Xác định vị trí việc làm cho CQHCNN cấp tỉnh, thành phố Đà Nẵng
MỞ ĐẦU
Từ sau Luật Cán bộ Công chức, Chính phủ đã ban hành các Nghị định như Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2010 quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; Nghị định số 36/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 4 năm 2013 về VTVL và cơ cấu ngạch công chức. Trong mỗi cơ quan, tổ chức nếu xác định được các VTVL cần phải có để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ thì sẽ xác định được biên chế (số lượng người cần tuyển) vào làm việc trong các cơ quan, tổ chức đó. Vị trí việc làm với bản mô tả công việc, các yêu cầu về tính phức tạp, yêu cầu về phẩm chất, trình độ, năng lực sẽ hình thành nên cơ cấu các ngạch công chức và các chức danh lãnh đạo, quản lý tương ứng cần bổ nhiệm. Thực chất việc triển khai xác định VTVL trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp là một trong những bước để triển khai thực hiện mô hình công vụ việc làm, chuyển dần từ mô hình chức nghiệp sang mô hình công vụ việc làm. Tuy nhiên, việc triển khai xác định VTVL theo quy định tại Nghị định 36/2013/NĐ-CP và Thông tư số 05/2013/TT-BNV ngày 25/6/2013 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 36/2013/NĐ-CP vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế; chưa giải quyết những khó khăn đối với mô hình công vụ chức nghiệp hiện nay. Cho đến nay, Bộ Nội vụ vẫn chưa triển khai hướng dẫn, tập huấn đồng bộ, thống nhất và có đánh giá quá trình xác định VTVL trong cơ quan hành chính; nguyên tắc, phương pháp và lộ trình xây dựng, điều chỉnh. Sử dụng phương pháp nào để xác định, thẩm định VTVL, số lượng người làm việc, cơ cấu công chức, khung năng lực trong mỗi cơ quan, tổ chức; nội dung cần xác định xây dựng trong bảng mô tả VTVL, yêu cầu năng lực, ngạch công chức tương ứng là một vấn đề rất khó và phức tạp. Bởi lẽ đây là một vấn đề mới, chưa được thực hiện ở nước ta bao giờ, đồng thời quá trình triển khai xây dựng, thẩm định VTVL và hướng quản lý, đánh giá, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc còn gặp một số trở ngại do những tồn tại trong sử dụng, bố trí cán bộ, công chức, viên chức theo mô hình chức nghiệp trước đây.
Là thành phố loại 1 trực thuộc Trung ương, Đà Nẵng được đánh giá là trung tâm kinh tế của khu vực Miền trung và Tây nguyên. Để có được thành quả như vậy một phần là nhờ sự cố gắng của toàn thể nhân dân Đà Nẵng, cùng sự lãnh đạo sáng suốt của chính quyền địa phương mà trọng tâm là chất lượng của đội ngũ công chức, kết quả của quá trình đổi mới nâng cao chất lượng công vụ – công chức tại thành phố. Trong những năm qua, thành phố Đà Nẵng đã thực hiện tốt các quy định của trung ương về chế độ công vụ – công chức. Bên cạnh đó, thành phố đã chủ động đổi mới cách nghĩ, cách làm trong công tác công vụ – công chức; nhiều chính sách, cơ chế cách làm về công tác công vụ – công chức mang tính đột phá cho cả nước, là điểm sáng về công tác quản lý nhân sự.
Năm 2013, Chính phủ và Bộ Nội vụ mới ban hành Nghị định số 36/2013/NĐ-CP và Thông tư số 05/2013/TT-BNV, có hướng dẫn chính thức về xây dựng, xác định VTVL trong cơ quan hành chính. Tuy nhiên, trước đó, từ năm 2012, đồng thời với việc triển khai xác định VTVL trong các đơn vị sự nghiệp công lập, Sở Nội vụ thành phố Đà Nẵng đã triển khai có những nghiên cứu bước đầu về xây dựng, xác định bản mô tả công việc, tiêu chuẩn cần có đối với từng vị trí công tác, sử dụng trong tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức. Việc xây dựng bản mô tả công việc, yêu cầu của vị trí tuyển dụng, đào tạo trong giai đoạn này mới chỉ là bước mô tả đơn giản, mô tả theo nhu cầu hoặc mô tả đối với những cá nhân đang thực hiện công việc hiện có chứ chưa xuất phát từ nhu cầu của công việc trong tổ chức và theo quy trình khoa học về xác định VTVL. Tuy nhiên, những nghiên cứu và định hướng bước đầu này là cơ sở quan trọng trong quá trình triển khai thực hiện xác định VTVL từ năm 2013 và tạo sự quan tâm, thống nhất trong các CQHCNN ở thành phố. Năm 2014, cùng với các địa phương khác, tại thành phố Đà Nẵng đã triển khai xác định VTVL trong các cơ quan hành chính; bước đầu các cơ quan, đơn vị đã báo cáo xác định hơn 1.600 VTVL (bao gồm khối sở, ngành và quận, huyện). Tuy nhiên, danh mục vị trí việc làm này phần lớn chưa thẩm định cụ thể và hoàn thiện chi tiết.
Từ những lý do và yêu cầu nêu trên, trong bối cảnh còn ít những nghiên cứu bài bản hay công trình khoa học hướng đến đánh giá, hoàn thiện quá xác định vị trí việc làm, cá nhân chọn Đề tài “Xác định vị trí việc làm cho CQHCNN cấp tỉnh, thành phố Đà Nẵng” làm luận văn tốt nghiệp khóa học Thạc sĩ Hành chính công với mong muốn tổng hợp nghiên cứu các bộ phận cấu thành của vị trí việc làm, mối quan hệ giữa các bộ phận, phương pháp xác định vị trí việc làm, năng lực, ngạch công chức và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quá trình xác định, thẩm định danh mục vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức trong CQHCNN cấp tỉnh tại thành phố Đà Nẵng phù hợp với yêu cầu đổi mới công vụ và sử dụng hiệu quả vào nền công vụ hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở các vấn đề lý luận về vị trí việc làm, xác định vị trí việc làm trong CQHCNN, qua phân tích và đánh giá thực trạng xác định vị trí việc làm trong cơ quan hành chính cấp tỉnh thuộc thành phố Đà Nẵng, Luận văn đề xuất và luận chứng các quan điểm, giải pháp để hoàn thiện quá trình xác định vị trí việc làm trong cơ quan hành chính cấp tỉnh đáp ứng yêu cầu quản lý, sử dụng công chức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
3.2 Nhiệm vụ:
– Nghiên cứu các nội dung về tổ chức, hoạt động của CQHCNN cấp tỉnh
– Tổng quan các vấn đề lý luận vị trí việc làm, xác định vị trí việc làm trong CQHCNN cấp tỉnh
– Nghiên cứu kinh nghiệm về xác định vị trí việc làm của một số địa phương, nước, từ đó vận dụng phù hợp với tình hình đặc điểm cụ thể của Đà Nẵng.
– Phân tích và đánh giá thực trạng xác định vị trí việc làm của các CQHCNN cấp tỉnh, thành phố Đà Nẵng
– Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quá trình xác định vị trí việc làm cho các CQHCNN cấp tỉnh thuộc thành phố Đà Nẵng
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Xác định vị trí việc làm trong CQHCNN cấp tỉnh tại thành phố Đà Nẵng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
– Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu các yếu tố cấu thành vị trí việc làm và phương pháp, quy trình xác định vị trí việc làm trong CQHCNN cấp tỉnh
– Về không gian: Luận văn nghiên cứu công tác xác định vị trí việc làm tại các CQHCNN cấp tỉnh thuộc thành phố Đà Nẵng. Bao gồm 18 cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố Đà Nẵng.
– Về thời gian: Từ năm 2013 đến nay, sau khi triển khai Nghị định số 36/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 4 năm 2013 về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận: biện chứng duy vật
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
– Phương pháp khảo cứu tài liệu
– Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
– Phương pháp điều tra xã hội học
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn được chia làm 3 Chương, cụ thể:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ VIỆC LÀM TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH
Chương 2: THỰC TRẠNG XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ VIỆC LÀM TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chương 3: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ VIỆC LÀM CHO CƠ QUAN HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ VIỆC LÀM TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.1. Cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh
1.1.1. Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh
Cơ quan nhà nước là một tổ chức được thành lập và hoạt động theo những nguyên tắc và trình tự nhất định, có cơ cấu tổ chức nhất định và được giao những quyền lực nhà nước nhất định, được quy định trong các văn bản pháp luật để thực hiện một phần những nhiệm vụ, quyền hạn của nhà nước [9]. Các cơ quan nhà nước có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành một thể thống nhất đó chính là bộ máy nhà nước. Nếu căn cứ vào trật tự hình thành cũng như tính chất, vị trí, chức năng của các cơ quan nhà nước thì bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay bao gồm bốn cơ quan: hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước, hệ thống CQHCNN, hệ thống cơ quan xét xử và hệ thống các cơ quan kiểm soát. Theo đó, trong bộ máy Nhà nước, mỗi loại cơ quan thực hiện những chức năng, nhiệm vụ nhất định
“Cơ quan hành pháp là những cơ quan quản lý mọi mặt hoạt động của đất nước. Ở nước ta, các cơ quan ấy được gọi là cơ quan chấp hành, cơ quan thực thi quyền hành pháp, CQHCNN” [10, tr. 54-55]. Như vậy, CQHCNN là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, có phương diện hoạt động chủ yếu là hoạt động chấp hành – điều hành, có cơ cấu tổ chức và phạm vi thẩm quyền do luật định.
Từ khái niệm CQHCNN nói chung, CQHCNN ở địa phương được hiểu là một bộ phận trong bộ máy cơ quan nhà nước ở địa phương, là cơ quan thực hiện hoạt động chấp hành, điều hành, có chức năng quản lý hành chính trong đơn vị lãnh thổ là địa phương của mình theo luật định. Các CQHCNN ở địa phương của nước ta bao gồm: UBND các cấp và các cơ quan chuyên môn của UBND.
1.2.2. Đặc điểm cấu trúc và cơ chế vận hành của cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh
Là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, CQHCNN có đặc điểm chung của cơ quan nhà nước. Đặc điểm chung ấy là cơ sở để phân biệt cơ quan nhà nước với tổ chức xã hội.
Những đặc điểm của cơ quan nhà nước nói chung
Những đặc điểm đặc thù của CQHCNN
1.2. Vị trí việc làm trong cơ quan hành chính nhà nước
1.2.1. Khái niệm vị trí việc làm
Cũng giống như các khái niệm khác, trên phương diện khoa học, VTVL được tiếp cận nghiên cứu với các cấp độ khác nhau theo đó có những nhận thức tương ứng:
– Vị trí việc làm là một trong số các hệ thống công chức trên thế giới (chế độ công vụ việc làm).
– Vị trí việc làm là biện pháp quản trị nhân sự.
– Vị trí việc làm là một trong số các nguyên tắc của pháp luật công chức, công vụ.
– Vị trí việc làm là một quy phạm pháp luật.
– Vị trí việc làm là một trong số các nguyên tắc tuyển dụng công chức.
Vị trí việc làm trong cơ quan hành chính là công việc gắn với chức vụ, chức danh và ngạch công chức (hay chức danh nghề nghiệp đối với viên chức) để thực hiện quản lý, sử dụng công chức, viên chức.
Tùy vào mục đích nghiên cứu, các nhà nghiên cứu, khoa học có cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm vị trí việc làm. Luận văn tiếp cận khái niệm vị trí việc làm dưới góc độ là một quy phạm pháp luật. Theo đó, “Công việc gắn với chức danh, chức vụ, cơ cấu và ngạch công chức để xác định biên chế và bố trí công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị”[1].
1.2.2. Các yếu tố cấu thành vị trí việc làm trong cơ quan hành chính
Tiếp cận vị trí việc làm là một quy phạm pháp luật, vị trí việc làm trong cơ quan hành chính gồm 04 bộ phận cấu thành chính: nhiệm vụ tại vị trí việc làm, khung năng lực (tiêu chuẩn chức danh, chức vụ) theo vị trí việc làm, ngạch công chức và biên chế tương ứng vị trí việc làm.
1.2.2.1. Năng lực công chức hành chính
Theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ tại Thông tư số 05/2013/TT-BNV ngày 25/6/2013 thì “Khung năng lực của từng vị trí việc làm được xây dựng gồm các năng lực và kỹ năng phải có để hoàn thành các công việc, các hoạt động nêu tại Bản mô tả công việc ứng với từng vị trí việc làm”.
1.2.2.2. Ngạch công chức
“Theo hệ thống chức nghiệp thì công chức được tổ chức theo các ngạch và theo ngành chuyên môn” [13].
1.2.3. Mối quan hệ giữa vị trí việc làm, chức danh, chức vụ và ngạch công chức
– Chức danh, chức vụ: chức danh là tên gọi thể hiện cấp bậc, yêu cầu về trình độ và chức trách của công chức theo VTVL. Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại thành công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý và công chức không giữa chức vụ lãnh đạo, quản lý (công chức chuyên môn) [1, Khoản 2 Điều 34]. Qua phân tích cho thấy khi công chức chính thức đảm nhiệm một VTVL trong CQHCNN là đồng nghĩa với việc được bổ nhiệm vào một chức danh (có thể có cả chức vụ) nhất định, đấy là biểu hiện cụ thể của dấu hiệu “gắn với” giữa chức danh, chức vụ với VTVL.
– Mối quan hệ giữa vị trí việc làm và ngạch: Từ nhiệm vụ chuyên môn, trình độ, yêu cầu về tiêu chí hoàn thành công việc… xác định ngạch công chức và ngược lại ngạch công chức tương ứng với những yêu cầu về tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ.
– Tính chất, yêu cầu của các vị trí việc làm khác nhau trong cơ quan, tổ chức là một trong số những căn cứ để xác định cơ cấu công chức của các cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước. Tính chất, yêu cầu của vị trí việc làm là yếu tố làm thay đổi cơ cấu công chức.
1.2.4. Vai trò vị trí việc làm trong cơ quan hành chính
Như vậy, vị trí việc làm trong cơ quan hành chính là công cụ để:
– Tuyển dụng và giao việc;
– Đánh giá giá trị công việc và xếp ngạch lương
– Đánh giá thực hiện và hoàn thành công việc
– Phân tích hợp lý của cơ cấu tổ chức, phân công lao động và xác định biên chế
1.3 Xác định vị trí việc làm trong cơ quan hành chính nhà nước
1.3.1. Khái niệm xác định vị trí việc làm
Xác định vị trí việc làm là xác định các nội dung, tiêu chí, quy trình công việc để nhà quản lý phân công thực hiện nhiệm vụ và bố trí, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhân viên đáp ứng yêu cầu của công việc.
Xác định vị trí việc làm là việc xác định các công việc cần thực hiện tại vị trí, xác định các chức danh, chức vụ, ngạch công chức tương ứng với công việc và biên chế cần để bố trí thực hiện công việc tại vị trí đó.
Tiếp cận theo phương diện bố trí sử dụng biên chế công chức, xác định VTVL là quá trình xác định biên chế công chức tương ứng.
Từ cách hiểu về khái niệm “vị trí việc làm” trên đây, có thể định nghĩa: Xác định vị trí việc làm là quá trình thu thập và tổ chức các thông tin liên quan đến công việc; tập hợp các nhiệm vụ phải thực hiện, cũng như trình độ, năng lực cần có của người sẽ thực hiện công việc nhằm bảo đảm thực hiện công việc một cách thành công.
1.3.2. Mục đích của xác định vị trí việc làm
Xác định vị trí việc làm là một quy trình quan trọng trong quản lý công chức, giúp tuyển chọn được nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu của công việc, là cơ sở để sắp xếp, bố trí, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá công chức một cách chính xác, khách quan, công bằng.
Theo quy định tại Nghị định số 36/2013/NĐ-CP và hướng dẫn của Bộ Nội vụ, mục tiêu của xác định vị trí việc làm là trả lời câu hỏi: Trong cơ quan, tổ chức có bao nhiêu vị trí và ứng với mỗi vị trí cần bao nhiêu người làm việc để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức đó. Với cách hiểu như vậy, một vị trí việc làm có thể do một người đảm nhiệm hoặc nhiều người đảm nhiệm và ngược lại, một biên chế có thể đảm nhiệm một hoặc nhiều vị trí việc làm (vị trí việc làm kiêm nhiệm).
1.3.3. Nội dung xác định vị trí việc làm
– Xác định danh mục các nhiệm vụ cần thực hiện
– Xác định nhóm các nhiệm vụ cần thực hiện
– Mô tả nhiệm vụ
– Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện nhiệm vụ
– Xác định danh mục tên vị trí việc làm gắn với nhóm công việc cụ thể
– Xác định biên chế tương ứng thực hiện nhiệm vụ
– Xác định khung năng lực tương ứng với vị trí việc làm
– Xác định ngạch công chức tương ứng với VTVL
1.3.4. Phương pháp xác định vị trí việc làm
Cho đến nay, về căn bản việc VTVL vẫn áp dụng theo các phương pháp đã có của quản trị nguồn nhân lực nói chung.
Tác giả Tạ Ngọc Hải trong “Kinh nghiệm các nước về xác định vị trí việc làm”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 6/2010 và tại Đề tài khoa học cấp bộ của Bộ Nội vụ, năm 2014 “Cơ sở khoa học xác định cơ cấu công chức trong các CQHCNN” đã tổng hợp, cho thấy có trên 15 phương pháp theo các trường phái khác nhau trong xác định vị trí việc làm theo 02 hướng: xác định vị trí việc làm theo cơ cấu nhân lực, xác định vị trí việc làm theo chất lượng nguồn lực. Luận văn xin trình bày một số phương pháp tiêu biểu.
1.3.4.1. Phân tích tổ chức
1.3.4.2. Phân tích công việc
1.3.4.3. Phân tích hành vi
1.3.4.5 Phương pháp chuyên gia.
1.3.4.6. Các phương pháp bổ trợ
1.3.5. Quy trình xác định vị trí việc làm trong cơ quan hành chính
Quy trình xác định vị trí việc làm kết hợp giữa hoạt động phân tích tổ chức và phân tích công việc theo quy định tại Nghị định số 36/2013/NĐ-CP của Chính phủ là quy trình gồm các bước:
+ Bước 1: Thống kê công việc theo chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị (kể cả các công việc thực hiện chế độ hợp đồng lao động theo các quy định của pháp luật);
+ Bước 2: Phân nhóm công việc;
+ Bước 3: Xác định các yếu tố ảnh hưởng;
+ Bước 4: Thống kê, đánh giá thực trạng đội ngũ công chức hiện có
+ Bước 5: Xác định danh mục và phân loại các VTVL cần có để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị
+ Bước 6: Xây dựng bản mô tả công việc của từng VTVL;
+ Bước 7: Xây dựng khung năng lực của từng VTVL;
+ Bước 8: Xác định ngạch công chức tương ứng (và chức danh lãnh đạo, quản lý – nếu có) với mỗi VTVL đã được xác định.
1.3.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định vị trí việc làm trong cơ quan hành chính
– Các vấn đề khoa học, lý luận về vị trí việc làm:
– Quy định hiện hành về xác định vị trí việc làm trong cơ quan hành chính
– Tính chất hoạt động quản lý hành chính nhà nước
– Tư duy, nhận thức trong xác định vị trí việc làm
– Trình độ của đội ngũ cán bộ công chức thực hiện nhiệm vụ xác định vị trí việc làm
– Thực trạng bố trí, sử dụng cán bộ, công chức
– Các yếu tố hỗ trợ xác định vị trí việc làm
1.4. Kinh nghiệm một số nước về xác định vị trí việc làm
1.4.1. Kinh nghiệm xác định vị trí việc làm tại Pháp
1.4.2. Kinh nghiệm xác định vị trí tại Hàn Quốc
1.4.3. Một số bài học vận dụng cho xác dịnh VTVL ở Việt Nam
– Xây dựng vị trí việc làm phải có sự thống nhất ý chí và quyết tâm chính trị cao, từ cơ quan cao nhất của nền hành chính là Chính phủ đến các bộ và địa phương mới có thể xây dựng được hệ thống VTVL
– Quá trình xây dựng hệ thống vị trí việc làm vừa phải đảm bảo vai trò một đầu mối quản lý thống nhất là Chính phủ, vừa phải đảm bảo tôn trọng sự sáng tạo và năng động của các bộ và địa phương.
– Khi xây dựng mỗi một hệ thống VTVL của bộ, ngành, địa phương nói riêng và của toàn hệ thống công vụ nói chung phải thu hút được sự tham gia đông đảo của đại diện các cơ quan, tổ chức và cá nhân
– Không bao giờ xem mỗi một hệ thống vị trí việc làm của bộ, ngành, địa phương nói riêng và của toàn hệ thống công vụ nói chung như là một sản phẩm, một công cụ quản lý hoàn hảo mà phải luôn cập nhật, bổ sung cho phù hợp hoàn cảnh thực tế.
– Xây dựng vị trí việc làm trong nền công vụ phải gắn liền với việc xác định cơ cấu ngạch công chức, với việc khoán kinh phí, ngân sách hoạt động của các cơ quan, tổ chức như đã được xác định trong các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về đổi mới chế độ công chức, công vụ.
Tiểu kết Chương 1
Dưới góc độ pháp lý: thông qua các quy định hiện hành của pháp luật về VTVL, luận văn đã xác định các nội dung cơ bản của vị trí việc làm dưới góc độ quy phạm pháp luật và quy trình, nội dung xác định vị trí việc làm. Sau Luật Cán bộ Công chức và các Nghị định của Chính phủ đã tạo cơ sở, định hướng căn bản cho việc đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học về vị trí việc làm. Dưới góc độ khoa học, Luận văn đã tập trung các khái niệm cơ bản về vị trí việc làm, xác định vị trí việc làm, phân tích làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến xác định vị trí việc làm trong cơ quan hành chính. Quan trọng hơn, trọng tâm đã tổng kết đưa ra 06 phương pháp thường được áp dụng trong xác định vị trí việc làm phù hợp với điều kiện của công tác quản lý hành chính nhà nước. Các vấn đề lý luận đã đúc kết, tập hợp tại chương I chính là cơ sở để thực hiện đánh giá quá trình thực hiện các quy định pháp luật về xác định VTVL trên thực tế./.
Chương 2
THỰC TRẠNG XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ VIỆC LÀM TRONG
CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH TẠI
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1. Khái quát về các cơ quan hành chính và đội ngũ cán bộ công chức các CQHCNN thành phố Đà Nẵng
2.1.1. Khái quát về các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh thuộc thành phố
Ngày 04/4/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2014/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh (thay thế Nghị định số 13/2014/NĐ-CP). Về tổng quan, cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh thuộc UBND thành phố Đà Nẵng gồm UBND thành phố và 18 Sở, ngành và 16 cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành thuộc các sở:
2.1.2. Đội ngũ công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố
* Số lượng, chất lượng công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố
Công chức, viên chức các cơ quan, đơn vị thuộc sở, ban, ngành: 12.578 người (công chức hành chính: 1.791 người; viên chức sự nghiệp: 10.787 người); Chất lượng: Công chức, viên chức có trình độ sau đại học: 1.208 người (chiếm 7%), đại học: 9.764 người (chiếm 57%), cao đẳng và trung cấp: 4.551 người (chiếm 27%), sơ cấp và chưa qua đào tạo: 1.535 người (chiếm 9%).
* Về bố trí đối với các vị trí lãnh đạo, quản lý
– Phó giám đốc sở hiện có 75 người.
– Phó phòng chuyên môn trực thuộc sở, ban, ngành: Tại 19 sở, ngành và tương đương thuộc UBND thành phố có 149 phòng chuyên môn với 149 trưởng phòng và 262 phó trưởng phòng.
2.2. Cơ sở pháp lý để xác định vị trí xác định vị trí việc làm tại các cơ quan hành chính tại thành phố Đà nẵng
2.1.1. Các quy định của trung ương về xác định vị trí việc làm tại các cơ quan hành chính
Nhằm tạo cơ sở pháp lý và thúc đẩy triển khai thực hiện thành công các mục tiêu quan trọng nêu trên, ngày 22/4/2013 Chính phủ ban hành Nghị Định số 36/2013/NĐ-CP về VTVL và cơ cấu ngạch công chức. Ngày 25/6/2013, Bộ Nội Vụ đã ban hành Thông tư số 05/2013/TT-BNV nhằm hướng dẫn xác định VTVL và cơ cấu ngạch công chức theo tinh thần của Nghị định 36/2013/NĐ-CP.
Về phương pháp xác định VTVL, các văn bản hướng dẫn của Trung ương đều quy định thực hiện phương pháp tổng hợp; việc kết hợp giữa hoạt động phân tích tổ chức và phân tích công việc, được thực hiện theo 08 bước thể hiện qua các biểu mẫu theo hướng dẫn tại Thông tư số 05/2013/TT-BNV.
2.1.2. Các văn bản hướng dẫn tại Đà Nẵng về xác định vị trí việc làm trong cơ quan hành chính
Ngày 17/4/2014, Chủ tịch UBND thành phố có Công văn số 3216/UBND-NCPC giao Sở Nội vụ hướng dẫn phương pháp, cách thức, lộ trình xây dựng Đề án VTVL tại cơ quan, tổ chức hành chính trên địa bàn thành phố. Ngày 05/5/2014, Sở Nội vụ thành phố Đà Nẵng đã có Công văn số 585/SNV-TCBC ban hành hướng dẫn phương pháp, cách thức, lộ trình xây dựng, xác định VTVL trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp; cách thức mô tả và xây dựng khung năng lực dành cho công chức hành chính trên địa bàn thành phố theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ. Theo đó, tháng 5/2014 và tháng 3/2015, Sở NV đã tổ chức tập huấn, triển khai việc xác định, thẩm định VTVL trong cơ quan hành chính nói chung.
2.3. Phân tích thực trạng xác định vị trí việc làm tại cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh thuộc thành phố Đà Nẵng
2.3.1. Về nội dung xác định vị trí việc làm
2.3.1.1. Thống kê danh mục các nhiệm vụ trong tổ chức
Việc thống kê danh mục nhiệm vụ trong tổ chức thực hiện từ 02 nguồn: nhiệm vụ theo quy định tại quyết định của cơ quan có thẩm quyền và nhiệm vụ thu thập từ quá trình thực hiện công việc của công chức.
Thống kê nhiệm vụ theo quy định chức năng nhiệm vụ
Thu thập công việc của cá nhân
2.3.1.2. Phân nhóm nhiệm vụ theo chức năng
Việc phân nhóm các nhiệm vụ chuyên môn, hỗ trợ được thống kê theo từng Phòng chuyên môn.
| Ví dụ: Sở A | ||||||
| Văn phòng Sở | Phòng chuyên môn 1 | Phòng chuyên môn 2 | ||||
| “nhóm nhiệm vụ/chức năng” hành chính | “nhóm nhiệm vụ/chức năng” công nghệ thông tin | “nhóm nhiệm vụ/chức năng” tài chính | “nhóm nhiệm vụ/chức năng” QLNN về lâm nghiệp | “nhóm nhiệm vụ/chức năng” QLNN về nông nghiệp… | “nhóm nhiệm vụ/chức năng” đầu tư xây dựng công trình nông nghiệp | “nhóm nhiệm vụ/chức năng” xây dựng cơ sở hạ tầng sản xuất nông nghiệp |
2.3.1.3. Danh mục vị trí việc làm
Danh mục vị trí việc làm tại các CQHCNN trên địa bàn thành phố được xác định theo trình tự từ các phòng chuyên môn riêng lẻ cho đến tổng hợp danh mục chung của cơ quan. Việc phân nhóm nhiệm vụ như 02 bước miêu tả tại mục 2.3.3.1 nhằm hình thành nên các VTVL thực hiện công việc chuyên môn, hỗ trợ. Đối với các vị trí lãnh đạo quản lý, được xây dựng chủ yếu trên cơ sở phân tích công việc (vị trí cấp trưởng, cấp phó đơn vị). Đối với các vị trí lãnh đạo, quản lý phòng chuyên môn được xác định dựa trên phân nhóm các nhiệm vụ chuyên môn, hỗ trợ và định hướng phát triển tổ chức, thực hiện công việc của Thủ trưởng đơn vị.
2.3.1.4. Xác định biên chế công chức theo vị trí việc làm
Việc xác định số lượng người làm việc tại các CQHCNN cấp tỉnh trên địa bàn thành phố Đà Nẵng dựa trên 02 phương pháp chính: ước lượng trung bình và thống kê.
– Đối với các công việc thuộc nhóm công việc lãnh đạo đơn vị; vị trí thực hiện các công việc quy định tại Nghị định số 68/2000/NĐ-CP thì xác định số lượng người làm việc dựa trên phương pháp ước tính.
– Đối với các VTVL thuộc nhóm chuyên môn thì xác định số lượng người làm việc dựa trên phương pháp thống kê.
2.3.1.5. Khung năng lực đối với công chức theo vị trí việc làm
Năng lực chung: Là những phẩm chất, đặc tính cần phải có ở một người công chức. Đây là những năng lực cần thiết cho tất cả các vị trí, được xác định dựa trên giá trị cốt lõi của nền hành chính công của thành phố.
Năng lực quản lý: Đây là những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho từng vị trí cụ thể trong một cơ quan, đơn vị và được xác định dựa vào nhiệm vụ, hoạt động cụ thể của vị trí
Năng lực chuyên môn: Đây là những kiến thức, kỹ năng về một lĩnh vực chuyên môn cụ thể cần thiết để hoàn thành công việc theo đặc thù của từng ngành nghề, lĩnh vực.
Mỗi năng lực được phân chia thành 05 cấp bậc từ thấp đến cao (được trình bày trong tài liệu về Khung năng lực dành cho công chức thành phố)

2.3.1.6. Ngạch công chức tương ứng vị trí việc làm
Việc xác định ngạch công chức tương ứng với VTVL tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố Đà Nẵng vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể. Trước khi Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 11/2014/TT-BNV quy định chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn các ngạch công chức chuyên ngành hành chính, việc quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức dựa trên Quyết định số 414/TCCP-VC ngày 29/5/1993 của Bộ trưởng, Trưởng Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ. Nội dung xác định ngạch công chức tại thành phố Đà Nẵng cơ bản dựa trên các quy định chung này và dựa trên phương pháp chất lượng nguồn lực hiện có qua khảo sát.
2.3.1.7. Mô tả vị trí việc làm
– Tên vị trí việc làm: được xác định dựa vào vị trí lãnh đạo, quản lý hoặc nhóm các công việc chuyên môn phụ trách
– Mục đích của vị trí việc làm:
– Viết các nhiệm vụ:
Về cơ bản, bản mô tả VTVL tại các cơ quan hành chính tại thành phố Đà Nẵng bao gồm kết cấu và những yếu tố cơ bản theo quy định tại Thông tư số 05/2013/TT-BNV.
2.3.2. Về phương pháp xác định vị trí việc làm
Dựa theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ, về cơ bản, phương pháp tiếp cận để xác định VTVL và cơ cấu ngạch công chức được Sở Nội vụ thành phố hướng dẫn các cơ quan hành chính thực hiện là kết hợp cả hai cách thức:
– Tiếp cận từ dưới lên thông qua việc thống kê công việc của các cá nhân – những người đang làm việc trong cơ quan, đơn vị, đồng thời thống kê những nhiệm vụ đang được triển khai trên thực tế ở các đơn vị, cũng như cả cơ quan/tổ chức;
– Tiếp cận từ trên xuống qua việc nghiên cứu,rà soát chức năng nhiệm vụ được qui định cho cơ quan, đơn vị, cũng như xem xét các yếu tổ ảnh hưởng từ bên ngoài tác động đến vị trí việc làm;
Tổng hợp, phân tích thông tin từ hai cách tiếp cận trên có thể thống nhất và hoàn thiện chức năng nhiệm vụ của tổ chức và của các đơn vị trong tổ chức, phân nhóm các nhiệm vụ, xác định mức độ phức tạp của các nhiệm vụ, xác định khung năng lực cần thiết, cũng như xác định các yếu tố liên quan khác đến công việc. Bên cạnh đó, quá trình triển khai phân tích công việc và xác định VTVL đòi hỏi có sự tham vấn và nhận phản hồi từ những người có liên quan đến vị trí công việc, qua đó để hoàn chỉnh các bản mô tả VTVL và khung năng lực cần thiết cho từng VTVL.
Bảng 2.4. Nhận xét các phương pháp áp dụng trong xác định vị trí việc làm trong cơ quan hành chính
| Các phương pháp xác định vị trí việc làm | Tổng mẫu khảo sát | Các đối tượng khảo sát | |||
| Lãnh đạo cơ quan hành chính | Lãnh đạo Phòng Tổ chức, Văn phòng | Chuyên viên | |||
| Phân tích tổ chức (rà soát chức năng nhiệm vụ và hoàn thiện tổ chức) | Cần thiết | 96% | 100% | 92.5% | 96.7% |
| Không cần thiết | 4% | 0% | 7.5% | 3.3% | |
| Có thực hiện tại đơn vị | 97% | 90% | 97.5% | 100% | |
| Phân tích công việc (Công chức kê khai công việc) | Cần thiết | 100% | 100% | 100% | 100% |
| Không cần thiết | |||||
| Có thực hiện tại đơn vị | 96% | 80% | 100% | 100% | |
| Tham vấn ý kiến chuyên gia | Cần thiết | 85% | 100% | 87.5% | 66.6% |
| Không cần thiết | 25% | 13.5% | 33.4% | ||
| Có thực hiện tại đơn vị | 34% | 20% | 25% | 33.3% | |
| Phương pháp kết hợp | Cần thiết | 84% | 95% | 80% | 76.6 % |
| Không cần thiết | 16% | 5% | 20% | 23.4% | |
| Có thực hiện tại đơn vị | 54% | 45% | 57.5% | 40 % | |
| Phương pháp mô phỏng vị trí việc làm chuẩn | Cần thiết | 16% | 10% | 25% | 13.3% |
| Không cần thiết | 84% | 90% | 75% | 86.7% | |
| Có thực hiện tại đơn vị | 9% | 0% | 10% | 16.7% |
(Nguồn: Kết quả khảo sát sau tập huấn vị trí việc làm tại thành phố Đà Nẵng, tháng 4/2014)
2.3.3. Về quy trình xác định vị trí việc làm
Căn cứ Thông tư số 05/2013/TT-BNV, quy trình xác định VTVL tại các cơ quan hành chính trên địa bàn thành phố Đà Nẵng gồm 08 bước, nhưng nội dung cụ thể của từng bước đã có điều chỉnh và giải thích rõ mục tiêu, định hướng, nội dung cần thu thập trong từng bước triển khai, cụ thể:
+ Bước 1: Thống kê nhiệm vụ theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức
+ Bước 2: Thu thập, thống kê công việc của cá nhân
+ Bước 3: Phân nhóm và phân tích các nhiệm vụ
+ Bước 4: Xác định mức độ phức tạp và các yếu tố ảnh hưởng nhiệm vụ
+ Bước 5: Xác định danh mục VTVL
+ Bước 6: Xác định biên chế đối với từng vị trí
+ Bước 7: Xác định khung năng lực của VTVL
+ Bước 8: Xác định ngạch công chức
2.4. Kết quả xác định vị trí việc làm tại các cơ quan hành chính cấp tỉnh tại thành phố Đà Nẵng
2.4.1. Quá trình xác định vị trí việc làm tại các sở, ngành
Sau khi hướng dẫn, tập huấn, tính đến ngày 31/12/2014, 100% các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh đã triển khai xác định VTVL trong cơ quan hành chính.
Trong quá trình triển khai, 09/19 sở, ngành có xây dựng kế hoạch triển khai, thành lập tổ giúp việc và tập huấn đến cán bộ, công chức; 10/19 sở, ngành hoàn chỉnh Đề án VTVL theo yêu cầu, 09/19 sở, ngành mới xây dựng danh mục, bảng mô tả của từng VTVL.
2.4.2. Kết quả xác định danh mục vị trí việc làm
Trên cơ sở vị trí việc làm xây dựng của từng cơ quan, thành phố cũng đã thẩm định, xây dựng Đề án vị trí việc làm trong các cơ quan hành chính của thành phố Đà Nẵng. Tại 21 cơ quan chuyên môn (tương đương) thuộc UBND thành phố, 08 quận, huyện và 15 chi cục (tương đương), thành phố Đà Nẵng xác định được 753 VTVL gắn với công việc lãnh đạo, quản lý, điều hành; 674 VTVL thuộc nhóm công việc chuyên môn, nghiệp vụ và 280 VTVL gắn với công việc hỗ trợ, phục vụ (trong đó có 59 VTVL theo quy định tại Nghị định 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 về thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp). Tuy nhiên, kết quả xây dựng này chỉ mới là phép cộng cơ học về VTVL của tất cả các cơ quan chuyên môn thuộc UND thành phố mà chưa có phân tích, khảo sát xây dựng Đề án VTVL chung trong các cơ quan hành chính trên địa bàn thành phố.
2.4.3. Kết quả xác định khung năng lực
Việc xây dựng, xác định khung năng lực trong CQHCNN cấp tỉnh tại thành phố Đà Nẵng qua kết quả đánh giá theo hai xu hướng:
– Dựa vào các năng lực đã gợi ý, định hướng và chọn lựa mà không có đánh giá, đưa ra những yêu cầu đặc thù liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ. Quá trình xây dựng mang tính chất cảm tính, ước lượng là chủ yếu. Phần lớn các năng lực chung đều được lựa chọn ở mức 3 đối với tất cả các vị trí
– Quá trình xác định năng lực chung, năng lực chuyên môn dựa trên năng lực thực tế của đội ngũ cán bộ, công chức đã sử dụng và bố trí. Đối với năng lực quản lý chủ yếu dùng cho các vị trí lãnh đạo quản lý, tuy nhiên một số VTVL thuộc nhóm chuyên môn nghiệp vụ được thừa nhận có các năng lực này như các vị trí thuộc về chuyên ngành thẩm định, thẩm tra, thanh tra.
2.4.4. Kết quả bảng mô tả vị trí việc làm và xác định ngạch công chức
Theo kết quả kiểm tra, đánh giá, xếp hạng cải cách hành chính năm 2014 tại các cơ quan hành chính cấp tỉnh, đối với tiêu chí đánh giá nhiệm vụ triển khai xây dựng xác định VTVL, có 07/18 đơn vị xây dựng, hoàn thiện bản mô tả VTVL của cả cơ quan, đơn vị và các nội dung, tiêu chí tại bản mô tả VTVL có chất lượng, đảm bảo nguyên tắc xây dựng VTVL, không trùng lắp chức năng, nhiệm vụ, phù hợp với định hướng phát triển tổ chức và thời gian thực hiện, năng lực phù hợp với yêu cầu tại vị trí.
2.5. Đánh giá chung về thực trạng xác định vị trí việc làm tại các cơ quan hành chính cấp tỉnh tại thành phố Đà Nẵng
2.51. Về ưu điểm
– Về quy trình xác định vị trí việc làm:
Theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ tại Thông tư số 05/2013/TT-BNV, xác định vị trí việc làm gồm 08 bước. Tại thành phố Đà Nẵng cũng gồm 08 bước, nhưng nội dung cụ thể của từng bước đã có điều chỉnh và giải thích rõ mục tiêu, hướng, nội dung cần thu thập trong từng bước triển khai.
– Về phương pháp áp dụng:
Tuân thủ những quy định của Chính phủ, Bộ Nội vụ về nội dung, những yêu cầu cần có trong xác định vị trí việc làm, kết quả xác định VTVL. Tuy nhiên, quá trình triển khai, thành phố Đà Nẵng đã vận dụng linh hoạt các phương pháp khác nhau phù hợp với điều kiện, tính chất của từng cơ quan đơn vị. Việc áp dụng phương pháp này trên thực tế, mang lại kết quả cao và thống nhất, đồng bộ, tiết kiệm được thời gian của cơ quan, đơn vị. Nhưng đòi hỏi, cơ quan phụ trách về tổ chức, nhân sự chung của cả thành phố phải khảo sát, đánh giá và đưa ra được danh mục tên các vị trí việc làm chung giữa các cơ quan, đơn vị.
– Về nội dung xác định vị trí việc làm:
Tại thành phố Đà Nẵng, Sở Nội vụ thành phố đã nghiên cứu, hoàn thiện tài liệu hướng dẫn xây dựng VTVL, cơ bản tuân thủ tối đa những nguyên tắc quy trình quy định tại Nghị định số 36/2013/NĐ-CP và Thông tư số 05/2013/TT-BNV tuy nhiên cụ thể hóa phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương và tính chất quản lý nhà nước của các CQHCNN cấp tỉnh, Cụ thể hóa các tiêu chí như:
+ Thống kê công việc của cá nhân và nhiệm vụ của tổ chức:
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ:
+ Tiêu chí hoàn thành công việc:
+ Khảo sát xây dựng các tiêu chí năng lực cơ bản
– Về các yếu tố hỗ trợ xác định vị trí việc làm
Đối với việc xây dựng VTVL trong cơ quan hành chính; trên cơ sở nghiên cứu các biểu mẫu quy định và định hướng sử dụng VTVL trong công tác đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng sau này, thành phố Đà Nẵng đã triển khai xây dựng phân hệ VTVL trên phần mềm cán bộ, công chức. Tại phần mềm quản lý cán bộ, công chức, sau triển khai xác định theo các bước hướng dẫn chung; thẩm định, hoàn chỉnh, các Sở, ban, ngành, UBND các quận, huyện sẽ cập nhật các bảng mô tả VTVL của đơn vị mình vào phần mềm quản lý. Sở Nội vụ chịu trách nhiệm theo dõi, tổng hợp, cập nhật dữ liệu tại phân hệ này.
2.5.2. Về hạn chế
– Về quy trình xác định vị trí việc làm:
Theo kết quả thẩm định bước đầu tại các cơ quan hành chính, nhà nước cấp tỉnh, chỉ có 2/3 cơ quan đơn vị có kế hoạch triển khai, tập huấn trong nội bộ cơ quan đơn vị. Đồng thời, cũng có tới 2/3 cơ quan đơn vị triển khai xây dựng chưa đảm bảo các bước, quy trình như hướng dẫn. Các nội dung đều bị lược bỏ trong quá trình xây dựng là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến VTVL, phân nhóm nhiệm vụ của cơ quan tổ chức tại bước 1. Thay vào đó, các đơn vị sử dụng bảng mô tả, phân tích cá nhân để làm cơ sở phân nhóm VTVL.
– Về nội dung xác định vị trí việc làm
+ Phân nhóm nhiệm vụ để hình thành danh mục vị trí việc làm
Các công việc được mô tả tại vị trí việc làm còn bị chia nhỏ, xác định tới thao tác dẫn đến nhưng lúng túng, hạn chế trong công tác thống kê, tập hợp phân nhóm nhiệm vụ; Chưa có hướng dẫn cụ thể về tiêu chí, đặc điểm nhóm công việc thuộc nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý; Nhiệm vụ của tại các vị trí phó trưởng phòng cần xác định chưa rõ ràng ở tính chất quản lý, chủ yếu là thực hiện công tác chuyên môn.
+ Đối với nội dung xác định ngạch công chức
Việc xác định ngạch công chức chủ yếu căn cứ vào tiêu chuẩn, ngạch hiện có của công chức mà chưa có cơ sở khoa học, phương pháp để xác định ngạch công chức cũng như cơ cấu công chức.
+ Đối với nội dung xác định biên chế
Chỉ tiêu biên chế được xây dựng theo vị trí việc làm hiện nay tại các cơ quan hành chính thuộc UBND thành phố Đà Nẵng đều có 03 tình trạng
+ Tự cân đối, điều chỉnh trong tổng số chỉ tiêu biên chế giao
+ Xác định biên chế tương ứng với số lượng người làm việc hiện có tại đơn vị
+ Kê khai tăng thời gian nhiệm vụ để tang số biên chế cần để thực hiện
– Đối với việc xác định khung năng lực
Còn hạn chế bởi các tiêu chí và khái niệm. Việc đưa ra các năng lực, cấp độ chưa có khảo sát. Đối với năng lực chung, phần lớn đều mô tả về trình độ chuyên môn, thuộc chuyên ngành, nhóm ngành nhưng chưa phân tích cấp độ năng lực, cụ thể: việc vận dung năng lực chuyên môn để giải quyết vấn đề, triển khai chuyên môn… Quá trình xác định khung năng lực chuyên môn còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thực trạng.
2.5.3. Nguyên nhân hạn chế
Việc áp dụng các vấn đề lý luận về VTVL
Như đã phân tích trong chương 1, hiện nay có nhiều khái niệm thuộc phạm trù VTVL, cơ cấu công chức. Bên cạnh đó, hiện chưa có được phương pháp, quy trình, kỹ năng thực sự thuyết phục để các cơ quan, tổ chức, đơn vị áp dụng xác định chính xác VTVL, biên chế, cơ cấu công chức.
Các quy định pháp luật về xác định vị trí việc làm
– Chưa có sự phân định một cách rõ ràng giữa vị trí việc làm với vị trí công tác và vị trí lãnh đạo, quản lý;
– Thiếu hướng dẫn áp dụng các phương pháp xác định vị trí việc làm và cơ cấu công chức theo vị trí việc làm trong các CQHCNN;
– Nhiều quy định hiện hành về độ tuổi chưa đảm bảo tính hợp lý cao nhất.
Các quy định về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh
Hiện, Bộ Nội vụ và các bộ, ngành trung ương mới ban hành Thông tư quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của một số sở, ngành như: Sở Nội vụ, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tư pháp, Thanh tra Thành phố, Sở Khoa học và Công nghệ. Việc chậm ban hành các Thông tư hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức tác động trực tiếp đến quá trình xác định, mô tả VTVL tại các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh.
Về tư duy, nhận thức trong công tác xác định vị trí việc làm
Tại khối sở, ngành qua quá trình khảo sát có 20% lãnh đạo được hỏi không quan tâm cũng như không có kiến thức, hiểu biết cơ bản về nguyên tắc, vị trí vai trò của VTVL trong quản lý công chức. Tuy nhiên, đối với chuyên viên khối sở, ngành trực tiếp tham mưu công tác nội vụ cho thấy sự quan tâm cao khi 100% đều chọn quan tâm và rất quan tâm. Tỷ lệ rất quan tâm chỉ chiếm trên 30%, phần lớn nằm ở các cơ quan có chức năng tham mưu, tổng hợp như Sở Nội vụ, Sở Tư pháp, Sở Tài chính. Đối với các cơ quan đóng vai trò đầu mối: Văn phòng UBND thành phố, các cơ quan có số lượng VTVL lớn như Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Y tế, Sở Giáo dục và Đào tạo… mức độ rất quan tâm của lãnh đạo cũng như công chức thực hiện là thấp.
Về trình độ đội ngũ công chức thực hiện xác định vị trí việc làm
Thiếu đội ngũ chuyên gia giỏi về xác định VTVL làm nòng cốt cho triển khai thực hiện xác định VTVL trong các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước. Công chức thực hiện công tác tổ chức, nội vụ của một số sở, ngành thay đổi, chuyển đổi vị trí công tác do đó ảnh hưởng đến quá trình đào tạo, tập huấn, triển khai.
Về bố trí đội ngũ công chức
Việc bố trí số lượng cấp phó vượt so với quy định dẫn đến những hạn chế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cũng như mô tả VTVL.
Tiểu kết Chương 2
Qua khảo sát quá trình xác định VTVL trong các CQHCNN cấp tỉnh thuộc thành phố Đà Nẵng, có thể thấy công tác xác định VTVL tại thành phố Đà Nẵng kết hợp các quy định của Trung ương và theo hướng dẫn riêng của địa phương phù hợp với đặc điểm quản lý hành chính. Ngoài những ưu điểm trong công tác triển khai, rút gọn quy trình, vận dụng linh hoạt các giải pháp cũng như thiết kế làm rõ các nội dung, tiêu chí xác định VTVL thì công tác xác định VTVL tại các CQCNN thuộc thành phố Đà Nẵng vẫn còn có những hạn chế nhất định. Trong đó, nổi lên là những hạn chế về xác định năng lực, biên chế, ngạch công chức tương ứng với VTVL do chưa có sự thống nhất, kịp thời của những quy định pháp luật cũng như thực tế công tác bố trí, sử dụng công chức.
Thực trạng tại Chương 2 chính là cơ sở thực tiễn để kết hợp cùng với cơ sở lý luận, pháp lý đã nghiên cứu, phân tích tại Chương 1, đề xuất các giải pháp đồng bộ về thể chế, nhân lực, nội dung, kỹ thuật hoàn thiện quá trình xác định vị trí việc làm trong các cơ quan hành chính nói chung và xác định vị trí việc làm tại các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh thuộc UBND thành phố Đà Nẵng.
Chương 3
QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ VIỆC LÀM CHO CƠ QUAN HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
3.1. Quan điểm, định hướng xác định vị trí việc làm
3.1.1. Quan điểm về xác định vị trí việc làm trong CQHCNN
– Bảo đảm tính thực tiễn, tính khoa học, tính toàn diện và tính hệ thống;
– Kết hợp giữa tính chủ động của các cơ quan, tổ chức với thẩm quyền quyết định của cơ quan quản lý công chức và cơ quan quản lý nhà nước về công chức.
– Kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế.
– Xác định vị trí việc làm phải tính toán các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ, chức năng của cơ quan, tổ chức.
3.1.2. Định hướng xác định vị trí việc làm trong cơ quan hành chính
– Tiếp tục hoàn thiện thể chế phục vụ việc xác định vị trí việc làm.
– Tổ chức thực hiện tốt các quy định pháp luật về xác định vị trí việc làm
Đối với thành phố Đà Nẵng, nội dung xác định VTVL và cơ cấu công chức là một trong những nội dung trọng yếu được Thành uỷ, UBND và các cấp, địa phương đặc biệt quan tâm, quán triệt thực hiện
– Quá trình xác định VTVL đảm bảo: không phát sinh biên chế, ngoại trừ các trường hợp được bổ sung chức năng, nhiệm vụ.
– Các công cụ và biểu mẫu áp dụng trong quá trình xác định VTVL tuân theo các quy định của pháp luật liên quan, đặc biệt là Nghị định 36/2012/NĐ-CP của Chính Phủ, và Thông tư 05/2013/TT-BNV của Bộ Nội vụ về VTVL và cơ cấu ngạch công chức. Đồng thời, bổ sung, điều chỉnh các tiêu chí thích ứng và phù hợp với quy định chung về ngạch bậc công chức hiện nay ở Việt Nam, cũng như các qui định liên quan của thành phố Đà Nẵng.
– Việc triển khai xác định VTVL làm cơ sở cho công tác tuyển dụng, bố trí biên chế, đào tạo, bồi dưỡng… tại các cơ quan hành chính cấp tỉnh tiến hành song song với quá trình quy định chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan đơn vị theo Thông tư liên tịch của Bộ, ngành hướng dẫn thực hiện Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 về các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh.
3.2. Một số giải pháp xác định VTVL trong cơ quan hành chính
3.2.1. Hoàn thiện các quy định về xác định vị trí việc làm
Ban hành một số văn bản pháp luật liên quan đến hướng dẫn xây dựng tiêu chuẩn chức danh, ngạch công chức
– Ban hành các văn bản pháp luật quy định về chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ của công chức.
– Ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện chế độ thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh, công khai, minh bạch, khách quan; thi tuyển cạnh tranh để bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý từ cấp vụ trưởng và tương đương (ở trung ương), giám đốc sở và tương đương (ở địa phương) trở xuống.
3.2.2. Về trình độ, nhận thức đội ngũ công chức về xác định vị trí việc làm
Đổi mức nhận thức của đôi ngũ công chức về xác định VTVL
Với các nội dung đã thể hiện trong chương 1, 2 cho thấy xác định VTVL nói chung và xác định VTVL trong các CQHCNN là một chính thể bao gồm nhiều nội dung, nhiều hoạt động khác nhau. Theo đó đổi mới nhận thức về xác định VTVL cần theo hướng:
– Đổi mới nhận thức về nội dung xác định VTVL.
– Đổi mới nhận thức về các hoạt động, tổ chức thực hiện các hoạt động trong việc xác định VTVL.
Xây dựng đội ngũ chuyên gia trong xác định VTVL
– Xây dựng kế hoạch mở các lớp học từ 3 đến 5 ngày để đào tạo kỹ năng về áp dụng phương pháp để xác định vị trí việc làm trong các CQHCNN và đơn vị sự nghiệp công lập.
– Kiện toàn chức năng nhiệm vụ Sở Nội vụ, bố trí nhân lực đảm bảo thực hiện nhiệm vụ quản lý công chức, viên chức nói chung và hướng dẫn, quản lý nhà nước về biên chế, cơ cấu công chức, VTVL.
– Sử dụng các công chức đã có kinh nghiệm trong việc xác định VTVL của Sở Nội vụ và một số sở, ngành tiêu biểu để triển khai thực hiện nhiệm vụ đối với các cơ quan, tổ chức khác.
3.2.3. Giải pháp về hoàn thiện phương pháp xác định vị trí việc làm
3.2.3.1 Các hướng tiếp cận xác định vị trí việc làm
3.2.3.2 Các phương pháp xác định vị trí việc làm
• Phương pháp phân tích tổ chức, mô tả công việc.
Việc xác định các VTVL trong mỗi cơ quan, tổ chức sẽ được thực hiện theo quy trình sau:
Bước 1. Xác định, thống kê công việc: căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức để xác định, thống kê các công việc và số lượng công việc phải thực hiện, kể cả các công việc ngoài chức năng, nhiệm vụ do cấp trên trực tiếp giao.(Trong đó cũng bao gồm các các công việc liên quan đến lãnh đạo, quản lý, điều hành).
Bước 2. Phân nhóm các công việc:
Bước 3. Mô tả công việc
Bước 4. Xác định các yếu tố ảnh hưởng
Bước 5. Xác định vị trí việc làm
• Phương pháp thống kê, rà soát thực tế
Bước 1. Thống kê thực trạng đội ngũ công chức:
Bước 2. Tổ chức thống kê công việc
Bước 3. Xác định mức độ phù hợp:
Bước 4. Điều chỉnh VTVL theo mức độ phù hợp
• Phương pháp tổng hợp (kết hợp giữa phân tích tổ chức với thống kê, rà soát thực tế)
Bước 1. Xác định, thống kê công việc: căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức để xác định, thống kê các công việc và số lượng công việc phải thực hiện, kể cả các công việc ngoài chức năng, nhiệm vụ do cấp trên trực tiếp giao.(Trong đó cũng bao gồm các các công việc liên quan đến lãnh đạo, quản lý, điều hành).
Bước 2. Phân nhóm các công việc:
Bước 3. Mô tả công việc:
Bước 4. Xác định vị trí việc làm khung:
Bước 5. Xác định các yếu tố ảnh hưởng
Bước 6. Thống kê, rà soát thực tế: Tiến hành thống kê và rà soát đội ngũ công chức.
Bước 7. Xác định VTVL phù hợp
3.2.4. Các giải pháp về hoàn thiện nội dung xác định vị trí việc làm
3.2.4.1 Đề xuất các tiêu chí để xác định mức độ phức tạp của nhiệm vụ
Bảng 3.1. Mức độ phức tạp tương ứng với vị trí việc làm (hoặc ngạch công chức)
| Mức độ phức tạp | Tiêu chí hướng dẫn xác định mức độ phức tạp | Ví dụ về vị trí việc làm tương ứng với mức độ phức tạp của công việc |
| Mức 5 | Chịu trách nhiệm và chủ trì định hướng phát triển, cũng như quản lý, xây dựng cả hệ thống
Chú ý (tiêu chí hỗ trợ thêm việc xác định mức độ phức tạp): khoảng thời gian trung bình để hoàn thành và chịu trách nhiệm cho nhiệm vụ thuộc mức độ 5 thường khoảng từ 5 năm đến 10 năm. | Lãnh đạo Sở hoặc chuyên viên cao cấp |
| Mức 4 | “Chịu trách nhiệm và quản lý các Phòng, các đơn vị trực thuộc và/hoặc “Chịu trách nhiệm xây dựng và quản lý dự án chuyên môn ngành, địa phương
Và/hoặc
| Lãnh đạo Sở hoặc chuyên viên cao cấp |
| Mức 3 | “Chịu trách nhiệm và quản lý phòng” và/hoặc “chủ trì chương trình và công việc chuyên môn sâu”
Và/hoặc
| Quản lý phòng hoặc chuyên viên chính |
| Mức 2 | Triển khai công việc theo mục tiêu và tiêu chuẩn đã xác định
Chú ý (tiêu chí hỗ trợ thêm việc xác định mức độ phức tạp): khoảng thời gian trung bình để hoàn thành và chịu trách nhiệm cho nhiệm vụ thuộc mức độ 2 thường khoảng từ 1 tháng tới 1 năm | Chuyên viên (có thể quản lý nhóm nhỏ về nghiệp vụ) |
| Mức 1 | Công việc thực hiện, công việc sự vụ
Chú ý (tiêu chí hỗ trợ thêm việc xác định mức độ phức tạp): khoảng thời gian trung bình để hoàn thành và chịu trách nhiệm cho nhiệm vụ thuộc mức độ 1 thường ngắn, khoảng dưới 1 tháng. | Cán sự, nhân viên hỗ trợ…/ Thư ký…./ Nhân viên phục vụ… |
* Đề xuất bổ sung, xác định tiêu chí hoàn thành công việc
3.2.4.2 Đề xuất bổ sung xây dựng khung năng lực công chức
+ Nhóm các năng lực chung (căn bản):Là những năng lực tất cả các vị trí công việc CBCC tại các cơ quan hành chính thuộc thành phố đều phải có;
+ Nhóm các năng lực chuyên môn (nhằm bảo đảm hiệu quả công việc): Là các năng lực mang tính chuyên sâu (hay nâng cao hơn mức căn bản) nhằm bảo đảm hiệu quả của công việc được giao;
+ Nhóm các năng lực quản lý: Là những năng lực dành cho các vị trí chức danh quản lý.
3.2.5 Đề xuất nội dung hướng dẫn xác định cơ cấu ngạch theo vị trí việc làm
Phương pháp xác định cơ cấu công chức theo ngạch được thực hiện theo các bước sau:
Bước 1. Lựa chọn ngạch công chức phù hợp với các lĩnh vực hoạt động của cơ quan:
Bước 2. Xác định ngạch công chức cao nhất được sử dụng
Bước 3. Phân nhóm các vị trí việc làm:
Bước 4. Xác định ngạch công chức cho các vị trí việc là
Bước 5. Tính toán cơ cấu công chức theo ngạc
3.2.6 Các giải pháp hỗ trợ xác định vị trí việc làm
3.2.6.1 Hoàn thiện Sổ tay hướng dẫn xác định vị trí việc làm
Nguyên tắc 1: Sổ tay tuân thủ đến mức tối đa các qui định đã có của Nghị Định 36/2013/NĐ-CP ngày 22/4/2013 của Chính phủ, và Thông Tư 05/2013/TT-BNV ngày 25/6/2013 của Bộ Nội Vụ hướng dẫn xây dựng đề án vị trí việc làm và cơ cấu công chức;
Nguyên tắc 2: Chỉ phát triển, sáng tạo đối với những vấn đề mà các qui định hiện hành còn chưa rõ mà nếu không phát triển làm rõ thêm thì quá trình triển khai xây dựng đề án VTVL sẽ gặp khó khăn;
Nguyên tắc 3: Nội dung Sổ tay phải đơn giản, dễ hiểu, bổ sung các công cụ cụ thể giúp quá trình triển khai xây dựng đề án VTVL theo Nghị định 36 và Thông Tư 05, song hết sức tránh phức tạp hóa vấn đề;
Nguyên tắc 4: Sổ tay phải có nhiều ví dụ minh họa, nhất là đối với các vấn đề đang mắc phải trong thực tế triển khai xây dựng đề án vị trí việc làm ở các cơ quan, đơn vị.
3.2.6.1 Ứng dụng công nghệ thông tin trong xây dựng vị trí việc làm
– Xây dựng cơ sở dữ liệu về tổ chức hiện có
– Xây dựng cơ sở dữ liệu về thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức bao gồm các nội dung cơ bản như
– Xây dựng cơ sở dữ liệu về VTVL
Theo đó, trên nền tảng phần mềm cán bộ công chức hiện nay, thành phố Đà Nẵng cần đầu tư nâng cấp cũng như mở rộng các tiện ích khác để tích hợp trên phần mềm các phân hệ thông tin khác để hỗ trợ cho quá trình xây dựng, xác định và quản lý, đào tạo, đánh giá cán bộ công chức theo VTVL.

Tiểu kết Chương 3
Trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định số 36/2013/NĐ-CP và Thông tư số 05/2013/TT-BNV, Thành phố Đà Nẵng đã nhiều lần tổ chức tập huấn, hội thảo, đánh giá rút kinh nghiệm. Vì vậy, việc điều chỉnh, hoàn thiện quy trình xây dựng, xác định VTVL trong CQHCNN cấp tỉnh tại thành phố là việc làm cần thiết, đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay khi Chính phủ, Bộ Nội vụ triển khai những chủ trương mới về quản lý cán bộ, công chức, tổ chức, biên chế.
Trên cơ sở nghiên cứu khoa học về các vấn đề liên quan đến VTVL, quy định của Trung ương về xác định VTVL và thực tế triển khai tại thành phố Đà Nẵng, Luận văn đã đưa ra một số giải pháp về thể chế cũng như hoàn thiện nội dung, bổ sung các yếu tố hỗ trợ trong xác định VTVL trong cơ quan hành chính nhà nước. Những giải pháp trên đây sẽ góp phần khắc phục những khó khăn, hạn chế trong quá trình xác định VTVL trong cơ quan hành chính và hoàn chỉnh các bước, nội dung, tiêu chí trong quá trình xây dựng, xác định VTVL trong CQHCNN cấp tỉnh nói chung.
KẾT LUẬN
Đổi mới chế độ công vụ theo mô hình VTVL, tiến hành xác định vị trí trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức là chủ trương của Đảng, Nhà nước và đã được cụ thể hóa trong các văn bản hướng dẫn, quy định cụ thể. Quá trình xác định VTVL đang được triển khai ở các địa phương trong thời gian ngắn, chưa có tổng kết, đánh giá cụ thể. Việc triển khai thực hiện tại các địa phương về tổng thể căn cứ trên cơ sở hướng dẫn của Bộ, ngành trung ương nhưng về chi tiết còn nhiều nội dung khác nhau do những hạn chế về phương pháp hướng dẫn đồng bộ, tư duy và các điều kiện về nhân lực, trình độ công chức.
Là một trong những địa phương đi đầu trong công tác cải cách hành chính, đóng góp những cách nhìn mới, cách làm mới hiệu quả; công tác quản lý công chức, viên chức nói chung tại thành phố Đà Nẵng các năm qua đã có nhiều kết quả được Bộ, ngành ghi nhận và là điển hình kinh nghiệm để các địa phương khác nghiên cứu, học tập. Việc nghiên cứu, khảo sát, đánh giá quá trình triển khai xác định VTVL trong cơ quan hành chính tại thành phố Đà Nẵng tạo điều kiện để lãnh đạo thành phố, các cơ quan, đơn vị có cái nhìn toàn diện, khách quan về những yêu cầu đặt ra trong quá trình chuyển đổi mô hình công vụ chức nghiệp sang mô hình VTVL; hoàn thiện thẩm định 75% các cơ quan hành chính trong năm 2015 theo chỉ đạo của Chính phủ.
Trong bối cảnh triển khai Nghị định 36/2013/NĐ-CP và Thông tư số 056/2013/TT-BNV cũng như còn ít những nghiên cứu, khảo sát về quá trình xác định VTVL phù hợp với điều kiện thực tế của nền hành chính tại Việt Nam, đề tài nghiên cứu đã đưa ra những giải pháp có tính đồng bộ, hệ thống không chỉ hoàn thiện về thể chế, nhân lực thực hiện công tác xác định VTVL mà còn vận dụng đề xuất các giải pháp về hoàn thiện phương pháp, nội dung và kỹ thuật trong quá trình xác định VTVL trong cơ quan hành chính hiện nay./.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN HOC VIEN HANH CHINH\TRA HOA NU


