tỉnh Quảng Ngãi.
Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp dữ liệu cho quy hoạch, quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững hệ sinh thái dừa nước tại khu vực nghiên cứu.
4. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Luận văn gồm có các phần sau: Mở đầu; Tổng quan tài liệu; Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu ; Kết quả nghiên cứu ; Kết luận và Kiến nghị; Tài liệu tham khảo; Phụ lục.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. HST đất ngập nước và các giá trị chủ yếu
1.1.1. Khái niệm HST đất ngập nước
Đất ngập nước (ĐNN) rất đa dạng, có mặt khắp mọi nơi và là cấu thành quan trọng của các cảnh quan trên mọi miền của thế giới. Ước tính diện tích trên toàn cầu là 1280 triệu ha (tương đương với khoảng 9% diện tích bề mặt), là nơi con người và các nền văn hoá nhân loại được hình thành và phát triển dọc theo các triền sông hoặc ngay trên các vùng ĐNN. ĐNN đã và đang bị suy thoái và mất đi ở mức báo động, mặc dù ngày nay người ta đã nhận biết được các chức năng và giá trị to lớn của chúng[1].

1.1.2. Hệ sinh thái dừa nước
Quần thể dừa nước chiếm ưu thế đóng vai trò chủ đạo hình thành nên HST dừa nước và các loài sinh vật thủy sinh sống trong vùng có dừa nước, giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ lẫn nhau và chịu sự tác động qua lại của các yếu tố môi trường. HST dừa nước là nơi có độ đa dạng sinh học cao, có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm, các dịch vụ hỗ trợ như: nơi cư trú, nơi sinh sản cho nhiều loài sinh vật biển và sông có giá trị như: tôm, cua, ghẹ và các động vật thân mềm. Ngoài ra, hệ sinh thái dừa nước còn có vai trò rất quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, chống xói lở, tạo trầm tích và hoạt động như một máy lọc sinh học, duy trì cân bằng sinh thái cho môi trường, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch sinh thái.
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Phạm vi nghiên cứu
– Không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại thôn Phú Long 1, 2, 3 thuộc xã Bình Phước, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
– Thời gian: Thời gian nghiên cứu luận văn từ tháng 03/2018 – 10/2018.
2.2. Đối tượng
– Khảo sát nhận thức tầm quan trọng các giá trị dịch vụ hệ sinh thái; yếu tố tác động và nguyện vọng sử dụng các giá trị dịch vụ HST dừa nước.
– Điều tra, lượng hóa các giá trị kinh tế sử dụng trực tiếp và gián tiếp.
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập, kế thừa và tổng hợp số liệu
2.3.2 Phuơng pháp khảo sát thực địa
2.3.3 Phương pháp đánh giá nhanh các dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước (RAWES)[2]
Phương pháp đánh giá nhanh các dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước được thực hiện bằng cách liệt kê bảng danh sách kiểm tra gồm 37 dịch vụ chia thành các loại chức năng được xác định trong Chương trình Đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ (2005), cụ thể dịch vụ cung cấp, điều tiết, văn hóa và các dịch vụ hỗ trợ, đóng vai trò như một bản ghi nhớ ban đầu. Trên cơ sở danh sách các dịch vụ này, thông qua đối thoại và tham vấn các bên liên quan ở địa phương đã quen thuộc với vùng đất ngập nước chúng tôi đã liệt kê một bảng danh sách kiểm tra gồm 18 loại dịch vụ.
Trên cơ sở các dịch vụ này chúng tôi tiến hành điều tra ngẫu nhiên với tổng số người được phỏng vấn 156 người. Nội dung điều tra gồm:
– Thông tin đối tượng điều tra gồm:
+ Độ tuổi lao động: Độ tuổi lao động, Ngoài độ tuổi lao động;
+ Giới tính: Nam, Nữ;
+ Nghề nghiệp: Khai thác thủy sản, Nuôi trồng thủy sản, Khai thác lâm sản, Trồng trọt chăn nuôi, Kinh doanh dịch vụ, Cán bộ quản lý;
+ Trình độ học vấn: Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, Đại học, Trên đại học;
+ Thu nhập bình quân hàng tháng: Dưới 1 triệu, Từ 1 đến 3 triệu, Từ 3 đến 5 triệu, Từ 5 đến 10 triệu, Trên 10 triệu;
– Nhận thức những giá trị DVHST;
– Nhận thức các yếu tố ảnh hưởng đến HST;
– Nhận định mức độ đóng góp của HST đối với môi trường và kinh tế địa phương;
– Nguyện vọng giữ lại và sử dụng HST;
– Đánh giá sự sẵn lòng chi trả cho HST dừa nước ở hiện tại và tương lai.
Trước khi tiến hành phỏng vấn, nghiên cứu viên thảo luận và giải thích với người được điều tra những khái niệm về DVHST ĐNN. Bước tiếp theo, người được phỏng vấn sẽ tự động chấm điểm phân hạng các giá trị DVHST, các yếu tố tác động bằng cách cho điểm từ 1 đến 5 (1- Không quan tâm/không biết; 2- Không quan trọng; 3- Ít quan trọng; 4- Quan trọng; 5- Rất quan trọng) theo sự tăng dần của mức độ quan trọng hoặc tác động đến HST dừa nước.
Số liệu điều tra sau khi thu thập sẽ được mã hóa, xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 20. Sử dụng kiểm định Chi-Square với mức mức ý nghĩa α = 90% (hay α = 0,1 thường áp dụng trong phân tích điều tra xã hội học) để phân tích nhận thức của đối tượng điều tra. Sử dụng kiểm định Explore với mức ý nghĩa α = 95% (hay α = 0,05) đối với những nhận thức có sự khác biệt có ý nghĩa.
2.3.4. Phương pháp xử lý thống kê
Các dữ liệu thu thập bao gồm dữ liệu thứ cấp và sơ cấp. Các chuỗi dữ liệu này mang tính dàn trải và được xử lý bằng phần mềm thống kê MS Exel, phần mềm SPSS 20 nhằm phục vụ cho báo cáo kết quả, thảo luận và đề xuất các biện pháp quản lý.
2.3.5. Phương pháp lượng giá giá trị tài nguyên và môi trường
2.3.5.1. Các phương pháp dựa vào thị trường thực
2.3.5.2 Phương pháp đánh giá phụ thuộc tình huống giả định (CMV)[3]
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Các dịch vụ hệ sinh thái dừa nước
3.1.1. Nhận thức của người dân đối với những giá trị DVHST
3.1.1.1. Tuần suất lựa chọn giá trị DVHST
Bảng 3.1. Tần suất đánh giá mức độ giá trị DVHST
| STT | Tên giá trị dịch vụ | Tần suất chọn | ||||
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | ||
| 1 | Cung cấp thực phẩm | 12 | 1 | 7 | 72 (46,2%) | 64 |
| 2 | Cung cấp lâm sản | 4 | 1 | 14 | 63 | 74 (47,4 %) |
| 3 | Nguồn nước nuôi trồng thủy sản | 7 | 6 | 27 | 67 (42,9%) | 49 |
| 4 | Cung cấp dược liệu: cây thuốc | 72 (46,2%) | 26 | 15 | 31 | 12 |
| 5 | Cung cấp nguồn nước tưới | 9 | 4 | 2 | 51 | 90 (57,7%) |
| 6 | Cung cấp nước ngọt | 16 | 3 | 4 | 42 | 91 (58,3%) |
| 7 | Điều tiết nước ngầm | 27 | 4 | 4 | 60 | 61 |
| 8 | Điều hòa không khí | 7 | 2 | 9 | 48 | 90 (57,7%) |
| 9 | Lọc nước, xử lý chất ô nhiễm | 25 | 6 | 17 | 53 | 55 |
| 10 | Hạn chế lũ lụt | 10 | 5 | 12 | 57 | 72 |
| 11 | Điều tiết chu trình nước | 35 | 6 | 20 | 51 | 44 |
| 12 | Lưu giữ cacbon | 50 (32,1%) | 10 | 13 | 54 | 29 |
| 13 | Chắn gió | 8 | 1 | 2 | 54 | 91 (58,3%) |
| 14 | Cung cấp nơi cư trú | 8 | 5 | 12 | 52 | 79 (50,6%) |
| 15 | Cung cấp nơi sinh sản | 6 | 7 | 11 | 52 | 80 (51,3%) |
| 16 | Giá trị giải trí, du lịch | 12 | 5 | 11 | 55 | 73 |
| 17 | Giá trị văn hóa, lịch sử | 5 | 5 | 3 | 20 | 123 (78,8%) |
| 18 | Giá trị giáo dục, khoa học | 36 | 17 | 14 | 56 | 33 |
Kết quả tại bảng 3.1, cho thấy giá trị cung cấp lâm sản (47,4% chọn mức 5 – mức rất quan trọng); cung cấp nguồn nước tưới (57,7% chọn mức 5 – mức rất quan trọng); cung cấp nước ngọt (58,3% chọn mức 5 – mức rất quan trọng); điều hòa không khí (57,7% chọn mức 5 – mức rất quan trọng), Chắn gió (58,3% chọn mức 5 – mức rất quan trọng); cung cấp nơi cư trú (50,6% chọn mức 5 – mức rất quan trọng); cung cấp nơi sinh sản (51,3% chọn mức 5 – mức rất quan trọng); giá trị văn hóa, lịch sử (78,8% chọn mức 5 – mức rất quan trọng); có thể khẳng định HST dừa nước đã cung cấp đầy đủ những chức năng sinh thái, giá trị kinh tế của vùng đất ngập nước; được người dân khai thác là một phần không thể tách rời trong đời sống, đặc biệt đồng hành với người dân nơi đây qua 02 cuộc đấu tranh giải phóng đất nước
Tiếp đến là giá trị thuộc dịch vụ cung cấp thực phẩm (46,2% chọn mức 4 – mức quan trọng); nguồn nước nuôi trồng thủy sản (42,9% chọn mức 4 – mức quan trọng) đây là nguồn cung cấp các giá trị sử dụng trực tiếp như: cá, tôm, nghêu, lá dừa,… góp phần giải quyết sinh kế cho người dân vùng đất ngập nước.
Giá trị cung cấp dược liệu (46,2% chọn mức 1 – mức không quan trọng); lưu giữ cacbon (32,1% chọn mức 1 – mức không quan trọng) có thể những giá trị này khó nhận biết và đòi hỏi trình độ chuyên môn.
Theo nghiên cứu Nguyễn Công Tráng và Nguyễn Văn Trai (2013) tại rừng ngập mặn ở Bến Tre, cho rằng nhóm DVCC và DVĐT của rừng là có vai trò rất quan trọng. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi. Như vậy, đối với những người này vai trò lớn nhất của HST đất ngập nước là cung cấp những giá trị sử dụng trực tiếp, hình thành điều kiện và duy trì môi trường ổn định cho hoạt động sản xuất thuận lợi.
3.1.1.2. Độ tuổi lao động ảnh hưởng đến nhận thức các giá trị DVHST
Bảng 3.2. Tổng hợp kết quả kiểm định Chi-Square của độ tuổi lao động đối với nhận thức các giá trị DVHST
| STT | Giá trị dịch vụ HST | Chỉ số Asymp. Sig | Mức ý nghĩa α |
| 1 | Cung cấp thực phẩm | 0,841 | 0,1 |
| 2 | Cung cấp lâm sản | 0,695 | |
| 3 | Nguồn nước nuôi trồng thủy sản | 0,366 | |
| 4 | Cung cấp dược liệu | 0,391 | |
| 5 | Cung cấp nguồn nước tưới | 0,724 | |
| 6 | Cung cấp nước ngọt | 0,154 | |
| 7 | Điều tiết nước ngầm | 0,129 | |
| 8 | Điều hòa không khí | 0,473 | |
| 9 | Lọc nước, xử lý chất ô nhiễm | 0,170 | |
| 10 | Hạn chế lũ lụt | 0,028 | |
| 11 | Điều tiết chu trình nước | 0,008 | |
| 12 | Lưu giữ cacbon | 0,317 | |
| 13 | Chắn gió | 0,166 | |
| 14 | Cung cấp nơi cư trú | 0,629 | |
| 15 | Cung cấp nơi sinh sản | 0,205 | |
| 16 | Giá trị giải trí, du lịch | 0,219 | |
| 17 | Giá trị văn hóa, lịch sử | 0,595 | |
| 18 | Giá trị giáo dục, khoa học | 0,105 |
Kết quả tổng hợp tại bảng 3.2, cho thấy có sự nhận thức khác nhau ở độ tuổi lao động đối với giá trị điều tiết chu trình nước và hạn chế lũ lụt, có thể người dân xem HST dừa nước là 01 khu rừng nên có tác dụng giữ nước, điều hòa dòng chảy từ đó hạn chế chế lũ lụt và 02 giá trị này có mối liên hệ tương quan hỗ trợ nhau trong nhận thức của người dân.
Kết quả tại bảng 3.3 cho thấy độ tuổi ngoài lao động có nhận thức cao hơn đối với giá trị điều tiết chu trình nước và hạn chế lũ lụt vì thời gian chứng kiến vai trò điều tiết lũ lụt của HST dừa nước nhiều hơn.
Các giá trị còn lại không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa (vì Sig > 0,1) vì các dịch vụ này được nhận thức rõ ràng như nhau của độ tuổi lao động.
Bảng 3.3. Kết quả kiểm định Explore của yếu tố độ tuổi lao động đối với những giá trị dịch vụ có sự nhận định khác nhau
| STT | Giá trị dịch vụ | Độ tuổi lao động | ||
| Độ tuổi lao động | Ngoài độ tuổi lao động | |||
| 1 | Điều tiết chu trình nước | KQ | 3,18 | 4,11 |
| SD | ±0,143 | ±0,163 | ||
| 2 | Hạn chế lũ lụt | KQ | 4,13 | 4,14 |
| SD | ±0,103 | ±0,178 | ||
3.1.1.3. Giới tính ảnh hưởng đến nhận thức các giá trị DVHST
Bảng 3.4. Tổng hợp kết quả kiểm định Chi-Square của giới tính ảnh hưởng đến nhận thức các giá trị DVHST
| STT | Giá trị dịch vụ HST | Chỉ số Asymp. Sig | Mức ý nghĩa α |
| 1 | Cung cấp thực phẩm | 0,304 | 0,1 |
| 2 | Cung cấp lâm sản | 0,622 | |
| 3 | Nguồn nước nuôi trồng thủy sản | 0,765 | |
| 4 | Cung cấp dược liệu | 0,870 | |
| 5 | Cung cấp nguồn nước tưới | 0,090 | |
| 6 | Cung cấp nước ngọt | 0,262 | |
| 7 | Điều tiết nước ngầm | 0,134 | |
| 8 | Điều hòa không khí | 0,559 | |
| 9 | Lọc nước, xử lý chất ô nhiễm | 0,092 | |
| 10 | Hạn chế lũ lụt | 0,011 | |
| 11 | Điều tiết chu trình nước | 0,370 | |
| 12 | Lưu giữ cacbon | 0,277 | |
| 13 | Chắn gió | 0,094 | |
| 14 | Cung cấp nơi cư trú | 0,018 | |
| 15 | Cung cấp nơi sinh sản | 0,312 | |
| 16 | Giá trị giải trí, du lịch | 0,006 | |
| 17 | Giá trị văn hóa, lịch sử | 0,136 | |
| 18 | Giá trị giáo dục, khoa học | 0,224 |
Bảng 3.5. Kết quả kiểm định Explore của yếu tố giới tính đối với những giá trị dịch vụ có sự nhận định khác nhau
| STT | Giá trị dịch vụ | Giới tính | ||
| Nam | Nữ | |||
| 1 | Cung cấp nguồn nước tưới | KQ | 4,45 | 4,17 |
| SD | ±0,105 | ±0,137 | ||
| 2 | Lọc nước, xử lý chất ô nhiễm | KQ | 3,85 | 3,44 |
| SD | ±0,134 | ±0,193 | ||
| 3 | Hạn chế lũ lụt | KQ | 4,32 | 3,84 |
| SD | ±0,098 | ±0,160 | ||
| 4 | Chắn gió | KQ | 4,55 | 4,19 |
| SD | ±0,083 | ±0,143 | ||
| 5 | Cung cấp nơi cư trú | KQ | 4,24 | 4,17 |
| SD | ±0,105 | ±0,144 | ||
| 6 | Giá trị giải trí, du lịch | KQ | 4,22 | 3,94 |
| SD | ±0,099 | ±0,178 | ||
Theo kết quả tổng hợp tại bảng 3.4, 3.5 cho thấy có sự nhận định khác nhau ở giới tính; nam giới có nhận thức cao hơn so với nữ giới đối với giá trị dịch vụ cung cấp nguồn nước tưới; lọc nước, xử lý chất ô nhiễm; hạn chế lũ lụt; chắn gió; cung cấp nơi cư trú; giá trị giải trí, du lịch vì khu vực nghiên cứu chủ yếu sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản do đó việc điều tiết nguồn nước để cung cấp cho hoạt động này chủ yếu do nam giới thực hiện.
Các giá trị còn lại không có sự khác biệt có ý nghĩa (vì Sig > 0,1) vì các dịch vụ này được nhận thức rõ ràng như nhau của hai giới.
3.1.1.4. Nghề nghiệp ảnh hưởng đến nhận thức các giá trị DVHST
Bảng 3.6. Tổng hợp kết quả kiểm định Chi-Square của nghề nghiệp ảnh hưởng đến nhận thức các giá trị DVHST
| STT | Giá trị dịch vụ HST | Chỉ số Asymp. Sig | Mức ý nghĩa α |
| 1 | Cung cấp thực phẩm | 0,013 | 0,1 |
| 2 | Cung cấp lâm sản | 0,060 | |
| 3 | Nguồn nước nuôi trồng thủy sản | 0,011 | |
| 4 | Cung cấp dược liệu | 0,176 | |
| 5 | Cung cấp nguồn nước tưới | 0,148 | |
| 6 | Cung cấp nước ngọt | 0,270 | |
| 7 | Điều tiết nước ngầm | 0,204 | |
| 8 | Điều hòa không khí | 0,889 | |
| 9 | Lọc nước, xử lý chất ô nhiễm | 0,008 | |
| 10 | Hạn chế lũ lụt | 0,089 | |
| 11 | Điều tiết chu trình nước | 0,000 | |
| 12 | Lưu giữ cacbon | 0,004 | |
| 13 | Chắn gió | 0,616 | |
| 14 | Cung cấp nơi cư trú | 0,244 | |
| 15 | Cung cấp nơi sinh sản | 0,007 | |
| 16 | Giá trị giải trí, du lịch | 0,483 | |
| 17 | Giá trị văn hóa, lịch sử | 0,123 | |
| 18 | Giá trị giáo dục, khoa học | 0,000 |
Bảng 3.7. Kết quả kiểm định Explore của yếu tố nghề nghiệp đối với những giá trị dịch vụ có sự nhận định khác nhau
| STT | Giá trị dịch vụ | Nghề nghiệp | ||||||
| Khai thác thủy sản | Nuôi trồng thủy sản | Khai thác lâm sản | Trồng trọt chăn nuôi | Kinh doanh | Cán bộ quản lý | |||
| 1 | Cung cấp thực phẩm | KQ | 4,88 | 4,60 | 4,36 | 3,94 | 3,59 | 4,59 |
| SD | ±0,125 | ±0,245 | ±0,133 | ±0,133 | ±0,285 | ±0,096 | ||
| 2 | Cung cấp lâm sản | KQ | 4,38 | 4,2 | 4,86 | 4,28 | 3,88 | 4,30 |
| SD | ±0,263 | ±0,20 | ±0,097 | ±0,108 | ±0,169 | ±0,117 | ||
| 3 | Nguồn nước nuôi trồng thủy sản | KQ | 4,50 | 4,80 | 4,00 | 3,83 | 3,24 | 4,33 |
| SD | ±0,189 | ±0,20 | ±0,257 | ±0,115 | ±0,235 | ±0,16 | ||
| 4 | Lọc nước, xử lý chất ô nhiễm | KQ | 3,38 | 2,6 | 3,86 | 3,75 | 2,47 | 4,44 |
| SD | ±0,532 | ±0,148 | ±0,329 | ±0,148 | ±0,403 | ±0,123 | ||
| 5 | Hạn chế lũ lụt | KQ | 4,75 | 4,8 | 4,36 | 4,0 | 3,41 | 4,56 |
| SD | ±0,164 | ±0,20 | ±0,248 | ±0,125 | ±0,374 | ±0,097 | ||
| 6 | Điều tiết chu trình nước | KQ | 3,0 | 1,6 | 3,79 | 3,44 | 2,24 | 4,30 |
| SD | ±0,598 | ±0,6 | ±0,350 | ±0,159 | ±0,349 | ±0,167 | ||
| 7 | Lưu giữ cacbon | KQ | 2,38 | 3,4 | 2.57 | 2,96 | 2,00 | 4,15 |
| SD | ±0,532 | ±0,60 | ±0,402 | ±0,173 | ±0,309 | ±0,198 | ||
| 8 | Cung cấp nơi sinh sản | KQ | 4,88 | 4,4 | 4,21 | 4,15 | 3,65 | 4,67 |
| SD | ±0,125 | ±0,245 | ±0,318 | ±0,115 | ±0,320 | ±0,092 | ||
| 9 | Giá trị giáo dục, khoa học | KQ | 3,13 | 3,80 | 3,29 | 2,87 | 2,94 | 4,33 |
| SD | ±0,549 | ±0,20 | ±0,412 | ±0,171 | ±0,303 | ±0,141 | ||
Theo kết quả tổng hợp tại bảng 3.6, 3.7 cho thấy nghề nghiệp khác nhau có sự nhận định khác nhau đối với những giá trị: Cung cấp thực phẩm; Cung cấp lâm sản; Nguồn nước nuôi trồng thủy sản; Lọc nước, xử lý chất ô nhiễm; Hạn chế lũ lụt; Điều tiết chu trình nước; Lưu giữ cacbon; Cung cấp nơi sinh sản; Giá trị giáo dục, khoa học. Trong đó:
– Nghề khai thác thủy sản có nhận thức cao nhất đối với những giá trị cung cấp thực phẩm; nguồn nước nuôi trồng thủy sản; hạn chế lũ lụt và cung cấp nơi sinh sản vì đây là nguồn thu nhập chính mang lại giá trị kinh tế cho đối tượng này;
– Nghề khai thác lâm sản có nhận thức cao nhất đối với giá trị cung cấp lâm sản vì đây là giá trị kinh tế dễ nhận biết và nguồn thu nhập chính của đối tượng này;
– Cán bộ quản lý có nhận thức cao nhất đối với giá trị lọc nước, xử lý chất ô nhiễm; điều tiết chu trình nước; lưu giữ cacbon và giá trị giáo dục, khoa học vì đây là những giá trị khó nhận biết đòi hỏi có chuyên môn liên quan để nhìn nhận, đánh giá những giá trị này nhằm phục vụ công tác quản lý, quy hoạch và sử dụng chúng.
Các giá trị còn lại không có khác biệt có ý nghĩa (vì Sig > 0,1) vì những giá trị dịch vụ còn lại ít liên quan trực tiếp đến nghề nghiệp nên đa số đối tượng khảo sát có chung nhận định.
3.1.1.5. Trình độ học vấn ảnh hưởng đến nhận thức các giá trị DVHST
Qua kết quả tổng hợp tại bảng 3.8, 3.9 cho thấy trình độ khác nhau có sự nhận định khác nhau đối với những giá trị này và chiếm tỉ lệ 56% cao nhất so với thông tin đối tượng điều tra như giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, thu nhập. Trong đó:
– Trình độ tiểu học có nhận thức cao nhất đối với những giá trị cung cấp thực phẩm; nguồn nước nuôi trồng thủy sản; điều tiết nước ngầm vì đây là những dịch vụ dễ nhận biết.
– Trình độ đại học có nhận thức cao nhất đối với giá trị cung cấp dược liệu; lọc nước, xử lý chất ô nhiễm; điều tiết chu trình nước; lưu giữ cacbon; cung cấp nơi cư trú; cung cấp nơi sinh sản; giá trị giáo dục, khoa học vì đây là giá trị khó nhận biết đòi hỏi trình độ, chuyên môn cao.
Các giá trị dịch vụ còn lại có chỉ số Sig > 0,1 (mức ý nghĩa α = 0,1) không có sự khác biệt vì các dịch vụ này được nhận thức rõ ràng như nhau của trình độ học vấn.
Bảng 3.8. Tổng hợp kết quả kiểm định Chi-Square của yếu tố trình độ học vấn ảnh hưởng đến nhận thức các giá trị DVHST
| STT | Giá trị dịch vụ HST | Chỉ số Asymp. Sig | Mức ý nghĩa α |
| 1 | Cung cấp thực phẩm | 0,058 | 0,1 |
| 2 | Cung cấp lâm sản | 0,151 | |
| 3 | Nguồn nước nuôi trồng thủy sản | 0,01 | |
| 4 | Cung cấp dược liệu | 0,021 | |
| 5 | Cung cấp nguồn nước tưới | 0,469 | |
| 6 | Cung cấp nước ngọt | 0,575 | |
| 7 | Điều tiết nước ngầm | 0,02 | |
| 8 | Điều hòa không khí | 0,120 | |
| 9 | Lọc nước, xử lý chất ô nhiễm | 0,005 | |
| 10 | Hạn chế lũ lụt | 0,153 | |
| 11 | Điều tiết chu trình nước | 0,000 | |
| 12 | Lưu giữ cacbon | 0,008 | |
| 13 | Chắn gió | 0,398 | |
| 14 | Cung cấp nơi cư trú | 0,063 | |
| 15 | Cung cấp nơi sinh sản | 0,031 | |
| 16 | Giá trị giải trí, du lịch | 0,353 | |
| 17 | Giá trị văn hóa, lịch sử | 0,208 | |
| 18 | Giá trị giáo dục, khoa học | 0,000 |
Bảng 3.9. Kết quả kiểm định Explore của yếu tố trình độ học vấn đối với những giá trị dịch vụ có sự nhận định khác nhau
| STT | Giá trị dịch vụ | Trình độ học vấn | ||||
| Tiểu học | Trung học cơ sở | Trung học phổ thông | Đại học | |||
| 1 | Cung cấp thực phẩm | KQ | 4,44 | 3,88 | 4,04 | 4,28 |
| SD | ±0,155 | ±0,303 | ±0,112 | ±0,240 | ||
| 2 | Nguồn nước nuôi trồng thủy sản | KQ | 4,38 | 3,71 | 3,78 | 4,11 |
| SD | ±0,147 | ±0,272 | ±0,10 | ±0,279 | ||
| 3 | Cung cấp dược liệu | KQ | 2,09 | 1,96 | 2,41 | 2,28 |
| SD | ±0,271 | ±0,285 | ±0,154 | ±0,30 | ||
| 4 | Điều tiết nước ngầm | KQ | 4,56 | 3,08 | 3,55 | 4,50 |
| SD | ±0,148 | ±0,361 | ±0,162 | ±0,121 | ||
| 5 | Lọc nước, xử lý chất ô nhiễm | KQ | 4,31 | 3,54 | 3,30 | 4,50 |
| SD | ±0,193 | ±0,34 | ±0,156 | ±0,146 | ||
| 6 | Điều tiết chu trình nước | KQ | 4,22 | 2,96 | 3,00 | 4,39 |
| SD | ±0,194 | ±0,343 | ±0,166 | ±0,118 | ||
| 7 | Lưu giữ cacbon | KQ | 3,34 | 2,38 | 2,85 | 4,00 |
| SD | ±0,31 | ±0,294 | ±0,167 | ±0,256 | ||
| 8 | Cung cấp nơi cư trú | KQ | 4,34 | 3,96 | 4,11 | 4,78 |
| SD | ±0,172 | ±0,244 | ±0,124 | ±0,101 | ||
| 9 | Cung cấp nơi sinh sản | KQ | 4,19 | 4,00 | 4,22 | 4,72 |
| SD | ±0,213 | ±0,276 | ±0,101 | ±0,109 | ||
| 10 | Giá trị giáo dục, khoa học | KQ | 2,03 | 2,88 | 3,50 | 4,44 |
| SD | ±0,252 | ±0,337 | ±0,139 | ±0,145 | ||
3.1.1.6. Thu nhập của đối tượng điều tra ảnh hưởng đến nhận thức các giá trị DVHST
Qua bảng 3.10 cho thấy thu nhập khác nhau có sự nhận định khác nhau đối với những giá trị cung cấp thực phẩm; cung cấp lâm sản; cung cấp dược liệu; cung cấp nguồn nước tưới; cung cấp nước ngọt; điều tiết chu trình nước; lưu giữ cacbon; giá trị giáo dục, khoa học và chiếm tỉ lệ 44% trên tổng số giá trị DVHST, trong đó nhận thức về giá trị dịch vụ cung cấp chiếm 63%.
Kết quả tổng hợp tại bảng 3.11 cho thấy nhận thức có sự khác biệt ở mức thu nhập cao nhất (> 10 triệu đồng/tháng) đối với giá trị cung cấp thực phẩm và khai thác lâm sản cho thấy giá trị kinh tế từ 02 dịch vụ này rất lớn.
Các giá trị dịch vụ còn lại đều có chỉ số Sig > 0,1 (với mức ý nghĩa α = 0,1) không có sự khác biệt vì những giá trị này không tác động trực tiếp đến nguồn thu nhập.
Bảng 3.10. Tổng hợp kết quả kiểm định Chi-Square của thu nhập ảnh hưởng đến nhận thức các giá trị DVHST
| STT | Giá trị dịch vụ HST | Chỉ số Asymp. Sig | Mức ý nghĩa α |
| 1 | Cung cấp thực phẩm | 0,085 | 0,1 |
| 2 | Cung cấp lâm sản | 0,002 | |
| 3 | Nguồn nước nuôi trồng thủy sản | 0,517 | |
| 4 | Cung cấp dược liệu | 0,074 | |
| 5 | Cung cấp nguồn nước tưới | 0,012 | |
| 6 | Cung cấp nước ngọt | 0,046 | |
| 7 | Điều tiết nước ngầm | 0,911 | |
| 8 | Điều hòa không khí | 0,475 | |
| 9 | Lọc nước, xử lý chất ô nhiễm | 0,713 | |
| 10 | Hạn chế lũ lụt | 0,435 | |
| 11 | Điều tiết chu trình nước | 0,064 | |
| 12 | Lưu giữ cacbon | 0,075 | |
| 13 | Chắn gió | 0,342 | |
| 14 | Cung cấp nơi cư trú | 0,745 | |
| 15 | Cung cấp nơi sinh sản | 0,450 | |
| 16 | Giá trị giải trí, du lịch | 0,431 | |
| 17 | Giá trị văn hóa, lịch sử | 0,772 | |
| 18 | Giá trị giáo dục, khoa học | 0,000 |
Bảng 3.11. Kết quả kiểm định Explore của yếu tố thu nhập đối với những giá trị dịch vụ có sự nhận định khác nhau
| STT | Giá trị dịch vụ | Thu nhập | |||||
| Dưới 1 triệu | Từ 1 đến 3 triệu | Từ 3 đến 5 triệu | Từ 5 đến 10 triệu | Trên 10 triệu | |||
| 1 | Cung cấp thực phẩm | KQ | 3,60 | 4,20 | 4,11 | 4,17 | 4,50 |
| SD | ±0,371 | ±0,175 | ±0,134 | ±0,162 | ±0,5 | ||
| 2 | Cung cấp lâm sản | KQ | 3,90 | 4,37 | 4,37 | 4,17 | 4,50 |
| SD | ±0,314 | ±0,130 | ±0,120 | ±0,102 | ±0,50 | ||
| 3 | Cung cấp dược liệu | KQ | 2,30 | 2,02 | 2,34 | 2,50 | 0 |
| SD | ±0,539 | ±0,223 | ±0,170 | ±0,220 | 0 | ||
| 4 | Cung cấp nguồn nước tưới | KQ | 3,10 | 4,28 | 4,53 | 4,42 | 4,50 |
| SD | ±0,586 | ±0,102 | ±0,102 | ±0,175 | ±0,50 | ||
| 5 | Cung cấp nước ngọt | KQ | 3,00 | 3,85 | 4,44 | 4,58 | 0 |
| SD | ±0,558 | ±0,222 | ±0,129 | ±0,128 | 0 | ||
| 6 | Điều tiết chu trình nước | KQ | 3,30 | 3,96 | 3,19 | 3,14 | 2,05 |
| SD | ±0,559 | ±0,189 | ±0,198 | ±0,240 | ±1,5 | ||
| 7 | Lưu giữ cacbon | KQ | 3,80 | 3,09 | 2,87 | 2,97 | 2,50 |
| SD | ±0,490 | ±0,244 | ±0,202 | ±0,231 | ±1,5 | ||
| 8 | Giá trị giáo dục, khoa học | KQ | 2,90 | 2,87 | 3,27 | 3,67 | 2,50 |
| SD | ±0,407 | ±0,248 | ±0,187 | ±0,195 | ±1,5 | ||
Nhận xét chung:
– Có 08 giá trị dịch vụ HST được đánh giá ở mức rất quan trọng (mức 5), trong đó giá trị văn hóa, lịch sử có 78,8% chọn mức 5 – mức rất quan trọng, các giá trị thuộc dịch vụ cung cấp: thực phẩm, lâm sản được đánh giá ở mức quan trọng (mức 4); Giá trị cung cấp dược liệu có 46,2% chọn mức 1 – mức không quan trọng;
– Độ tuổi lao động có nhận thức khác nhau ở giá trị Điều tiết chu trình nước và Hạn chế lũ lụt;
– Có sự nhận định khác nhau ở giới tính đối với các giá trị: Cung cấp nguồn nước tưới; Lọc nước, xử lý chất ô nhiễm; Hạn chế lũ lụt; Chắn gió; Cung cấp nơi cư trú; Giá trị giải trí, du lịch. Trong đó, nam giới có nhận thức cao hơn đối với nữ giới về giá trị cung cấp nguồn nước tưới;
– Nghề nghiệp khác nhau có sự nhận định khác nhau đối với những giá trị: Cung cấp thực phẩm; Cung cấp lâm sản; Nguồn nước nuôi trồng thủy sản; Lọc nước, xử lý chất ô nhiễm; Hạn chế lũ lụt; Điều tiết chu trình nước; Lưu giữ cacbon; Cung cấp nơi sinh sản; Giá trị giáo dục, khoa học. Trong đó: nghề nuôi trồng thủy sản có nhận thức cao nhất đối với giá trị cung cấp thực phẩm; nghề khai thác lâm sản có nhận thức cao nhất đối với giá trị khai thác lâm sản;
– Trình độ học vấn khác nhau có sự nhận định khác nhau đối với những giá trị: Cung cấp thực phẩm; Nguồn nước nuôi trồng thủy sản; Dược liệu; Nguồn nước tưới; Điều tiết nước ngầm; Lọc nước, xử lý chất ô nhiễm; Điều tiết chu trình nước; Lưu giữ cacbon; Cung cấp nơi cư trú; Cung cấp nơi sinh sản; Giá trị giáo dục, khoa học và chiếm tỉ lệ cao nhất (56%) so với thông tin đối tượng điều tra như giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, thu nhập. Trong đó, giá trị giáo dục, khoa học có sự nhận thức cao nhất ở trình độ đại học và giảm dần theo trình độ tương ứng;
– Thu nhập khác nhau có sự nhận định khác nhau đối với những giá trị: Cung cấp thực phẩm; lâm sản; dược liệu; nguồn nước tưới; cấp nước ngọt; điều tiết chu trình nước; lưu giữ cacbon; Giá trị giáo dục, khoa học và chiếm tỉ lệ 44% trên tổng số giá trị DVHST, trong đó nhận thức về giá trị dịch vụ cung cấp chiếm 63%;
– Theo nghiên cứu Nguyễn Công Tráng và Nguyễn Văn Trai (2013) tại rừng ngập mặn ở Bến Tre, cho thấy nhóm DVCC không có sự nhận thức khác nhau giữa các đối tượng khảo sát. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy giới tính, nghề nghiệp, trình độ và thu nhập có sự nhận thức khác nhau đối với những giá trị DVCC.
3.1.2. Nhận thức của người dân đối với những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị DVHST
3.1.2.1. Tần suất lựa chọn những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị DVHST
Kết quả tại bảng 3.12, đã xác định được 02 yếu tố tác động chính đến sự sinh trưởng, phát triển và tồn tại của HST dừa nước, và cũng là nguyên nhân chính gây suy giảm diện tích đất ngập nước hiện tại ở Việt Nam là: Chuyển đổi mục đích sử dụng đất có 62,2% chọn mức 5 – mức rủi ro cao nhất và tiếp nhận nước thải công nghiệp có 52,2% chọn mức 5 – mức rủi ro cao nhất. Các yếu tố còn lại tác động ở mức thấp.
Theo nghiên cứu Nguyễn Công Tráng và Nguyễn Văn Trai (2013) tại rừng ngập mặn ở Bến Tre, cho rằng nguyên nhân gây suy giảm diện tích rừng do chuyển đổi mục đính sử dụng đất và khai thác quá mức. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi. Như vậy, hệ sinh thái đất ngập nước vẫn luôn bị suy giảm do nhiều nguyên nhân, trong đó tác động của con người đóng vai trò vô cùng quan trọng.
Bảng 3.12. Tần suất lựa chọn yếu tố tác động đến giá trị DVHST
| STT | Tên giá trị dịch vụ | Tần suất chọn | ||||
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | ||
| 1 | Nuôi trồng thủy sản | 51 | 30 | 28 | 29 | 18 |
| 2 | Khai thác lá dừa | 47 | 31 | 24 | 32 | 22 |
| 3 | Tiếp nhận nguồn nước thải công nghiệp | 44 | 3 | 2 | 25 | 82 (52,6%) |
| 4 | Tiếp nhận nguồn nước thải sinh hoạt và dịch vụ | 55 | 30 | 26 | 12 | 33 |
| 5 | Chuyển đổi mục đích sử dụng đất | 13 | 3 | 6 | 37 | 97 (62,2%) |
| 6 | Ảnh hưởng của biến động thời tiết: Bão, lụt, hạn hán | 47 | 22 | 21 | 36 | 30 |
| 7 | Yếu tố khác: dịch bệnh,… | 53 | 25 | 22 | 38 | 18 |
3.1.2.2. Đánh giá nhận thức của người dân đối với những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị DVHST
Trên cơ sở số liệu điều tra 156 hộ và xử lý số liệu bằng chương trình SPSS 20 để xác định nhận thức của người dân đối với những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị DVHST dừa nước, kết quả tổng hợp được thể hiện ở bảng dưới đây:
Bảng 3.13. Tổng hợp kết quả kiểm định Chi-Square của đối tượng khảo sát
| STT | Tên giá trị dịch vụ | Chỉ số Asymp. Sig | Mức ý nghĩa α | ||||
| Độ tuổi lao động | Giới tính | Nghề nghiệp | Thu nhập | Trình độ | |||
| 1 | Nuôi trồng thủy sản | 0,000 | 0,505 | 0,020 | 0,001 | 0,000 | 0,1 |
| 2 | Khai thác lá dừa quá mức | 0,006 | 0,250 | 0,008 | 0,059 | 0,004 | |
| 3 | Tiếp nhận nguồn nước thải công nghiệp | 0,005 | 0,186 | 0,123 | 0,170 | 0,401 | |
| 4 | Tiếp nhận nguồn nước thải sinh hoạt và dịch vụ | 0,001 | 0,150 | 0,001 | 0,024 | 0,000 | |
| 5 | Lấy đất phát triển công nghiệp | 0,08 | 0,731 | 0,652 | 0,611 | 0,404 | |
| 6 | Ảnh hưởng của biến động thời tiết: Bão, lụt, hạn hán | 0,002 | 0,255 | 0,000 | 0,280 | 0,01 | |
| 7 | Yếu tố khác: dịch bệnh,… | 0,036 | 0,445 | 0,000 | 0,245 | 0,049 | |
Qua kết quả tổng hợp tại bảng 3.13 nhận thấy đối tượng khảo sát có sự nhận định khác nhau đối với yếu tố ảnh hưởng đến giá trị DVHST dừa nước như sau:
– Độ tuổi lao động có sự nhận thức khác nhau ở tất cả các yếu tố ảnh hưởng;
– Nghề nghiệp có sự nhận thức khác nhau ở những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị DVHST: nuôi trồng thủy sản; khai thác lá dừa quá mức; tiếp nhận nguồn nước thải sinh hoạt và dịch vụ; biến động thời tiết và yếu tố khác: dịch bệnh,…
– Thu nhập có sự nhận thức khác nhau ở những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị DVHST: nuôi trồng thủy sản; khai thác lá dừa quá mức; tiếp nhận nguồn nước thải sinh hoạt và dịch vụ; biến động thời tiết và yếu tố khác: dịch bệnh,…
– Trình độ có sự nhận thức khác nhau ở những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị DVHST: nuôi trồng thủy sản; khai thác lá dừa quá mức; tiếp nhận nguồn nước thải sinh hoạt và dịch vụ.
Các yếu tố ảnh hưởng còn lại không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa (vì Sig > 0,1) vì các yếu tố này được nhận thức rõ ràng như nhau của đối tượng khảo sát.
3.2. Nguyện vọng sử dụng hệ sinh thái dừa nước
Người dân địa phương đã nhận ra những lợi ích mà HST dừa nước đã và đang mang lại cho cộng đồng dân cư. Trên cơ sở số liệu điều tra 156 hộ và xử lý số liệu bằng chương trình SPSS 20 để xác định vai trò, nguyện vọng người dân trong việc sử dụng hệ sinh thái này, kết quả tổng hợp được thể hiện ở bảng dưới đây:
Bảng 3.14. Tần suất lựa chọn vai trò của HST dừa nước
| STT | Tên giá trị dịch vụ | Tần suất chọn | ||||
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | ||
| 1 | Môi trường sống tại khu vực | 6 | 4 | 9 | 30 | 107 (68,6%) |
| 2 | Kinh tế của gia đình | 46 | 35 | 11 | 23 | 41 |
Bảng 3.15. Qua điểm giữ lại HST dừa nước (tỉ lệ %)
| Phản đối | Không đồng ý | Bình thường | Khá đồng ý | Hoàn toàn đồng ý giữ lại |
| 1,29 | 0,65 | 7,10 | 6,45 | 84,52 |
Bảng 3.16. Mục đích giữ lại để sử dụng HST dừa nước (tỉ lệ %)
| Không giữ lại | Phát triển du lịch cộng đồng | Bảo tồn | Khác |
| 1,94 | 74,84 | 16,13 | 7,10 |
Qua kết quả ở bảng 3.14, 3.15 và 3.16 cho thấy:
– HST dừa nước có vai trò rất quan trọng đối với môi trường sống tại địa phương có 68,6% chọn mức 5 – mức rất quan trọng, giá trị kinh tế được đánh giá ở mức độ trung bình;
– Các hộ tham gia phỏng vấn (chiếm 90,97%) đều có nguyện vọng muốn giữ lại và sử dụng HST dừa nước. Chỉ có một phần rất nhỏ (1,94%) số hộ khảo sát không đồng ý giữ lại HST này, nguyên nhân các đối tượng này có một phần diện tích đất đã được nhận tiền bồi thường đất trong quá trình chuyển đổi mục đích;
– Nguyện vọng người dân không chỉ giữ lại HST này mà còn sử dụng chúng để phát triển kinh tế gia đình thông qua phát triển du lịch cộng đồng (chiếm 74,84%) trên nền tản cảnh quang thiên nhiên và văn hóa bản địa. Đây là điều kiện giúp chính quyền địa phương thực hiện chiến lược bảo tồn HST thuận lợi hơn.
3.3. Lượng hóa các giá trị kinh tế của dịch vụ hệ sinh thái
3.3.1. Lượng hóa các giá trị kinh tế trực tiếp
3.3.1.1. Giá trị đánh bắt thủy, hải sản
Theo thống kê của UBND xã Bình Phước, số hộ đánh bắt thủy sản thường xuyên tại hồ Thái Cân trung bình 15 người. Để lượng hóa giá trị khai thác thủy sản chúng tôi tiến hành điều tra thu nhập hằng ngày của những hộ dân khai thác, kết quả được trình bày ở bảng sau:
Bảng 3.17. Giá trị khai thác thủy sản
| STT | Họ và tên | Thu nhập bình quân (đồng/ngày) |
| 1 | Nguyễn Thị Lan | 40.000 |
| 2 | Trần Văn Dũng | 100.000 |
| 3 | Nguyễn Thị Hồng Thịnh | 60.000 |
| 4 | Phạm Ngọc Tích | 100.000 |
| 5 | Phạm Huỳnh | 80.000 |
| 6 | Mai Văn Thanh | 80.000 |
| 7 | Phạm Viên | 80.000 |
| 8 | Nguyễn Ngọc Minh | 120.000 |
| Trung bình | 83.000 |
Với mức thu nhập trung bình đầu người khoảng 83.000 đồng/ngày lợi nhuận thu được từ khai thác nguồn lợi thủy sản của các hộ 1.245.000 đồng/ngày hay 454.425.000 đồng/năm tương ứng 6.161.695 đồng/ha.
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Hiếu Quang (2013) giá trị khai thác thủy sản của rừng ngập mặn Rú Chá, tỉnh Thừa Thiên Huế khoảng 20,28 triệu đồng/ha cho thấy giá trị khai thác thủy sản của HST dừa nước thấp. Nguyên nhân có thể do khai thác theo hình thức tận diệt như sử dụng lưới lồng có mắt lưới nhỏ, chích điện và khai thác liên tục qua nhiều năm.
3.3.1.2. Giá trị nuôi trồng thủy sản
Theo số liệu điều tra số lượng hộ nuôi trồng thủy sản gồm cá hồng, cá chẻm, cua tại khu vực nghiên cứu là 05 hộ, trong đó 04 hộ nuôi theo hình thức bán tự nhiên sử dụng con non bắt được tại khu vực HST dừa nước sau đó nuôi tại lồng do đó chi phí đầu tư, chi phí sản xuất không đáng kể, 01 hộ nuôi theo hình thức công nghiệp. Kết quả điều tra được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 3.18. Lợi nhuận ròng do nuôi cá tại khu vực nghiên cứu
| STT | Họ và tên | Lãi ròng (đồng/năm) | Diện tích ao nuôi (m2) |
| 1 | Nguyễn Thị Bích Lan | 30.000.000 | 1.100 |
| 2 | Lê Văn Chính | 30.000.000 | 800 |
| 3 | Phạm Huynh | 15.000.000 | 1.000 |
| 4 | Nguyễn Thoa | 25.000.000 | 40 |
| 5 | Nguyễn Thanh Phong | 180.000.000 | 3.500 |
| Tổng cộng | 280.000.000 | 6.440 |
Kết quả tại bảng 3.18. cho thấy thu nhập do nuôi trồng thủy sản đạt 280.000.000 đồng/năm/0,644 ha so với kết quả nghiên cứu của Trần Thị Thúy Hằng (2012) thì giá trị nuôi trồng thủy sản của rừng ngập mặn Rú Chá, xã Hương Phong, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế mang lại giá trị khoảng 44,46 triệu đồng/năm/ 01 ha cho thấy giá trị cung cấp nguồn nước nuôi trồng thủy sản của HST dừa nước rất lớn.
3.3.1.3. Giá trị khai thác lâm sản
Lá dừa nước là sản phẩm chính mà HST dừa nước tại xã Bình Phước cung cấp cho người dân tại địa phương. Lá dừa nước được thu hoạch quanh năm, lượng thu hoạch phụ thuộc vào nhu cầu thị trường. Lá được lấy từ các tàu lá trưởng thành khoảng 12 tháng tuổi bằng cách dùng dao chặt ở độ cao cách mặt đất khoảng 0,6-1,0 m. Chỉ có phần giữa tàu lá có những phiến lá mới được sử dụng làm nguyên liệu làm tấm lợp. Người khai thác có tập quán giữ lại cặp lá non đầu tiên để cho bụi lá phục hồi. Lá thường được thu hoạch 06 tháng/ 01 lần.
Theo kết quả điều tra và khảo sát giá thị trường cho thấy với 01 ha dừa nước sau khi thu hoạch lá để làm tấm lợp nhà sẽ thu được 32 triệu đồng. Với diện tích 50ha và số vụ khai thác 02 lần/năm tương ứng với giá trị thu được từ việc khai thác lá dừa 3.2 tỷ đồng/năm.
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Tú (2015) thì tổng giá trị dịch vụ cung cấp gồm: cung cấp dược liệu; lấy gỗ và củi; cây cảnh của rừng ngập mặn Rú Chá, tỉnh Thừa Thiên Huế mang lại giá trị khoảng 105,42 triệu đồng/năm cho thấy giá trị kinh tế từ khai thác lá dừa mang lại hiệu quả rất lớn, nếu khai thác bền vững sẽ là nguồn thu nhập chính của người dân nơi đây. Giá trị kinh tế trực tiếp của HST dừa nước tại xã Bình Phước được ước lượng bằng tổng các giá trị thuần thu được từ hoạt động khai thác lâm sản, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản và được tổng hợp ở bảng 3.19.
Bảng 3.19. Tổng giá trị kinh tế dịch vụ cung cấp
| STT | Thành phần loại dịch vụ | Giá trị (đồng/năm) |
| 1 | Giá trị đánh bắt thủy, hải sản | 454.425.000 |
| 2 | Giá trị nuôi trồng thủy sản | 280.000.000 |
| 3 | Giá trị khai thác lâm sản | 3.200.000,000 |
| Tổng cộng: | 3.934.425.000 | |
3.3.2. Lượng hóa các giá trị kinh tế gián tiếp
3.3.2.1. Giá trị cung cấp nước tưới
Ngành nông nghiệp của xã Bình Phước luôn giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế, là nguồn sống cơ bản của đại bộ phận dân cư. Vì vậy, đảm bảo nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp là trách nhiệm hàng đầu của chính quyền địa phương. Theo số liệu của UBND xã Bình Phước, nguồn cấp nước tưới cho hoạt động sản xuất lúa và hoa màu cho vụ hè thu được cung cấp từ hồ Thái Cân với diện tích cấp 55 ha đất lúa và 07 ha hoa màu.
Theo TCVN 8641:2011 – Công trình thủy lợi kỹ thuật tưới tiêu nước cho cây lương thực và cây thực phẩm áp dụng cho Khu vực Trung Bộ:
– Đối với lúa: Tổng lượng nước tưới dưỡng cho cả vụ từ 6.000 m3/ha đến 7.000 m3/ha, trung bình 6.500 m3/ha.
– Đối với hoa màu: Tổng mức tưới cả vụ từ 2.000 m3/ha đến 2.500 m3/ha, trung bình 2.250 m3/ha.
Hiện tại, nước cấp phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp được chính quyền miễn phí toàn bộ lệ phí cấp nước. Vì vậy để đánh giá giá trị kinh tế của dịch vụ cung cấp nước cho hoạt động sản xuất nông nghiệp tác giả sử dụng kết quả nghiên cứu của PGS.TS. Nguyễn Bá Uân (2008) định mức chi phí cấp nước thô 204 đồng/m3. Giá trị dịch vụ cung cấp nước tưới cho hoạt động sản xuất nông nghiệp như sau:
[(55ha * 6.500 m3/ha) + (07 ha x 2.250 m3/ha)] x 204 đồng/m3 = 76.143.000 đồng.
3.3.2.2. Giá trị tùy chọn
Để xác định giá trị tùy chọn do HST dừa nước mang lại, đề tài đã giả định hình
thành một quỹ nhằm bảo tồn và bảo vệ HST dừa nước với mục đích phục vụ cho sử dụng ở hiện tại. Kết quả trong số 156 người tham gia phỏng vấn, có đến 59,62% người dân sẵn lòng chi trả cho quỹ bảo tồn tài nguyên thiên nhiên nhằm duy trì HST dừa nước phục vụ cho sử dụng ở hiện tại. Trong đó mức sẵn lòng chi trả (WTP – Willing to pay) được lựa chọn nhiều nhất là 50,000 đồng, với tỷ lệ là 17,95%.
Để ước tính mức sẵn lòng chi trả cho giá trị tùy chọn cho HST dừa nước tác giả sử dụng chương trình Data analysis, công cụ Regression cho thấy độ tuổi lao động, trình độ và thu nhập không ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả, kết quả trình bày ở bảng sau:
Bảng 3.20. Mức sẵn lòng chia trả của người dân cho quỹ bảo tồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho mục đích hiện tại
| WTP (đồng/năm) | Số lượng người | Tỷ lệ (%) |
| 0 | 63 | 40,38 |
| 10.000 | 18 | 11,54 |
| 20.000 | 21 | 13,46 |
| 30.000 | 8 | 5,13 |
| 40.000 | 4 | 2,56 |
| 50.000 | 28 | 17,95 |
| 60.000 | 2 | 1,28 |
| 70.000 | 0 | 0,00 |
| 80.000 | 1 | 0,64 |
| 90.000 | 0 | 0,00 |
| 100.000 | 8 | 5,13 |
| 200.000 | 3 | 1,92 |
| Tổng cộng | 156 | 100 |
Qua bảng 3.20 cho thấy mức sẵn lòng chi trả trung bình cho giá trị tùy chọn là 23.910 đồng/năm/người cho thấy người dân đã hình thành nhận thức chấp nhận chi trả nếu sử dụng các dịch vụ mà HST dừa nước cung cấp. Mặc dù mức sẵn lòng chi trả vẫn còn thấp so với mức sẵn lòng chia trả của người dân tại rừng ngập mặn Rú Chá, tỉnh Thừa Thiên Huế khoảng 42.763 đồng/người/năm.
Giá trị tùy chọn tại khu vực nghiên cứu được xác định như sau:
Giá trị tùy chọn = WTPtb * Tổng số hộ dân trong vùng = 23.910 đồng/năm/người * 2097 hộ = 50.139.270 đồng.
3.3.2.3. Giá trị để lại
Đối với giá trị để lại, đề tài đã giả định hình thành một quỹ nhằm bảo tồn HST dừa nước với mục đích phục vụ cho sử dụng ở tương lai. Kết quả ghi nhận được trong số 156 người tham gia phỏng vấn, có đến 103 người (tương ứng 66,03%) dân sẵn lòng chi trả cho quỹ bảo tồn tài nguyên thiên nhiên nhằm duy trì HST dừa nước phục vụ cho sử dụng ở tương lai. Trong đó mức sẵn lòng chi trả (WTP – Willing to pay) được lựa chọn nhiều nhất là 50.000 đồng, với tỷ lệ là 20,51%.
Để ước tính mức sẵn lòng chi trả cho giá trị để lại tác giả sử dụng chương trình Data analysis, công cụ Regression cho thấy độ tuổi lao động, trình độ và thu nhập không ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả, kết quả trình bày ở bảng sau:
Bảng 3.21. Mức sẵn lòng chia trả của người dân cho quỹ bảo tồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho mục đích tương lai
| WTP (đồng/năm) | Số lượng người | Tỷ lệ (%) |
| 0 | 53 | 33,97 |
| 10.000 | 22 | 14,10 |
| 20.000 | 25 | 16,03 |
| 30.000 | 9 | 5,77 |
| 40.000 | 3 | 1,92 |
| 50.000 | 32 | 20,51 |
| 60.000 | 1 | 0,64 |
| 70.000 | 0 | 0,00 |
| 80.000 | 1 | 0,64 |
| 90.000 | 0 | 0,00 |
| 100.000 | 10 | 6,41 |
| Tổng cộng | 156 | 100 |
Qua bảng 3.21 cho thấy mức sẵn lòng chi trả cho giá trị để lại trung bình là 24.680 đồng/năm/người cho thấy người dân đã hình thành nhận thức cần gìn giữ, bảo tồn những giá trị dịch vụ đã được khai thác và chưa khai thác của HST dừa nước ở hiện tại. Mặc dù mức trị sẵn lòng chi trả vẫn còn thấp so với mức sẵn lòng chia trả của người dân tại rừng ngập mặn Rú Chá, tỉnh Thừa Thiên Huế khoảng 33.395 đồng/người/năm.
Giá trị để lại tại khu vực nghiên cứu được xác định như sau:
Giá trị để lại = WTAtb * Tổng số hộ dân trong vùng = 24.680 đồng/năm/người * 2097 hộ = 51.753.960 đồng.
3.4. Giá trị kinh tế trực tiếp và gián tiếp HST dừa nước
Bảng 3.22. Tổng giá trị kinh tế của HST dừa nước
| STT | Các giá trị kinh tế | Tổng giá trị trong 1 năm (đồng) | Tỷ lệ (%) trong tổng giá trị |
| I. GIÁ TRỊ SỬ DỤNG TRỰC TIẾP | |||
| 1 | Giá trị đánh bắt thủy, hải sản | 454.425.000 | 11,05 |
| 2 | Giá trị nuôi trồng thủy sản | 280.000.000 | 3,40 |
| 3 | Giá trị khai thác lâm sản | 3.200.000.000 | 77,81 |
| Tổng giá trị trực tiếp | 3.934.425.000 | 95,67 | |
| II. GIÁ TRỊ SỬ DỤNG GIÁN TIẾP | |||
| 1 | Giá trị cung cấp nước tưới | 76.143.000 | 1,85 |
| 2 | Giá trị tùy chọn | 50.139.270 | 1,22 |
| 3 | Giá trị để lại | 51.753.960 | 1,26 |
| Tổng giá trị gián tiếp | 178.036.230 | 4,33 | |
| Tổng giá trị trực tiếp và gián tiếp | 4.112.461.230 | 100 | |
Như vậy, kết quả cho thấy giá trị sử dụng trực tiếp chiếm tỷ lệ rất lớn (95,67%). Trong đó, giá trị khai thác lâm sản chiếm tỷ trọng lớn nhất (77,81%) và thấp nhất là giá trị nuôi trồng thủy sản (3,40%). Đối với giá trị sử dụng gián tiếp, giá trị cung cấp nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất (1,85%).
3.5. Đề xuất giải pháp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững HST dừa nước
Như đã trình bày trong phần mở đầu, một trong những mục tiêu quan trọng của luận văn là đánh giá được mức độ quan trọng của giá trị dịch vụ HST dừa nước thông qua nhận thức người dân, lượng hóa một số giá trị kinh tế của HST này và sử dụng các thông tin này làm cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý nhằm sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên HST dừa nước tại khu vực. Dựa vào kết quả đánh giá tại Chương 3, chúng tôi đề xuất 04 nhóm giải pháp để quản lý HST dừa nước tại xã Bình Phước huyện Bình Sơn gồm:
1. Quy hoạch quản lý sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững HST dừa nước;
2. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý HST dừa nước;
3. Tổ chức quản lý, giám sát các giá trị dịch vụ HST dừa nước;
4. Truyên thông nâng cao nhận thức.
3.5.1. Quy hoạch quản lý sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững HST dừa nước
Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của HST dừa nước:
– Theo điều tra nhận thức: yếu tố chuyển đổi mục đích sử dụng đất và tiếp nhận nguồn nước thải công nghiệp;
– Theo tính toán giá trị kinh tế của khai thác lâm sản, khai thác và nuôi trồng thủy hải sản chiếm tỷ trọng lớn nhất. Do đó, đa phần lực lượng lao động trong vùng tập trung chủ yếu vào lĩnh vực này.
Vì vậy, sử dụng hợp lý HST dừa nước bằng cách quy hoạch sử dụng đất phù hợp và có biện pháp quản lý các hoạt động khai thác lâm sảm, thủy sản và nuôi trồng thủy hải sản mà không làm tổn hại đến môi trường đóng vai trò quan trọng. Đây là những giải pháp góp phần vào sự phát triển bền vững HST dừa nước.
Công tác quy hoạch sử dụng đất gồm: phân khu quy hoạch vùng bảo vệ HST dừa nước; phân khu khai thác, nuôi trồng thủy sản; phân khu sản xuất nông nghiệp; phân khu công nghiệp, thương mại và đô thị là hết sức quan trọng. Mục đích quy hoạch, phân khu sử dụng đất nhằm:
1. Tạo điều kiện pháp lý về đất đai cho việc bảo tồn và phát triển bền vững HST dừa nước;
2. Tạo cơ sở pháp lý cho việc giao đất, cho thuê và thu hồi đất, tránh xảy ra tình trạng sử dụng đất chồng chéo, tranh chấp khai thác giá trị kinh tế dịch vụ HST dừa nước;
3. Phân bổ sử dụng quỹ đất hợp lý cho các mục đích sử dụng, đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành kinh tế xã hội trong hiện nay và tương lai;
4. Đảm bảo sử đụng đất đúng mục đích, có hiệu quả, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và môi trường sinh thái.
Trong đó, phân khu quy hoạch vùng bảo vệ HST dừa nước cần quan tâm những vấn đề sau:
– Quần thể dừa nước chiếm ưu thế đóng vai trò chủ đạo hình thành HST vùng đất ngập nước nơi đây. Việc duy trì ổn định, quần thể dừa nước quyết định sự phát triển HST này từ đó cung cấp những giá trị kinh tế dài lâu cho cộng đồng dân cư. Ngoài giá trị cung cấp tấm lợp cần nâng cao giá trị khai thác từ cây dừa nước như sử dụng mật nhựa, cùi non từ buồng trái dừa, bẹ non lá dừa để sản xuất các sản phẩm như:
+ Giấy cuộn thuốc lá;
+ Sản xuất đường, thực uống có cồn, giấm từ mật nhựa dừa nước;
+ Sản xuất đồ trang trí mỹ nghệ từ lá dừa,…
+ Làm món ăn bằng cách sử dụng các nội nhũ trắng.
– Việc khai thác những giá trị kinh tế trực tiếp (lâm sản, thủy sản) tại HST dừa nước chịu sự quản lý của chính quyền địa phương, nghiêm cấm mọi hành vi khai thác quá mức làm biến động diện tích, suy giảm số lượng, kích thước quần thể dừa nước;
– Hiện tại diện tích nuôi trồng thủy sản khoảng 0,644 ha, trong tương lai với sự phát triển của KKT Dung Quất thì nhu cầu cung cấp thực phẩm hải sản ngày càng tăng thì nguy cơ sử dụng đất ngập nước để nuôi trồng thủy sản sẽ diễn ra. Vì vậy, chính quyền địa phương cần có giải pháp để bảo vệ HST dừa nước như sau:
+ Quy hoạch, quy định vùng nuôi trồng thủy sản;
+ Quy định khu vực vùng đệm bảo vệ, khu vực vùng lõi nghiêm cấm mọi hoạt động nuôi trồng;
+ Cần có các chế tài cụ thể từ các cấp chính quyền khi tiến hành cho thuê diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy, hải sản nhằm hạn chế việc xây dựng các đầm nuôi trái phép tại HST dừa nước và có những cam kết trong việc bảo vệ, trồng mới/bổ sung khi hệ sinh thái này suy giảm (có thể là do nhân sinh hoặc tự nhiên).
Ngoài các giải pháp về quy hoạch thì việc định hướng xây dựng mô hình du lịch sinh thái dựa trên giá trị cảnh quan thiên nhiên của HST dừa nước và văn hóa bản địa nhằm mang lại lợi ích đáng kể cho cộng đồng địa phương cũng như đóng góp tích cực cho công tác bảo tồn.
3.5.2. Xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý HST dừa nước
Xây dựng cơ sở dữ liệu về HST ĐNN là một trong những giải pháp quản lý ĐNN được áp dụng phổ biến trên thế giới với mục đích giám sát sự biến động của ĐNN, cung cấp thông tin phục vụ qui hoạch sử dụng ĐNN, cung cấp thông tin nền để giải quyết các tranh chấp và đánh giá thiệt hại của ĐNN khi có các tác động bên ngoài.
Tại Việt Nam, thu thập các thông tin liên quan và xây dựng cơ sở dữ liệu ĐNN đã được đề cập như một biện pháp quản lý then chốt tài nguyên ĐNN trong nhiều văn bản, qui định của Nhà nước, tiêu biểu là Nghị định số 109/2003/NĐ-CP của Chính phủ về bảo tồn và phát triển các vùng ĐNN.
Kết quả nghiên cứu của luận văn là cơ sở dữ liệu ban đầu về đánh giá giá trị kinh tế của DVHST dừa nước, góp phần bổ sung những thông tin về giá trị kinh tế của ĐNN trong cơ sở dữ liệu HST ĐNN tỉnh Quảng Ngãi. Các dữ liệu nền quan trọng như giá trị kinh tế của tài nguyên phải được điều tra và cập nhật thường xuyên để phục vụ cho công tác quản lý, đặc biệt là tại những khu vực có giá trị.
Các thông tin về giá trị kinh tế ĐNN là dữ liệu đầu vào rất quan trọng cho việc tính toán giá trị của các phương án sử dụng ĐNN tại địa phương. Vì vậy, dữ liệu giá trị kinh tế của HST dừa nước là cơ sở ban đầu giúp chính quyền địa phương hiểu rõ hơn những lợi ích HST này mang lại. Từ đó, có những giải pháp trong công tác qui hoạch, quản lý để bảo tồn HST dừa nước.
Hiện nay, giá trị kinh tế HST dừa nước chỉ được nhìn nhận và khai thác những giá trị sử dụng trực tiếp: cung cấp lâm sản, thực phẩm, nước tưới; còn những giá trị kinh tế khác (giá trị phi sử dụng) chưa được khai thác như: giá trị về cảnh quan thiên nhiên, giá trị văn hóa,… Việc chưa khai thác những giá trị này một phần do chưa có cơ sở dữ liệu đầy đủ.
3.5.3. Tổ chức quản lý, giám sát các giá trị dịch vụ HST dừa nước
Các quy định về quản lý và bảo tồn ĐNN đều được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật về ĐNN hoặc văn bản liên quan và được cụ thể hóa tại Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 của Chính phủ về bảo tồn và khai thác bền vững ĐNN. Trên cơ sở nghị định 109/NĐ-CP, để bảo tồn và phát triển bền vững HST dừa nước cần sự phối hợp của các cấp ban ngành, chính quyền địa phương. Trong đó:
- UBND tỉnh có trách nhiệm
– Điều tra, nghiên cứu các giá trị sử dụng và chưa sử dụng;
– Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng và khoanh vùng bảo vệ;
– Thực hiện công tác quản lý các hoạt động khai thác nguồn lợi từ những giá trị DVHST dừa nước;
– Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đối với việc bảo tồn và phát triển bền vững HST dừa nước;
– Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển bền vững vùng đất ngập này;
- UBND huyện và UBND xã có trách nhiệm
– Thực hiện tuyên truyền, khuyến khích người dân sinh sống tại HST dừa nước tham gia vào việc bảo vệ hệ sinh thái, đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường để bảo tồn và phát triển bền vững.
– Định kỳ phối hợp vởi Sở ban ngành thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đối với những cá nhân, tập thể gây ảnh hưởng xấu đến HST dừa nước.
- Trách nhiệm của công đồng dân cư
– Tuân thủ những quy hoạch, kế hoạch sử dụng và khoanh vùng bảo vệ về bảo tồn và phát triển bền vững HST dừa nước của UBND tỉnh;
– Phối hợp cùng chính quyền địa phương trong công tác bảo tồn, khai thác HST dừa nước bền vững, không khai thác nguồn lợi thủy sản theo hình thức đánh bắt tận diệt, không nuôi trồng thủy sản ngoài khu vực đã quy hoạch.
3.5.4. Truyên thông nâng cao nhận thức
Kết quả nghiên cứu cho thấy, người dân địa phương mặc dù đã có một số hiểu biết sơ bộ về vai trò của HST dừa nước tại khu vực nhưng vẫn còn rất nhiều lỗ hổng trong nhận thức về các giá trị kinh tế, đặc biệt là các giá trị sử dụng gián tiếp và giá trị phi sử dụng. Do vậy trong quá trình truyền thông nâng cao nhận thức nên thực hiện phân loại đối tượng để nâng cao hiệu quả tuyên truyền như sau:
– Đối với giá trị cung cấp nguồn nước tưới cần nâng cao nhận thức cho đối tượng nữ;
– Đối với giá trị cung cấp thực phẩm, giá trị khai thác lâm sản cần nâng cao nhận thức cho đối tượng kinh doanh dịch vụ;
– Đối với giá trị giáo dục, khoa học cần nâng cao nhận thức cho đối tượng có trình độ học vấn thấp.
Ngoài ra, cần phải kết hợp, bổ sung thêm một số biện pháp sau đây:
– Đào tạo kỹ năng và qui trình thiết kế, xây dựng kế hoạch quản lý bảo tồn vùng đất ngập nước cho cán bộ quản lý;
– Tổ chức chiến dịch truyền thông về giá trị ĐNN cho người dân địa phương hàng năm và trong quá trình hoạt động sẽ cung cấp tài liệu, tờ rơi về giá trị kinh tế của HST dừa nước. Mục tiêu nội dung truyền thông “Giá trị kinh tế mà họ thu được từ việc khai thác tài nguyên ở HST dừa nước là hệ quả của việc bảo tồn tốt nguồn tài nguyên HST này”;
– Các hoạt động tuyên truyền giáo dục cần mang tính cụ thể. Đẩy mạnh xu thế của giáo dục môi trường, chuyển dần từ truyền bá thông tin sang giáo dục, từ nâng cao nhận thức đến giáo dục ý thức cho cộng đồng để họ có thể thu nhận tốt các tri thức, thái độ và kỹ năng cần thiết. Ngoài ra, cần tăng cường giáo dục trực quan như sử dụng các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ (máy chiếu phim, máy ảnh, tờ rơi, poster, sách, báo,…), tổ chức tham quan thực tế thực tế có HST dừa nước như Cẩm Thanh Hội An.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
Từ kết quả nghiên cứu cho phép rút ra một số kết luận sau:
1. HST dừa nước là vùng điển hình HST ĐNN ở cửa sông ven biển miền Trung Việt Nam, có mức độ đa dạng sinh học cao, nhiều giá trị dịch vụ sinh thái và điều kiện thuận lợi (mạng lưới thủy văn, chế độ triều, khí hậu,…) để các loài sinh vật sinh trưởng, phát triển;
2. Có 08/18 loại giá trị dịch vụ HST được đánh giá ở mức rất quan trọng (mức 5), trong đó giá trị văn hóa, lịch sử có 78,8% chọn mức 5 – mức rất quan trọng, các giá trị dịch vụ cung cấp: thực phẩm, lâm sản được đánh giá ở mức quan trọng (mức 4); Giá trị cung cấp dược liệu có 46,2% chọn mức 1 – mức không quan trọng. Người dân có nhận thức khác nhau ở độ tuổi lao động, giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn và thu nhập đối với những giá trị dịch vụ HST dừa nước mang lại;
3. Chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tiếp nhận nguồn nước thải công nghiệp được đánh giá là 02 yếu tố tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của HST dừa nước;
4. Các dịch vụ HST dừa nước rất đa dạng, có vai trò quan trọng đối với điều hòa khí hậu tại địa phương và cung cấp giá trị khai thác khoảng 4,112 tỷ đồng/năm góp phần đảm bảo sinh kế cho người dân;
5. Có 90,97% người dân đồng ý giữ lại HST dừa nước và sử dụng chúng để phát triển kinh tế gia đình bằng hình thức du lịch cộng đồng kết hợp với giá trị văn hóa địa phương;
6. Hơn 50% số hộ điều tra sẵn lòng chi trả cho hoạt động bảo tồn và bảo vệ HST dừa nước với mục đích phục vụ cho sử dụng ở hiện tại và tương lai.
II. Kiến nghị
Đây là vùng ĐNN điển hình nên ngoài những giá trị kinh tế được lượng giá trong nghiên cứu này, còn rất nhiều giá trị kinh tế HST dừa nước mang lại cho sinh kế người dân như: giá trị du lịch; giá trị chắn sóng, gió, bão bảo vệ bờ biển; giá trị hấp thụ cacbon; giá trị cung cấp, tích lũy và tái tạo chất dinh dưỡng; giá trị điều tiết nước ngầm và giá trị lưu giữ, đồng hóa chất thải; giá trị dược liệu; giá trị bảo tồn đa dạng sinh học,…
Vì vậy, qua nghiên cứu này tác giả xin đề xuất thêm một số hướng nghiên cứu:
1. Tiếp tục nghiên cứu các giá trị kinh tế còn lại của HST dừa nước;
2. Nghiên cứu việc lồng ghép các dịch vụ hệ sinh thái vào công tác quản lý và bảo tồn HST dừa nước.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN KY THUAT\SINH THAI HOC\LE ANH KIET


