Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nợ xấu có tác động tiêu cực không chỉ đối với các NHTM mà còn đối với

nền kinh tế. Trong những năm gần đây, nợ xấu trong hệ thống ngân hàng đã
được cải thiện đáng kể, tuy nhiên đến nay nhiều khoản nợ xấu vẫn chưa được xử
lý dứt điểm, cần phải tiếp tục xử lý. Điều này dẫn những tác động tiêu cực đối
với cả NHTM và nền kinh tế.
(i) Đối với các NHTM: nợ xấu làm cho nguồn vốn của các NHTM bị thất
thoát, lợi nhuận bị sụt giảm, gây ảnh hưởng tiêu cực đến năng lực tài chính, khả
năng mở rộng hoạt động của NHTM cũng như uy tín, niềm tin của xã hội đối với
NHTM bị suy giảm. Kết quả là làm giảm khả năng huy động vốn của NHTM,
nghiêm trọng hơn nó có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản, đe dọa sự ổn định của hệ
thống ngân hàng.
(ii) Đối với khách hàng: Nợ xấu sẽ làm tăng chi phí hoạt động, tăng gánh
nặng trả nợ cho NHTM, làm giảm tốc độ chu chuyển vốn với NHTM gây ảnh
hưởng trực tiếp đến mối quan hệ cả hai bên, từ đó uy tín của khách hàng sẽ bị
giảm sút khá lớn khiến cho các NHTM có các biện pháp hạn chế cho khách hàng
vay vốn.
(iii) Đối với nền kinh tế: Nợ xấu sẽ hạn chế khả năng khách hàng tiếp cận
vốn vay của ngân hàng vì lý do lãi suất và điều kiện vay vốn. Ở mức độ cao hơn,
nếu nợ xấu của một NHTM ở mức quá cao và không được giải quyết kịp thời có
thể dẫn đến đổ vỡ của NHTM và tiếp theo đó là hiệu ứng dây chuyền đối với hệ
thống các NHTM.
Chính vì vậy, việc quyết liệt xử lý nợ xấu luôn được Đảng, Nhà nước
quan tâm, chỉ đạo các bộ, ngành và hệ thống ngân hàng quyết liệt thực hiện
nhằm mang đến những chuyển biến tích cực cho toàn bộ xã hội. Tuy nhiên, để
thực hiện có hiệu quả công tác xử lý nợ xấu, cần thiết phải có cơ chế phù hợp và
một hệ thống các văn bản pháp luật hướng dẫn cụ thể, đầy đủ.
2
Về cơ chế xử lý nợ xấu, thị trường mua bán nợ Việt Nam chưa phát triển,
đến nay những chủ thể được tham gia mua nợ chủ yếu DATC, VAMC và các
AMC của TCTD. Cũng do khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai thực hiện
những quy định tại Luật Đầu tư 2020, Luật 69/2014/QH13, nhà đầu tư nước
ngoài chưa thể tham gia hoạt động xử lý nợ xấu tại Việt Nam.
Ngày 21/6/2017, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 42/2017/QH14về
thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Nghị quyết này có hiệu lực trong
05 năm từ ngày 15/8/2017 và được Quốc hội khoá XV thống nhất kéo dài thời
hạn áp dụng đến 31/12/2023 tại kỳ họp thứ 3. Nghị quyết 42/2017/QH14 cho
phép áp dụng nhiều chính sách mới (so với pháp luật hiện hành) về xử lý nợ xấu,
tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, góp phần tạo lập cơ sở pháp lý thuận lợi hơn
cho việc xử lý nợ xấu. Nghị quyết này được ban hành đã mang lại những bước
chuyển mới trong xử lý nợ xấu tại Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại
những bất cập của pháp luật và bất cập trong thực tiễn thực thi pháp luật về xử lý
nợ xấu của NHTM ở Việt Nam.
Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương
mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay”
làm đề tài Luận án tiến sĩ luật học của

mình. Việc triển khai nghiên cứu nhằm hệ thống hoá các vấn đề về lý luận, phân
tích thực trạng pháp luật liên quan đến việc xử lý nợ xấu của các NHTM ở Việt
Nam, từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật liên
quan đến việc xử lý nợ xấu của NHTM ở Việt Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và

thực trạng pháp luật về xử lý nợ xấu của các NHTM ở Việt Nam hiện nay, từ đó
đề xuất các định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu của
các NHTM để xử lý nợ xấu hiệu quả.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án đưa ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

3
Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về nợ xấu, xử lý nợ xấu
của các TCTD như khái niệm, đặc điểm của nợ xấu ngân hàng, nguyên nhân của
nợ xấu, mô hình xử lý nợ xấu, chủ thể, các biện pháp và nguyên tắc xử lý nợ xấu
của NHTM.
Thứ hai, làm rõ đặc điểm và cấu trúc của pháp luật về xử lý nợ xấu của
NHTM, các yếu tố tác động tới pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM. Nghiên
cứu kinh nghiệm pháp luật về xử lý nợ xấu của một số quốc gia trên thế giới như
Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Malaysia…
Thứ ba, nghiên cứu thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành về xử
lý nợ xấu của các NHTM ở Việt Nam và phân tích, đánh giá tình hình thực thi
pháp luật về xử lý nợ xấu của các NHTM ở Việt Nam hiện nay, tìm ra những bất
cập và nguyên nhân của nó.
Thứ tư, đề xuất các định hướng, giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện
pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM ở
Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật về xử lý nợ xấu

của NHTM ở Việt Nam và thực tiễn thực thi các quy định pháp luật về xử lý nợ
xấu của NHTM hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
– Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về xử

lý nợ xấu của VAMC, DATC và AMC, tình hình thực thi pháp luật về xử lý nợ
xấu của các NHTM ở Việt Nam.
– Về không gian: Luận án nghiên cứu pháp luật về xử lý nợ xấu của
NHTM ở Việt Nam và tình hình xử lý nợ xấu của các NHTM trên địa bàn ở Việt
Nam.
– Về thời gian: Giai đoạn từ năm 2010 đến nay. Bởi vì, năm 2010 là năm
ban hành Luật các Tổ chức Tín dụng ở Việt Nam.
4
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp tiếp cận
– Phương pháp tiếp cận hệ thống: Trên cơ sở tập hợp, hệ thống các công

trình, tài liệu liên quan đến pháp luật về nợ xấu và xử lý nợ xấu của NHTM đã
được công bố, luận án phân tích, đánh giá, kế thừa có chọn lọc để đưa ra những
khái niệm, kết luận và giải pháp hoàn thiện pháp luật.
– Phương pháp tiếp cận đa ngành và liên ngành: Luận án khai thác, tiếp
cận thông tin ở nhiều phương diện của khoa học xã hội như xã hội học, kinh tế
học, chính trị học, lịch sử, luật học so sánh… để sử dụng trong quá trình nghiên
cứu viết luận án được đầy đủ và toàn diện.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, cụ thể

là các phương pháp luận của triết học Mác – Lênin như phương pháp luận duy
vật biện chứng, phương pháp luận duy vật lịch sử…
Luận án sử dụng những quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về các
vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu. Bên cạnh đó, các phương pháp tổng hợp,
phân tích, so sánh, phương pháp lịch sử, lôgic, phương pháp nghiên cứu lý luận
kết hợp với thực tiễn, các phương pháp xã hội học như phương pháp phân tích
tài liệu, phương pháp thống kê… được áp dụng để nghiên cứu đề tài này. Đặc
biệt, luận án tiếp cận một số vấn đề nghiên cứu không chỉ dưới góc độ pháp lý,
mà còn dưới góc độ nghiệp vụ, kinh tế nhằm làm rõ các luận điểm và nội dung
trong luận án.
Cụ thể, trong chương 1 của luận án sử dụng phương pháp thống kê, phân
tích và so sánh, tổng hợp để làm rõ tình hình nghiên cứu đề tài, những điểm kế
thừa từ các công trình khoa học đã công bố trước đây và những nội dung cần
thiết nghiên cứu tiếp trong luận án.
Phương pháp phân tích, so sánh được sử dụng nhiều trong Chương 2 để
làm rõ những khái niệm, thuật ngữ, phạm trù mà luận án sử dụng, từ đó rút ra kết
5
luận khoa học làm cơ sở cho việc đánh giá tình hình thực thi pháp luật về xử lý
nợ xấu của NHTM ở Việt Nam.
Phương pháp phân tích, thống kê được luận án sử dụng để nghiên cứu tình
hình thực thi pháp luật xử lý nợ xấu của NHTM ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, luận
án phân tích tính toàn diện, thống nhất và hiệu quả trong các quy định pháp luật
về xử lý nợ xấu của các NHTM ở Việt Nam. Phương pháp này được sử dụng chủ
yếu tại chương 3 và chương 4 của luận án để làm rõ tình hình thực thi pháp luật
về xử lý nợ xấu ở Việt Nam.
Phương pháp so sánh được sử dụng để nghiên cứu các quy định của pháp
luật Việt Nam về xử lý nợ xấu qua các thời kỳ và so sánh pháp luật Việt Nam và
pháp luật nước ngoài về nợ xấu và xử lý nợ xấu, qua đó rút ra bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam để tiếp tục hoàn thiện pháp luật.
Phương pháp tổng hợp được sử dụng ở cuối mỗi nội dung được phân tích,
so sánh, đặc biệt là ở chương 3 và chương 4, của luận án nhằm rút ra các kết luận
và đề xuất các giải pháp, kiến nghị để tiếp tục hoàn thiện pháp luật, nâng cao
hiệu quả xử lý nợ xấu của NHTM ở Việt Nam hiện nay.

Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Là một công trình chuyên khảo nghiên cứu pháp luật về xử lý nợ xấu của

các NHTM ở Việt Nam hiện nay, luận án có những điểm mới sau:
Thứ nhất, luận án làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận liên quan đến
pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM như: cơ sở lý thuyết về xử lý nợ xấu của
NHTM dựa trên các lý thuyết nghiên cứu chính là cách tiếp cận kinh tế học pháp
luật, lý thuyết về sự can thiệp của Nhà nước trong đời sống kinh tế và xã hội và
lý thuyết về hiệu quả của pháp luật trong điều chỉnh các quan hệ xã hội trong nền
kinh tế thị trường; khái niệm, đặc điểm, bản chất và nguyên nhân của nợ xấu
trong hoạt động tín dụng của NHTM; khái niệm, đặc điểm và mô hình xử lý nợ
xấu của NHTM. Ngoài ra, luận án còn đưa ra được những kinh nghiệm trong xử
lý nợ xấu của NHTM của một số quốc gia trên thế giới.
6
Thứ hai, luận án đã làm rõ được thực trạng pháp luật về xử lý nợ xấu của
NHTM ở Việt Nam và thực tiễn thực thi pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM ở
Việt Nam, qua đó chỉ ra những kết quả đã đạt được và những hạn chế, bất cập
của việc thực thi pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM ở Việt Nam. Theo đó,
pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM còn chưa thiết lập hệ thống các giải pháp
hiệu quả để xử lý nợ xấu của NHTM; chưa quy định rõ quyền và nghĩa vụ của
NHTM rõ ràng theo tầm luật; thực hiện pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM
chưa nghiêm túc. Về thực tiễn thực thi, Nghị quyết 42/2017/QH14 vẫn bộc lộ
một số hạn chế, như vấn đề thu giữ TSBĐ để xử lý nợ xấu, chuyển nhượng tài
sản bảo đảm là dự án bất động sản, hay thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản
bảo đảm. Thêm vào đó, một số quy định của pháp luật vẫn còn gây khó khăn cho
việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các Công ty quản lý nợ và khai thác tài
sản. Một số quy định về quá trình xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng tại tòa
án, thi hành án còn chưa thống nhất, đồng bộ. Các quy định về phương pháp
phân loại nợ vẫn chưa thể hiện hết các rủi ro của khoản tín dụng đã cấp cho
khách hàng. Các quy định về tần suất đánh giá rủi ro của khách hàng vẫn chưa
cho phép nhận biết nhanh nhất rủi ro của các khoản nợ. Tỷ lệ nợ xấu còn cao,
việc xử lý rủi ro nói chung và xử lý nợ cấp tín dụng của các NHTM còn chưa
khoa học, để khoản cấp tín dụng có rủi ro quá cao mới phát hiện và xử lý. Việc
thực hiện cơ cấu nợ xấu trong hoạt động tín dụng liên quan đến bất động sản,
chứng khoán,…chưa được đánh giá đúng mức, kịp thời. Hoạt động phát hiện,
giám sát, ngăn ngừa nợ xấu chưa kịp thời, hiệu quả chưa cao, mô hình quản trị
rủi ro còn nhiều bất cập.
Thứ ba, từ những kết quả đã đạt được và những hạn chế, bất cập còn tồn
tại trong việc thực thi pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM ở Việt Nam, luận án
đã đưa ra các giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu của
NHTM ở Việt Nam. Luận án đã đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử
lý nợ xấu của NHTM như: quy định nghĩa vụ xử lý nợ xấu của NHTM; giám sát
chặt chẽ trạng thái an toàn trong hoạt động của các NHTM; quy định chế tài
7
nghiêm khắc hơn đối với các hành vi vi phạm an toàn trong hoạt động của các
NHTM và các giải pháp khác. Bên cạnh đó, luận án cũng đưa ra các kiến nghị
nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM như: kiến nghị nhằm
hoàn thiện pháp luật về phòng ngừa rủi ro của các NHTM; kiến nghị nhằm hoàn
thiện pháp luật về xử lý nợ trong hoạt động cấp tín dụng của các NHTM.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm phong phú

thêm hệ thống lý luận về nợ xấu và pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM.
Về mặt thực tiễn, luận án nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc về hoạt
động xử lý nợ xấu của NHTM ở Việt Nam dưới khía cạnh pháp lý, có ý nghĩa trong
việc hoàn thiện pháp luật về NHTM và giải quyết các vấn đề cấp bách của hệ thống
NHTM và nền kinh tế đang đặt ra hiện nay. Ngoài ra, luận án cũng có thể được sử
dụng như một tài liệu tham khảo trong các cơ sở đào tạo luật.
7. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án có

kết cấu gồm bốn chương: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý
thuyết và phương pháp nghiên cứu; Chương 2: Những vấn đề lý luận cơ bản về
nợ xấu và pháp luật về xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại; Chương 3: Thực
trạng pháp luật về xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam; Chương
4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu của ngân
hàng thương mại ở Việt Nam.
8
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề nợ xấu,

xử lý nợ xấu, pháp luật về xử lý nợ xấu của các NHTM trên thế giới cũng như ở
Việt Nam. Trong phạm vi phần tổng quan này, luận án chỉ khảo một số công trình
khoa học tiêu biểu.
1.1.1. Nghiên cứu lý luận về xử lý nợ xấu và pháp luật về xử lý nợ xấu của
ngân hàng thương mại

1.1.2. Nghiên cứu thực trạng pháp luật về xử lý nợ xấu của ngân hàng
thương mại tại Việt Nam
1.1.3. Nghiên cứu thực tiễn thực thi pháp luật về xử lý nợ xấu của ngân hàng
thương mại ở Việt Nam
1.2. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu
Qua nghiên cứu những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước dưới các

góc độ khác nhau về xử lý nợ xấu và pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM, có thể
nhận định như sau:
– Hầu hết các công trình đã đề cập một số nội dung của nợ xấu (cả dưới góc
độ kinh tế và pháp lý) hoặc những nghiên cứu dừng ở góc độ khái quát chung về
các biện pháp xử lý nợ xấu và pháp luật về xử lý nợ xấu như khái niệm, đặc điểm,
phân loại nợ xấu, bản chất của nợ xấu, nguyên nhân dẫn đến nợ xấu và tác động
của nợ xấu đối với ngân hàng, nền kinh tế và một số nội dung của pháp luật về xử
lý nợ xấu (như pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm để giải quyết nợ xấu, pháp luật
về mua bán nợ xấu).
– Một số công trình đã có phân tích và giải quyết được một số vấn đề đặt ra
từ thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam về xử lý các khoản nợ xấu của ngân hàng
như hoạt động mua bán nợ xấu của VAMC, của AMC, về xử lý tài sản bảo đảm
cầm cố, thế chấp (bao gồm cả tài sản hình thành trong tương lai), về thủ tục giải
quyết tranh chấp về nợ xấu tại Tòa án, về thi hành án.
– Nhiều công trình nghiên cứu trong nước đã đề cập đến khung khổ pháp lý
về xử lý nợ xấu của ngân hàng thông qua hệ thống hóa, tổng hợp và phân tích,
trong đó một số luật, văn bản đã được đề cập cụ thể như Bộ Luật Dân sự 2015,
Luật các TCTD 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật Công chứng 2014, Luật
Nhà ở 2014,… Ngoài ra, những vấn đề về xử lý nợ xấu và tái cấu trúc hệ thống các
TCTD cũng được phân tích, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về
ngân hàng nói chung và xử lý nợ xấu nói riêng.
– Các công trình khoa học được công bố ở nước ngoài đã giải quyết được
một số vấn đề lý luận về nợ xấu như bản chất của nợ xấu, tác động của nợ xấu đối
15
với ngân hàng và nền kinh tế, đã nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau về các biện
pháp xử lý nợ xấu ở một số nước trên thế giới như Mỹ, Châu Âu, Malaysia, Hàn
Quốc, Trung quốc… Trong đó có một số công trình đã có những nghiên cứu những
vấn đề pháp lý về các biện pháp xử lý nợ xấu. Vì vậy, các công trình khoa học này có
giá trị tham khảo lớn cho các tác giả trong quá trình tiếp cận và nghiên cứu đề tài.
Có thể nói, các quan điểm của các nhà nghiên cứu và kết quả trong các công
trình nêu trên đã cung cấp cho tác giả những kiến thức quý báu về nợ xấu và pháp
luật xử lý nợ xấu và cũng đặt ra cho tác giả luận án phải tiếp tục nghiên cứu một số
vấn đề còn bỏ ngỏ.
1.3. Khoảng trống nghiên cứu
Hạn chế của các nghiên cứu đã đề cập ở phần trước là chưa có nghiên cứu

một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc về pháp luật xử lý nợ xấu của NHTM ở
Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập. Đa phần nghiên cứu chưa đi sâu
về các khía cạnh pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM. Các công trình nước ngoài
chủ yếu đề cập đến kinh nghiệm xử lý nợ xấu ở các nước. Các nghiên cứu về các
biện pháp xử lý nợ xấu ngân hàng thông qua việc hoàn thiện khung khổ pháp luật
xử lý nợ xấu của ngân hàng còn hạn chế. Các công trình mới dừng ở việc xác định
khái niệm nợ xấu theo quy định của pháp luật mà chưa làm rõ bản chất của nợ xấu
dưới góc độ kinh tế và góc độ pháp lý, chưa có sự tiếp cận cụ thể pháp luật về các
biện pháp xử lý nợ xấu bởi VAMC như biện pháp mua bán nợ xấu theo giá thị
trường, về mô hình xử lý nợ xấu, so sánh với pháp luật nước ngoài về vấn đề này
và chưa đề cập đến việc xử lý nợ xấu trong bối cảnh tái cấu trúc hệ thống các
TCTD. Trong quan hệ mua bán nợ xấu, các tác giả vẫn chưa làm rõ được mối quan
hệ nhiều bên gồm chủ nợ, con nợ, bên nhận chuyển nhượng khoản nợ xấu, bên bảo
đảm. Các tác giả cũng chưa có nghiên cứu sâu về thị trường thứ cấp của khoản nợ
xấu, vấn đề bảo vệ nhà đầu tư mua khoản nợ xấu… Ngoài ra, các nghiên cứu chưa
đưa ra được lộ trình cụ thể đối với giải pháp liên quan đến việc thúc đẩy phát triển
thị trường mua bán nợ ở Việt Nam cũng như chưa nêu được những đặc thù của
pháp luật về xử lý nợ xấu bởi VAMC so với pháp luật về xử lý nợ xấu bởi các chủ
thể khác như AMC, DATC…
16
Bên cạnh đó, chưa có một công trình chuyên sâu nào đánh giá có hệ thống
thực thi pháp luật về từng biện pháp xử lý nợ xấu của NHTM, vì vậy những hạn
chế, bất cập của mảng pháp luật này chưa được phân tích sâu và toàn diện, trên cơ
sở đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật một cách đồng bộ nhằm nâng cao
hiệu quả tín dụng và xử lý hiệu quả nợ xấu cũng như ngăn ngừa tình trạng phá sản
ngân hàng. Đặc biệt, các công trình nghiên cứu chưa đề cập sâu vào các yếu tố tác
động đến pháp luật về xử lý nợ xấu của ngân hàng ở Việt Nam cho đến thời điểm
hiện tại.
Vì vậy, luận án “Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật
Việt Nam hiện nay”
khi được nghiên cứu sẽ lấp một phần khoảng trống trong

nghiên cứu trước đây liên quan đến khung khổ pháp luật về xử lý nợ xấu của các
NHTM ở Việt Nam. Xét cả phương diện lý luận và thực tiễn, vấn đề này đang cần
đầu tư nghiên cứu ở Việt Nam, cần có sự hệ thống hóa, đánh giá đầy đủ thực trạng
về xử lý nợ xấu của NHTM theo pháp luật Việt Nam hiện nay. Qua tổng quan
nghiên cứu Luận án sử dụng cách tiếp cận mới, với nguồn số liệu cập nhật và
chính xác cao, đầy đủ được thu thập từ nguồn đáng tin cậy, chất lượng. Mặt khác
xử lý nợ xấu của NHTM theo pháp luật Việt Nam hiện nay là vấn đề thời sự
nóng bỏng, được sự quan tâm của các cấp, các ngành và bản thân các NHTM…
Vấn đề quan trọng là luận án được nghiên cứu sẽ làm mới sự đánh giá sâu sắc,
chi tiết về thực trạng quản lý nợ xấu của Việt Nam, từ đó đề ra những giải pháp
sát thực và phù hợp.
Hiện nay, theo các quy định tại Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày
18/5/2013 của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý
tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam, Thông tư số 19/2013/TT-NHNN ngày
06/09/2013 quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản
của các tổ chức tín dụng Việt Nam và Thông tư số 14/2015/TT-NHNN ngày
28/8/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 19/2013/TT-NHNN ngày
ngày 06/09/2013 quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý
tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam, thì nợ xấu của các tổ chức tín dụng có
thể được mua bán bởi VAMC. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành vẫn phải tiếp tục
được hoàn thiện nhằm tạo nền tảng pháp lý cho việc hình thành thị trường mua bán
17
nợ xấu theo đúng nghĩa. Thị trường mua bán nợ bao gồm cả nợ xấu có lợi ích là
giảm gánh nặng thu hồi nợ cho các TCTD, để các tổ chức tín dụng chú tâm vào
việc phát triển các giao dịch cho vay mới. Thị trường mua bán nợ cũng sẽ thu hút
được một nguồn vốn khổng lồ từ công chúng đầu tư để đưa vào phục vụ hoạt động
sản xuất và kinh doanh. Thị trường mua bán nợ cũng sẽ là một kênh đầu tư hiệu
quả cho công chúng đầu tư.
Ngoài ra, các quy định về xử lý tài sản bảo đảm vẫn còn nhiều bất cập dẫn
đến việc thu hồi nợ xấu gặp nhiều khó khăn. Các khó khăn, vướng mắc được thể
hiện ở các điểm sau:
Một là, nguyên tắc thỏa thuận của các bên về phương thức xử lý tài sản bảo
đảm đã hạn chế quyền định đoạt của bên nhận bảo đảm trong việc xử lý tài sản bảo
đảm khi xảy ra sự kiện phát sinh quyền xử lý tài sản bảo đảm (quyền định đoạt có
điều kiện
). Như vậy, nguyên tắc này không bảo đảm được quyền định đoạt có điều

kiện của bên nhận bảo đảm khi bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ. Trong khi đó
quyền định đoạt có điều kiện là quyền tài sản quan trọng nhất của bên nhận bảo
đảm. Như vậy, theo quy định hiện hành, bên nhận bảo đảm không thể tự mình xử lý
tài sản bảo đảm mặc dù mặt lý thuyết đáng lẽ họ phải có quyền này để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Hai là, các qui định về đăng ký quyền sở hữu trong trường hợp xử lý tài sản
bảo đảm không rõ ràng dẫn đến các cơ quan đăng ký hiểu máy móc và đòi hỏi phải
có các bên phải nộp hợp đồng chuyển nhượng tài sản được ký kết bởi bên bảo đảm
với người nhận chuyển nhượng
. Đòi hỏi này rõ ràng làm cho TCTD với tư cách là

bên nhận bảo đảm không biết phải xoay sở thế nào khi bên bảo đảm không hợp tác.
Ba là, thủ tục tố tụng để xử lý tài sản bảo đảm hiện nay được đồng nhất với
thủ tục khởi kiện đòi nợ hoặc tranh chấp hợp đồng tín dụng
. Vì vậy, TCTD phải

tốn kém rất nhiều thời gian, công sức và chi phí để theo đuổi vụ kiện. Hạn chế này
cũng làm cho các tổ chức tín dụng thêm “khổ sở” trong việc đi đòi quyền lợi chính
đáng của mình.
Pháp luật dân sự có thừa nhận một số chế định bao gồm bù trừ nghĩa vụ,
thực hiện nghĩa vụ dân sự có điều kiện. Các công cụ pháp lý này có thể được sử
dụng để bảo vệ lợi ích của NHTM khi khách hàng không trả được nợ vay. Tuy
18
nhiên, trong thực tiễn, các chế định này vẫn chưa được tòa án hiểu đúng dẫn đến
việc các NHTM sử dụng biện pháp này gặp khó khăn trên thực tiễn.
Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành còn thiếu những quy định điều chỉnh cũng
như khuyến khích thỏa thuận giữa chủ nợ (NHTM) với con nợ (người vay) về các
biện pháp tái cấu trúc nợ, giãn nợ.
Từ những phân tích nêu trên và các kết quả nghiên cứu đạt được trong các
công trình đã đề cập, đặt ra cho tác giả luận án những vấn đề cần nghiên cứu, triển
khai trong luận án này:
– Nghiên cứu xác định khái niệm, đặc điểm và nội dung của pháp luật về xử
lý nợ xấu của NHTM; kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về xử lý nợ xấu
của NHTM.
– Luận án nghiên cứu, phân tích thực trạng pháp luật về xử lý nợ xấu của
NHTM ở Việt Nam hiện nay và nêu những bất cập, hạn chế của pháp luật và thực tiễn
thực thi pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM ở Việt Nam và nguyên nhân của nó.
– Luận án bám sát quan điểm và định hướng của Đảng và Nhà nước về hoạt
động tín dụng ngân hàng cũng như quan điểm về xử lý nợ xấu của chính bản thân
ngân hàng, xuất phát từ thực trạng xử lý nợ xấu tại các NHTM hiện nay ở Việt
Nam từ đó xác định giải pháp quản lý hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu của
NHTM ở Việt Nam nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ nợ xấu.
1.4. Câu hỏi nghiên cứu; lý thuyết nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
1.4.1. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
a) Câu hỏi thứ nhất: Pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM được hình thành
và phát triển dựa trên những cơ sở lý thuyết nào?
– Giả thuyết a1: xử lý nợ xấu của NHTM có tác động rất lớn đến nền kinh tế xã

hội; những rủi ro và thiệt hại phát sinh trong xử lý nợ xấu của NHTM là mối nguy hại
đối với nền kinh tế; bảo đảm an toàn trong xử lý nợ xấu của NHTM là sự tất yếu trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Luận án phân tích những tác động của xử lý nợ xấu của NHTM đối với nền
kinh tế, những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình xử lý nợ xấu của NHTM. Việc
phân tích những yếu tố này nhằm chỉ rõ: Sự tồn tại của xử lý nợ xấu của NHTM là
tất yếu và cần thiết đối với nền kinh tế và việc tìm hiểu những rủi ro có thể phát
19
sinh từ hoạt động này để nhận diện nhằm đưa ra những biện pháp bảo đảm an toàn
phù hợp là nhiệm vụ quan trọng của nhà nước và bản thân các NHTM trong việc
quản lý và thực hiện xử lý nợ xấu của NHTM.
– Giả thuyết a2: Pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM phải góp phần nâng
cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo xử lý nợ xấu của NHTM phát triển hiệu quả, bền
vững; bảo đảm phòng ngừa và xử lý rủi ro trong xử lý nợ xấu của NHTM; bảo đảm
quyền tự do kinh doanh của NHTM; đảm bảo sự điều tiết hợp lý của Nhà nước đối
với các NHTM.
Luận án nghiên cứu về pháp luật xử lý nợ xấu của Việt Nam nhằm đưa ra
giải pháp hoàn thiện pháp luật, chính sách về nợ xấu và hạn chế rủi ro tín dụng. Để
bảo đảm xử lý nợ xấu của NHTM, pháp luật điều chỉnh hoạt động này phải dựa
trên những yêu cầu cơ bản nào? Pháp luật được xây dựng và tổ chức thực hiện phải
dựa trên những yêu cầu nhất định. Những yêu cầu này sẽ đảm bảo cho pháp luật
phù hợp, khả thi và hiệu quả.
b) Câu hỏi thứ hai: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật ở
Việt Nam về xử lý nợ xấu có những bất cập gì, nguyên nhân của những bất cập này
là gì?
– Giả thuyết b1: Pháp luật hiện hành còn những hạn chế, bất cập nên chưa

thực sự phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng của các NHTM, đồng thời thực
tiễn thực hiện các quy định này của pháp luật chưa nghiêm túc, gây mất an toàn
trong hoạt động tín dụng của các NHTM.
Để đưa ra giả thuyết này, luận án phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật
cũng như quá trình áp dụng các quy định của pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM.
Từ thực tiễn áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này, luận án chỉ ra những bất cập của
quy định của pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM; bất cập trong quy định về thẩm
định hồ sơ và kiểm tra xử lý nợ xấu của NHTM; bất cập trong trong các quy định
về phân loại nợ, trích lập dự phòng; về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu; hệ thống kiểm
soát nội bộ…
– Giả thuyết b2: Pháp luật hiện hành và việc thực hiện các quy định đó chưa
thực sự xử lý tốt những rủi ro trong xử lý nợ xấu của NHTM, vì vậy chưa bảo đảm
an toàn trong xử lý nợ xấu của NHTM.
20
Luận án phân tích thực trạng áp dụng pháp luật về cơ cấu lại nợ vay, khoanh
nợ, miễn giảm lãi suất, xóa nợ; mua bán nợ; sử dụng dự phòng… với mục đích
chứng minh rằng, muốn xử lý nợ xấu của NHTM cần thiết phải có những quy định
pháp luật cụ thể, phù hợp với đặc trưng của các hoạt động này trong thực tiễn.
c) Câu hỏi thứ ba: việc hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM phải
dựa trên cơ sở nào? Để pháp luật trong lĩnh vực này áp dụng tốt trong thực tiễn
cần thiết phải sửa đổi những nội dung nào? Những quy định nào cần thiết được
ban hành mới?
Để giải quyết câu hỏi này, luận án dựa vào các giả thuyết, trường hợp luận

án chỉ nghiên cứu và trả lời được câu hỏi 1 và 2 mà không trả lời được câu hỏi thứ
ba thì hiệu quả nghiên cứu của luận án sẽ không đạt được. Những nội dung lý luận
cũng như những điểm mới về mặt lý luận ở câu hỏi tổng quát và thực trạng áp dụng
ở câu hỏi tổng quát 2 nếu được xử lý bằng việc hoàn thiện quy định pháp luật ở câu
hỏi 3 sẽ chứng minh sự gắn kết giữa lý luận và thực tiễn khi sửa đổi, bổ sung các
quy định của pháp luật về bảo đảm xử lý nợ xấu của NHTM.
Để hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM, nhất thiết phải dựa vào
những định hướng cơ bản như chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước; khắc phục những bất cập, hạn chế của pháp luật hiện hành; tiếp thu những
kinh nghiệm, chuẩn mực và thông lệ quốc tế về xử lý nợ xấu của NHTM… Những
nội dung hiện có của pháp luật cần thiết phải được sửa đổi để phù hợp với thực tiễn
giám sát chặt chẽ xử lý nợ xấu của NHTM, sửa đổi các quy định về xử lý nợ xấu
của NHTM… Ngoài những sửa đổi đã đề cập, luận án còn đưa ra những kiến nghị
về việc ban hành mới các quy định của pháp luật trong lĩnh vực này nhằm hướng
tới mục đích bảo đảm an toàn xử lý nợ xấu của NHTM.
1.4.2. Lý thuyết nghiên cứu
Khi nghiên cứu pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM ở Việt Nam, có một số

lý thuyết quan trọng làm cơ sở cho việc nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật như:
a) Lý thuyết cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ (monetary policy
transmission mechanism theory).
Nợ xấu không chỉ chịu ảnh hưởng của kênh tín

dụng riêng biệt như đã phân tích ở trên mà còn chịu tác động của tổng hợp cơ chế
truyền dẫn của CSTT. Khi đó, cơ chế truyền dẫn của CSTT làm thay đổi các yếu tố
21
kinh tế vĩ mô (như lãi suất, lạm phát, tỷ giá hối đoái, thất nghiệp…) sẽ ảnh hưởng
đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp và hộ gia đình trong nền kinh tế và do đó sẽ
tác động đến nợ xấu. Theo Mishkin (2010), cơ chế truyền dẫn của CSTT là quá
trình từ thay đổi trong lãi suất (hoặc cung tiền) của cơ quan điều hành CSTT ảnh
hưởng đến mức giá và sản lượng của nền kinh tế. Cơ chế truyền dẫn CSTT là một
quá trình mà sự thay đổi trong CSTT dẫn đến hàng loạt sự thay đổi khác trong các
biến số của nền kinh tế như lãi suất, giá cả tài sản, chi tiêu, tiêu dùng, tỷ giá hối
đoái, dòng tiền, khả năng cấp tín dụng của hệ thống NHTM và cuối cùng là hướng
tới mục tiêu mức giá, sản lượng và thất nghiệp. CSTT mở rộng dẫn đến giảm sút lãi
suất thực tế và sự suy giảm lãi suất thực tế làm giảm chi phí đầu tư, gây ra sự gia
tăng trong chi tiêu cho đầu tư, qua đó dẫn tới gia tăng tổng cầu và sản lượng. Tác
động của CSTT tới các biến số vĩ mô qua kênh lãi suất truyền thống được nhiều
nhà kinh tế học tán thành, các nghiên cứu còn chỉ ra rằng ngoài lãi suất, các yếu tố
trễ khác như sản lượng, doanh thu và dòng tiền mới là các nhân tố có ảnh hưởng
mạnh nhất tới chi tiêu và tiêu dùng.
Theo Bernanke và Gertler (1995), CSTT tỏ ra thiếu hiệu quả trong việc làm
giảm lãi suất trung dài hạn, đặc biệt là lãi suất thực vốn đóng vai trò quan trọng
trong quyết định đầu tư vào các tài sản dài hạn. Các kênh truyền tải của CSTT
không hoạt động độc lập mà cùng hoạt động trước những thay đổi trong điều hành
CSTT của NHTW. Chính vì vậy, việc đánh giá ảnh hưởng của CSTT lên tăng
trưởng tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá công tác điều hành
CSTT. Như vậy, các kênh truyền dẫn của CSTT như kênh bảng cân đối tài sản,
kênh khả năng cấp tín dụng, kênh dòng tiền, kênh biến động mức giá tác động đến
nợ xấu thông qua các nhân tố vĩ mô như lãi suất, dòng tiền, giá tài sản, tỷ giá, từ đó
tác động đến lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức, ảnh hưởng đến hoạt động đầu
tư hay tiêu dùng của người đi vay và ảnh hưởng đến khả năng trả nợ và chất lượng
các khoản vay.
Áp dụng cơ chế truyền dẫn của CSTT vào việc nghiên cứu pháp luật về xử
lý nợ xấu của NHTM sẽ gợi mở ra nhiều vấn đề cần làm sáng tỏ như làm cách nào
để dự đoán, đo lường được tác động của pháp luật đến xử lý nợ xấu của NHTM?
Chẳng hạn, việc xây dựng và ban hành một quy phạm pháp luật mới sẽ có khả năng
22
thay đổi, tác động đến hoạt động ngân hàng như thế nào? Hiệu quả của quy phạm
ấy ra sao? Mối quan hệ giữa pháp luật và mức độ hiệu quả trong việc điều chỉnh xử
lý nợ xấu của NHTM như thế nào?…
b) Lý thuyết về sự can thiệp của nhà nước trong đời sống kinh tế xã hội. Những
lý thuyết về sự can thiệp của nhà nước trong đời sống kinh tế xã hội thể hiện mối quan
hệ giữa nhà nước và thị trường. Cho đến nay đã có ba lý thuyết sau đây:
Một là, lý thuyết về tự do kinh tế: Lý thuyết này đề cao vai trò của thị trường,
ủng hộ tự do kinh tế và hạn chế đến mức thấp nhất sự can thiệp của nhà nước. Lý
thuyết này ra đời từ nửa cuối thế kỷ XVIII và trở thành trường phái thống trị cho
tới đầu thế kỷ XX với các đại biểu chính: A. Smith, J.B.Say, T.R. Manthus,
J.S.Mill, D. Ricardo; trong đó tiêu biểu nhất là A.Smith (1723-1790) với thuyết
“Bàn tay vô hình”. Theo các học giả ủng hộ lý thuyết này, sự phát triển kinh tế bình
thường không cần có sự can thiệp của nhà nước và nhà nước không nên can thiệp
vào kinh tế. Nhà nước chỉ cần thực hiện tốt các chức năng quản lý cơ bản là xây
dựng thể chế pháp luật để giữ gìn trật tự kinh tế, bảo vệ quyền sở hữu, bảo vệ an
ninh và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ đất nước.
Nếu vận dụng lý thuyết này khi nghiên cứu đề tài luận án, xử lý nợ xấu của
NHTM là công việc tự thân của các NHTM và của thị trường tài chính, vì vậy nhà
nước hạn chế hoặc thậm chí không cần can thiệp vào sự an toàn của các NHTM.
Những NHTM hoạt động hiệu quả, an toàn thì sẽ tự đứng vững và phát triển trong
nền kinh tế. Ngược lại, các NHTM kém hiệu quả, mất an toàn thì sẽ bị đào thải,
chấm dứt hoạt động.
Hai là, lý thuyết kinh tế có điều tiết: Đây là lý thuyết về nền kinh tế có sự
can thiệp mạnh của nhà nước do J.M. Keynes (1884-1946) đề ra. Lý thuyết này
khẳng định vai trò của nhà nước trong nền kinh tế và nhấn mạnh thị trường không
thể tự khắc phục khủng hoảng kinh tế cũng như các vấn đề khác của nền kinh tế.
Nhằm đảm bảo cho sự cân bằng của nền kinh tế và ngăn chặn các cuộc khủng
hoảng thì không thể dựa vào cơ chế thị trường tự điều tiết mà cần có sự giúp sức
của “bàn tay hữu hình” của nhà nước. Về sau, trên cơ sở lý thuyết kinh tế của điều
tiết của Keynes, trường phái Keynes mới ra đời và phát triển với những xu hướng
vận dụng mới, trong đó cũng đề cao vai trò, chức năng quản lý kinh tế của nhà
23
nước, đồng thời nhấn mạnh công cụ kế hoạch của nhà nước và chính sách tài chính
của nhà nước. Nhìn chung, những người ủng hộ học thuyết này đều cho rằng nhà
nước cần can thiệp thích hợp, gián tiếp vào thị trường thông qua việc định ra đường
lối phát triển, khung pháp luật, môi trường, thể chế cho các tổ chức, cá nhân đi
đúng hướng chứ nhà nước không làm thay thị trường.
Nếu vận dụng lý thuyết này khi nghiên cứu đề tài luận án chúng ta thấy, nhà
nước cần can thiệp mạnh mẽ vào lĩnh vực tài chính NHTM, đặc biệt là xử lý nợ xấu
của NHTM.
Ba là, lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp: Đây là lý thuyết ra đời từ thế kỷ
XIX, được P.A. Samuelson khái quát thành tư tưởng chủ yếu trong “kinh tế học”
của mình với chủ trương muốn phát triển kinh tế phải dựa vào cả “bàn tay vô hình”
và “bàn tay hữu hình” là thị trường và nhà nước. Nội dung của lý thuyết này dựa
trên cơ sở: thị trường cần được kiểm soát thông qua sự chỉ huy vô hình của các quy
luật kinh tế thị trường, còn nhà nước nên có chức năng quản lý kinh tế bằng sự điều
tiết, kiểm soát thị trường do tự thân thị trường không thể giải quyết được các vấn đề
như khủng hoảng, lạm phát, thất nghiệp… Vai trò, chức năng quản lý kinh tế của
nhà nước trong nền kinh tế thị trường là thiết lập hệ thống pháp luật, thúc đẩy thị
trường hoạt động có hiệu quả, đảm bảo sự công bằng và ổn định kinh tế vĩ mô.
Vận dụng lý thuyết này vào việc nghiên cứu đề tài luận án, xử lý nợ xấu của
NHTM không chỉ là vấn đề tự thân của mỗi ngân hàng và hệ thống NHTM, mà còn
là vấn đề hệ trọng đối với nền kinh tế và nhà nước, vì vậy nhà nước cần điều tiết
hợp lý xử lý nợ xấu của NHTM thông qua pháp luật nhằm bảo đảm sự an toàn, ổn
định, hiệu quả xử lý nợ xấu của NHTM, góp phần tích cực cho sự phát triển nền
kinh tế nói chung.
c) Lý thuyết về quản trị rủi ro:
Theo “giả thuyết rủi ro” (moral hazard), Keeton và Morris (1987) cho rằng,

mức vốn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mức độ nợ xấu. Về bản
chất, những NHTM có vốn thấp thường mạo hiểm hơn nên sẽ đầu tư nhiều vào tài
sản rủi ro, điều này dẫn đến nợ xấu gia tăng bởi vì nếu rủi ro xảy ra thì chủ nợ là
người gánh chịu nhiều tổn thất nhất. Để đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng
của NHTM, theo chuẩn mực kế toán quốc tế quy định các chỉ số để đo lường như
24
sau: (i) Đo lường thanh khoản bằng Tỷ lệ cho vay/Vốn huy động; (ii) Đo lường an
toàn vốn: Theo hiệp ước Basel II, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản mở rộng thành
vốn chủ sở hữu/tổng tài sản có trọng số rủi ro (hệ số CAR) và (iii) Đo lường khả
năng bù đắp tổn thất cho vay: Tỷ lệ dự phòng rủi ro/tổng dư nợ. Khi tỷ lệ cho
vay/vốn huy động cao, nếu cho vay chất lượng thấp sẽ gây ra hậu quả là ngân hàng
gặp khó khăn trong thanh khoản. Để bù đắp thiếu hụt này, nhà quản lý ngân hàng
phải tăng huy động với mức lãi suất cao và hệ quả chi phí lãi gia tăng cho khách
hàng vay. Khi nợ xấu gia tăng, các nhà quản lý phải gia tăng các chi phí liên quan
đến quản lý nợ xấu cũng như hạch toán tài sản có trọng số rủi ro cao. Điều này tất
yếu dẫn đến hệ số vốn chủ sở hữu so tổng tài sản hay hệ số CAR phải giảm và tỷ lệ
dự phòng rủi ro trên tổng dư nợ phải tăng khi nợ xấu tăng.
Vận dụng lý thuyết này vào việc nghiên cứu đề tài luận án, xử lý nợ xấu của
NHTM quản lý tránh rủi ro (risk-averse management hypothesis) nên thường tăng
chi phí phân bổ cho hoạt động giám sát và bảo lãnh cho vay, từ đó làm giảm hiệu
quả của NHTM với mục đích tránh sự đổ vỡ trong tín dụng. Trong trường hợp này,
chính sự lo sợ về khủng hoảng tài chính và thông tin bất cân xứng giải thích mối
quan hệ cùng chiều giữa hiệu quả chi phí và nợ xấu.
d) Lý thuyết về tự do hợp đồng: Tự do ý chí là nền tảng hình của hợp đồng.
Không có tự do ý chí không thể hình thành quan hệ hợp đồng và ngược lại, tự do ý
chí có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nhằm biến các dự định hoặc kế hoạch trở
thành hiện thực. Tự do ý chí nói chung và tự do hợp đồng nói riêng là quyền cơ bản
của con người nhưng quyền này không phải là quyền tuyệt đối. Bởi vì, để đảm bảo
hài hòa giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, nếu tuyệt đối tự do ý chí sẽ không giải
quyết được hài hòa một số giao dịch phát sinh trên thực tế. Vì vậy, hạn chế tự do ý
chí cũng có nghĩa tương đối, nhưng là một nguyên tắc được ghi nhận trong quan hệ
dân sự. Do đó, cho rằng giới hạn của tự do ý chí nói chung và tự do hợp đồng nói
riêng có ý nghĩa tích cực nhất định như: (i) Cân bằng lợi ích giữa cá nhân và lợi ích
chung của toàn xã hội; (ii) Bảo vệ người yếu thế trong các giao dịch nhất định; (iii)
đảm bảo trật tự và có định hướng trong sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội.
Giới hạn tự do hợp đồng không phải là những quy định làm triệt tiêu quyền tự do ý
chí và quyền con người. Chính quy định này đã đảm bảo quyền con người của các
25
chủ thể yếu thế và lợi ích chung của cộng đồng. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi
phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và việc xác lập, thực hiện, chấm
dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi
ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Áp dụng lý thuyết về tự do hợp đồng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã
hội trong nền kinh tế thị trường có ý nghĩa không những trong việc đánh giá thực
trạng pháp luật và thực hiện pháp luật trong việc xử lý nợ xấu của NHTM, mà còn
tạo những cơ sở quan trọng cho những định hướng, giải pháp và kiến nghị hoàn
thiện pháp luật và thực thi pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM ở Việt Nam.
1.4.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, cụ thể là

các phương pháp luận của Triết học Mác – Lênin như phương pháp luận duy vật
biện chứng, phương pháp luận duy vật lịch sử…
Luận án sử dụng những quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về các vấn đề
liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Bên cạnh đó, các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, phương pháp
lịch sử, lôgic, phương pháp nghiên cứu lý luận kết hợp với thực tiễn, các phương
pháp xã hội học như phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp thống kê… được
áp dụng để nghiên cứu đề tài này.
Đặc biệt, luận án tiếp cận một số vấn đề nghiên cứu không chỉ dưới góc độ
pháp lý, mà còn dưới góc độ nghiệp vụ, kinh tế nhằm làm rõ các luận điểm và nội
dung trong đề tài.
Cụ thể trong chương 1 của luận án sử dụng phương pháp thống kê, phân tích
và so sánh, tổng hợp để làm rõ tình hình nghiên cứu đề tài, những điểm kế thừa từ
các công trình khoa học đã công bố trước đây và những nội dung cần thiết nghiên
cứu tiếp trong luận án.
Phương pháp phân tích, so sánh được sử dụng nhiều trong Chương 2 để làm
rõ những khái niệm, thuật ngữ, phạm trù mà luận án sử dụng, từ đó rút ra kết luận
khoa học làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng thực thi pháp luật về xử lý nợ xấu
của ngân hàng ở Việt Nam.
26
Phương pháp phân tích, thống kê được luận án sử dụng để nghiên cứu thực
tiễn thực thi pháp luật xử lý nợ xấu của NHTM gắn với các số liệu thống kê về nợ
xấu, tỷ lệ nợ xấu được xử lý, chưa được xử lý bởi các chủ thể như VAMC, AMC,
DATC, các tranh chấp về xử lý nợ xấu. Trên cơ sở đó, phân tích tính toàn diện,
thống nhất và hiệu quả trong các qui định pháp luật về xử lý nợ xấu ở Việt Nam.
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu tại chương 3 của luận án để làm rõ thực
trạng thực thi pháp luật về xử lý nợ xấu ở Việt Nam (chủ yếu bởi VAMC).
Phương pháp so sánh được sử dụng để nghiên cứu các qui định của pháp luật
Việt Nam về xử lý nợ xấu qua các thời kỳ và so sánh pháp luật Việt Nam và pháp
luật nước ngoài về nợ xấu và xử lý nợ xấu, qua đó rút ra bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam để tiếp tục hoàn thiện pháp luật.
Phương pháp tổng hợp được sử dụng ở cuối mỗi nội dung được phân tích, so
sánh và ở cuối chương 2, 3, một số mục ở chương 4 của luận án nhằm rút ra các kết
luận và đề xuất các giải pháp để tiếp tục hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả xử
lý nợ xấu của ngân hàng ở Việt Nam hiện nay.
27
Kết luận chương 1
Trong chương 1, tác giả đã nêu và phân tích được tổng quan tình hình nghiên

cứu. Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên
cứu đề tài luận án. Trên cơ sở những nghiên cứu đó và bằng phương pháp chủ đạo
là phân tích, phân tích – tổng hợp, thống kê và so sánh, tác giả đưa ra một số kết
luận như sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
luận án được các nhà khoa học nghiên cứu ở nhiều góc độ, phạm vi, nội dung khác
nhau. Những nghiên cứu đó có thể được tác giả đề tài luận án chọn lọc và tiếp thu,
đặc biệt là những nghiên cứu về nội dung của xử lý nợ xấu của ngân hàng thông
qua việc phòng ngừa rủi ro và xử lý rủi ro. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần
tiếp tục nghiên cứu và phát triển, đặc biệt là làm sáng tỏ cơ sở lý luận của pháp luật
về xử lý nợ xấu của ngân hàng cũng như đề xuất các giải pháp hoàn thiện lĩnh vực
pháp luật này dựa trên nền tảng lý thuyết phù hợp và khoa học.
Thứ ba, tác giả đề tài luận án nhận thấy việc nghiên cứu pháp luật xử lý nợ
xấu của ngân hàng là vấn đề mới, có ý nghĩa thực sự về mặt khoa học cũng như
thực tiễn trong bối cảnh của nền kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay;
Thứ tư, tác giả phân tích cơ sở lý thuyết trong việc nghiên cứu đề tài luận án,
thông qua việc xác định ba câu hỏi nghiên cứu chính tương ứng với các nội dung
chính cần phải giải quyết trong đề tài, cùng với đó là các giả thuyết nghiên cứu và
dự kiến kết quả nghiên cứu. Luận án cũng triển khai dựa trên các lý thuyết nghiên
cứu chính là cách tiếp cận kinh tế học pháp luật; lý thuyết về sự can thiệp của Nhà
nước trong đời sống kinh tế xã hội và lý thuyết về hiệu quả của pháp luật trong điều
chỉnh các quan hệ xã hội trong nền kinh tế thị trường.
28
Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU, PHÁP LUẬT
VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
2.1. Những vấn đề lý luận về nợ xấu của ngân hàng thương mại
2.1.1. Khái niệm nợ xấu của ngân hàng thương mại
Nợ xấu thường được nhắc đến với các thuật ngữ “bad debt” (nợ xấu), “nonperforming loan” (không thực hiện cho vay) (NPL), “doubtful debt” (nợ phải thu

khó đòi). Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, đã quá hạn (thường là
quá ba tháng) và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ
nợ. Điều này thường xảy ra khi các con nợ đã thua lỗ liên tục, tuyên bố phá
sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Tuy nhiên, hiện nay đang tồn tại nhiều khái niệm khác
nhau về nợ xấu. Có thể nhắc tới một số khái niệm nợ xấu như sau:
* Khái niệm của nhóm chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group
(AEG)của Liên Hợp Quốc
Nhóm chuyên gia tư vấn AEG của Liên Hợp Quốc cho rằng: định nghĩa về

nợ xấu không nên mang tính chất mô tả mà chỉ nên được sử dụng như hướng dẫn
cho các ngân hàng. Theo đó, AEG định nghĩa nợ xấu như sau: “Một khoản nợ
được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản
lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo
thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý
do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ
” [37,

tr.45].
Như vậy, theo nhóm chuyên gia AEG, nợ xấu được xác định trên 2 yếu tố:
quá hạn trên 90 ngày; khả năng trả nợ bị nghi ngờ.
* Khái niệm nợ xấu của Uỷ ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS)
BCBS – Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng là một diễn đàn cho sự hợp tác

thường xuyên về các vấn đề liên quan đến giám sát hoạt động ngân hàng. Mục tiêu
của Ủy ban là hiểu rõ hơn về các vấn đề mấu chốt trong việc giám sát hoạt động
ngân hàng và nâng cao chất lượng giám sát hoạt động ngân hàng trên toàn cầu. Để
29
đạt được mục tiêu đó, Ủy ban trao đổi các thông tin về các vấn đề giám sát hoạt
động ngân hàng của các quốc gia, các phương pháp và kỹ thuật với phương châm
là để có một sự hiểu biết đồng nhất về các vấn đề đó. Trên cơ sở đó, Ủy ban dùng
sự hiểu biết đồng nhất này để xây dựng các văn bản hướng dẫn và tiêu chuẩn trong
các lĩnh vực mà họ cho là cần thiết. Ủy ban Basel được biết đến trên khắp thế giới
về các thông lệ quốc tế mà họ đưa ra về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu; các nguyên tắc
cơ bản về giám sát ngân hàng hiệu quả; và Thỏa ước về giám sát hoạt động ngân
hàng xuyên biên giới.
Thành viên của Ủy ban là Ngân hàng trung ương hoặc cơ quan giám sát
ngân hàng của các quốc gia như Argentina, Úc, Bỉ, Brazil, Canada, Trung Quốc,
Pháp, Đức, Hồng Kông, Ấn Độ, Indonesia, Ý, Nhật, Hàn Quốc, Luxembourg,
Mexico, Hà Lan, Nga, Ả Rập Xê Út, Singapore, Nam Phi, Tây Ban Nha, Thụy
Điển, Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh và Mỹ không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ
xấu. Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về
quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng
hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: ngân hàng thấy người
vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì
để cố gắng thu hồi; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày. Dựa trên hướng dẫn
này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu
hiệu người đi vay không trả được nợ.
BCBS cũng đề cập tới các khoản vay bị giảm giá trị sẽ xảy ra khi khả năng
thu hồi các khoản thanh toán từ khoản vay là không thể. Giá trị tổn thất sẽ được
ghi nhận bằng cách giảm trừ giá trị khoản vay thông qua một khoản dự phòng và
sẽ được phản ánh trên báo cáo thu nhập của ngân hàng. Như vậy lãi suất của các
khoản vay này sẽ không được cộng dồn và sẽ chỉ xuất hiện dưới dạng tiền mặt thực
tế nhận được
[14, tr.12].

* Khái niệm nợ xấu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)
Trong Hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia

(IFRS), IMF đưa ra định nghĩa về nợ xấu như sau: “Một khoản vay được coi là nợ
xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất
đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa

30
thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy
những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ
(người vay phá sản). Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc
bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới
thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi
được khoản vay thay thế.
[111, tr.45]

Từ những định nghĩa trên có thể thấy được sự tương đồng trong cách nhận
thức về nợ xấu giữa các định chế tài chính trên thế giới. Theo đó, một khoản nợ
được coi là nợ xấu khi nó xuất hiện một hoặc cả hai dấu hiệu sau: Quá hạn trả nợ
gốc và lãi từ 90 ngày trở lên; khi khách hàng vay vốn bị tổ chức tín dụng (TCTD)
hoặc ngân hàng coi là không có khả năng trả nợ. Bản chất của nợ xấu là một khoản
tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thu hồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh
sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ. Đối với các NHTM, nợ xấu tức là các
khoản tiền cho khách hàng vay, thường là các doanh nghiệp, mà không thể thu hồi
lại được do doanh nghiệp đó làm ăn thua lỗ hoặc phá sản,… Nhìn chung, một
doanh nghiệp luôn phải ước tính trước những khoản nợ xấu trong chu kỳ kinh
doanh hiện tại dựa vào những số liệu nợ xấu ở kì trước.
* Khái niệm nợ xấu trong lĩnh vực hoạt động tín dụng của Việt Nam
Ở Việt Nam, khái niệm nợ xấu chính thức được nêu ra khi Quyết định số

493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN (Quyết định 493)
được ban hành, quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý
rủi ro tín dụng trong hoạt động tín dụng của TCTD và có một số sửa đổi trong
Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 của Thống đốc NHNN. Sau đó,
ngày 21/1/2013, Thống đốc NHNN ban hành Thông tư số 02/2013/TT-NHNN quy
định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và
việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài thay thế cho Quyết định 493. Ngày 18/3/2014, Thống đốc NHNN
ban hành Thông tư 09/2014/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư
số 02/2013/TT-NHNN về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự
phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Gần đây nhất, ngày 30/7/2021, Thống đốc
31
NHNN ban hành Thông tư số 11/2021/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có,
mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử
lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
thay thế Thông tư số 02/2013/TT-NHNN. Đây là một trong những văn bản quy
phạm pháp luật quan trọng để đánh giá, phản ánh chất lượng tín dụng và tiềm lực
tài chính của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Theo đó, “nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới
tiêu chuẩn chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn).”
Cụ thể: Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: (i) Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180
ngày; (ii) Nợ gia hạn nợ lần đầu; (iii) Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng
không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; (iv) Nợ thuộc một trong
các trường hợp sau đây: (i) Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá
nhân thuộc đối tượng mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không
được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật; (ii) Nợ được bảo đảm bằng cổ
phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng hoặc tiền
vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín
dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận
vốn góp; (iii) Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá
trị vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của
pháp luật; (iv) Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng
hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ
lệ giới hạn theo quy định của pháp luật; (v) Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp
tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật; (vi)
Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối và các
tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
(vii) Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách
dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; (viii) Nợ
đang thu hồi theo kết luận thanh tra; (ix) Nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy
định tại khoản 2 và khoản 3 Điều của Thông tư 02.
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: (i) Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
32
(ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ
được cơ cấu lại lần đầu;(iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; (iv) Khoản nợ
quy định tại điểm c (iv) khoản 1 Điều này quá hạn từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ
ngày có quyết định thu hồi; (v) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã
quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được; (vi) Nợ được phân loại
vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: (i) Nợ quá hạn trên 360 ngày;
(ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn
trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn
theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; (iv) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ
lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; (v) Khoản nợ quy định
tại điểm c (iv) khoản 1 Điều này quá hạn trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu
hồi; (vi) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên
60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;(vii) Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng
được Ngân hàng Nhà nước công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản; (viii) Nợ được phân loại
vào nhóm 5.
Về khái niệm nợ xấu của NHTM, Lê Thị Thu Thuỷ (2021) nghiên cứu các
khái niệm về nợ xấu của Ngân hàng Thế giới (WB), Uỷ ban Basel về giám sát ngân
hàng (BCBS), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cũng như các quy định hiện hành của Việt
Nam, từ đó đưa ra khái niệm “nợ xấu ngân hàng là khoản nợ của khách hàng vay
phát sinh trên cơ sở hợp đồng giữa TCTD và khách hàng bị quá hạn trả nợ trên 90
ngày và con nợ bị nghi ngờ về khả năng trả nợ”.
Như vậy, từ các quy định trên, có thể khái quát lại: Nợ xấu hay nợ khó đòi là
các khoản nợ dưới chuẩn, thường quá 3 tháng và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ
lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã làm
ăn thua lỗ liên tục, tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản.
Nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM là nợ được xác định căn cứ vào
hai yếu tố chính là thời gian quá hạn hoặc khả năng trả nợ của khách hàng, những
khoản nợ được đánh giá không có khả năng thanh toán đầy đủ, đúng hạn theo cam
kết.
Các khoản nợ bị gia hạn nợ lần đầu sẽ được đưa vào nợ thuộc nhóm nợ xấu,

33
thay vì nếu gia hạn nợ trong thời hạn vẫn được xếp vào nợ quá hạn. Khi xác định
nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo
hợp đồng tín dụng cũng được đưa vào nhóm nợ xấu. Ngoài các tiêu chí để phân
loại nợ từ đặc tính khả năng trả nợ của khách hàng, điểm mới được đánh giá khá
khắc nghiệt là xem xét hoạt động cấp tín dụng cho những đối tượng bị hạn chế cấp
tín dụng hoặc cấp tín dụng có điều kiện theo Luật các TCTD. Nếu như trước đây
trong hoạt động cấp tín dụng của các NHTM, việc cấp tín dụng cho các tổ chức, cá
nhân thuộc đối tượng bị hạn chế tín dụng diễn ra rất thường xuyên thì nay được đưa
vào nhóm “nợ dưới tiêu chuẩn” trong nhóm chỉ tiêu nợ xấu. Do đó, hoạt động cho
vay cầm cố cổ phiếu của các TCTD hoặc các công ty con của TCTD này để góp
vốn vào TCTD khác trong hệ thống các NHTM cũng là những khoản vay được liệt
kê vào nhóm nợ xấu. Quy định này xếp các khoản tín dụng theo kiểu đầu tư chéo
lẫn nhau sẽ bị hạn chế khi liệt kê vào nhóm nợ xấu mà qui định trước đây không đề
cập đến. Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết mà TCTD đang nắm quyền
kiểm soát không vượt quá tỷ lệ qui định [38, tr.5].
Vì vậy, nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM đã, đang và có thể sẽ
tiếp tục tác động tiêu cực đến việc lưu thông dòng vốn vào nền kinh tế. Tỷ lệ nợ
xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM càng cao thì rủi ro và tổn thất dòng vốn
của các NHTM càng lớn. Đây được coi là nguyên nhân chính gây kìm hãm, hạn
chế sự lưu thông của dòng tín dụng trong nền kinh tế. Khi nói về nợ xấu trong hoạt
động tín dụng của NHTM, ngoài việc nói đến khả năng kiểm soát của các TCTD
thì cũng cần xem xét đến tình hình nền kinh tế và người vay ở nhiều phương diện
trên cơ sở khách quan, chủ quan và liên quan đến nhiều bên khác nhau. Nợ xấu
trong hoạt động tín dụng của NHTM dưới góc độ hậu quả pháp lý sẽ làm gia tăng
sức ép lên tình trạng lạm phát, kìm hãm hoạt động sản xuất, kinh doanh. Mối nguy
lớn nhất là nếu nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM với dòng tín dụng lớn
thì có thể dẫn đến khủng hoảng hệ thống tài chính ngân hàng và toàn bộ nền kinh
tế. Đối với hệ thống các NHTM, nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM sẽ
khiến các NHTM sử dụng vốn kém hiệu quả, giảm lợi nhuận, chịu rủi ro dòng tiền,
giảm khả năng thanh toán cho các khoản thanh toán của NHTM. Đặc biệt, nếu tình
trạng nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM diễn ra thường xuyên, liên tục và
34
không được xử lý dứt điểm sẽ khiến các NHTM bị mất uy tín trong hoạt động kinh
doanh tín dụng của mình. Đối với khách hàng: nợ xấu trong hoạt động tín dụng của
NHTM sẽ làm tăng chi phí hoạt động, tăng gánh nặng trả nợ cho ngân hàng, làm
giảm tốc độ chu chuyển vốn với ngân hàng gây ảnh hưởng trực tiếp đến mối quan
hệ cả hai bên, từ đó uy tín của khách hàng sẽ bị giảm sút khá lớn khiến cho các
NHTM không còn dám tiếp tục cho khách hàng vay, dù nguồn vốn không thiếu.
NHTM phải thận trọng hơn với các khoản vay để tránh các khoản nợ xấu trong
hoạt động tín dụng của NHTM tiếp theo, dẫn tới hậu quả là các NHTM có tiền mà
không cho vay được, còn nền kinh tế thì vẫn tiếp tục khát vốn. Nợ xấu trong hoạt
động tín dụng của NHTM tạo nên gánh nặng cho cá nhân và nền kinh tế [79, tr.23].
2.1.2. Đặc điểm về nợ xấu của ngân hàng thương mại
Đặc điểm về nợ xấu của NHTM bao gồm [85]:

Thứ nhất, nợ xấu của NHTM thường phát sinh trong hoạt động tín dụng của
NHTM, trên cơ sở hợp đồng. Tuỳ thuộc vào hình thức cấp tín dụng mà có các hợp
đồng với tên gọi khác nhau như hợp đồng tín dụng, hợp đồng chiết khấu, hợp đồng
bao thanh toán… Các chủ thể trong quan hệ nợ xấu bao gồm: một bên là các NHTM
và một bên là các cá nhân, tổ chức khác. Đây là điểm khác biệt của nợ xấu so với
các khoản nợ phát sinh trong các giao dịch dân sự khác, giữa hai chủ thể là các cá
nhân, tổ chức, không có sự tham gia của các NHTM.
Ngoài ra, các khoản vay trong trường hợp này thường là các khoản vay có
giá trị lớn, được bảo đảm thực hiện bằng tài sản là động sản, bất động sản.
Thứ hai, nợ xấu dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của TCTD trong hợp
đồng tín dụng không được đảm bảo do khoản vay không thu hồi được. Nợ xấu có
thể dẫn đến việc ngân hàng cho vay mất khả năng thanh toán, xâm phạm tới quyền
và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, bởi lẽ ngân hàng chủ yếu dựa vào khoản
huy động từ tiền gửi để cho vay. Ngân hàng có thể mất vốn, thậm chí có thể phá
sản từ nợ xấu. Nếu không áp dụng các biện pháp xử lý kịp thời, các khoản nợ này
sẽ tác động xấu đến sự phát triển của nền kinh tế. Ngân hàng là trung gian tài chính
trong nền kinh tế, có chức năng điều tiết giữa người cần vốn và người thừa vốn.
Nếu người đi vay không trả được nợ dẫn đến nợ xấu sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của
hoạt động cho vay và ảnh hưởng đến nền kinh tế. Vì vậy hoạt động quản lý nợ xấu
35
có vai trò rất quan trọng đối với sự an toàn hệ thống ngân hàng và sự tăng trưởng
kinh tế. Theo Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (2005), quản lý nợ xấu là quá
trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín
dụng nhằm đạt được mục tiêu an toàn, hiệu quả và hoạt động bền vững; trong đó
tăng cường các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế sự phát sinh nợ xấu đi kèm
với các biện pháp xử lý các khoản nợ xấu đã phát sinh, từ đó làm tăng doanh thu,
giảm chi phí và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động kinh doanh cả trong ngắn
hạn và dài hạn của NHTM.
Thứ ba, nợ xấu là những khoản nợ dưới chuẩn. Theo quan niệm của nhiều
quốc gia trên thế giới thì nợ dưới chuẩn được hiểu là nợ quá hạn trên 90 ngày mà
con nợ không có dấu hiệu trả được nợ. Như vậy, những khoản nợ quá hạn đến 90
ngày và con nợ không có dấu hiệu nghi ngờ về khả năng trả nợ thì vẫn chưa được
xem là nợ xấu của ngân hàng.
Thứ tư, nợ xấu phải là khoản nợ có bằng chứng nghi ngờ khả năng trả nợ
của con nợ như: con nợ trong quá trình kinh doanh bị thua lỗ dẫn đến nguy cơ bị
phá sản, con nợ tẩu tán tài sản, con nợ bất thường chậm trễ và không có lý do trong
việc cung cấp các báo cáo tài chính và trả nợ theo lịch đã thoả thuận…
Thứ năm, nợ xấu luôn tiềm ẩn với các TCTD, bởi lẽ hoạt động cho vay của
các TCTD được thực hiện hiệu quả hay không phụ thuộc vào khách hàng vay, chứ
không phải phụ thuộc vào TCTD. Mức độ rủi ro của từng khoản vay, từng khách
hàng cụ thể là có thể dự đoán được. Tuy nhiên, nợ xấu vẫn có thể xảy ra ngoài
mong muốn. Điều này được minh chứng bởi cuộc khủng hoảng tài chính, ngân
hàng trên thế giới và gần đây nhất là cuộc khủng hoảng ở Hoa Kỳ năm 2018.
Thứ sáu, nợ xấu ngân hàng “đe doạ” sự an toàn hoạt động của cả hệ thống
ngân hàng và Nhà nước phải áp dụng các biện pháp kịp thời để kiểm soát và xử lý
nợ xấu. Nếu nợ xấu ngân hàng không được xử lý kịp thời, có thể sẽ gây ra sự đổ vỡ
của một số ngân hàng yếu kém, khi đó, nó có thể gây tác động lan truyền đến cả hệ
thống ngân hàng, gây mất niềm tin của người dân, của nhà đầu tư, của doanh
nghiệp, của các tổ chức quốc tế. Thực tiễn của các cuộc khủng hoảng tài chính
ngân hàng trên thế giới đã chứng minh nợ xấu tăng cao là gánh nặng cho ngân hàng
nhà nước trong xử lý nợ xấu bởi lẽ các ngân hàng không thể đứng ra để tự xử lý,
36
nên việc xử lý có thể phải dựa vào ngân sách nhà nước. Trong khi đó nguồn vốn
ngân sách nhà nước có giới hạn, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng. Về lâu dài,
nếu việc xử lý nợ xấu dựa vào ngân sách nhà nước sẽ dẫn đến tình trạng bội chi
ngân sách, lạm phát trong nền kinh tế.
Vì vậy, khi nợ xấu xảy ra có tính hệ thống, trên thế giới thường có ba giài
pháp như sau: (i) giải pháp thị trường tự do: tự chịu trách nhiệm; (ii) chuyển nợ xấu
từ các NHTM sang một doanh nghiệp quản lý tài sản đặc biệt (AMC); và (iii) xoá
nợ. Đặc biệt, giải pháp thu hẹp tỷ lệ sở hữu (bail-in) bắt buộc đối với các cổ đông
hiện hữu cũng được đưa ra để giải quyết nợ xấu đang rất phổ biến, tránh tính trạng
rủi ro đạo đức một khi các ngân hàng trở thành quá lớn để sụp đổ.
Như vậy, thời hạn trả nợ cũng như tình trạng con nợ là hai yếu tố cơ bản xác
định khoản nợ có phải là nợ xấu ngân hàng hay không. Hai yếu tố trên cũng cho
thấy nợ xấu là những khoản nợ khó có khả năng thu hồi hơn so với các khoản nợ
phát sinh từ các giao dịch khác. Vì nợ xấu thông thường có giá trị lớn, khó thu hồi
nên việc xử lý nợ xấu không đơn thuần là việc trả lại cả gốc và lãi bằng tiền, tài sản
như khoản nợ phát sinh trong giao dịch dân sự mà phải sử dụng rất nhiều phương
thức như cơ cấu lại nợ, mua bán nợ…để thu hồi.
2.1.3. Bản chất nợ xấu của ngân hàng thương mại
Thứ nhất, xét về bản chất, nợ xấu bắt nguồn từ quan hệ tín dụng giữa NHTM
(chủ nợ) và khách hàng (con nợ).
Các mối quan hệ tín dụng này dựa trên các hợp

đồng. Thông thường, hợp đồng quy định các nghĩa vụ cơ bản nhất của hai bên, ví
dụ bên cho vay có nghĩa vụ cho khách hàng vay một khoản tiền trong một khoảng
thời gian cụ thể và ngược lại người đi vay có nghĩa vụ trả nợ gốc và trả lãi đúng
thời hạn. Nợ xấu sẽ không khai thông được nguồn vốn để cho vay. Với tình trạng
nợ xấu gia tăng, không những các NHTM tìm mọi cách để không cho các món nợ
tốt (nhóm 1) chuyển sang nhóm nợ quá hạn (nhóm 2) hay trở thành nợ xấu (nhóm 3
– 5), mà các NHTM đều rất cẩn thận cho vay mới do tình trạng tài chính của doanh
nghiệp suy giảm, thiếu hay không còn thế chấp và tài sản đảm bảo, hàng tồn kho
tăng cao làm gián đoạn vòng quay vốn và tài sản lưu động, khó chứng minh được
nguồn hoàn trả cũng như tính khả thi của nhiều dự án.
Thứ hai, nợ xấu đã buộc các NHTM áp dụng chặt chẽ hơn những chỉ tiêu
của chính sách cho vay và siết chặt các điều kiện cho vay dẫn đến chi phí hoạt

37
động của NHTM tăng. NHTM có nợ xấu cao khó có thể giảm lãi suất cho vay vì họ
muốn giữ những món nợ cũ với lãi suất cao và những món nợ mới cũng với lãi suất
cao để bù trừ cho chi phí và thiệt hại phát sinh từ những món nợ xấu hiện đang nằm
trong sổ sách. Điều này lý giải phần nào hiện tượng các NHTM vẫn giữ lãi suất cao
khi lãi suất đầu vào đã thuyên giảm đáng kể, thậm chí với các hợp đồng tín dụng
cho phép lãi suất được điều chỉnh bất cứ ở thời điểm nào. Hơn nữa, kinh nghiệm nợ
xấu đã buộc các NHTM áp dụng chặt chẽ hơn những chỉ tiêu của chính sách cho
vay và siết chặt các điều kiện cho vay mà trước kia, trong một nền kinh tế tăng
trưởng nóng, các NHTM đã nới lỏng quá mức. Đặc biệt trong lĩnh vực cho vay bất
động sản và chứng khoán. Như vậy, doanh nghiệp không có vốn để để tiếp tục hay
mở rộng sản xuất, kinh doanh và kéo theo hệ luỵ của xã hội. Nền kinh tế dẫn rơi
vào tình trạng bị động, khó có khả năng cạnh tranh lẫn tồn tại. Tác động của nợ xấu
đối với nền kinh tế là tác động gián tiếp thông qua mối quan hệ hữu cơ: NHTM –
khách hàng – nền kinh tế. Qua đó, nợ xấu ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của
các NHTM cũng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế. Khả năng khai
thác, đáp ứng vốn và khả năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế sẽ
bị hạn chế khi nợ xấu phát sinh. Nợ xấu phát sinh do khách hàng, doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh kém hiệu quả sẽ tác động đến toàn bộ cả nền kinh tế, tác động tới
sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế do vốn ứ đọng, sản xuất, kinh doanh bị
đình trệ [59, tr.8].
Thứ tư, nợ xấu khiến uy tín của NHTM giảm sút. Khi nợ xấu phát sinh sẽ
khiến uy tín của các NHTM giảm sút đối với khách hàng
như việc chậm trễ trong

thanh toán, khả năng thanh toán giảm sút…, đối với cổ đông như chậm trễ trong
thanh toán cổ tức, cổ tức giảm do thu nhập giảm, hoạt động kinh doanh và chất
lượng tín dụng đi xuống… và đối với các đối tác khác như như chậm trễ trong giải
ngân các khoản cho vay hợp vốn, các khoản đầu tư, chứng khoán… Trong lĩnh vực
ngân hàng, uy tín là vấn đề quan trọng quyết định đến sự sống còn, tồn tại và phát
triển của một NHTM. Chính vì vậy, nợ xấu đã ảnh hưởng đến sự phát triển của
toàn bộ hệ thống ngân hàng.
2.1.4. Nguyên nhân của nợ xấu của ngân hàng thương mại
* Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, do môi trường kinh doanh gặp nhiều khó khăn, tình hình kinh

38
doanh và tài chính của các doanh nghiệp suy giảm.
Hàng tồn kho nhiều dẫn đến đọng vốn trong sản xuất kinh doanh và làm tăng

nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM. Bên cạnh đó, rất nhiều doanh nghiệp
hiện nay có năng lực tài chính yếu, chủ yếu dựa vào vốn vay NHTM, vốn chủ sở
hữu nhỏ và khả năng ứng phó với sự thay đổi môi trường kinh doanh hạn chế. Vì
vậy, khi môi trường kinh doanh xấu đi, chính sách kinh tế vĩ mô thắt chặt, lãi suất
tăng, đồng thời tiêu thụ hàng hoá khó khăn đã ảnh hưởng lớn đến điều kiện tài
chính, kết quả kinh doanh và khả năng trả nợ vay NHTM của doanh nghiệp.
Thứ hai, do tình trạng sở hữu chéo ngân hàng
“Sở hữu chéo” được xem là một vấn đề lớn và nan giải đối với hệ thống

ngân hàng và doanh nghiệp ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Đặc biệt khi những năm gần đây, với sự phát triển của ngành tài chính-ngân hàng,
thì tình trạng sở hữu chéo ở Việt Nam diễn biến ngày càng phức tạp, khó kiểm soát
và đã nảy sinh nhiều hệ quả xấu đối với nền kinh tế. Một nghiên cứu của Chương
trình giảng dạy kinh tế Fulbright công bố mới đây về sở hữu chéo giữa Ngân hàng
với doanh nghiệp (DN) tại Việt Nam cho thấy hệ thống Ngân hàng đã hình thành
một mạng lưới sở hữu chéo và cho vay theo quan hệ rất phức tạp, nhằm mục đích
thâu tóm ngân hàng, thu xếp vốn cho những dự án đầu tư chưa minh bạch. Theo đó,
rất nhiều công ty lớn, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế Nhà nước và các tập đoàn cổ
phần, dù không thuộc lĩnh vực tài chính nhưng hiện đang đầu tư dài hạn với vai trò
nhà sáng lập, nhà đầu tư chiến lược trong các NHTM. Chưa kể, các NHTM cũng sở
hữu cổ phần lẫn nhau, cổ đông tại các NHTM là các công ty quản lý quỹ đầu tư vốn
vào những NHTM khác có tiềm năng. Hiện không ít tập đoàn, tổng công ty Nhà
nước và tư nhân cũng đang đầu tư, sở hữu chéo khi họ có trong tay khá nhiều
NHTM. Theo Ủy ban Kinh tế Quốc hội, đến nay, gần 40 Doanh nghiệp Nhà nước
và tư nhân sở hữu trên 5% tại các NHTM và các doanh nghiệp này lại sở hữu các
công ty đầu tư tài chính [58, tr.5]. Tình trạng sở hữu chéo này có thể dẫn tới rất
nhiều hệ lụy, một trong số đó là làm tăng tỷ lệ nợ xấu trong hoạt động tín dụng của
NHTM. Bởi lẽ, việc sở hữu chéo dẫn đến tình trạng các NHTM tạo điều kiện để
cho các doanh nghiệp sở hữu NHTM này có thể dễ dàng vay được vốn từ NHTM
kia, hoặc dễ dàng cho các công ty con của các doanh nghiệp có vốn sở hữu tại
39
NHTM vay vốn, thậm chí khi một tổ chức lớn chiếm cổ phần chi phối NHTM khác
và biến NHTM này thành “sân sau” của mình, họ có thể buộc NHTM bị chi phối
cấp tín dụng cho những dự án không an toàn hoặc cho doanh nghiệp có quan hệ
thân thiết. Việc cho vay dễ dàng, thiếu kiểm soát cộng với việc thẩm định vốn vay
thiếu cẩn trọng tất yếu sẽ dẫn đến nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM. Do
đó, tình trạng sở hữu chéo được xem là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình
trạng nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM tăng cao trong thời gian qua.
Thứ ba, pháp luật về các biện pháp thanh lý nợ còn chậm, đối với các khoản
nợ mà khách hàng không còn khả năng khôi phục lại năng lực trả nợ, việc áp dụng
các biện pháp khai thác nợ không thể thu hồi nợ, NHTM cần thanh lý nợ để hạn
chế tác động tiêu cực, đặc biệt là gây tổn thất tài chính cho NHTM. Biện pháp
thanh lý nợ nên áp dụng trong các trường hợp: khách hàng không có thiện chí trả
nợ hoặc tình hình tài chính của khách hàng suy giảm mạnh, không thể cứu vãn.
Có

thể thấy rằng, pháp luật hiện hành đã có những khung pháp lý cơ bản trong việc
hạn chế cũng như giải quyết nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM như: quy
định về phân loại nợ; quy định về trích lập dự phòng rủi ro; quy định về xử lý tài
sản đảm bảo nợ; quy định về quyền khởi kiện yêu cầu các tổ chức cá nhân hoàn trả
vốn vay; quy định về hoạt động mua bán nợ… Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy, các
quy định khi đi vào thực tế trở nên không phù hợp, không phát huy được hiệu quả
trong việc giải quyết nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM, dẫn đến tình
trạng nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM không được cải thiện mà còn có
xu hướng tăng lên. Có thể kể đến những hạn chế như:
(i) Quy định về phân loại nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM chưa
rõ ràng, khiến cho việc giải quyết nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM khó
khăn
. Một trong những rào cản lớn nhất khiến cho việc xác định chính xác số nợ

xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM cũng như tình trạng nợ xấu trong hoạt
động tín dụng của NHTM hiện nay đó là sự không rõ ràng trong quy định về tiêu
chí phân loại nợ. Nợ của các TCTD được phân loại dựa trên cả hai phương pháp
định lượng và định tính. NHNN cho phép các ngân hàng lựa chọn một trong hai
phương pháp tùy theo khả năng và điều kiện thực hiện của từng NHTM. Chính vì
vậy, có NHTM xác định tỷ lệ nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM theo
40
phương pháp định lượng, có NHTM theo phương pháp định tính. Trong đó, phân
loại nợ theo phương pháp định tính được đánh giá là phương pháp phân loại nợ
phát huy hiệu quả hơn, giúp cho TCTD có đầy đủ cơ sở để đánh giá tiềm lực và khả
năng thanh toán nợ của khách hàng một cách chính xác và đầy đủ hơn. Tuy nhiên,
tại Việt nam hiện nay vẫn chưa có một quy chuẩn chung về tiêu chí định tính,
NHNN cũng chưa có bất cứ hướng dẫn cụ thể nào về việc áp dụng phương pháp
định tính. Mặt khác, việc phân loại nợ theo phương pháp định tính yêu cầu TCTD
thực hiện phải xây dựng một hệ thống đánh giá, xếp hạng tín nhiệm đối với khách
hàng một cách chặt chẽ mà điều này lại không dễ thực hiện, đòi hỏi phải tốn nhiều
thời gian cũng như công sức. Một yếu tố quan trọng nữa đó là việc phân loại nợ
theo tiêu chí định tính sẽ làm tỷ lệ nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM cao
gấp 2 – 3 lần so với định lượng mà nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM cao
đồng nghĩa với doanh nghiệp phải trích lập tỷ lệ dự phòng cao, đây là điều nhiều
TCTD e ngại khi phân loại nợ xấu trong hoạt động tín. Do đó, hiện nay ở Việt Nam
có rất ít TCTD tiến hành phân loại nợ theo phương pháp định tính. Trong khi đó
việc phân loại nợ theo tiêu chí định lượng lại không quan tâm đến kết quả sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp, điều này dẫn tới việc phân loại nợ không phản ánh
thực chất của khoản nợ, các TCTD cũng không chủ động được về chất lượng danh
mục tín dụng của mình. Như vậy, quy định phân loại nợ xấu trong hoạt động tín
dụng của NHTM chưa rõ ràng đã khiến con số nợ xấu trong hoạt động tín dụng của
các NHTM không được phản ánh đầy đủ và chính xác, từ đó dẫn tới việc giải quyết
nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM cũng như hạn chế nợ xấu trong hoạt
động tín dụng của NHTM gia tăng trở nên khó khăn hơn.
(ii) Quy định về xử lý nợ thông qua khởi kiện ra Tòa án đối với các khoản nợ
không có tài sản đảm bảo nợ phức tạp, gây khó khăn, mất nhiều thời gian của các
TCTD trong quá trình thu hồi nợ.
Sở dĩ như vậy là do, việc xử lý nợ thông qua khởi

kiện ra Tòa án đối với các khoản nợ không có tài sản đảm bảo nợ như yêu cầu mở
thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp. Theo hướng này thì thời gian xử lý lâu (phải
từ 3 – 4 năm) vì phải mất nhiều trình tự, thủ tục như mở thủ tục phá sản, thành lập
tổ thanh lý tài sản, thực hiện thanh lý tài sản…Trong khi đó, tỷ lệ thu hồi nợ trong
những trường hợp này cũng rất thấp do xử lý tài sản của doanh nghiệp dưới hình
41
thức bán thanh lý và số tiền thu hồi phải phân chia cho các chủ nợ có tài sản đảm
bảo khác. Thậm chí, dù có phán quyết của Toà án, TCTD vẫn gặp trở ngại vì khâu
thi hành án chậm, thủ tục thi hành án còn nhiều bất cập. Tiếp đến là sự phối hợp
không đồng bộ giữa cơ quan chức năng liên quan như cơ quan thẩm định, cơ quan
bán đấu giá… Từ lúc khởi kiện đến cưỡng chế, thi hành một vụ xử lý nợ qua toà án
mất ít nhất 2 năm, trung bình mất 8 – 9 năm [61, tr.8]. Việc xử lý nợ xấu trong hoạt
động tín dụng của NHTM quan khởi kiện khó khăn như vậy cho nên tình hình nợ
xấu trong hoạt động tín dụng của các TCTD cho đến nay không giải quyết được là
bao, các khoản nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM vẫn tiếp tục tồn đọng
trên giấy tờ từ năm này qua năm khác mà không có cơ chế nào để thu hồi về. Do
đó, để giải quyết tình trạng nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM hiện nay,
việc tạo khung pháp lý rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD khởi kiện yêu
cầu các tổ chức, cá nhân mắc nợ thanh toán nợ là rất cần thiết.
* Nguyên nhân chủ quan từ phía các NHTM
Thứ nhất, do năng lực quản trị rủi ro tín dụng của các NHTM còn yếu kém.

Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất đối
với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không có khả
năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận…
Rủi ro tín dụng không chỉ gây ra tổn thất về tài chính, giảm giá trị thị trường của
vốn ngân hàng, mà có thể làm cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng bị thua lỗ,
thậm chí phá sản. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng, gồm các yếu
tố thuộc về bản thân các ngân hàng và các yếu tố bên ngoài. Do vậy, để quản trị rủi
ro tín dụng tốt, việc nghiên cứu tác động của các yếu tố này tới rủi ro tín dung tốt là
rất quan trọng.
Năng lực quản trị rủi ro tín dụng của các NHTM liên quan trực tiếp đến nợ xấu
của bản thân ngân hàng. Nếu như NHTM có năng lực quản trị rủi ro tín dụng tốt nợ xấu
sẽ được nhận diện kịp thời, kiểm soát trong quá trình khách hàng sử dụng vốn vay và có
biện pháp xử lý ngay đối với các khoản nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu.
Thứ hai, do các ngân hàng nới lỏng điều kiện phê duyệt tín dụng: Thực tế
cho thấy, việc cạnh tranh thu hút khách hàng buộc các ngân hàng phải nới lỏng
điều kiện tín dụng: tỷ lệ cho vay/trị giá tài sản bảo đảm, tín chấp, cầm cố hàng hóa
42
không giám sát chặt khoản vay; tỷ lệ cho vay/nhu cầu vốn… Áp lực tăng trưởng
nóng buộc một số NHTM phải nới lỏng điều kiện tín dụng để cạnh tranh thu hút
khách hàng về trong các năm gần đây và kết quả là tỷ lệ nợ xấu trong hoạt động tín
dụng của NHTM gia tăng. Bên cạnh đó, khâu thẩm định hời hợt cũng là một trong
những nguyên nhân làm cho nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM gia tăng:
Trừ một số ít khách hàng có phát sinh nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM
bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan như: kinh doanh thua lỗ, công nợ khó đòi,
khó khăn do thay đổi cơ chế, thay đổi chính sách tăng trưởng của Nhà nước thì hầu
hết các khoản nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM bắt nguồn từ khâu thẩm
định quá hời hợt của cán bộ tín dụng. Do không xác định được quy mô kinh doanh
thực sự của khách hàng, khả năng cạnh tranh của khách hàng đối với ngành nghề
mà khách hàng đang kinh doanh, không xác định được nguồn thu của khách hàng
từ đâu và về đâu để có thể đưa ra một mức cho vay và cách thức giám sát hợp lý.
Cán bộ NHTM đôi khi còn hời hợt trong phần kiểm tra sử dụng vốn, dẫn đến không
phát hiện kịp thời những khó khăn của khách hàng ngay từ khi vừa nhen nhóm.
Không ít khách hàng, khi được kiểm tra về việc sử dụng vốn sau khi vay cho biết
một phần vốn vay thực sự vào kinh doanh, phần khác dùng cho mục đích sửa nhà,
mua sắm vật dụng, thậm chí là tiêu xài cá nhân… Đến khi phần vốn đầu tư kinh
doanh thua lỗ, không còn nguồn khác để trả nợ ngân hàng,và hệ quả là phát sinh nợ
xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM. Mặt khác, tư cách khách hàng là yếu tố
quan trọng gắn liền với thiện chí hoàn trả tiền vay của khách hàng thường bị lãng
quên trong quá trình thẩm định ban đầu.
Thứ ba, nguồn cung cấp thông tin khách hàng còn hạn chế.
Thực sự, ngoài những thông tin do khách hàng cung cấp, cán bộ tín dụng

cũng gặp nhiều khó khăn với các kênh thông tin về khách hàng như việc khó kiểm
chứng được toàn bộ những thông tin mà khách hàng cung cấp cho NHTM. Tâm lý
một số cán bộ muốn đẩy phần rủi ro cho NHTM khác bằng cách chỉ cung cấp thông
tin tốt về khách hàng đó khi NHTM khác hỏi thăm. NHTM vẫn chưa có sự liên
thông với các cơ quan khác như thuế, hải quan,… để kiểm chứng những thông tin
tài chính do khách hàng cung cấp. Trừ những doanh nghiệp lớn, các công ty cổ
phần do yêu cầu phải kiểm toán cáo báo cáo tài chính của các doanh nghiệp vừa và
43
nhỏ. Hệ thống kế toán của ở nước ta còn nhiều bất cập và chưa hoàn toàn thống
nhất với các chuẩn mực của hệ thống kế toán thế giới. Thậm chí còn có doanh
nghiệp sử dụng đồng thời hai hệ thống kế toán: một hệ thống báo cáo tình trạng làm
ăn thua lỗ hay lợi nhuận rất thấp để đối phó với cơ quan thuế; một báo cáo với kết
quả kinh doanh rất đẹp đẽ khi đặt quan hệ giao dịch với NHTM…
Thứ tư, do đạo đức nghề nghiệp của một số cán bộ NHTM và khách hàng
kém dẫn đến tình trạng thông đồng rút ruột NHTM
.

NHTM là ngành kinh doanh đặc thù, cần dựa trên sự tin cậy và mức độ tín
nhiệm thì đạo đức phải được đặt lên hàng đầu và ở khía cạnh nào đó còn mang tính
bắt buộc. Thực tế cho thấy, nhiều cán bộ NHTM đã thông đồng rút ruột với khách
hàng, cho vay khống dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Chính vì vậy đã có chi
nhánh phải xử lý hàng chục nhân viên do cấu kết với nhau rút ruột ngân hàng. Tuy
nhiên hiện chưa có tính toán, trong tỷ lệ nợ xấu trong hoạt động tín dụng của
NHTM có bao nhiêu xuất phát từ đạo đức ngân hàng. Ngoài ra, nợ xấu trong hoạt
động tín dụng của NHTM còn nằm ở dạng “chuyển vốn cho vay thành vốn góp”.
Khoản nợ này không chỉ “rất xấu” mà còn nguy hiểm ở chỗ đôi khi chỉ tồn tại trên
sổ sách của con nợ và chủ nợ.
* Nguyên nhân từ phía khách hàng, doanh nghiệp
Trong quá trình kinh doanh, nhiều doanh nghiệp đã phán đoán không chính

xác xu hướng phát triển của thị trường, dẫn đến mở rộng quy mô sản xuất trong các
ngành đang phát triển quá nóng mà không có sự đánh giá kỹ lưỡng. Hậu quả là sự
mất cân bằng trong cung và cầu. Một số doanh nghiệp khi thực hiện các dự án lớn
lại chia nhỏ dự án để tìm tài trợ từ nhiều NHTM khác nhau, qua đó giúp các doanh
nghiệp dễ dàng hơn trong việc vay vốn từ các NHTM cũng như giảm bớt sự kiểm
soát của NHTM. Chính những yếu tố này làm cho NHTM gặp khó khăn trong việc
kiểm soát các khoản cho vay, dẫn đến tình trạng nợ xấu trong hoạt động tín dụng
của NHTM. Nhiều doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính thiếu hiệu quả, hoạt
động kinh doanh yếu kém, thua lỗ. Trong giai đoạn 2009-2012, thị trường chứng
khoán Việt Nam rơi vào trạng thái suy giảm trong dài hạn, ảnh hưởng tới xu hướng
huy động vốn của các doanh nghiệp. Phần lớn các doanh nghiệp tìm đến các
NHTM để vay vốn tài trợ cho kinh doanh thay vì có thể phát hành chứng khoán.
44
Việc sử dụng đòn bẩy tài chính trong giai đoạn này giúp các doanh nghiệp có thể
tháo gỡ khó khăn về vốn, song lại khiến các doanh nghiệp phải đối mặt với trạng
thái tăng rủi ro tài chính. Khi nền kinh tế bộc lộ những bất ổn vĩ mô, lạm phát bị
đẩy lên ở mức cao, sức mua giảm sút thì tình trạng tồn kho kéo dài. Điều này khiến
nhiều doang nghiệp ứ đọng vốn, không có khả năng trả nợ vay của NHTM. Do đó,
việc sử dụng đòn bẩy tài chính không hiệu quả cùng với kết quả kinh doanh lỗ của
nhiều doanh nghiệp đã trở thành nguyên nhân gia tăng nợ xấu trong hoạt động tín
dụng của NHTM.
* Nguyên nhân khác tác động tới nợ xấu của TCTD
Một là, trình độ, kinh nghiệm của cán bộ làm công tác quản lý. Con người là

nhân tố quan trọng nhất quyết định chất lượng quản lý nợ xấu, bởi vì con người là
chủ thể trực tiếp tổ chức và thực hiện hoạt động tài chính theo phương pháp, kỹ
thuật của mình. Con người là trung tâm liên kết, phối hợp các nhân tố khác trong
quản lý, chi phối các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nợ xấu. Xử lý nợ xấu còn là
việc phát hiện, đưa ra các dấu hiệu dẫn đến rủi ro tín dụng trên quan điểm cá nhân
nhưng chất lượng quản trị lại ảnh hưởng đến tài sản của cả NHTM. Trong công tác
quản trị của NHTM, cán bộ quản lý là người trực tiếp thu nhận thông tin từ các
nguồn và thực hiện toàn bộ quy trình quản lý. Việc lấy thông tin thế nào, chất
lượng ra sao hoàn toàn do người quản lý quyết định, áp dụng phương pháp quản trị
gì, các chỉ tiêu nào, kỹ thuật phân tích ra sao cũng phụ thuộc vào kinh nghiệm và
trình độ của người quản lý. Xử lý nợ xấu không phải công việc đơn giản, đòi hỏi
cán bộ quản lý không những phải có kiến thức chuyên sâu về nghiệp vụ, am hiểu
các lĩnh vực cho vay, đầu tư của NHTM mà còn phải nắm vững các kiến thức về
kinh tế, pháp luật, tâm lý học… và phải nhanh nhạy trong thực tế. Bên cạnh đó, tính
kỷ luật cao và phẩm chất đạo đức tốt của người quản lý cũng đảm bảo chất lượng
quản lý nợ xấu, sự an toàn trong hoạt động cho vay, mối quan hệ giữa khách hàng
với NHTM. Kinh nghiệm của cán bộ quản lý cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc
quản lý nợ xấu, như qua nhiều lần tiếp xúc với khách hàng họ có thể đánh giá được
khách hàng nào là trung thực, khách hàng nào thiếu trung thực nhờ biết quan sát,
phân tích, đánh giá tâm lý và nhận diện được khách hàng, từ đó đưa ra kết luận
quản trị hoàn chỉnh hơn. Với xu thế phát triển kinh tế của đất nước, trong tiến trình
45
hội nhập nhanh, chắc chắn sẽ tạo ra sự cạnh tranh gay gắt, đặc biệt là nhân tài trong
đó người làm công tác quản trị được quan tâm hàng đầu. Chính vì vậy, đòi hỏi các
NHTM phải không ngừng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ ngân hàng nói chung
và cán bộ xử lý nợ xấu nói riêng. Trên thực tế, việc xử lý nợ xấu ngày càng được
các ngân hàng đặc biệt chú trọng và được đề cập nhiều bằng việc đưa ra các mô
hình nghiên cứu và ứng dụng trong quản lý nợ xấu. Khía cạnh rủi ro đạo đức tuy đã
được nghiên cứu nhưng rất khó đo lường vì tính chất định tính và việc quản lý là
rất khó khăn do liên quan đến yếu tố con người. Do đó, có thể nói đây là yếu tố tiên
quyết đến hiệu quả của quản lý nợ xấu.
Hai là, trang thiết bị kĩ thuật, công nghệ. Cùng với sự phát triển nhanh của
công nghệ thông tin, các NHTM không ngừng đưa nhanh các ứng dụng của công
nghệ vào trong hoạt động của NHTM và hiện đại hóa hệ thống thông tin của mình.
Bằng các trang thiết bị hiện đại ngày nay đã hỗ trợ nhiều trong công tác quản lý nợ
xấu. Sự phát triển của các máy tính hiện đại và việc ứng dụng các phần mềm
chuyên dụng giúp các NHTM lưu trữ được cơ sở dữ liệu lịch sử lớn, nhất quán của
khách hàng, từ đó tính toán các chỉ tiêu nhanh chóng, chính xác hơn, rút ngắn được
thời gian quản lý nợ xấu. Với sự trợ giúp của các trang thiết bị hiện đại, NHTM có
thể giải quyết được một khối lượng lớn thông tin xung quanh các dự án, phương án,
có khả năng truy cập nhanh chóng vào các cơ sở dữ liệu, khai thác các thông tin
cần thiết cho quản lý, áp dụng các phương pháp quản lý tài chính hiện đại, sử dụng
những mô hình ma trận, hàm số phức tạp nhưng vẫn có thể tính toán, phân tích và
dự đoán một cách nhanh chóng, chính xác. Do đó, chất lượng quản trị nợ xấu ngày
một nâng cao.
2.2. Những vấn đề lý luận về xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại
2.2.1. Khái niệm, đặc điểm của xử lý nợ xấu
Theo Ủy ban Basel, xử lý nợ xấu NHTM được hiểu như sau: “Xử lý nợ xấu

là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh
doanh tín dụng nhằm đạt được mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững;
trong đó tăng cường các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế sự phát sinh nợ
xấu, đi kèm với các biện pháp xử lý những khoản nợ xấu đã phát sinh, từ đó nhằm
tăng doanh thu, giảm chí phí và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động kinh
46
doanh trong cả ngắn hạn và dài hạn của NHTM”.
Xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM là việc NHTM sử dụng
những biện pháp nghiệp vụ tài chính lẫn công cụ pháp lý nhằm giảm tỷ lệ các
khoản nợ được coi là nợ xấu của ngân hàng, góp phần lành mạnh hóa tình hình tài
chính và nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi ngân hàng trong nền kinh tế. Theo
đó, xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM chỉ là công việc có tính kỹ
thuật – nghiệp vụ của từng ngân hàng riêng lẽ, vì thế việc xử lý nợ xấu chỉ do mỗi
ngân hàng chủ động thực hiện chứ không phụ thuộc vào Nhà nước hay các chủ thể
khác.
Xử lý nợ xấu của NHTM là việc các chủ thể áp dụng các biện pháp đối với
các khoản nợ xấu nhằm thu hồi nợ của NHTM.
Đặc điểm của xử lý nợ xấu bao gồm:

Thứ nhất, chủ thể xử lý nợ xấu của NHTM rất đa dạng, có thể là nhà nước
(thông qua công ty mua bán nợ tập trung do nhà nước thành lập), các TCTD cấp tín
dụng, các công ty xử lý nợ thuộc các TCTD trong việc xử lý nợ xấu là chủ nợ
(TCTD) và con nợ (tổ chức, cá nhân vay vốn). Bởi lẽ nợ xấu là vấn đề không chỉ
của chủ thể kinh doanh đặc thù là các TCTD mà còn là vấn đề của nhiều chủ thể
khác nhau trong nền kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp. Về phía các doanh
nghiệp, giải quyết các khoản nợ xấu là hiển nhiên. Vì vậy, các con nợ này phải tìm
mọi nguồn lực để có thể trả nợ; thương lượng với các chủ nợ để cơ cấu lại nợ; rà
soát các dự án để điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh doanh, tập trung vào các hoạt
động có hiệu quả nhất, giảm thiểu chi phí và sự lệ thuộc vào nguồn vốn ngân hàng,
tăng khả năng quản trị rủi ro, khả năng tự đổi mới và phản ứng thị trường của mình.
Về phía các TCTD cấp tín dụng phải trích lập dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu, áp
dụng các biện pháp tự xử lý nợ xấu hoặc uỷ thác cho nên thứ ba xử lý.
Thứ hai, các biện pháp xử lý nợ xấu ngân hàng rất đa dạng [84]. Thực tế cho
thấy, tỷ lệ nợ xấu cao làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự an toàn, hiệu quả hoạt
động của các ngân hàng, làm cho không ít ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn,
thua lỗ, mất an toàn hoạt động. Để hạn chế các khoản nợ xấu, việc bảo vệ quyền lợi
của chủ nợ là các NHMF cho vay, việc áp dụng các biện pháp xử lý nợ xấu là vấn
đề quan trọng, quyết định tới sự an toàn của hệ thống ngân hàng. Việc xử lý nợ xấu
47
phải qua các biện pháp tác động tới khách hàng vay, những doanh nghiệp, cá nhân
và tổ chức khác trong nền kinh tế, nhằm khôi phục lại hoạt động, từ đó có thu nhập
để trả nợ. Các biện pháp đó có thể được thực hiện bởi chính NHTM gọi là biện
pháp tự xử lý như trích lập dự phòng rủi ro tín dụng; cơ cấu lại thời gian trả nợ;
miễn, giảm lãi; xử lý, phát mại tài sản bảo đảm; mua bán nợ; chuyển khoản nợ xấu
thành vốn góp; chứng khoán hoá các khoản nợ… Bên cạnh đó, các biện pháp xử lý
nợ xấu cũng được áp dụng bởi các cơ quan nhà nước hoặc bên thứ ba như tái cấu
trúc các NHTM có tỷ lệ nợ xấu cao, bán nợ xấu cho các công ty mua bán nợ. Trong
số các biện pháp trên thì biện pháp tự xử lý nợ xấu được các NHTM áp dụng đầu
tiên. Chỉ khi các biện pháp tự xử lý không hiệu quả thì ngân hàng mới sử dụng các
biện pháp khác mà nhà nước cho phép bên thứ ba thực hiện như xử lý nợ xấu bằng
việc mua nợ xấu ngân hàng.
Thứ ba, mục đích của xử lý nợ xấu ngân hàng nhằm thu hồi khoản nợ mà
ngân hàng đã cấp cho khách hàng. Khoản nợ này bao gồm cả gốc và lãi, các chi phí
phát sinh. Tuy nhiên, việc thu hồi được toàn bộ khoản nợ là điều khó có thể xảy ra.
Ví dụ, đối với các khoản nợ xấu ngân hàng ở Liên bang Nga thì ngân hàng cho vay
thương đề xuất chuyển quyền yêu cầu đòi nợ cho bên thứ ba với giá khoảng 20-
30% giá trị của khoản nợ nhưng thực tế giá chấp nhận chỉ chiếm 10%.
Thứ tư, quan hệ xử lý nợ xấu của NHTM được điều chỉnh chủ yếu bằng
phương pháp bình đẳng thoả thuận. Trong quan hệ này có sự tham gia của ít nhất
hai chủ thể (ngân hàng cấp tín dụng) và con nợ. Ngoài ra, trong quan hệ xử lý nợ
xấu thường có sự tham gia của bên thứ ba như các công ty AMC, công ty mua bán
nợ trên thị trường và cả công ty mua bán nợ quốc gia. Xử lý nợ xấu chủ yếu được
thể hiện thông qua giao dịch mua bán – giao dịch dân sự trong đó quyền tự do thoả
thuận, thể hiện ý chí của các bên được pháp luật bảo vệ. Đây là quan hệ bình đẳng
giữa các chủ thể, là sự cam kết, thoả thuận được thể hiện qua các điều khoản trong
hợp đồng
Thứ năm, xử lý nợ xấu của NHTM được điều chỉnh bởi pháp luật chuyên
ngành về ngân hàng và các quy định pháp luật chung. Do đặc thù của hoạt động xử
lý nợ xấu ngân hàng nên cần thiết phải có một hệ thống pháp luật với các quy phạm
pháp luật chuyên ngành điều chỉnh các vấn đề liên quan đến hoạt động xử lý nợ xấu
48
như các chủ thể, nguyên tắc xử lý nợ xấu, các biện pháp xử lý, trình tự, thủ tục xử
lý nợ xấu… Bên cạnh đó, xử lý nợ xấu cũng được điều chỉnh bởi các quy phạm
pháp luật chung như pháp luật về dân sự, hình sự…
Thứ sáu, xử lý nợ xấu ngân hàng được thực hiện dựa trên các nguyên tắc
nhất định để có thể thu hồi khoản nợ xấu một cách hiệu quả nhất. Các nguyên tắc
này được pháp luật quy định và các bên liên quan trong quá trình xử lý nợ xấu bắt
buộc phải tuân thủ như nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ
gtrong quá trình xử lý nợ xấu, bảo đảm sự an toàn của ngân hàng và hệ thống ngân
hàng, nguyên tắc công khai, minh bạch, nguyên tắc thị trường và đúng pháp luật,
nguyên tắc giao dịch công bằng

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

KHO TÀI LIỆU.rar\TÀI LIỆU 2025 – RAR archive, unpacked size 98,991,962 bytes/ 99_Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay_Nguyễn Hoài Phương

Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nayXử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nayXử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *