Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Giao thông đường bộ (GTĐB) ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề nhận được sự quan tâm và quan ngại sâu sắc của toàn xã hội, theo số liệu của Tổ chức Y tếThế giới (WHO) hiện nay tỷ lệ tử vong tính trên 100.000 dân do tai nạn giao thông (TNGT) gây ratạiViệt Nam là cao hơn mức trung bình của thếgiới (24,5/17) [145]. Tuy nhiên đây mớilà sốtửvong theo thống kê trên hiện trường do lực lượngCảnh sát giao thông (CSGT) thực hiện. Bên cạnh đó bình quânmỗinăm Việt Nam mất 3 tỷ USD (tươngđương2,5% GDP) để khắc phục các hậu quả do TNGTđườngbộ gây ra [129], trong khiđó tốc độ tăngtrưởng GDP của Việt Nam đang ở mức khoảng 6%. Phân tích nguyên nhân dẫn đến TNGT ở nước ta phần

lớn là xuất phát từ hành vi vi phạm pháp luật (VPPL)vềGTĐB của ngườiđiều khiển phương tiện cũng nhưngườitham gia giao thông gây ra. Có thể nhận thấy tình trạng VPPL trong lĩnh vực GTĐB ở nước ta là một trong rất nhiều nguyên nhân cản trở sự phát triển của đất nước.Xuất phát từ thực tiễn đó,ngày 24/10/2012,Thủ tướngChính phủ đã phê duyệt chiến lược quốc gia bảo đảm trật tự, an toàn giao thôngđườngbộ (ATGTĐB) đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, khẳngđịnh việc thực hiện chiến lược ATGTĐB nhằm thiết lập và duy trì trật tự xã hội trong lĩnh vực giao thông vận tải (GTVT) nhằm bảo đảm an toàn cho người, phương tiện khi tham gia giao thông; bảo đảm hệ thốngGTVT hoạt động thông suốt phục vụ mục đích phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh,hộinhập kinh tếquốc tế.Như vậy bảo đảm trật tựan toàn giao thông (TTATGT) và hạn chế TNGT là góp phần vào sự phát triển của đất nước và là trách nhiệm của cả hệ thốngchính trị, của toàn dân, toàn xã hội, trước hết là của các cơ quan nhà nước có chức năng và của người tham gia giao thông.

Có thể nhận thấy trong thời gian gần đây, cùngvới sự nỗ lực của Chính phủ, các Bộ, ngành và của toàn xã hội, vấn đề trật tự, ATGTĐB ở nước ta đã có nhiều thay đổi theo chiều hướngtích cực; tình hình VPPL trong lĩnh vực GTĐB được kéo giảm, tuy nhiên vẫn còn ở mức cao và gây ra những thiệt hạito lớn cho xãhội. Chỉ tính trong năm 2016 (năm có số vụ VPHC về GTĐB ít nhất kể từ 2007), riêng lực lượngCSGTđườngbộtoàn quốc đã kiểm tra, lập biên bản 3.972.192 trường hợp vi phạm trật tự AT GTĐB; phạt 2.582,73 tỷ đồng; tạm giữ 34.659 xe ô tô và 560.418 xe mô tô. Cũng trong năm 2016 tình hình ùn tắc giao thông vẫn diễn ra ở mức độ nghiêm trọng (đặc biệt là ở hai thành phố lớn là Thành phố Hồ ChíMinh và Hà Nội), với 41 vụ ùn tắc kéo dài gây thiệt hạivề kinh tế cũng như sức khỏe của cộng đồng. Cũng trong năm 2016, tình hình TNGTđườngbộ vẫn còn ởmức cao, đáng báo động với 21.589 vụ, làm chết 8.685 người và bị thương 19.280 người[13].

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng TNGTđườngbộ, tuy nhiên theo đánh giá của các cơ quan chức năng, nguyên nhânchủyếu dẫn đến tình hình TNGTđườngbộ chính là việc không tuân thủ các quy định của pháp luật về trật tự, AT GTĐB của các chủ thể khi tham gia giao thông [14]. Chính vì vậy bên cạnh việc phải thực hiện đồngbộ các biện pháp nhằm giảm thiểu các hành vi VPPL vềtrật tự, AT GTĐB, cũng như tăngcườngnăng lực vận tảicông cộng,cảithiện hạ tầng GTĐB…, thì các vấn đềliên quanđến xửlý vi phạm hành chính (VPHC) trong lĩnh vực GTĐB như: Giáo dục, tuyên truyền vềAT GTĐB; hoàn thiện tổchức bộ máy quản lý nhà nước về an toàn giao thông (ATGT) từ trung ươngđến địa phương; hoàn thiện các cơ chế, chính sách về bảo đảm trật tự AT GTĐB; nâng cao nănglực cưỡngchế của lực lượngCSGT, Thanh tra ngành GTVT, và các lực lượngthực thi công vụ khác; hiện đại hóa phương tiện, trang thiết bị phục vụ công tác tuần tra, kiểm soát,xửlý vi phạm; hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa lực lượng chức năngđược xác địnhlà những nhiệm vụ trọng tâm.

Vì vậy tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện vềxửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB,từ đó chỉra những tồn tại, vướng mắc, bất cập của hoạt độngnày là một vấn đề có ý nghĩa về cả lý luận và thực tiễn, với mục tiêu kéo giảm tình hình VPHC về trật tự, AT GTĐB là một yêu cầu cấp thiết.

Vớinhững lý do trên, tôilựa chọn đề tài“Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm luận án tiến sĩ luật học, chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Mã số9.38.01.02

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích, luận giải những vấn đề có liên quan đến xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, luận án làm sâu sắc hơn cơ sở lý luận cũng như pháp lý về xửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB. Bên cạnh đó luận án tiến hành đánh giá thực trạng hoạt độngxửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng như nhữngyếu tố tác độngtới hoạt độngnày, để từ đó tìm ra các nguyên nhân và đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt độngxử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để hoànthành được mục đích nghiên cứu như vừa trình bày, luận án sẽ thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:

Thứ nhất: Luận án tiến hành phân tích, đánh tình hình nghiên cứu có liên quanđến xửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB qua các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học của các tác giả trong và ngoàinước,từ đó chỉra những vấn đề đã được làm rõ; những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ.

Thứ hai: Trên cơ sở phân tích các khái niệm,đặc điểm,nộidung cũng nhưvai trò của xửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, luận án sẽtiến hành bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận về xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB.

Thứ ba: Luận án tổng hợp, phân tích làm rõ thực trạngxửlý VPHC trong

lĩnh vực GTĐB trong thời gian 10 năm (2007 – 2016), chi ro nhưng ưu điêm, kê t qua đạt được cung như nhưng tô n tại, hạn chê va nguyên nhân cua tô n tại, hạn chêtronghoạt độngnày.

Thứtư: Trên cơsởphân tích thực trạngvềxửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB ởViệt Nam trong thời gian qua; nhữngdựbáo vềtình hình VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam trong thời gian sắp tới, luận án đưa ra các kiến nghị cũng nhưđêxuâ t giải pháp, các nhóm giải pháp góp phần nâng cao hiệu quảcông tác xửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB của các lực lượngchức năng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đốitượngnghiên cứu của luận án được xác định là những vấn đềcó liên quanđến xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam hiện nay.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Về không gian, luận án tiến hành nghiên cứu hoạt động xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB trong phạm vicả nước.

Vềthời gian, luận án nghiên cứunhữngvấn đề lý luận liên quanđến xửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB và thực trạng xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB trong 10 năm (từ năm 2007 đến hết năm 2016).

Xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB được thực hiện đối với các VPHC trong lĩnh vực GTĐB như: Vi phạm quy tắc GTĐB; vi phạm quy định vềkết cấu hạtầng GTĐB; vi phạm quy định về phương tiện tham gia GTĐB; vi phạm quy định về

ngườiđiều khiển phương tiện tham gia GTĐB…. Tuy nhiên vì những khó khăn

trong công tác thu thập các số liệu liên quanđến hoạt độngxửlý các viphạm vềkết cấu GTĐB (thực tế các vi phạm này mớibắt đầu được quantâm xử lý từ đầu 2017), vì vậy luận án chỉ tập trung nghiên cứu, đánh giá về những vấn đề có liên quan đến xử lý VPHC đối với những vi phạm về quy tắc GTĐB; vi phạm quy định về phương tiện tham gia GTĐB; vi phạm quy định về ngườiđiều khiển phương tiện tham gia GTĐB…, mà không nghiên cứu những VPHC về kết cấu GTĐB.

Mặc dù thẩm quyền xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB thuộc về nhiều chủthể khác nhau như:Chủtịch Ủy ban nhân dân các cấp, lực lượngCông an nhân dân; lực lượng Thanh tra ngành GTVT; nhưng trên thực tế hoạt động này chủ yếu được tiến hànhbởilực lượngđó là CSGTđườngbộ và Thanh tra ngành GTVT.

Vì vậy luận án chỉ tập trung nghiên cứu và đánh giá họat độngxử lý của lực lượng CSGTđườngbộ và Thanh tra ngành GTVT.

4. Phương pháp nghiên cứu của luận án 4.1. Phương pháp luận

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác – Lê Nin khi nghiên cứu các vấn đề có liên quanđến xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB.

4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Chương 1: Trong chương tổng quan tình hình nghiên cứu, luận án dùng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp để kháiquát các vấn đề liên quanđến luận án đã được các nhà khoa học trong và ngoàinước nghiên cứu và công bố trong các công trình khoa học của mình. Từ đó chỉ ra những nộidung mà luận án sẽ kế thừa, phát triển cũng các vấn đề mà luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu, làm rõ.

Chương 2: Là chương nghiên cứu nhữngvấn đềlý luận về VPHC và xửlýVPHC trong lĩnh vực GTĐB, vì vậy luận án sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp để từ đó làm rõ các khái niệm có liên quan đến VPHC, xử lý VPHC nói chung và trong lĩnh vực GTĐB nói riêng.

Chương 3: Là nội dung trình bày thực trạngvề xửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, vì vậyluận án tách ra làm hai phần đó là thực trạng pháp luậtvềxửlýVPHC trong lĩnh vực GTĐB và thực trạnghoạt độngxửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB của các lực lượngchức năng; làm rõ những ưu, nhược điểm và nguyên nhân. Trong chương này, luận án sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp logic, phương pháp tiếp cận đa ngành – liên ngành đểlàm rõ các quy định pháp luật vềxửlýVPHC trong GTĐB hiện nay cũng như thực tiễn hoạt động xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB.

Chương 4: Là chương trình bày về phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, vì vậy luận án sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp logic, phương pháp tiếp cận đa ngành – liên ngành để từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động xử lýVPHC trong lĩnh vực GTĐB với mục đích xây dựng một xã hội giao thông an toàn, văn minh và thân thiện.

5. Những đóng góp mới của luận án

Thứ nhất, luận án tiến hành nghiên cứu tổng quan, phân tích các quanđiểm đã và đangtồn tạivề xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, trên cơ sở đó luận án xây dựng khái niệm xửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, dồng thờiđã chỉra các đặc điểm,vai trò cũng như nguyêntắc của xửlý VPHC trong GTĐB.

Thứ hai, trên cơ sở tiếp cận vấn đềnghiên cứu dưới góc độ khoa học Luật hành chínhđối với nhữngvấn đề đã được đặt ra trongphần câu hỏi nghiên cứu và giảthuyết nghiên cứu của luận án, luận án xác định nhữngyếu tố ảnh hưởngtới xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam hiện nay.

Thứ ba, trên cơ sở phân tích một cách toàn diện về thực trạng pháp luật xửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng như thực trạnghoạt độngxử lý VPHC trong lĩnh vực này, luận án đưa ra những đánh giá về nhữngkết quả đã đạt được cũng như những tồn tại, yếu kém và nguyên nhân của những tồn tại để từ đó rút ra những kết luận khoahọc về vấn đề này.

Thứ tư, trên cơsở đánhgiá nhưng tồn tại, hạn chế của pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB hiện nay ở Việt Nam; những khó khăn, hạn chế của hoạt động xử lý các VPHC trong lĩnh vực GTĐB của các chủ thể có thẩm quyền trên thực tế; trên cơ sở những dự báo về diễn biến tình hình VPHC trong lĩnh vực GTĐB trong thời gian tới tại Việt Nam; Luận án đề xuất các giải pháphướngtới sự hoàn thiện các quy định của pháp luật, cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1. Ý nghĩa lý luận

Là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thốngvề xửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, luận án góp phần làm sâu sắc hơn nhữngvấn đề lý luận xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng như góp phần hoàn thiện pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB. Luận án có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, học tập tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành Luật, Cảnh sát.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Những kết luận trong luận án cũng như nhữngđề xuất,kiến nghị và giải pháp mà luận án trình bày là kết quả của hoạt độngnghiên cứu lý luận về xửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, cũng như thông qua đánh giá, phân tích từ thực tiễn áp dụng pháp luật về xửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB của các lực lượngchức năng. Bởi vậy, nhữngđề xuất,kiến nghị cũng như giải pháp được luận án trình bày có thể giúp cho các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu để từ đó vận dụng vào hoạt độngxửlý các VPHC trong lĩnh vực GTĐB của các lực lượng chức năng, góp phần tạo lập một xã hội giao thông an toàn, văn minh và thân thiện.

7. Bố cục của luận án

Ngoàiphần mở đầu,kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án được kết cấu thành 4 chương:

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2. Cơ sở lý luận về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thôngđườngbộ

Chương 3. Thực trạngxửlý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thôngđườngbộ ở Việt Nam hiện nay

Chương 4. Phươnghướngvà giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở Việt Nam

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.2. Đánh giá về tình hình nghiên cứu

1.2.1. Những kết quả nghiên cứu được luận án kế thừaĐối với các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Mặc dù các công trình nghiên cứu có liên quan đến xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở nước ngoài mà NCS tiếp cận được không nhiều, tuy nhiên nhữngkết quảnghiên cứu của các công trình này đều có giá trị đối với các nội dung nghiên cứu của Luận án, đặc biệt các gợimở về việc xây dựngmột chế độ côngvụ của đội ngũ cán bộ, công chức làm nhiệm vụxửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB. Phương pháptổchức và cách thức thực hiện các chương trình, chiến lược quốc gia vềtrật tự, ATGTĐB tại một số quốc gia trên thế giới rất có ý nghĩa đốivớiluận án trong việc tiếp tục nghiên cứu và đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt độngxửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam theo hướng tiếp cận, học tập kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới tronghoạt độngxửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB. Đặc biệt trongbốicảnh hộinhập của đất nước trong tình hình mới, thì những kinh nghiệm trong hoạt độngtuần tra, kiểm soát cũng nhưxửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB tại một số quốc gia trên thế giới thực sự vô cùng quan trọngđối với hoạt động hoàn thiện cũng như tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về trật tự, AT GTĐB ởViệt Nam.

Đối với các công trình nghiên cứu ở trong nước

Vấn đề trật tự, AT GTĐB ở Việt Nam nói trong vài chục năm trở lại đây luôn là một vấn đề thực sự “nóng”,nhận được rất nhiều sự quan tâm của cả cộng đồng, trongđó có các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách, do đósốlượngcông trình nghiên cứu về trật tự an toàn GTĐB, cũng như hoạt độngxửlý VPHC trong lĩnh vực này đã được nhiều nhà khoa học tiến hành nghiên cứu với phạm vi, mức độkhác nhau. Qua tìm hiểu, nghiên cứu các công trình nghiên cứu về vấn đề này,NCS nhận thấy các công trìnhđã được tiếp cận trên ít, nhiều đều có ý nghĩa đốivới luận án, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về phương diện lý luận: Các kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan đến xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB đã xây dựngđược một hệ thống lý luận tươngđốihoàn chỉnh vềVPHC và xửphạt VPHC. Tuy nhiên có thể nhận thấy, nhiều công trình nghiên cứu đangđồngnhất khái niệm xử lý VPHC với xử phạt VPHC,điều này xét về phương diện khoa học là chưa chính xác,bởixử phạt chỉlàmột bộ phận của xử lý. Vì vậy ở phương diện này, luận án sẽ tiếp thu những nghiên cứu vềxửphạt VPHC cũng như nhữngđặc điểm của hoạt độngnày,đểtừđó xây dựng hệ thống các khái niệm về VPHC cũng như xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB. Thứ hai, về phương diện thực tiễn: Sự hoàn thiện về các quy định, các chính

sách về trật tự, ATGTĐB, vấn đề xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng như những tín hiệu lạc quan về tình hình VPHC trong lĩnh vực GTĐB thời gian qua có đóng góp quan trọng của nhiều nhà khoa học. Những luận giải của các nhà khoa học về nguyên nhân, điều kiện của vi phạm pháp luật về trật tự, AT GTĐB cũng như tình trạng VPPL trong lĩnh vực GTĐB đã được nhìnnhận từnhiều góc độ khác nhau.Điều này đã giúp cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách có một cái nhìn chính xác hơn về toàn cảnh GTĐB ở nước ta, từ đó có những sự điều chỉnh kịp thời và phù hợp về phương diện chính sách, pháp luật

Thứba, về phương diện đềxuất, kiến nghị: Trong các công trình nghiên cứu của mình, các nhà khoa học trên cơ sở thực hiện các nghiên cứu, phân tích về mặt lý

luận – pháp lý về trật tự, AT GTĐB cũng nhưhoạt độngxửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB đều đã đưa ra các giải pháp cho vấn đề này. Các giải pháp được đưa ra trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận cũng như phân tích thực trạng của tình hình,chỉra các nguyên nhân của thực trạng đó đều có giá trịtrong thực tiễn.

Trong rất nhiều các giải phápđã được đưa ra,có những giải phápđã được tiếp thu và cụ thể thành các quy phạm pháp luật, có những giải pháp vẫn chưa được áp dụng. Đối với luận án, các giải pháp đã được đưa ra trong các công trình nghiên cứu trước đó đều là nhữnggợimở quan trọng cho NCS trong việc đưa ra các giải pháp của luận án.

1.2.2. Những vấn đề đặt ra mà luận án phải giải quyết

Qua nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu, nhận thấy đây là những công trình khoa học được thực hiện nghiêm túc và có trách nhiệm của các nhà khoa học về các vấn đề có liên quan đến xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB; tuy nhiên các công trìnhchỉtập trung giải quyết một khía cạnh của VPHChoặc của xửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, chưa có công trình nào tập trung giải quyết một cách hệ thống về các vấn đề nêu trên. Vì vậy NCS xác định cần phải tiếp tục nghiên cứu, giải quyết nhữngvấn đề cơbản sau đây:

Một là, nghiên cứu toàn diện cơsởlý luận của xửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam.

Để thực hiện được nội dung này, NCS sẽ phân tích các quan điểm khoa học của các nhà khoa học trong và ngoài nước về khái niệm VPHC cũng như các đặc điểm của VPHC nói chung; VPHC và xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB nói riêng. Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB tại Việt Nam từ trước đến nay, trongđó đặc biệt chú trọng vào giai đoạn từ năm 2008 (thờiđiểm ban hành Luật GTĐB),tớithờiđiểm hiện nayđểlàm cơ sở cho những luận giải của mình về cơsở của xửlý VPHC nói chung và xửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB nói riêng. Trên cơ sở phân tích các quanđiểmkhoa học, cũng như các quy định của pháp luật về VPHC và xử lý VPHC, luận án sẽ đưa ra những nhận thức cơ bản về VPHC và xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB.Từ đó luận án sẽ xây dựng các khái niệm về VPHC, VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng như xử lý VPHC trong lĩnh vực này.

Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Hai là, nghiên cứu thực trạngxửlý VPHC đốivớinhững VPPLvềtrật tự, AT GTĐB,từđó chỉra những tồn tại, hạn chếcũng như những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế.

Đểthực hiện được nộidung này, NCS trình bày, phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB; chỉ ra những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành

Để nghiên cứu về thực trạnghoạt độngxử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB của các lực lượngchức năng, NCS thực hiện công tác thống kê, tổng hợp và phân tích các số liệu báo cáo từ các cơ quan có thẩm quyền nhưỦy ban ATGT quốc gia và Ban ATGT các địa phương; Bộ Công an; Bộ giao thông vận tải…, trên cơsở đó luận án chỉ ra thực trạng VPHC trong lĩnh vực GTĐB và hoạt động xử lý của các chủ thểcó thẩm quyền đối với vi phạm này.

Phân tích cơ cấu VPHC trong lĩnh vực GTĐB hiện nay ở Việt Nam; phân tích hoạt độngxửphạt, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả, các biện pháp ngăn chặn, biện pháp bảo đảm xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB được các lực lượng chức năng áp dụng trong thời gian qua, từ đó chỉ ra vai trò của việc áp dụng các biện pháp này trong xử lý các VPHC trong GTĐB.

Trên cơ sở phân tích, luận giảihoạt độngxửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB ởViệt Nam hiện nay, NCS sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá chung về hoạt động, chỉra nhữngkết quả đã đạt được; nhữngtồn tại, hạn chế tronghoạt độngxử lý các VPHC trong lĩnh vực GTĐB của các lực lượng chức năng; tìm ra những nguyên nhân, điều kiện dẫn đến tình trạng này ở Việt Nam trong thời gian qua;

26

Ba là, trình bày phươnghướngcũng như giải pháp nâng cao hiệu quảxửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐBở Việt Nam.

Để đưa ra được phươnghướngnâng cao hiệu quả xửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam, luận án tiến hành dự báo tình hình VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam trong thời gian tới.

Đểnâng cao hiệu quả xửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, NCS trình bày các phươnghướngcũng như những giải pháp cụ thể như: Hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan đến xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB để nâng cao hiệu quả của hoạtđộngnày trên thực tế; các giải pháp liên quan đến nâng cao hiệu quả hoạt độngxửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB của các lực lượng chức năng như nâng cao năng lực cưỡng chế, năng lực chứng minh cho các chủ thể có thẩm quyền; tổ chức một cách hợp lý lực lượnglàm công tác xử lý; nâng cao trình độ nghiệp vụ, kỹ năng xử lý tình huống; xây

dựng văn hóa giao tiếp…

1.3. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Luận án được triển khai với các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu có liên quan đến xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam hiện nay như sau.

(1) Hoạt độngxửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB của các chủ thểcó thẩm quyền ở nước ta hiện nay còn gặp nhiều khó khăn,vướngmắc; hiệu quảkhông cao. Vậy nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc đó là gì?

Giảthuyết nghiên cứu

Hệthống lý luận vềxửlý VPHC nói chung,xửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB nói riêng hiện vẫn còn những điểm chưa thống nhất. Chính vì vậy cần xây dựngđược kháiniệm xử lý VPHC cũng như khái niệm xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB một cách chính xác và khoa học;

Hoạt độngxử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB của các chủ thể có thẩm quyền còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc; hiệu quả không cao. Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc xuất phát từ những quy định của pháp luật về vấn đề này vẫn chưa thực sự chính xác và phù hợp; nguồn nhân lực thực hiện hoạt độngxử

27

lý cũng như cách thức tổ chức hoạt động xử lý cũng chưa thực sự nhịp nhàng, hiệu quả.

Dự định kết quả nghiên cứu

Xây dựngđược kháiniệm xử lý VPHC và xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB. Chỉ ra được đặc điểm,vai trò của hoạt động này trong quá trình phát triển kinh tế, xã hộicủa đất nước.

Thông qua phân tích thực trạng xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, luận án chỉra những vấn đềchưa phù hợp của các quy định pháp luật vềxửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng như những tồn tại, yếu kém tronghoạt độngxử lý của các lực lượng chức năng; tìm ra những nguyên nhân cơbản để có nhữnggiải pháp phù hợp nâng cao hiệu quả của hoạt động này trên thực tế.

(2) Đểnâng cao được hiệu quảcủa hoạt độngxửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam, cần phải thực hiện nhữngvấn đề gì?

Giảthuyết nghiên cứu

Để nângcao hiệu quảhoạt độngxửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam, cần phải có một hệ thống giải phápđồngbộ và toàn diện như hoàn thiện hệthống các quy định của pháp luật về xửlý VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng như

sắp xếp,tổchức lạitổchức cũng nhưhoạt độngcủa các chủ thể có thẩm quyền tronghoạt độngxử lý.

Dự định kết quả nghiên cứu đạt được

Trên cơ sở các dự báo về tình hình VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam trong thời gian tới, luận án sẽđưa ra các giải pháp, nhóm giải phápđể nângcao hiệu quả của hoạt độngnày trên thực tế.

28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trên cơ sở phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu về xửlý vi phạm hành chính nói chung,xửlý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thôngđườngbộnói riêng của các công trình nghiên cứu trong và ngoàinước,Nghiên cứu sinh nhận thấy các công trình này đã tiếp cận nghiên cứu vấn đề viphạm hành chính và xửlý vi phạm hành chínhvớinhiều mục tiêu khác nhau; kết quảnghiên cứu của các công trình này là một kênh tham khảo quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật vềvi phạm hành chính và xửlý vi phạm hành chính nói chung; xửlý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thôngđườngbộnói riêng trongđiều kiện Việt Nam đang ngày cànghộinhập sâu, rộng trong mọi hoạt độngcủa khu vực và thế giới (trong đó có các vấn đề liên quan đến an toàn

29

giao thôngđườngbộ); đặc biệt hơn nữa khi Việt Nam chính thức phê chuẩn hai Công ước quốc về an toàn giao thông và cộngđồngASEAN được thành lập vào cuối năm 2015 thì đòihỏisự thay đổi của hệ thống pháp luật quốc gia (trongđó có các quy định về trật tự, an toàn giao thôngđườngbộ) là một nhu cầu tất yếu trong quá trình này.

Qua kết quả nghiên cứu của chương thứ nhất, Luận án đã chỉ ra những vấn đề cần phảinghiên cứu, làm rõ dưới góc độ lý luận cũng như thực tiễn của xử lývi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thôngđườngbộgồm các nộidungchủyếu sau:

Nghiên cứu toàn diện cơ sở lý luận của xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đườngbộ ở Việt Nam.

Nghiên cứu thực trạng xử lý vi phạm hành chínhđốivới những vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thôngđườngbộ (thực trạng pháp luật và thực trạng hoạt độngxử lý VPHC của các lực lượng chức năng).

Phân tích phươnghướngcũng như giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính lĩnh vực giao thôngđườngbộ ở Việt Nam.

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM

HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

2.1. Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

2.1.1. Khái niệm vi phạm hành chính và vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

2.1.1.1. Khái niệm vi phạm hành chính

Là một dạngcụ thể của VPPL, xảy ra nhiều trongđờisống xã hộivà nhận được nhiều sựquan tâm của cộng đồng, các nhà hoạch định chính sách cũng nhưcác nhà nghiên cứu; điều này được thể hiện thông qua các công trình nghiên cứu

30

của các nhà khoa học, thể hiện ở các sách chuyên khảo; giáo trình; luận văn; luận án cũng như các bài viết có liên quan.

Khái niệm VPHC cũng đã được đưa vào các văn bản quy phạm phápluật ởViệt Nam từ rất sớm; văn bản pháp luật đầu tiên thể hiện khái niệm này là Pháp lệnh xửphạt VPHC năm 1989, theo đó VPHC được hiểu là: “hành vi do cá nhân,

tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhànước mà không phải là tội phạm hìnhsựvà theo quy định của pháp luật phảibịxửphạt hành chính” [65]; hiện nay khái niệm này được thể hiện rõ tạiKhoản 1,Điều 2, Luậtxửlý VPHC 2012, cụ thể như sau: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luậtvề quảnlý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phảibịxửphạt vi phạm hành chính” [80]

Bên cạnh một số bài viết, giáo trình khi trình bày và phân tích khái niệm VPHC đồngtìnhvớikhái niệm đãđược “luật định”như giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của TrườngĐạihọc Luật Hà Nội; TrườngĐạihọc Cảnh sát nhân dân…, thì cũng có những ý kiến không hoàn toàn đồng tình với kháiniệm đã được thể hiện trong các văn bản pháp luật. Ví dụ:Trong giáo trình Luật Hành chính Việt Nam do PGS.TS Nguyễn Cửu Việt biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị quốc

gia – Sựthật xuất bản năm 2013; trong phần trình bày về khái niệm VPHC, tác giả quan niệm như sau:

VPHC là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật, có lỗi(cố ý hoặc vô ý) do cá nhân có năng lực trách nhiệm hành vi hành chính hoặc tổ chức thực hiện, xâm phạm trậttựquản lý nhà nước và xã hội, trậttựquản lý,sởhữu của Nhànước,tổ chức và cá nhân, xâm phạm các quyền, tựdo và lợi ích hợp pháp của con người, của công dân mà theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm hành chính. [107, tr 504]

Để có được kháiniệm trên, tác giả đã chỉra nhữngđiểm chưa phù hợp của khái niệm được đề cập tạicác văn bản pháp luật, tác giả phân tích: Việc Luật xử

31

lý VPHC sử dụngcụm từ“viphạm quy định của pháp luậtvề quảnlý nhà nước” chỉnói lên được tính trái luật của hành vi. Hơn thế, theo tác giả dùngcụm từ“quản lý nhà nước”ở đây cũngthực sựchưa phù hợp, bởi“viphạm quy định của pháp luậtvề quảnlý nhà nước”có thể xảy ra trong bất kỳ lĩnh vực nào, do đó theo tác giả ở nộidung này chỉ cần dùngcụm từ“tráiphápluật”là đủ.Bên cạnh đó cũng theo tác giả, trong khái niệm về VPHC được thể hiện tại Khoản 1, Điều 2, Luậtxửlý VPHC dùngcụm từ“mà không phải là tộiphạm”để mô tả về hành vi VPHC cũng chưa thực sự chính xác, bởi nếu sử dụngcụm từnày dễ làm cho các chủ thể có thẩm quyền xửlý VPHC lầm tưởngmình có quyền đánh giá hành vi nào làVPHC hay tội phạm mà xem nhẹ đi việc tuân thủ các căn cứ của pháp luật. Tiếp tục phân tích khái niệm VPHC đã được thể hiện trong Luật xử lý VPHC năm 2012, tác giả nhấn mạnh: Việc quy định các hành vi VPHC thì phảibịxửphạt VPHC cũng không chính xác về mặt khoa học,bởithực tế khi một chủ thể có hành vi VPPL thì không nhữnghọ phảichịu những hìnhthức “xử phạt”mang tính trừng phạt của nhà nước mà họ còn phải thực hiện các biện pháp“khắc phụchậu quả”, tức buộc chủ thể vi phạm phải khôi phụclạitrật tựban đầu đã bịthay đổi vi phạm của họ gây ra (biện pháp khôi phục). [107, tr 496,497]

Trong giáo trình Luật Hành chính Việt Nam do GS.TS Phạm Hồng Thái và TS NguyễnThịMinh Hà đồngchủ biên, nhà xuất bản Đạihọc Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2017; trong phần trình bày về khái niệm VPHC (phần do TS Bùi Tiến Đạt viết), tác giả nhấnmạnh sựcần thiết của việc phải xây dựng được khái niệm VPHC một cách chính xác và khoa học. Tác giả đã hệ thốnglạinhững vấn đề có liên quan đến khái niệm VPHC được thể hiện trong các văn bản pháp luật của nhà nước ta (từĐiều lệ xửphạt vi cảnh ban hành theo Nghịđịnh số 143/CP ngày 27/05/1977 của HộiđồngChính phủ cho đến Luậtxửlý VPHC hiện hành); Trên cơsởđó, tác giả kết luận: “có thể thấy định nghĩa về VPHC trong các Pháp

lệnh về xửphạt/xửlý VPHC 1989,1995,2002 và Luật xử lý VPHC 2012 khác nhau về ngônngữthể hiện nhưng giống nhauvề bản chất”[85, tr 462, 463], sau đó tác

32

giả dẫn lạikhái niệm VPHC đã được trình bàytạigiáo trình Luật Hành chính Việt Nam do PGS.TS Nguyễn Cửu Việt chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2008.

Trong một sốgiáo trình Luật Hành chính Việt Nam của các cơsởđào tạo khác nhưĐạihọc LuậtHà Nội; Đạihọc Cảnh sát nhân dân…, đã nêu được sự cần thiết phải đưa ra được một khái niệm chính thức về VPHC, bởi nó chính là cơ sở, căn cứ để đưa ra các quy định, xử lý cũng như đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đốivới các VPHC [60, tr 336]. Trên cơsởcác khái niệm VPHC đã được thể hiện

tạicác văn bản pháp luật từtrước tớinay, các giáo trình này đều đồngtình với kháiniệm đã được “luậtđịnh”mà không có luận giải gì thêm.

Từ việc phân tích các khái niệm về VPHC được luận giải, thể hiện trong các tài liệu nêu trên, NCS nhận thấy xây dựng kháiniệm về xửlý VPHC là cần thiết; việc có các lập luận, quan điểm chưa hoàn toàn đồng nhất về khái niệm VPHC thể hiện tạicác bài viết, giáo trình…, xuất phát từ nhiều lý do khác nhau. Ví dụ nhưđốivớiđốitượngđào tạo của TrườngĐạihọc Cảnh sát là nhữngngườisau này chủ yếu sẽ làm việc tạicác cơ quan thuộc khối hành pháp, vì vậy yêu cầu cao nhất đốivới nhóm đốitượngnày là nắm và hiểu ở mức tốt nhất các quy định của pháp luật về vấn đề đó,để trong quá trình áp dụng pháp luật khôngbịlúng túng.

Trên cơsởphân tích, luận giải những khái niệm VPHCđược thể hiện trong một số công trình khoa học, NCS hoàn toàn đồngtìnhvớikhái niệm về VPHC được trình bày tại giáo trình Luật Hành chính Việt Nam do PGS.TS Nguyễn Cửu Việt chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia xuất bản năm 2013. Như vậy:

VPHC là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật, có lỗi(cố ý hoặc vô ý) do cá nhân có năng lực trách nhiệm hành vi hành chính hoặc tổ chức thực hiện, xâm phạm trậttựquản lý nhà nước và xã hội, trậttựquản lý,sởhữu của Nhànước,tổ chức và cá nhân, xâm phạm các quyền, tựdo và lợi ích hợp pháp của con người, của công dân mà theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm hành chính [107, tr 504].

33

2.1.1.2. Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ Theo từđiển tiếng việt do Nhà xuất bản Bách khoa ấn hành năm 2014, thì

giao thông là việc “đilạitừchỗ này qua chỗ kia bằng phương tiện chuyên chở” [96, tr 308]; còn đườngbộ được hiểu là “đường đi trên đất liền”[96, tr 278]. Và tạiKhoản 1,Điều 3, Luật giao thôngđườngbộthì đườngbộ gồm “đường,cầu đường bộ,hầm đường bộ,bến phà đường bộ”. Trên cơsởcách hiểu về các thuật ngữ“giao thông”; “đường bộ”như trên, có thể thấy GTĐB là việc đilạitừchỗ này qua chỗ kia của người và phương tiện chuyênchởtrên đường đường bộ,cầu đường bộ,hầm đường bộ,bến phà đường bộ.

Trong khi đó trật tự, ATGTĐBlà trạng thái xã hộicó trật tựđược hìnhthành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực GTĐB, nhằm đảm bảo cho hoạt động GTĐB thông suốt. Đảm bảo trật tự, ATGTĐB góp phần vào sự phát triển kinh tế cũng như bảo đảm an ninh chính trị,trật tựan toàn xã hộicủađất nước.

Theo từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam thì TTATGTđược hiểu là:

Trạng thái xã hội có trậttựđược hìnhthành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông,vận tảicông cộng mà mọi người tham gia giao thông phải tuân theo,nhờđó bảo đảm cho hoạtđộnggiao thông thông suốt, trậttự,an toàn, hạn chế đến mức thấp nhất TNGT, gây thiệt hại về người và tài sản. TTATGT là một mặt của trật tự, an toàn xã hội.

[98, tr 1182]

Trên tinh thần đó có thể hiểu trật tự, AT GTĐB là một trạng thái xã hộiđược hình thành và điều chỉnh bởicác quy phạm pháp luật trong lĩnh vực GTĐB mà các chủ thể khi tham gia giao thông phải tuyệtđốichấp hành nhằm đảm bảo hoạt độngGTĐB được diễn ra thông suốt, trật tự và an toàn.

34

Như vậy: VPHC trong lĩnh vực GTĐB là hành vi trái pháp luật, có lỗi do cá nhân có năng lực TNHC hoặc tổ chức thực hiện, xâm phạm trật tự, ATGTĐB mà theo quy định của pháp luật phải chịu TNHC.

2.1.2. Đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộThứnhất, VPHC trong lĩnh vực GTĐB là những hành vi do cá nhân có năng

lực TNHC và tổ chức thực hiện, vi phạm các quy định của pháp luật về trật tự, AT GTĐB được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật như: Luật GTĐB; Nghị định 46/2016/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định 46/2016)…, gồm các hành vi vi phạm các quy tắc về GTĐB; vi phạm quy định về kết cấu hạ tầng GTĐB…

Thứhai, VPHC trong lĩnh vực GTĐB luôn chiếm một tỷ lệ cao so với các VPHC còn lại. Ví dụ như trong năm 2016, tổng số vụ việc VPHC bị phát hiện của cả nước là 9.845.031 vụ, thì chỉ riêngsố vụ việc VPHC trong lĩnh vực GTĐB bị lực lượngCSGT xử lý đã là 3.972.192 vụ (chiếm 40,03%); so với các VPHC trong các lĩnh vực tươngtựnhưđườngthủy, đườngsắt, thì VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng là loại vi phạm xảy ra nhiều nhất (trong năm 2015số vụ việc VPHC trong lĩnh vực GTĐB bịlực lượngCSGT phát hiện và xử lý là 4.195.528 trường hợp thì đườngthủynộiđịa chỉlà 210.932 và đường sắt là 5.244 trường hợp) [13].

Thứba, VPHC trong lĩnh vực GTĐB diễn ra mọi lúc,mọinơi; chủ thể thực hiện hành vi vi phạm cũng vô cùngđa dạng, đủ mọithành phần khác nhau trong xã hội. Đây là một đặc điểm cần phảilưu ý đốivới các lực lượng chức năngđể từđó có những biện pháp phù hợp và cần thiết tronghoạt độngnày.

Thứtư, hành vi VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng rất đa dạng; các hành vi vi phạm đó được các văn bản pháp luật mô tả trong các quy phạm pháp luật cụ thể, đây là một nộidung mà các chủ thể có thẩm quyền phải rất lưu ý,bởihoạt độngxửlý chỉcó thể được thực hiện khiđốitượngcó hành vi vi phạm đã được mô tả trong các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể.

2.2. Khái niệm, nguyên tắc, vai tròxửlý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

35

2.2.1. Khái niệmxửlý vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

2.2.1.1. Khái niệm,đặc điểm xửlý vi phạm hành chính Khái niệm xử lý VPHC

Trong tóm tắt bài giảng Luật Hành chính của tác giả tác giả V.T.Batychko, nhà xuất bản ТТИ ЮФУ ấn hành năm 2008 thì quan niệm xửlý VPHC là việc “ápdụng các biện pháp cưỡng chế hành chínhđốivới những hành vi vi phạm những quy định của pháp luật hành chính” [115, tr 52]. Cũng với quanđiểm gần giống như của tác giả V.T.Batychko, trongchuyên đề “Viphạm hành chính vàxửlý vi phạm hành chính” do ThS.ĐặngThanh Sơn – PhóVụtrưởngVụPháp luật Hìnhsự- Hành chính,BộTư pháp và nhóm chuyên gia pháp luật hành chính,VụPháp luật Hìnhsự- Hành chính,BộTư pháp biên soạn quan niệmbảnchấtcủaxửlý hành chính là áp dụngmộtsốbiện phápcưỡngchếhành chính do pháp luật quyđịnh[83, tr 7]; trên tinh thần đó tác giả đưa ra khái niệm xửlý VPHC như sau: “Xửlý vi phạm hành chính là việc áp dụng các biện phápchếtài mang tính cưỡng chếhành chínhcủaNhànước đốivới chủthểcó hành vi vi phạm hành chính”.[83, tr 8]

Trong một số giáo trình giảng dạy môn Luật Hành chính Việt Nam của các cơsởđào tạo như: Đại học Luật Hà Nôi; Đại học Cảnh sát nhân dân thì khái niệm xử lý vi phạm hành chínhkhông được đề cập tới mà chỉtrình bày về kháiniệm xửphạt. Ví dụ nhưtạigiáo trình của TrườngĐạihọc Luật Hà Nội thì xử phạt VPHC được hiểu là:

Hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền, căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành, quyết định áp dụng các biện phápxửphạt hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác (trong trường hợp cần thiết, theo quy định của phápluật) đốivới các tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính [60, tr.349].

36

Như vậy theo khái niệm trên có thể thấy xử phạt VPHC không chỉ thuần túy là việc áp dụng các hìnhthức xửphạt đốivớichủ thể có hành vi VPHC, mà còn cóthể bịáp dụng các biện pháp“cưỡng chế hành chínhkhác”, tuy nhiên trong giáo trìnhlạikhông phân tích cụ thể biện pháp“cưỡng chế hànhchínhkhác”ở đây bao gồm những biện pháp nào. Bởi trongxửlý VPHC, các chủ thể có thẩm quyền có thể áp dụng rất nhiều biện pháp hành chính mang tínhcưỡngchế; các biện pháp này thậm chí có thể áp dụng các biện pháp này ngay cả khi VPHC chưa diễn ra (các biện pháp ngăn chặn). Chính bởi không có mộtsựgiải thíchcụ thể về các biện pháp“cưỡng chế hành chínhkhác”, nên khái niệm phần nào gây lúng túng trong quá trình tiếp cận.

Cũng là luận giảivề xửlý VPHC nhưng trongmột số giáo trình khác (nhưgiáo trình của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt; Giáo trìnhcủaGS.TS Phạm Hồng Thái

–TS NguyễnThịMinh Hà đồngchủ biên…), thì cách tiếp cận khái niệmxửlýVPHC lạiđược tiến hành trên cơsởphân tích các đặc điểm,bản chất của hoạt độngxử lý,chứkhôngchỉthuần túy là diễn giải theo quy định của pháp luật.Cụthể như trong giáo trình Luật Hành chính Việt Nam do GS.TS Phạm Hồng Thái và TS NguyễnThịMinh Hà đồngchủ biên, trong phần trình bày về “cưỡngchế hành chính”, các tác giả không xây dựng một khái niệm về xửlý VPHC, mà chỉđưa ra khái niệm về xử phạt hành chính. Theo đó khi một chủ thể có hành vi VPHC thì phải chịu TNHC, và TNHC chính là “hậu quả của VPHC, thể hiện ở việc cơquan nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng những chế tài pháp luật hành chínhđốivới chủ thể VPHC theo thủ tục do Luật Hành chínhquy định”[85, tr 473]; các tác giả đồngtìnhvớiquanđiểm về TNHC của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt đó là: TNHC khôngchỉthuần túy là các biện phápxửphạt hành chính mà nó còn bao gồm cả các biện pháp khôi phục các quyền và lợi íchđã bịVPHC xâm hại. Giáo trình đã đưa ra khái niệm về xửphạt VPHC như sau

Xửphạt VPHC là việc các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế hành chính (gồm các hình thức xửphạt

37

VPHC; các biện pháp khắc phục hậu quả; các biện pháp ngăn chặn VPHC và đảm bảo việc xửphạt VPHC)đốivới những cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi VPHCnhằm đảm bảo trậttựvàkỷ luậttrong quản lý nhà nước. [85, tr 474,475]

Cũng tiếp cận khái niệm xử lý VPHC theo hướng rộng, trong giáo trình Luật Hành chính Việt Nam do PGS.TS Nguyễn Cửu Việt chủ biên; tác giả quan niệm VPHC thì phải chịu TNHC. Mặc dù không đưa ra một khái niệm chính thức nào về xử lý VPHC, tuy nhiên căn cứ vào các luận giải của tác giả được thể hiện trong phần trình bày về VPHC và TNHC (từ trang 494 đến trang 547), có thể hiểu xử lý VPHC chính là việc chủ thể có thẩm quyền ấn định TNHCđốivớicá nhân,tổ chức khi có hành vi VPHC.

Trên cơsởtiếp thu các luận giải của các nhà khoa học về khái niệm xửlý, xửphạt VPHC như vừa trình bày, cũng như những phân tích của cá nhân, NCS đưa ra khái niệm xử lý VPHC như sau:

Xửlý VPHC là hoạtđộngcủa các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyềnáp dụng các hìnhthức xửphạt VPHC, các biện pháp khắc phục hậu quả, các biện pháp ngăn chặn VPHC và đảm bảo việc xửlý VPHC đốivới những cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi VPHC nhằm đảm bảo trậttựvà kỷ luật trong quản lý nhà nước.

Đặc điểm xửlý VPHC

Thứnhất, xử lý VPHC là hoạt của các chủ thể có thẩm quyền nhằm áp dụng các biện phápxửphạt VPHC; các biện pháp khắc phục hậu quả; các biện pháp ngăn chặn VPHC và đảm bảo việcxửphạt, thi hành các quyết định xửlý VPHC đốivới các chủ thể có hành vi VPHC theo quy định của pháp luật;

Thứhai, quyền xử lý VPHC được tiến hànhbởicác chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;

Thứba,xửlý VPHC được tiến hành theo những trình tự, thủ tục được quy định cụ thể trong Luật xử lý VPHC và các văn bản hướng dẫn thi hành;

38

Thứtư, kết quả pháp lýcủa hoạt độngxửlý VPHC do các chủ thể có thẩm quyền tiến hànhđược thể hiện bằng quyết định hành chính cá biệt, trongđó ghi nhận các hình thức, biện phápxửlý cụ thể được áp dụngđốivới cá nhân, tổ chức đã có hành vi VPHC. Đây chínhlà sựphảnứngcủa nhà nước đối với những VPHC cụ thể,nó vừa mang tính giáo dục, vừa mang tính răn đe, phòng ngừa nhằm mục đích thiết lập trật tựtrong quản lý hành chính nhà nước.

2.2.1.2. Khái niệm, đặc điểmxửlý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *