Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào việc xây dựng đội ngũ giáo viên trung học phổ thông ở Ninh Thuận hiện nay
Sau gần 28 năm đổi mới, đất nước đã thay da đổi thịt và đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế phát triển nhanh và ổn định, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao, chuyển biến từ chỗ đủ ăn, đủ mặc thì đến nay đã đòi hỏi phải ăn ngon, mặc đẹp, trật tự xã hội luôn đảm bảo, an ninh chính trị ổn định. Cùng với sự phát triển chung về mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội, giáo dục và đào tạo đã có bước phát triển trên cả ba mặt: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Mỗi năm, giáo dục – đào tạo đã góp phần đào tạo ra hàng triệu lao động có tay nghề, có trình độ khoa học kỹ thuật cao đáp ứng cho quá trình sản xuất chuyên môn hóa. Nhiều học sinh, sinh viên của nước ta đã giành được nhiều giải cao trong các kỳ thi của quốc tế, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam với thế giới.
Trong những năm qua, giáo dục đào tạo đã có những bước phát triển vượt bậc. Chúng ta đã xây dựng được một mô hình giáo dục với nhiều cấp học, từ mầm non cho đến đại học và sau đại học, nhiều hình thức đào tạo từ chuyên tu, tại chức cho đến chính quy phục tốt cho yêu cầu xã hội hóa giáo dục. Chúng ta đã xây dựng được đội ngũ giảng viên, giáo viên ngày càng đông đảo, có trình độ lý luận, phẩm chất đạo đức và chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng được nâng cao. Đảng và Nhà nước luôn dành nhiều quan tâm cho giáo dục đào tạo. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã tiếp tục khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”. Trong đó, nhiệm vụ xây dựng đội ngũ nhà giáo là nòng cốt và có vai trò quan trọng. Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Không có thầy giáo thì không có giáo dục”, “học trò tốt hay xấu là do thầy giáo, cô giáo tốt hay xấu”. Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của sự nghiệp phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chịu sự tác động mạnh mẽ của yếu tố kinh tế thị trường và mặt trái của nó. Đội ngũ giảng viên, giáo viên ở nước ta nói chung, đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông (THPT) ở Ninh Thuận nói riêng vẫn đang tồn tại nhiều hạn chế, bất cập. Số lượng giáo viên vẫn còn thiếu, mất cân đối về cơ cấu giáo viên giữa các bộ môn, chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ chưa đáp ứng yêu cầu, một số nhà giáo tha hóa về đạo đức. Tình hình ấy đòi hỏi phải nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, xây dựng đội ngũ nhà giáo đáp ứng được yêu cầu trước mắt và lâu dài, thực hiện tốt nhiệm vụ và trách nhiệm mà Đảng, Nhà nước giao phó cho Sở giáo dục tỉnh Ninh Thuận. Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào việc xây dựng đội ngũ giáo viên trung học phổ thông ở Ninh Thuận hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ triết học của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
2.1. Mục đích nghiên cứu
Qua nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, đề tài hướng đến mục đích xây dựng các giải pháp nhằm tiếp tục xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên THPT ở Ninh Thuận hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn đề ra những nhiệm vụ sau đây:
– Làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
– Phân tích những thực trạng công tác xây dựng đội ngũ giáo viên THPT ở Ninh Thuận hiện nay.
– Xây dựng các giải pháp góp phần xây dựng đội ngũ giáo viên THPT ở Ninh Thuận hiện nay
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Từ mục đích và nhiệm vụ của đề tài đã quy định phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài. Đối tượng nghiên cứu của đề là những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, thực trạng công tác xây dựng đội ngũ giáo viên THPT ở Ninh Thuận hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình về tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và tập trung vào phân tích thực trạng đội ngũ giáo viên THPT trong phạm vi tỉnh Ninh Thuận Ninh Thuận
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
4.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về các vấn đề giáo dục và sự phát triển của giáo dục đào tạo.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau. Nhưng chủ yếu sử dụng các phương pháp chủ yếu sau: phương pháp thống nhất giữa lôgic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa…
* Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
– Luận văn góp phần khẳng định những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tư tưởng về giáo dục của Người.
– Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành triết học trong việc học tập và nghiên cứu các tác phẩm triết học Hồ Chí Minh. Những giải pháp của luận văn có thể góp phần cho việc tham mưu cho việc hoạch định chiến lược phát triển đội ngũ giáo viên THPT ở Ninh Thuận nói riêng và nước ta nói chung.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Luận văn được chia làm 3 chương.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC
1.1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC
Cùng với chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân văn, từ ngàn đời nay, hiếu học đã trở thành một trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Suốt chiều dài của lịch sử dựng nước và giữ nước, lịch sử dân tộc đã ghi nhận nhiều tấm gương hiếu học tiêu biểu đã trở thành những hiền nhân của dân tộc. Trong thời kỳ chống phong kiến phương Bắc, bên cạnh việc kiên trì chống giặc ngoại xâm, ông cha ta còn tích cực học hỏi, tiếp thu những tinh hoa của văn hóa Trung Hoa. Nho học vào nước ta đã được cải biến để phù hợp với đời sống, văn hóa của con người Việt. Ý thức được giá trị của tri thức, các triều đình phong kiến Việt Nam đã đề cao sự học. Vào năm 1076, vua Lê Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu Quốc Tử Giám để đào tạo nhân tài cho đất nước. Kể từ đây về sau, nền giáo dục luôn được kiện toàn và phát triển, nhiều gương hiếu học được ghi nhận như: Mạc Đỉnh Chi, người được xem là lưỡng quốc trạng nguyên, trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được Trung Hoa thán phục là nhà thông thái (An Nam lý số hữu trình tuyền), nhà mưu lược Nguyễn Trãi, nhà bác học Lê Quí Đôn, Nguyễn Mạnh Tường, Hồ Chí Minh…
Với tinh thần cầu sự học, cầu tiến bộ, sẵn sàng tiếp thu cái mới, cái tiến bộ. Qua đó đã hình thành truyền thống “Tôn sư trọng đạo” tốt đẹp, xã hội đề cao vai trò của người thầy giáo, “không thầy đố mày làm nên” hay “muốn sang phải bắt cầu kiều, muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”. Thậm chí trong tam cương, người xưa còn đặt người cha tinh thần trước người cha đẻ của mình (Quân – Sư – Phụ). Nhưng nếu Nho giáo coi hiếu học và cầu thị là hai phẩm chất quan trọng của một người trí thức, coi việc học chủ yếu là học chữ thánh hiền, điều này giống với quan niệm của dân gian (học ăn, học nói, học gói, học mở), thì Nguyễn Trãi đã chỉ ra rằng, sự học là nguồn cội của tất thẩy những thành công dù đó là nghề gì, dù người ấy là ai:
“Nên thợ nên thầy vì có học
Có ăn có mặc bởi hay làm”
Như vậy, làm nghề gì cũng cần học. Có học mới tinh thông nghề nghiệp bởi “nghề nào cũng có trạng nguyên”. Trong mọi hoàn cảnh khó khăn, các gia đình, làng xã, họ tộc đã tạo mọi điều kiện cho con cháu được học. Đã có nhiều gia đình có cuộc sống hết sức khó khăn, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc nhưng con cái luôn được học hành đến nơi đến chốn. Nhiều làng xã đã quy định sự học trong các hương ước của làng. Ở đó, truyền thống hiếu học luôn được bồi đắp và củng cố bằng các điều khoản, thể hiện các chính sách sử dụng và đãi ngộ nhân tài, trọng dụng của triều đình đối với những người đỗ đậu khoa bảng. Nhiều hương ước đã ghi các điều khoản hỗ trợ, khuyến khích và giúp đỡ những người theo học thành tài, đề cao các dòng họ có có người hiếu học. Ví dụ như:
Hương ước xã Tử Vi huyện Tiên Dung (nay là huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh) năm 1915 có 55 điều thì đã có 21 điều liên quan đến học tập, quy định việc dựng trường mở lớp, đặt học điền, trách nhiệm của gia đình và thầy giáo, việc khen thưởng các học sinh học giỏi, thi đỗ. Hương ước làng Dã Lê Thượng xã Thuỷ Phương, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế soạn năm Duy Tân thứ 6 gồm 24 điều, có những điều quy định đặt lễ mừng, tiền thưởng và ruộng đất xứng đáng cho những người đỗ đạt mang vinh dự về cho làng. Hương ước làng Phúc Xá (tổng Phúc Lâm huyện Hoàn Long tỉnh Hà Đông nay thuộc Hà Nội) soạn năm 1923, trong điều thứ 5 có ghi: Nhà nào có con từ 6,7 tuổi trở lên, bất cứ hạng nào cũng phải cho con ra trường học. Những nhà túng quá, cho con đi học mà không thể lấy tiền đâu được, thì tường trình với tộc họ mình để làm giấy nhận thực trình Hội đồng, toà Hội đồng xét thực rồi sẽ cấp giấy bút cho ba năm. Học trò nào học hết ba năm rồi phải thi, xem hễ có tư cách thông minh có thể ra trường tỉnh học được, thì bố mẹ em ấy phải cho đi học, không được bắt con bỏ học để làm việc khác. Nếu nhà nào nghèo khổ, không thể cho con đi học ở tỉnh được, sau xét thực thì nhân dân sẽ quyên góp cấp tiền cho trẻ ấy ra tỉnh học. Người nào đã được tiền cấp mà không siêng năng học hành thì dân không chu cấp nữa mà lại phải bồi số tiền ấy để trả dân. Nếu không trả dân thì dân sẽ ghi tên học trò ấy vào sổ, trước khi muốn mua ngôi thứ gì trong dân thì phải chồng số tiền ấy trả cho dân đã. Với truyền thống hiếu học của dân tộc, Hồ Chí Minh đã thừa hưởng và phát triển lên một tầm cao mới. Bản thân Hồ Chí Minh là một tấm gương hiếu học và học tập suốt đời, vượt qua mọi khó khăn gian khổ và thách thức trên con đường cứu nước. Người đã không ngừng học tập nâng cao trình độ lý luận và thực tiễn, Người có thể học mọi lúc, mọi nơi với mọi hoàn cảnh. Bên cạnh đó, bản thân từng là một nhà giáo dục khi người dạy học ở trường Dục Thanh. Sau đó, giảng dạy, đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam… Người đã có nhiều quan điểm về giáo dục tiến bộ. Đây chính là một trong những cơ sở để hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục.
Nho giáo ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VI trước Công nguyên(tr.CN) dưới thời Xuân Thu, do Khổng Tử (551 – 479 tr.CN) sáng lập. Đến thời Chiến Quốc, tư tưởng của ông được các học trò kế thừa và hoàn thiện. Trong đó, Nho giáo Khổng – Mạnh có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài trong lịch sử Trung Hoa, các nước lân cận và Việt Nam, được giai cấp phong kiến sử dụng vào việc trị nước. Những bộ sách kinh điển của Nho giáo là Tứ thư (Luận ngữ, Đại học, Trung dung, Mạnh Tử) và Ngũ kinh (Thư, Thi, Lễ, Dịch, Xuân thu) đã trở thành giáo khoa cho việc học tập và thi cử đỗ đạt làm quan trong chế độ phong kiến Trung Quốc và nhiều nước ở Châu Á, trong đó có cả ở Việt Nam. Trong hệ thống tư tưởng chính trị – xã hội, Nho giáo cũng có một số quan điểm đề cập đến vai trò, đạo đức… của người thầy giáo.
Khổng Tử là người sáng lập ra Nho giáo, đồng thời ông cũng được coi là một nhà giáo dục của mọi thời đại, người đời xưng ông là “Vạn thế sự biểu”. Trong những quan điểm về giáo dục, Khổng Tử đã đưa ra một số quan điểm về người thầy. Trong tư tưởng về giáo dục, ông có tư tưởng phân chia đối tượng giữa “quân tử” và “tiểu nhân”, theo đó ông chỉ chủ trương dạy cho những người quân tử. Nhưng ông không có sự phân chia đẳng cấp giữa người giàu và người nghèo. Nếu như, thời trước việc học tập do nhà nước tổ chức để dạy con cái giới quý tộc. Đến thời Khổng Tử các trường tư đã được mở ra, ai cũng có thể vào học được, miễn là có khả năng tiếp thu và chí tiến thủ, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn. Đây là điểm tiến bộ trong chủ trương giáo dục của Khổng Tử. Khổng Tử nói: “Kẻ nào đến ta xin nhập môn, dâng lên ta (một xâu thịt khô hay một bó nem), ta chưa hề chê lễ mọn mà từ chối dạy”.[43, tr.1220] Đối với với Khổng Tử, người thầy dạy học không nên vì vật chất, tiền bạc mà lựa chọn người học bởi theo ông, người thầy chính là mẫu người “quân tử”, cuộc sống của người thầy chỉ cần “nghèo mà vui”. Và như thế sẽ: học không biết chán, dạy không biết mệt. Khổng Tử và các học trò coi những quan hệ chính trị – đạo đức là những quan hệ nền tảng của xã hội. Theo đó thì người quân tử phải là người có “Nhân” và “Đức nhân”. Nhân theo nghĩa thứ nhất là “Ái nhân”. Là lòng thương người, là đạo làm người, là cách cư xử với mình với người. Phàn Trì, một học trò hỏi về nhân, Khổng Tử đáp: “Ái nhân”.[2, tr.48] Trung và thứ là hai khía cạnh của nhân. Khi nói về chữ trung, ông cho rằng: “Phù nhân giả, kỉ dục lập nhi lập nhân, kỉ dục đạt nhi đạt nhân”,[17, tr.340] theo đó thì điều gì mình muốn làm cho mình thì cũng hãy cố gắng làm cho người khác. Mình muốn lập thân thì hãy giúp người khác lập thân, mình muốn thành đạt thì hãy giúp người khác thành đạt. Thứ tức là lòng vị tha. Tử Cống hỏi: Có một chữ nào mà trọn đời mình có thể làm theo chăng? Khổng Tử đáp: “Có chữ thứ. Nghĩa là: Điều mình không muốn thì đừng làm cho người khác” (Kỉ sở bất dục vật thi ư nhân).[2, tr.48-49] Đã là người nhân thì phải biết thương người nhưng cũng phải biết ghét người, ghét những kẻ bất nhân cũng chính là việc thực hiện điều nhân vậy.
Đối với bản thân mình thì tuân theo lễ là một điều kiện để thực hiện nhân đức (Khắc kỷ phục lễ vi nhân).[17, tr.471]
Nhân gắn liền với nghĩa. Đó là hành vi đạo đức biểu hiện lòng thương người và theo đó thì người làm việc nghĩa thì sẽ hy sinh lợi ích của cá nhân vì lợi ích của người khác. Nghĩa và lợi thì không thể dung hợp với nhau. Theo Khổng Tử thì: “Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi”. [2,tr.49] Muốn thực hiện điều nhân thì đòi hỏi có dũng và trí. Có dũng mà không có trí thì sẽ hại mình, có trí thì sẽ biết giúp người mà không hại đến mình, đến người, mới biết nên yêu người hay là ghét người.
Để thực hiện nhân luôn hợp với lễ, Nho giáo đưa ra thuyết chính danh. Ông nói: “Danh bất chính tác ngôn bất thuận. Ngôn bất thuận tắc sự bất thành. Sự bất thành tắc lễ nhạc bất hưng. Lễ nhạc bất hưng tắc hình phạt bất trúng. Hình phạt bất trúng tắc dân vô sở thố thủ túc”.[20, tr.196-197] Theo Khổng Tử thì người nào, phận nào thì phải làm đúng phận và danh đó. Như vậy, theo quan điểm của ông thì người thầy giáo phải làm đúng cái danh mà người thầy giáo đảm nhận. Cụ thể hơn, Nho giáo xếp người thầy giáo vào bậc quân tử.
Những quan điểm về người thầy ít được Nho giáo đề cập, nó chỉ thể hiện ở một số câu đối thoại giữa Khổng Tử và học trò của mình. Các nhà nho sau này đã mượn hình tượng người thầy của mình để xây rèn luyện thân mình. Nho giáo đã xây dựng nên hình tượng người quân tử với nhiều phẩm chất tốt đẹp, đó cũng chính là hình tượng người thầy giáo trong Nho giáo. Khổng tử đề ra mục tiêu của giáo dục là nhằm giúp cho người ta trở thành người nhân nghĩa, trung chính, hiểu được cái đạo của người quân tử. Chính vì vậy, một trong những nguyên tắc hàng đầu của nghề giáo là phương pháp “thân giáo” (gương mẫu). Có nghĩa là lấy bản thân mình làm tấm gương cho học sinh noi theo, từ trong cách đi đứng, nói năng, xử sự… vì lẽ đó mà Không Tử đã được các học trò hết lời ca ngợi, đặc biệt là những phẩm chất đạo đức với nghề dạy học. Nho giáo rất đề cao sự học, theo họ “nữa chữ cũng nhờ thầy”, “không thầy đố mày làm nên”… Nho giáo đặt vị trí người thầy lên hàng đầu, là yếu tố quyết định đối với việc thịnh trị của xã hội. Những tư tưởng này khi vào Việt Nam đã được các nhà nho yêu nước kế thừa và phát triển phù hợp vời truyền thống “tôn sư trọng đạo” của dân tộc.
Trong quá trình hình thành, phát triển và tiến bộ của xã hội loài người. Nhu cầu lưu giữ và truyền đạt kinh nghiệm từ đời này sang đời khác đã trở nên thiết yếu trong quá trình tìm hiểu và chinh phục tự nhiên. Trong quá trình ấy, giáo dục chiếm một vị trí quan trọng. Vào giữa thế kỷ XIX, học thuyết của chủ nghĩa Mác – Lênin là một học thuyết mang tính khoa học và cách mạng triệt để nhất trong lịch sử tư tưởng của nhân loại. Học thuyết Mác – Lênin đã vạch ra những quy luật khách quan trong sự vận động, phát triển của tự nhiên và xã hội, nó đã chỉ ra quy luật của sự hình thành nhân cách của con người, mở ra nhiều khả năng thực tế cho việc cải tạo xã hội và giới tự nhiên.
Trong học thuyết của mình, các lãnh tụ vĩ đại của chủ nghĩa Mác – Lênin đã trình bày nhiều nội dung quan trọng, đã luận giải hàng loạt các vấn đề của tự nhiên, xã hội và tư duy. Song trùng với những kiến giải hết sức khoa học – thực tiễn ấy, C. Mác – Ph. Ăngghen, Lênin cũng luôn quan tâm tới vấn đề giáo dục, chỉ rõ vai trò của giáo dục đối với việc phát triển kinh tế – xã hội và sự phát triển nhân cách của con người. C. Mác, Ph. Ăngghen và sau này là V. I. Lênin khi thừa nhận vai trò quyết định của nhân tố kinh tế – xã hội trong việc hình thành con người và nhân cách con người. Các ông đều khẳng định: Con người là chủ thể của lịch sử, là lực lượng tự giác, tích cực, sáng tạo ra lịch sử. C. Mác viết:
“Cái học thuyết duy vật cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục, rằng do đó con người đã biến đổi là sản phẩm của những hoàn cảnh khác và của một nền giáo dục đã thay đổi, cái học thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục,…Sự phù hợp giữa sự thay đổi của hoàn cảnh với hoạt động của con người, chỉ có thể được quan niệm và được hiểu một cách hợp lý khi coi đó là thực tiễn cách mạng”.[22, tr.18]
Trong luận điểm này, C. Mác đã vạch ra những hạn chế của những quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước mình. Khi chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVIII ở Pháp luôn coi nhân cách của con người là sản phẩm của hoàn cảnh và giáo dục. Luận điểm này đã có những tác dụng nhất định trong việc chống lại chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo coi nhân cách con người là cái có sẵn, hoặc nhân cách ấy theo họ là được thần thánh ban cho hay đó là sự “hồi tưởng” lại thế giới mà kiếp trước con người đã sống. Nhưng bản thân luận điểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác vẫn mang tính phiến diện, bản thân nó chỉ thấy được một mặt của vấn đề. Một mặt khác nữa là, con người đã biến đổi hoàn cảnh bằng những hoạt động thực tiễn của mình. Theo đó, C. Mác đã cho rằng: con người là sản phẩm của một nền giáo dục nhất định, nhưng chúng ta không được tuyệt đối hóa vai trò của giáo dục. Nếu tuyệt đối hóa giáo dục sẽ dấn đến việc đặt một bộ phận (những người đi giáo dục, những nhà giáo dục) đứng lên trên xã hội và bộ phận còn lại chỉ là sản phẩm thụ động của một chế độ giáo dục nhất định. Thật ra mà nói, những nhà giáo dục chưa phải là những con người hoàn thiện nhất, họ luôn nhận được sự giáo dục từ xã hội. Con người cũng không phải là sản phẩm của một nền giáo dục nhất định. Bởi vì, những cá nhân tiên tiến tuy được giáo dục trong nhà nước của đế quốc, thực dân chẳng những không tiêm nhiễm những tư tưởng do nhà trường cũ nhồi nhét. Ngược lại, bản thân họ đã có tư duy mang tính độc lập, họ phân biệt được đâu là đúng, đâu là sai, những gì là thành quả của sự phát triển văn minh nhân loại và những gì chỉ là sản phẩm của một chế độ xã hội lỗi thời.
Trong lĩnh vực giáo dục, Ph. Ăngghen cũng có những cống hiến đặc biệt nổi bật, cùng với C.Mác, người đã đặt nền móng vững chắc cho việc xây dựng và phát triển nền giáo dục vô sản. Ph. Ăngghen cho rằng, mỗi chế độ xã hội cần có một nền giáo dục tương ứng với trình độ phát triển của xã hội và sản xuất. Bằng phương pháp duy vật lịch sử, Ph. Ăngghen đã phân tích một cách khoa học và rõ ràng mối quan hệ biện chứng thúc đẩy lẫn nhau và tạo điều kiện cho nhau giữa xã hội, giữa nền sản xuất và con người. Theo đó, xã hội cần có và tạo điều kiện cho con người phát triển, đồng thời chính con người đến lượt mình, lại thúc đẩy xã hội phát triển. Giáo dục có trọng trách to lớn trong việc tạo nên những con người đó cho xã hội và cho sản xuất. Ph. Ăngghen nhấn mạnh: “Muốn thay đổi những điều kiện xã hội phải có một chế độ giáo dục thích hợp”[24, tr.771], và
“nền công nghiệp do toàn xã hội thực hiện một cách tập thể và có kế hoạch lại càng cần có những con người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông toàn bộ hệ thống sản xuất”.[23, tr.474]
Ông luận giải một cách khoa học đầy thuyết phục về vai trò to lớn của giáo dục đối với sự phát triển của xã hội, ông đã chỉ rõ giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cá nhân, thông qua đó giáo dục góp phần quyết định sự vận động và phát triển của xã hội.
Những vấn đề cơ bản, chủ yếu của nền giáo dục trong xã hội mới như vấn đề mục đích, bản chất, tính chất, phương châm, nguyên tắc, nguyên lý giáo dục, vai trò của nhà nước, của xã hội đối với giáo dục… đều được Ph. Ăngghen trình bày và luận giải một cách sâu sắc, tạo nền tảng lý luận rất cơ bản cho sự hình thành và phát triển nền giáo dục vô sản tương lai. Theo Ph. Ăngghen, nền giáo dục XHCN là một nền giáo dục “thống nhất cho tất cả mọi người, tiến hành cho đến lứa tuổi mà người ta có thể trở thành một thành viên độc lập của xã hội”[21, tr.370], là nền giáo dục thực hiện “giáo dục phổ thông do nhà nước cấp kinh phí cho tất cả trẻ em, không trừ một ngoại lệ nào”.[21, tr.370] Đó còn là nền giáo dục thực hiện “công bằng” trong giáo dục, tạo điều kiện để mọi người phát triển toàn diện tài năng của mình, đảm bảo cung cấp một cách hậu hỉ học phí cho những tài năng để “họ có thể hoàn thành việc học tập” và cất nhắc họ nhanh chóng về chức vụ, tạo điều kiện cho họ cống hiến và phát triển. Và, Giáo dục phải “làm cho những thành viên trong xã hội đó có khả năng sử dụng một cách toàn diện năng lực phát triển toàn diện của mình”[23, tr.475], phải “phát triển một cách tương xứng năng lực của con người sử dụng những phương tiện”.[23, tr.474]
Ph. Ăngghen nêu lên những tư tưởng rất cơ bản về nguyên lý, phương châm, phương pháp, hình thức và nội dung giáo dục, khẳng định dạy học phải lấy người học làm trung tâm, dạy học phải phát huy tối đa tính sáng tạo và tích cực của người học, giáo dục phải kết hợp với tự giáo dục, giáo dục phải đảm bảo học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục gắn liền với lao động, sản xuất. Luận đề cơ bản mà Ph. Ăngghen nêu lên: “Kết hợp việc giáo dục với lao động trong công xưởng” [23, tr.471] đã chỉ rõ phương châm, nguyên lý giáo dục gắn với thực tiễn, gắn với sản xuất, học đi đôi với hành, giáo dục phải phục vụ cho sản xuất và nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, của sản xuất, chỉ rõ yêu cầu của giáo dục và yêu cầu của sản xuất phải gắn bó chặt chẽ với nhau, quy định và đòi hỏi lẫn nhau, phải kết hợp với nhau.
Lênin đã kế thừa, vận dụng và phát triển những tư tưởng của C.Mác và Ph. Ăngghen về giáo dục vào trong thực tiễn cách mạng nước Nga, xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước Nga vào những thập niên đầu của thế kỷ XX. Lênin đã khẳng định vai trò to lớn của công tác giáo dục, coi đó là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng CNXH. Lênin nói:
“Sự nghiệp của nhà trường chúng ta cũng là đấu tranh đánh đổ giai cấp tư sản, chúng ta tuyên bố công khai rằng: nói nhà trường đứng ngoài cuộc sống, ngoài chính trị, là nối dối và lừa bịp”, “ Những người lao động khao khát có tri thức, vì tri thức cần cho họ để chiến thắng. Chín phần mười quần chúng lao động đã hiểu rõ rằng tri thức là một vũ khí trong cuộc đấu tranh tự giải phóng của họ, rằng sở dĩ họ thất bại là do thiếu học thức, rằng giờ đây việc làm cho mọi người có thể thực sự được học hành, là do bản thân họ quyết định. Sự nghiệp của chúng ta sẽ thắng vì bản thân quần chúng đã bắt tay xây dựng một nước Nga mới, xã hội chủ nghĩa”.[18, tr.103-106]
Theo đó, một trong những điều kiện cơ bản, tiên quyết để nâng cao năng suất lao động là phải nâng cao trình độ học vấn và văn hóa cho quần chúng nhân dân lao động. Điều này, chỉ có thể thực hiện được và thực hiện đạt hiệu quả tối ưu nhất là thông qua giáo dục và bằng giáo dục. Nhận thức một cách sâu sắc tầm quan trọng của công tác giáo dục trong sự nghiệp chấn hưng đất nước nên trong Dự thảo cương lĩnh của Đảng Cộng sản Nga tháng 2/1919 Lênin nói:
“Nhà trường phải trở thành một công cụ của chuyên chính vô sản, nghĩa là nhà trường không những phải truyền bá những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản nói chung, mà còn phải là một công cụ truyền bá ảnh hưởng về tư tưởng, về tổ chức và giáo dục của giai cấp vô sản vào những tầng lớp nửa vô sản và không phải vô sản trong quần chúng lao động, nhằm hoàn toàn đập tan sự kháng cự của bọn bóc lột và thực hiện chế độ cộng sản,… Kết hợp chặt chẽ công tác giáo dục với lao động sản xuất”. [19, tr.140-141]
Bên cạnh những quan điểm về giáo dục và đào tạo nêu trên, Lênin còn đưa ra khẩu hiệu nổi tiếng: “Học, học nữa, học mãi!”, đã trở thành khẩu hiệu, thành câu châm ngôn của hàng triệu, triệu các thế hệ không chỉ của nền giáo dục ở Nga, mà còn là khẩu hiệu của nền giáo dục ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Như vậy, cả C. Mác, Ph. Ănghen và Lênin đều khẳng định vai trò to lớn của giáo dục và đào tạo đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội và sự tác động trở lại của phát triển kinh tế – xã hội đối với giáo dục và đào tạo, chỉ rõ ý nghĩa lớn lao và vai trò quyết định của giáo dục và đào tạo đối với việc phát triển con người.
1.2. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC
Với cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người tìm đường, mở đường và dẫn đường cho nhân dân ta đi đến độc lập tự do, nước mạnh dân giàu. Gắn liền với sự nghiệp cách mạng vĩ đại đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người sáng lập ra nền giáo dục khoa học và cách mạng của dân tộc, tạo ra được nguồn động lực to lớn đưa Việt Nam sánh vai cùng các nước trên thế giới. Từng là nhà giáo dục, người thầy giáo, với tầm nhìn thời đại, Hồ Chí Minh đã đưa ra những mục tiêu của giáo dục cách mạng. Trong “Thư gửi các học sinh” nhân ngày khai trường năm học mới đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 9/1945. Người viết:
“Trước đây cha anh các em, và mới năm ngoái cả các em nữa, đã phải chịu nhận một nền học vấn nô lệ, nghĩa là nó chỉ đào tạo nên những kẻ làm tay sai, làm tôi tớ cho một bọn thực dân người Pháp. Ngày nay các em được cái may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”.[49, tr.71-72]
Theo đó, nền giáo dục cách mạng sẽ hướng đến mục tiêu đào tạo ra những con người có ích cho xã hội, cho đất nước Việt Nam. Con người phải được đào tạo trên nền tảng kiến thức vững chắc, có kỹ năng sáng tạo nhưng đồng thời mỗi cá nhân được giáo dục phải có ý thức về dân tộc để ra sức không ngừng học tập chinh phục những đỉnh cao tri thức để phục vụ, công hiến cho xã hội. Bên cạnh đó cá nhân được giáo dục phải có sức khỏe tốt để lao động tốt, “một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”.[26, tr.40] Đồng thời “Học để sửa chữa tư tưởng” “Học để tu dưỡng đạo đức cách mạng”.[28, tr.50] Học không chỉ đơn thuần để hiểu, để biết mà còn để sửa mình, chấn chỉnh, rèn luyện mình. Học còn để sửa chữa tư tưởng vì có rất nhiều tư tưởng phi cách mạng, nhiều tư tưởng chưa thật đúng, phải học tập để sửa lại cho đúng. Khi tư tưởng đã đúng thì hành động không sai lạc, như thế mới làm tròn được nhiệm vụ cách mạng. Bên cạnh tài năng người rất coi trọng đức của con người. Người yêu cầu phải học để tu dưỡng đạo đức của người cách mạng. Người khẳng định đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối:
“Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.[27, tr.489]
Theo quan điểm của Người, những mục tiêu đó của giáo dục có quan hệ biện chứng với nhau. Có phẩm chất chính trị và trình độ chuyên môn, mà thiếu phẩm chất đạo đức với ý nghĩa là gốc, là nguồn thì cũng vô dụng. Người dạy rằng: “Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì ?”.[27, tr.490] Ngoài ra, “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”.[27, tr.684]
Bên cạnh việc đưa ra mục tiêu mà giáo dục cần hướng đến. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn rất quan tâm đến nội dung của giáo dục. Theo đó, nội dung giáo dục phải toàn diện từ văn hóa, chính trị, khoa học – kỹ thuật cho đến chuyên môn nghiệp vụ, lao động… Các nội dung đó có mối quan hệ mật thiết với nhau. Theo Người, học chính trị là học chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Cách học phải sáng tạo, không giáo điều. Học để nắm các quan điểm có tính nguyên tắc, phương pháp luận. Học chủ nghĩa Mác – Lê nin, như Người nói, không phải để “thuộc sách lầu lầu” , mà là
“… Học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm”.[31, tr.299-300]
Học tập khoa học kỹ thuật để đáp ứng đòi hỏi của thời đại mới, thời đại của cách mạng khoa học – công nghệ đang phát triển như vũ bão. Có thể khái quát tư tưởng về nội dung giáo dục của Người qua các điểm sau đây:
Một là: Cần phải giáo dục tinh thần yêu nước, nâng cao trình độ lý luận chính trị cho tất cả mọi tầng lớp nhân dân.
Đây là nội dung giáo dục cơ bản nhất đã được thể hiện trong hầu hết các bài phát biểu, bài viết, trong từng việc làm và hành động của Người. Đối với dân tộc Việt Nam, truyền thống yêu nước không chỉ là một tình cảm tự nhiên, mà nó còn là sản phẩm của lịch sử được hun đúc từ chính lịch sử đau thương mà hào hùng của dân tộc Việt Nam. Lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh giành lại và bảo vệ nền độc lập tự chủ từ tay bao kẻ thù xâm lược. Nếu nhìn lại lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta dưới thời đấu tranh chống phong kiến phương Bắc thì đây là khoảng thời gian khá dài nó tương đương trên dưới cả thiên niên kỷ. Chính vì vậy mà tinh thần yêu nước đã ngấm sâu vào tình cảm, vào tư tưởng của mỗi người dân Việt Nam qua tất cả các thời đại, làm nên một sức mạnh kỳ diệu, giúp cho dân tộc ta đánh thắng hết kẻ thù này đến kẻ thù khác, cho dù chúng có hùng mạnh đến đâu. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết trong Báo cáo Chính trị đọc tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, tháng 2 năm 1951:
“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Chúng ta có quyền tự hào vì những trang sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng”.[28, tr.171-172]
Đối với mỗi con người Việt Nam dù sinh sống ở đâu trên khắp trái đất này thì lòng luôn hướng về Tổ quốc, nếu cần họ cũng sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc thân yêu, nhất là mỗi khi Tổ quốc cần. Lòng yêu nước ở mỗi người dân Việt nam đã được thể hiện ở tinh thần dám xả thân vì nước, sẵn sàng đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích riêng tư của bản thân mình, đấu tranh không biết mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc. Có thể nói rằng, lòng yêu nước, tinh thần dân tộc luôn là đỉnh cao trong mọi giá trị của dân tộc. Hồ Chí Minh cho rằng việc giáo dục tinh thần yêu nước là yếu tố cốt lõi nhất, cơ bản nhất và quan trọng nhất trong các nội dung giáo dục. Bởi vì, tinh thần yêu nước và tự giáo dục, trau dồi, bồi dưỡng tinh thần yêu nước là một trong những yếu tố của đạo “Nhân”, để thực hiện đạt “đạo làm người” nhất thiết mỗi cá nhân phải có lòng yêu thương con người, đặc biệt là tình yêu thương giống nòi, yêu thương đồng loại không chỉ cá thể của những con người trong một quốc gia, dân tộc mà còn phải có tinh thần quốc tế trong sáng. Hồ Chí Minh từng nói:
“Tinh thần yêu nước cũng giống như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”.[28, tr.172]
Người còn nói: “Tinh thần yêu nước chân chính khác hẳn với tinh thần “vị quốc” của bọn đế quốc phản động. Nó là một bộ phận của tinh thần quốc tế”.[28, tr.172]. Theo Người, tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế trong sáng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong điện chúc mừng tới Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên Kim Nhật Thành nhân kỷ niệm ba năm kháng chiến của nhân dân Triều Tiên, ký bút danh Đ.X, đăng báo Cứu quốc, số 2367. Người đã nhấn mạnh: Tinh thần yêu nước và tinh thần Quốc tế liên hệ khăng khít với nhau. Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hoà bình thế giới. Nếu tinh thần yêu nước không chân chính và tinh thần quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn đến chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, hoặc chủ nghĩa bành trướng bá quyền, kỳ thị chủng tộc… Những khuynh hướng sai lệch ấy có thể dẫn đến chỗ phá vỡ một quốc gia dân tộc hay một liên bang đa quốc gia dân tộc, phá vỡ tình đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chung, thậm chí có thể đưa đến tình trạng đối đầu đối địch.
Nói về vai trò của lòng yêu nước và tính thực tiễn đầy giá trị của nó trước khi yêu cầu phải xem nội dung này ở vị trí đỉnh cao. Người dẫn chứng:
“Chính do tinh thần yêu nước mà quân đội và nhân dân Liên Xô đã đánh tan bọn phát xít Đức – Nhật và giữ vững tổ quốc xã hội chủ nghĩa, và do đó mà giúp đỡ giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Chính do tinh thần yêu nước mà quân giải phóng Trung Quốc đã đánh tan bọn bán nước và Tưởng Giới Thạch và đuổi được bọn đế quốc Mỹ… Chính do tinh thần yêu nước mà quân đội và nhân dân ta đã mấy năm trường chịu đựng trăm đắng nghìn cay, kiên quyết đánh cho tan bọn thực dân cướp nước và bọn Việt gian phản quốc, kiên quyết xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do, phú cường, một nước Việt Nam dân chủ mới”[28, tr.173]
Bên cạnh yêu cầu phải giáo dục tinh thần yêu nước. Hồ Chí Minh rất quan tâm chú trọng đến việc giáo dục, nâng cao trình độ lý luận chính trị cho mọi người. Đây là một công việc có ý nghĩa sâu sắc, là động lực quan trọng trong đấu tranh chống kẻ thù. Theo Hồ Chí Minh, lý luận đã giúp con người hiểu được bản chất, quy luật, xu thế phát triển của sự vật, hiện tượng và thực tiễn đã và luôn đặt ra yêu cầu cần có lý luận khoa học hướng dẫn, soi đường. Người nói:
“Lý luận quan trọng đối với Đảng ta như thế nào? Lênin, người thầy vĩ đại của chúng ta đã tóm tắt tầm quan trọng của lý luận trong mấy câu như sau: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” và chỉ có Đảng nào có lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn được vai trò chiến sĩ xung phong”[30, tr.497].
Và, thực tiễn mà không có lý luận không khác gì “đi trong đêm tối vừa chậm chạp, vừa hay vấp váp”, có lý luận mới thấy được con đường sáng tỏ, có được định hướng, hành động mới thật sự đúng hướng và mang lại kết quả cao. Để nâng cao trình độ nhận thức về lý luận chính trị cho mọi người, Hồ Chí Minh yêu cầu phải chú trọng giáo dục lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Vì lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin là
“Khoa học về các quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội; khoa học về cách mạng của quần chúng bị áp bức và bóc lột; khoa học về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở tất cả các nước; khoa học về xây dựng chủ nghĩa cộng sản”.[30, tr.499-500]
Do đó, nâng cao trình độ lý luận là yêu cầu nhất thiết trong đào tạo và bồi dưỡng cán bộ cách mạng “vừa hồng vừa chuyên”.
Hai là: Phải giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho mọi tầng lớp nhân dân. Người yêu cầu phải không ngừng tu dưỡng đạo đức cách mạng, theo đó đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối.
Người phân tích: Người nào có đức mà không có tài thì cũng chẳng khác gì ông bụt ngồi trong chùa, không làm hại ai, nhưng cũng chẳng có ích gì. Ngược lại, nếu có tài mà không có đức thì cũng chẳng khác gì một anh làm kinh doanh giỏi, đem lại nhiều lãi, nhưng lãng phí, tham ô, ăn cắp của công, thì như vậy chỉ có hại cho dân, cho nước, còn sự nghiệp của bản thân thì sớm muộn cũng đổ vỡ. Người thực sự có đức thì bao giờ cũng cố gắng học tập, nâng cao trình độ, nâng cao năng lực, tài năng để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào việc xây dựng đội ngũ giáo viên trung học phổ thông ở Ninh Thuận hiện nay Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào việc xây dựng đội ngũ giáo viên trung học phổ thông ở Ninh Thuận hiện nay
F:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2015\TRIET\Giang


