Từ ngữ chỉ giới trong ca dao người Việt

Từ ngữ chỉ giới trong ca dao người Việt

Từ ngữ chỉ giới trong ca dao người Việt

1. Tính cấp thiết của đề tài

Bình đẳng giới là lĩnh vực rộng và có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Bình đẳng giới hiện nay là vấn đề quan trọng được nhiều nước, nhiều quốc gia quan tâm. Như vậy, bình đẳng giới không là vấn đề riêng của giới nữ, của quốc gia mà là mục tiêu phấn đấu thúc đẩy thực hiện của nhiều quốc gia.

Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất đối với con người. Ngôn ngữ không chỉ có chức năng củng cố và duy trì tồn tại xã hội. Với cách nhìn này, từ góc độ giới có thể nhận thấy, ngôn ngữ phán ánh quan niệm, cách nhìn nhận của con người về giới mà còn có thể tác động, góp phần vào việc thay đổi nhận thức của con người về giới.

Trong những năm gần đây, ngôn ngữ học xã hội – một ngành mới phát triển rất quan tâm đến vấn đề ngôn ngữ và giới tính. Một trong những mối quan tâm của ngôn ngữ xã hội học là vấn đề giới và giới tính trong ngôn ngữ. Có thể nói, ngôn ngữ về giới là những vấn đề luôn hấp dẫn và luôn được coi là mới, phát triển mạnh của ngôn ngữ xã hội học. Vấn đề về giới là chủ đề rất lớn liên quan đến nhiều mặt của đời sống con người như nhận thức, thói quen, văn hóa, xã hội…Về mặt lí luận, giới không chỉ trong quan hệ xã hội, luật pháp, thể chế giáo dục mà còn tác động đến giao tiếp xã hội, phát triển xã hội và nhận thức. Về mặt thực tiễn, vấn đề giới liên quan mật thiết đến sự thay đổi quan niệm về đời sống, vị thế ở gia đình cũng như ngoài xã hội giữa nam và nữ. Giới thể hiện qua ca dao như thế nào thì cần có sự giải đáp cụ thể qua điều tra, khảo sát, phân tích tư liệu.

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, ca dao là một thể loại chiếm số lượng khá lớn. Ngay từ thuở xa xưa, lúc chưa có ngành khoa học về ngôn ngữ, các dân tộc đã đúc kết những kinh nghiệm vào lời ăn tiếng nói của mình và cho đến nay, những kinh nghiệm này vẫn còn nguyên giá trị. Cho dù chỉ mới là kinh nghiệm, nhưng tính triết lí dân gian đó vẫn giàu sức thuyết phục và có thể sẽ sống mãi với thời gian. Bởi vì ca dao Việt Nam là sự đúc kết vốn sống, kinh nghiệm thực tế được khái quát hóa thành triết lí một cách hình tượng, hàm súc, Ở ca dao, ta có thể thấy cả một kho tài liệu hết sức phong phú, đa dạng về phong tục tập quán của nhân dân lao động. Nó phản ánh trung thực nhất hiện thực xã hội và cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của con người. Và dường như qua ca dao đời sống nội tâm của con người được diễn đạt vô cùng giản dị, mộc mạc nhưng rất phong phú, sâu sắc. Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện hữu và nuôi dưỡng mọi thế hệ con người trên đất nước Việt Nam thân yêu. Vì vậy, mà bất cứ thế hệ nào cũng đều yêu quý, trân trọng ca dao Việt Nam.

Chính vị trí đặc biệt quan trọng của ca dao trong kho tàng văn học dân gian cũng như trong lòng độc giả thưởng thức mà việc tìm hiểu ca dao ở bất kỳ phương diện nào cũng được xem là một bước khám phá rất có ý nghĩa. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về ca dao trên nhiều bình diện, góc độ. Và chúng ta không thể bỏ qua một mảng đề tài phản ánh nhận thức, tình cảm của xã hội thể hiện trong ca dao khá đậm nét là từ ngữ chỉ giới .Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài tìm hiểu “Từ ngữ chỉ giới trong ca dao người Việt”.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài góp phần tìm hiểu một lĩnh vực còn khá mới mẻ và thú vị trong nghiên cứu ngôn ngữ từ góc độ ngôn ngữ học xã hội. Với phạm vi nghiên cứu là ca dao, chúng tôi mong muốn đưa ra những quan niệm mới, cách nhìn khái quát hơn về giới trong các sáng tác dân gian phong phú này, nhằm góp phần xây dựng được hệ thống đặc điểm từ ngữ chỉ giới trong ca dao dưới góc nhìn ngôn ngữ học trên hai bình diện từ vựng và ngữ nghĩa. Và qua đó, chúng tôi mong muốn tìm hiểu thêm những biểu hiện phong phú về tâm hồn, tình cảm, tư tưởng quan niệm của dân gian về từ ngữ chỉ giới qua ca dao người Việt đồng thời nâng cao nhận thức về sự ảnh hưởng, giá trị, ý nghĩa của văn học dân gian nhất là ca dao đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Từ ngữ chỉ giới trong ca dao người Việt.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là khảo sát Kho tàng ca dao người Việt (tập 1,2,3) của Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật chủ biên, năm 1995, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.

4. Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, ngoài những phương pháp, thủ pháp nghiên cứu khoa học chung, luận văn sử dụng phương pháp miêu tả – phân loại và hệ thống hoá. Phương pháp này dùng để xác định tập hợp các đặc trưng khu biệt của ngữ liệu ở các cấp độ theo từng nội dung đề ra.

Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng thêm một số thủ pháp, đó là:

    • Thủ pháp thống kê ngôn ngữ học, sử dụng để xử lí khối ngữ liệu như: thu thập ngữ liệu, thống kê ngữ liệu, tính tần số để phân loại, xếp hạng, đánh giá.
    • Thủ pháp phân tích vị từ tham tố và phân tích ngữ cảnh: Chúng tôi tiến hành phân tích các đơn vị ca dao để lí giải được đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng của các đơn vị ca dao, bám vào các nhân tố ngữ cảnh, văn cảnh như ngữ cảnh tình huống, ngữ cảnh văn hóa, mục đích giao tiếp…

5. Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo; phần nội dung luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Khái quát chung

Chương 2: Đặc điểm từ ngữ chỉ giới trong ca dao người Việt

Chương 3: Giá trị biểu đạt của từ ngữ chỉ giới trong ca dao người Việt

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT CHUNG

1.1. KHÁI QUÁT VỀ GIỚI VÀ GIỚI TÍNH

1.1.1. Giới thiệu thuật ngữ về giới và giới tính

Quan điểm giới mới được du nhập vào Việt Nam nhưng đã có tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Vấn đề về giới và giới tính không phải là vấn đề mới nhưng chưa có quan điểm nào luận bàn đầy đủ về giới, giới tính; giữa giới và giới tính cũng không có sự tách biệt rõ rệt. Vì thế, trên cơ sở tiếp thu những thành quả đi trước, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu và đưa ra quan niệm của mình.

Sự tồn tại và phát triển của xã hội đều do con người (nam giới và nữ giới) xây dựng nên. Cả nam và nữ đều là lực lượng lao động to lớn đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Mặc dù phụ nữ có vai trò quan trọng, đóng góp to lớn vào sự phát triển của kinh tế, xã hội cũng như trong gia đình, song ở một số nơi, họ lại không được xem trọng, không có được vị trí tương xứng so với nam giới trong mọi lĩnh vực. Qua nghiên cứu và tìm hiểu, chúng tôi đã thu thập được một vài số liệu sau: Tỷ lệ phụ nữ chiếm 50,8% dân số, nam chiếm 49,2% dân số. Lao động nữ chiếm 48 %, lao động nam chiếm 52 %. Số giờ làm việc nhà trong ngày của phụ nữ nhiều hơn nam giới từ 3-5 giờ. Thu nhập của phụ nữ làm công ăn lương bằng 75% thu nhập của nam giới. Tỷ lệ phụ nữ tham gia quản lý lãnh đạo dưới 15%. Qua vài số liệu trên, bước đầu chúng ta thấy có sự khác nhau giữa nam giới và nữ giới. Phụ nữ chiếm hơn nửa dân số, là lực lượng lớn, có những đóng góp to lớn quan trọng vào sự phát triển của đất nước nhưng sự tham gia hoạt động và hưởng lợi của phụ nữ và nam giới khác nhau. Vậy xã hội quan niệm, nhìn nhận về vai trò, trách nhiệm trong gia đình, ngoài xã hội, tính cách, hành vi ứng xử của phụ nữ và nam giới có những khác biệt, cụ thể:

Phụ nữNam giới
Làm việc nhà

Phục vụ gia đình

Dịu dàng

Kiên nhẫn

Điềm đạm

Làm công việc giản đơn

Thừa hành

Lao động, kiếm thu nhập

Trụ cột gia đình

Mạnh mẽ

Quyết đoán

Nóng nảy

Làm công việc kĩ thuật

Lãnh đạo

Những đặc điểm nêu trên cho thấy, nam giới có thể thực hiện thì phụ nữ cũng có thể thực hiện. Như vậy, chúng ta nhận ra rằng, xã hội quan niệm có sự khác biệt rõ rệt giữa nữ giới và nam giới về vai trò, trách nhiệm, quyền hạn và hành vi ứng xử và những quan niệm này có thể thay đổi được. Vậy, sự khác biệt xã hội giữa nữ giới và nam giới do xã hội và con người tạo nên gọi là giới.

Theo luật bình đẳng giới năm 2006 tại điều 2, khoản 5, giới là thuật ngữ chỉ sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới về vị trí, vai trò, quyền hạn và hành vi ứng xử trong bối cảnh cụ thể, trong tất cả các mối quan hệ xã hội. Về cơ bản, giới cấu thành từ 3 góc nhìn: giới tính sinh học, mong đợi xã hội (như văn hóa, truyền thống…), bản dạng giới (cảm nhận của mỗi cá nhân về giới tính của mình). Giới tính: là chỉ sự khác biệt sinh học giữa nam và nữ.

Từ ngữ chỉ giới trong ca dao người Việt
Từ ngữ chỉ giới trong ca dao người Việt

Theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa năm 2012, giới là lớp người trong xã hội phân theo một đặc điểm rất chung nào đó, về nghề nghiệp, địa vị xã hội. Giới tính là những đặc điểm chung để phân biệt nam với nữ, giống đực với giống cái. [40, tr.526]

Như vậy, chúng ta thấy rất rõ sự khác biệt giữa giới và giới tính. Khái niệm giới được nhìn không chỉ ở góc độ sinh học mà còn ở nhiều góc độ khác: xã hội học, tâm lí học, lịch sử, địa lí,… Còn giới tính chỉ thuần ở góc độ sinh học, chỉ những đặc điểm để phân biệt nam, nữ, giống đực, giống cái. Rõ ràng, giới là sự khác biệt mang tính xã hội (không phải sự khác biệt về sinh học), chỉ sự tương quan về vai trò xã hội, vị trí và giá trị xã hội giữa phụ nữ và nam giới.

1.1.2. Khái lược về đặc điểm giới và giới tính

Giới có đặc trưng xã hội, do xã hội và con người tạo nên. Không mang tính di truyền, mà mang tính tập nhiễm, đa dạng theo vùng miền, dân tộc, tập quán của cộng đồng xã hội đó tạo nên. Giới có tính biến thiên, có thể thay đổi được bởi nhiểu tác động. Vì vậy, xã hội và con người cần thúc đẩy để tạo nên quan hệ giới tiến bộ.

Giới tính có đặc trưng sinh học, tự nhiên, có yếu tố bẩm sinh, vì vậy không thay đổi được. Giới tính giống nhau ở mọi nơi, không phụ thuộc thời gian, không gian cụ thể nào, ở bất cứ nơi nào trên thế giới, vào bất kì giai đoạn lịch sử nào cũng đều giống nhau. Giới tính biến đổi theo quy luật sinh học, không phụ thuộc vào ý muốn của con người. Giới tính thể hiện ở cấu tạo cơ thể con người, trong đó có cấu tạo của bộ máy phát âm. Chẳng hạn: Giọng nam thì “ồm ồm”, giọng nữ thì “the thé”. Nghe giọng nói, người ta cũng có thể phân biệt được nam hay nữ. Hay nhìn bên ngoài người nam thì có râu còn nữ thì không có râu.

Phân biệt giới và giới tính:

GiớiGiới tính
– Sự khác biệt về mặt xã hội

– Do dạy và học mà có; do mong đợi của xã hội

– Mang tính đa dạng

– Có thể thay đổi được

– Sự khác biệt về sinh học

– Bẩm sinh

– Mang tính đồng

– Không thay đổi được

Tóm lại, những đặc điểm nào có ở nam giới và cũng có thể có ở nữ giới được gọi là giới. Những đặc điểm nào chỉ có ở nam giới, hoặc chỉ có ở nữ giới gọi là giới tính.

Đối với xã hội phương Đông thời phong kiến, người ta có những quy định có thể nói là rất hà khắc cho mỗi người nam hay người nữ. Người phụ nữ gắn với “Tứ đức tam tòng” còn người nam gắn với “Tam cương ngũ thường”. Sự khác biệt này thể hiện rất nhiều lĩnh vực. Chẳng hạn trong việc đặt tên cho mỗi giới cũng có những quan niệm khác biệt để nói lên vai trò trách nhiệm của mỗi giới. Nam được gắn với “văn” có nghĩa là khát vọng người đàn ông thành đạt trên con đường đèn sách và được đánh giá kết quả của người nam lúc đấy được đánh giá bằng kết quả quan trường. Còn nữ được gắn với “thị” có nghĩa là người phụ nữ mong ước có nhiều con, trách nhiệm của họ là phải sinh được con trai nối dõi tông đường. Xã hội phong kiến đương thời còn có cái nhìn, cái quan niệm:

“Trai làm nên năm thê bảy thiếp

Gái chính chuyên thủ tiết chờ chồng”

Vào thời đại này, người ta xem mỗi giới với một chuẩn mực và bắt buộc mỗi giới phải thực hiện. Nữ thì phải tam tòng (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử , tứ đức (công, dung, ngôn, hạnh). Còn nam thì tiêu chuẩn: tu, tề, trị, bình (tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ) và trung, hiếu, tiết, nghĩa. Về mặt nhân khẩu học thì “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (1 nam thì có, 10 nữ thì không). Đến thời hiện đại thì quan niệm về giới có phần phóng khoáng hơn, đó là “nam nữ bình quyền”.

1.2. NGÔN NGỮ VÀ GIỚI

Với chức năng phản ánh thực tại xã hội mà cụ thể ở đây là phản ánh nhìn nhận về giới của con người, mối quan hệ giữa giới với ngôn ngữ không chỉ cần được xem xét ở các bình diện ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng của ngôn ngữ mà nó còn liên quan đến hàng loạt vấn đề khác như sinh học, địa vị, vai trò trong gia đình cũng như trong xã hội của mỗi giới. Có thể thấy ba vấn đề nổi lên như sau:

Thứ nhất, sự khác nhau về ngôn ngữ giữa mỗi giới là do cơ thể người như vị trí của phần ngôn ngữ ở trong não, đặc điểm sinh lí cấu âm của mỗi giới dẫn đến sự khác biệt âm thanh ngôn ngữ, âm thanh ngôn ngữ của nữ giới thường trong và cao, âm thanh của nam giới thường trầm và đục.

Thứ hai, sự khác nhau về ngôn ngữ giữa mỗi giới thể hiện ngôn ngữ để nói về giới. Hay nói một cách cụ thể hơn, dường như trong mỗi ngôn ngữ đều có những từ ngữ chỉ dùng cho giới này mà không dùng cho giới khác.

Thứ ba, sự khác nhau về ngôn ngữ giữa mỗi giới thể hiện ở ngôn ngữ được mỗi giới sử dụng.

Những kết quả nghiên cứu về ngôn ngữ và giới từ góc độ ngôn ngữ xã hội đã chỉ ra rằng: Ngôn ngữ giới thể hiện qua ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách tức là qua các phương diện ngôn ngữ được tạo lập trong giao tiếp. Có thể nói, yếu tố giới là sự tồn tại có thực trong giao tiếp ngôn ngữ và yếu tố giới còn do quan niệm của xã hội tạo nên. Quan niệm ấy có từ lâu đời, chúng kết thành “định kiến giới” và điều đó cũng thể hiện qua ngôn từ như: Những từ thường chỉ nam giới: phái mạnh, táo bạo, cứng rắn…Những từ thường chỉ nữ giới: phái yếu, yểu điệu, nhẹ nhàng…

Như vậy, giới là vấn đề liên quan nhiều mặt trong xã hội, đấy chính là quan niệm xã hội, do con người tạo nên.

1.3. KHÁI QUÁT VỀ TỪ, NGỮ CHỈ GIỚI TRONG TIẾNG VIỆT

1.3.1. Khái quát về từ

Cho đến nay, trong ngôn ngữ học, các định nghĩa về từ đã được đưa ra không ít. Các định nghĩa ấy, ở mặt này hay mặt kia đều đúng, nhưng đều không đủ và không bao gồm hết được tất cả các sự kiện được coi là từ trong ngôn ngữ và ngay cả trong một ngôn ngữ cũng vậy. Vô số các định nghĩa khác nhau về từ đã ra đời nhưng chưa có định nghĩa nào được đánh giá là đầy đủ. Do đó, một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã cực đoan cho rằng không có khái niệm về từ.

Tuy thế, để có cơ sở tiện lợi cho việc nghiên cứu, người ta vẫn thường chấp nhận một khái niệm nào đó về từ tuy không có sức bao quát toàn thể nhưng cũng chỉ để lọt ra ngoài phạm vi của nó một số lượng không nhiều những trường hợp ngoại lệ. Chẳng hạn: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu”. Quan niệm này gần với quan niệm của B.Golovin trong cuốn sách “Dẫn luận ngôn ngữ học” của ông. Nó cũng có nhiều nét gần với quan niệm của L.Bloomield, coi từ là một “hình thái tự do nhỏ nhất”. Có nghĩa rằng từ là một hình thái nhỏ nhất có thể xuất hiện độc lập được. Tuy nhiên, qua nhiều trường hợp cụ thể, quan niệm cũng không được các nhà ngôn ngữ chấp nhận.

Có thể thấy, từ có vai trò quan trọng đối với đời sống ngôn ngữ và đời sống con người nên từ được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm rất sớm. Cho đến nay đã có rất nhiều định nghĩa về từ. Theo Nguyễn Thiện Giáp, hiện có khoảng 300 định nghĩa về từ. Mặc dù có nhiều định nghĩa về từ nhưng chưa có một định nghĩa nào có thể thỏa mãn được yêu cầu nghiên cứu của tất cả các nhà từ vựng học. Thậm chí có những nhà ngôn ngữ học còn cực đoan cho rằng không có định nghĩa về từ. Chúng tôi xin nêu ra một số quan niệm và đưa ra quan điểm riêng của mình.

           Với nhà ngôn ngữ Nguyễn Kim Thản: “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có thể tách khỏi đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng, ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp” [ 41, tr.20-21]. Còn với tác giả Hồ Lê:  “Từ là đơn vị ngữ ngôn có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa” [21, tr.19, 104].

Cũng bàn về từ, Ðái Xuân Ninh cho rằng: “Từ là đơn vị cơ bản của cấu trúc ngôn ngữ ở giữa hình vị và cụm từ. Nó được cấu tạo bằng một hay nhiều đơn vị ở hàng ngay sau nó tức là hình vị và lập thành một khối hoàn chỉnh” [tr.24]. Còn tác giả Ðỗ Hữu Châu lại quan niệm: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kiểu cấu tạo) nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu” [ tr.14]

Tác giả Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê: “Từ là âm có nghĩa, dùng trong ngôn ngữ để diễn đạt một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không thể phân tích ra được” [tr. 18]. Còn tác giả Nguyễn Văn Tu quan niệm:  “Từ là đơn vị nhỏ nhất và độc lập, có hình thức vật chất (vỏ âm thanh là hình thức) và có nghĩa, có tính chất biện chứng và lịch sử” [8, 20].

Theo nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, từ trong tiếng Việt được định nghĩa như sau: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững,hoàn chỉnh,có chức năng gọi tên,được vận dụng độc lập,tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu” [tr.141]. Đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Việt là tiếng hay còn gọi là âm tiết. Cũng theo nhóm tác giả này, đơn vị dùng làm chất liệu cơ sở để tạo ra câu- đơn vị giao tiếp-không phải chỉ có từ mà còn có một loại đơn vị nữa là cụm từ cố định.

Theo quan niệm của Đỗ Thị Kim Liên, từ là đơn vị cơ bản, đơn vị cốt lõi để tạo nên những đơn vị lớn hơn như cụm từ, câu, văn bản. Từ là đơn vị hết sức quan trọng, giống như viên gạch để xây dựng nên tòa lâu đài ngữ. Vì vậy, từ là đối tượng nghiên cứu, khảo sát của cả 4 phân ngành: ngữ âm (mặt âm thanh), từ vựng (mặt ý nghĩa của từ), ngữ pháp (mặt kết hợp của từ) và phong cách (nghệ thuật sử dụng từ).

Trên cơ sở các quan niệm về từ của các nhà ngôn ngữ, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn quan điểm riêng cho mình và dùng làm cơ sở để nghiên cứu, khảo sát chương 2. Theo chúng tôi, từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, dùng để cấu tạo những đơn vị lớn hơn là cụm từ, câu, văn bản.

1.3.2. Khái quát về ngữ

Khi nói, viết, chúng ta thường sử dụng đơn vị thông báo ở cấp độ câu. Để tạo nên câu cần có từ. Các từ thường sắp xếp theo những quan hệ nào đó để tạo nên đơn vị lớn hơn từ, đó là ngữ.

Ngữ được gọi bằng một số tên gọi khác nhau, xuất phát từ những quan niệm và mục đích nghiên cứu không giống nhau: đoản ngữ (Nguyễn Tài Cẩn), cụm từ (Lê Xuân Thại), ngữ đoạn (Lưu Vân Lăng), từ tố (Nguyễn Kim Thản).

Ngữ (hay cụm từ) là những cấu trúc gồm hai từ trở lên, chúng kết hợp tự do với nhau theo những kiểu quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp nhất định. [22,tr.75]

Như vậy, ngữ là đơn vị ngữ pháp ở bậc trung gian giữa từ và câu. Loại ngữ do danh từ làm chính tố gọi là ngữ danh từ, loại ngữ do động từ, tính từ làm chính tố gọi là ngữ động từ, ngữ tính từ.

Khi nhắc đến ngữ, bao giờ các nhà ngôn ngữ học cũng quan tâm nghiên cứu đến ngữ cố định, được xem như là đơn vị “tương đương từ”. Nhưng thực sự, khái niệm ngữ hay cụm từ, xét trên phương diện rộng, còn có cụm từ tự do hay nói cách khác là ngữ tự do.

Khác với từ, quan niệm về ngữ được nhiều nhà ngôn ngữ học bàn luận và đi đến thống nhất. Ngữ hay cụm từ là sự tổ hợp của nhiều từ, do từ cấu tạo mà thành. Sự khác biệt cơ bản giữa ngữ cố định và cụm từ tự do là khả năng tồn tại ở trạng thái tĩnh. Cụm từ tự do được tạo ra do nhu cầu giao tiếp. Tùy tình huống giao tiếp cụ thể mà người giao tiếp tạo ra các cụm từ tự do khác nhau. Cụm từ tự do tùy vào mục đích giao tiếp có thể ngắn dài khác nhau. Về ý nghĩa, cụm từ tự do bao gồm cấu trúc và nghĩa của các từ trong nó tạo nên. Trong khi đó, nghĩa của cụm từ cố định được suy ra thông qua ý nghĩa của các biện pháp tu từ như ẩn dụ, hoán dụ…

Ngữ cố định là đơn vị do các từ tạo nên, có cấu tạo ổn định và có tính thành ngữ. Ngữ cố định tương đương với từ ở tính hiển nhiên tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ và thực hiện chức năng cấu tạo câu trong hoạt động. Một điều cần lưu ý về ý nghĩa của ngữ cố định là không thuần túy do tổng nghĩa của các từ theo cấu trúc của nó tạo nên mà là sự tổng hợp nghĩa.

Trong ngữ cố định phân ra thành quán ngữ, thành ngữ. Còn cụm từ tự do có cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ, cụm số từ và cụm đại từ. Ở bài nghiên cứu này, chúng tôi khảo sát cả phần từ và ngữ. Về ngữ, chúng tôi khảo sát cả ngữ cố định và ngữ tự do.

1.4. KHÁI QUÁT VỀ CA DAO NGƯỜI VIỆT

1.4.1. Khái niệm ca dao

Ca dao là nguồn thơ dân gian vô tận, có lịch sử lâu đời và sức sống mạnh mẽ. Chúng ta có thể hình dung ca dao Việt Nam như một dòng sông lớn, bắt nguồn từ hàng trăm con sông, con suối ca dao, dân ca của các địa phương, các vùng, miền trong cả nước. Ca dao là tiếng nói tâm hồn, tình cảm của nhân dân trong trường kì lịch sử dân tộc. Vì vậy, ca dao không chỉ lớn về số lượng tác phẩm mà còn hết sức phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức nghệ thuật. Trong quá trình biểu hiện, giá trị độc đáo của ca dao là ở chỗ, nó phản ánh chân thực tâm hồn, khí sắc dân tộc. Sinh ra giữa thiên nhiên khắc nghiệt, sống triền miên trong xã hội hà khắc, là trải qua biết bao nhiêu chiến tranh loạn lạc, dân tộc này không thể không nói đến khổ đau và căm giận, nhưng cội nguồn và sức mạnh của nó lại chủ yếu là chất tươi sáng, rắn rỏi của tâm hồn tình là tình cảm yêu thương, là tình nghĩa thủy chung, là lòng trung hậu với gia đình, quê hương đất nước.

Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau. Cùng với thời gian và quá trình nghiên cứu sưu tầm văn học dân gian thì thuật ngữ ca dao mới dần hình thành. Mỗi nhà nghiên cứu đều có quan niệm khác nhau về ca dao. Theo Vũ Ngọc Phan, thuật ngữ “ca dao” vốn là một thuật ngữ Hán Việt và theo nghĩ gốc thì ca là bài hát có khúc điệu; dao là bài hát không có điệu. Đối với người Việt, thuật ngữ ca dao không có trong hệ thống các tên gọi chỉ các thể loại văn học dân gian, mà chỉ có tên gọi câu hát, câu ví, câu hò cho các làn điệu ca hát dân gian. Các nhà nghiên cứu văn học dân gian sử dụng tên gọi dân ca cho các bài hát dân gian để phân biệt với ca dao là lời thơ từ dân ca. Trong cuốn sách “Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình (2010), theo tác giả Phạm Việt Long: “Ca dao là một thể loại văn học dân gian, có trữ tình, có vần điệu do nhân dân sáng tạo và lưu truyền qua nhiều thế hệ, dùng miêu tả, tự sự, ngụ ý và chủ yếu diễn đạt tình cảm” [17, tr.13].

Tác giả Lê Đức Luận trong cuốn sách “Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt(2011) đã phân biệt rõ giữa ca dao, dân ca và đi đến kết luận “ Ca dao không còn thuật ngữ dùng để chỉ những sáng tác dân gian truyền miệng mà còn là những sáng tác bác học hòa vào dòng chảy dân gian và không đơn thuần chỉ là lời thơ của dân ca…ca dao được tạo ra từ hai nguồn. Nguồn chủ yếu từ lời của các câu hát dân gian và nguồn thứ hai từ các sáng tác ngâm vịnh trong dân chúng được hòa vào dòng chảy dân gian”[19, tr.25]

Tác giả Trần Thúy Anh trong “Ứng xử cổ truyền với tự nhiên xã hội của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ (2011) thống kê thì có ba cách hiểu khác hiểu về ca dao như sau:

“ Ca dao là từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian, có hoặc không có khúc điệu. Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca.

Ca dao là danh từ chỉ thành phần ngôn từ ( phần lời ca) của dân ca không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi).

Không chỉ toàn bộ những câu hát của một loại dân ca nào đó, cứ lược bớt tiếng đệm, tiếng đưa hơi…thì sẽ đều là ca dao. Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách. Ca dao đã trở thành một thuật ngữ để chỉ một thể thơ dân gian” [1, tr.36]

1.4.2. Đặc trưng ngôn ngữ ca dao

Văn học dân gian là những sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao động, ra đời từ thời kì công xã nguyên thuỷ, trải qua các thời kì phát triển lâu dài của các chế độ xã hội có giai cấp, liên tục tồn tại trong thời đại hiện nay.Tác phẩm văn học dân gian trước hết là những tác phẩm nghệ thuật. Tính nghệ thuật là một thuộc tính khách quan của văn học dân gian, cho dù thuộc tính đó có được nhân dân nhận thức rõ ràng hay không trong khi sáng tác, diễn xướng và tiếp thu các tác phẩm văn học dân gian. Lấy ví dụ cụ thể ở ca dao. Ca dao là những lời ca dân gian, là lời của các làn điệu dân ca. Những bài ca dao phần nhiều được xây dựng từ một bài ca dao sẵn có và được biến đổi theo từng vùng, từng miền khác nhau, dần dần được phổ biến rộng rãi. Ví như câu ca dao sau:

“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ”

Một điều đáng chú ý trong những sáng tác của văn học dân gian là môi trường, hoàn cảnh sáng tác. Nhân dân lao động sáng tác trong những môi trường tập thể, môi trường lao động cụ thể nên lời ca trở nên mộc mạc, giản dị. Tuy thế vẫn không mất đi tính tinh tế, giàu tình cảm, nhạc điệu… làm mê hồn người.

Ca dao có nội dung phản ánh phong phú, thể hiện bao quát phong tục tập quán, thói quen, cuộc sống và văn hóa của người Việt. Ngôn ngữ trong ca dao được tác giả dân gian sử dụng hết sức điêu luyện, tài tình. Trong đó, hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc cũng được phát huy hết tác dụng trong việc thể hiện đặc trưng biểu cảm và trữ tình của loại hình thơ dân gian này. Có thể nói, ngôn ngữ ca dao đã kết tụ những đặc điểm nghệ thuật tuyệt vời nhất của tiếng Việt. “Nó có cả những đặc điểm tinh túy của ngôn ngữ văn học đồng thời nó còn là sự vận dụng linh hoạt, tài tình, có hiệu quả cao của ngôn ngữ chung, ngôn ngữ hội thoại vào một loại ngôn ngữ truyền miệng đặc biệt: truyền miệng bằng thơ” [12, tr.122]

Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau. Nếu định nghĩa theo từ nguyên thì ca là bài hát có khúc điệu hoặc có âm nhạc kèm theo, còn dao là bài hát trơn, không có khúc điệu. Ca dao là từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu. Như vậy có thể thấy thuật ngữ ca dao và thuật ngữ dân ca hầu như không có ranh giới rõ rệt. Song trong thực tế khi giới tri thức trước đây sưu tập các câu hát và bài hát dân gian, họ chỉ quan tâm ghi chép phần lời thơ của những sáng tác ấy, cho nên thuật ngữ ca dao của họ dùng để gọi tên những ghi chép ấy đã có nội dung hẹp hơn thuật ngữ dân ca: chỉ phần lời thơ của những sáng tác dân gian. Hơn nữa, do người sưu tập thời xưa có khuynh hướng chỉ ghi chép những câu, những bài hay nhất và có ý nghĩa khái quát nhất về mặt phản ánh đời sống, phong tục và giáo dục đạo đức, nên thuật ngữ ca dao lại có nội dung thu hẹp hơn nữa: Ca dao không phải là toàn bộ lời thơ của các câu hát dân gian, mà chỉ là một bộ phận quan trọng của thơ ca dân gian, chủ yếu thuộc thể trữ tình và mang một phong cách riêng. Chính phong cách riêng này của ca dao đã phân biệt ca dao với thơ thành văn và cả với một số thể loại thơ khác trong thơ ca dân gian khác như sử thi, vè…

Tác giả Nguyễn Xuân Kính cho rằng: “Đa số những lời ca dao trữ tình là những văn bản biểu hiện” [18, tr.122]. Điều này có nghĩa là khi sáng tác thơ và ca dao, các tác giả đã lựa chọn và kết hợp các đơn vị ngôn ngữ

Hiện nay để phân biệt ca dao với những bài ca dao thành văn do cá nhân sáng tác, người ta gọi đó là những bài ca dao truyền miệng do tập thể sáng tác lưu truyền là ca dao dân gian. Còn ca dao dân gian từ Cách mạng tháng Tám trở về trước được gọi là ca dao cổ truyền. Ca dao mới khác với ca dao cổ về khá nhiều phương diện (về thời gian, hoàn cảnh, lực lượng sáng tác, hệ thống đề tài, chủ đề, phương thức và phương tiện lưu truyền phổ biến…). Dựa vào chức năng kết hợp với hệ thống đề tài, có thể phân ca dao cổ thành những loại ca dao khác nhau, như ca dao ru con, ca dao tình yêu, ca dao về tình cảm gia đình, ca dao than thân, ca dao trào phúng…

Ngôn ngữ ca dao có sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường.Ca dao đã vận dụng linh hoạt tài tình ngôn ngữ thơ mang tính khẩu ngữ. Ngôn ngữ trong ca dao phần lớn là ngôn ngữ thuần Việt, rất ít yếu tố Hán-Việt. Bởi vậy ngôn ngữ ca dao rất đậm tính dân tộc. Nhiều tiếng địa phương của các vùng miền đều được đưa vào ca dao. Có thể nói ca dao chính là nơi lưu giữ một số lượng lớn những lớp từ cổ, từ địa phương, địa danh, sản vật địa phương. Đó chính là nét đặc trưng ngôn ngữ ca dao ít tìm thấy ở các thể loại khác.

Ca dao vừa có cái riêng – sự độc đáo, nét đặc thù của từng bài, từng loại ca dao, vừa có cái chung – sự giống nhau hoặc gần giống nhau giữa những bài ca dao, nó gắn chặt hoà quyện vào nhau, tạo nên phong cách truyền thống bền vững cho ca dao, khu biệt ca dao với văn học viết và các lĩnh vực khác của văn học dân gian (tục ngữ, thành ngữ, câu đố, hò vè…).

1.4.3. Giới tính thể hiện trong Ca dao

Ca dao thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và tâm tình của người dân lao động và cũng là nơi gửi gắm bao hoài niệm, nỗi niềm của người tri thức. Vì những lẽ đó, ca dao là nơi dung chứa mọi cảm xúc, tâm trạng, buồn, vui, sướng, khổ,… của muôn vạn người. Và thật chính xác khi có thi sĩ đã nhận định, ca dao là tiếng tơ đàn muôn điệu của tâm hồn quần chúng. Bên cạnh lí do trên, có rất nhiều lí do khiến ca dao mà nơi mang đậm dấu ấn giới.

Thực tế trong lịch sử loài người đã từng đặt vị trí người phụ nữ lên hàng đầu. Đó là thời kì “mẫu hệ” và thời kì này rất ngắn ngủi, còn cơ bản ở thời kì lịch sử nào, người phụ nữ cũng luôn chịu nhiều thiệt thòi. Bên cạnh đó, từ tính cách dịu dàng, sự nhẹ dạ cả tin hay ưu tư, sầu muộn mà tác giả dân gian đã diễn tả rất tài tình tâm trạng của phụ nữ lúc xuân thời bằng thứ ngôn ngữ đặc thù của giới nữ. Từ đó đã hình thành trong họ tính cách rụt rè, ngôn ngữ nhẹ nhàng khi nói về mình, ví như:

Chàng ơi! Thương thiếp mô côi

Như bèo cặn nước biết trôi đằng nào

Và

Xin chàng đọc sách ngâm thơ

Dầu hao thiếp rót, đèn mờ thiếp khêu

Xuất phát từ thân phận hẩm hiu, bất hạnh, chịu nhiều khó nhọc mà một đặc điểm rất dễ dàng nhận thấy ở phụ nữ là họ thường hay than vãn:

Thân em như cái cọc rào

Một thời anh đổi, cớ sao anh phiền

Và

Trời cao chi lắm hỡi trời

Cho thiếp chẳng được tới nơi cùng chàng

Từ quan niệm trong xã hội phong kiến: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” và “Trai nam thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng” mà trong giao tiếp, người phụ nữ luôn nhận về mình những phần thiệt thòi nhất. Thậm chí họ đẹp như “tấm lụa đào”, thơm như “ lọn hương trầm”, trong sáng như “hạt mưa sa”… thì vẫn than vãn, lo âu về trắc trở cuộc đời, số phận hẩm hiu, duyên tình lẻ bóng, mong chờ một nơi tựa nhờ:

Thân em như tấm lụa đào,

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

Thân em như lọn hương trầm

Không cha, không mẹ, muôn phần cậy anh.

Trái ngược với nữ giới, trong thời phong kiến, nam giới rất được coi trọng. Họ được học hành tử tế, vật chất đầy đủ và đề huề vợ con. Đến thời hiện đại, người đàn ông vẫn hiện diện với một dáng vẻ khỏe mạnh, cứng cỏi, có ý chí. Và ca dao dành cho nam giới một thứ ngôn ngữ mạnh mẽ, dứt khoát:

Thương em cau tới, trầu đưa

Trăm năm mà nỡ bông đùa thế sao

Thương em không lấy được em

Anh về ở vậy chẳng thèm lấy ai!

Đa số khi bàn về một vấn đề gì, nữ giới thường vòng vo, còn nam giới bộc lộ một cách thẳng thắn, trực tiếp:

Chẳng tham nhà ngói rung rinh

Tham vì một nổi em xinh miệng cười

Miệng cười em đáng mấy mươi,

Chân đi đáng nén, miệng cười đáng trăm

Đặt trong tương quan với nữ giới, những câu ca dao nói về nam giới hay là lời của người con trai, ta dễ dàng nhận ra một thứ ngôn ngữ phóng khoáng, khác hẳn với nữ giới:

Đàn ông tính khí hoang toàng

Đàn bà con gái giữ dàng nết na

Xuất phát từ đặc điểm giới tính và điều kiện địa lí, xã hội, lịch sử đã tạo nên sự khác biệt trong ngôn ngữ hai giới. Qua đó, ta thấy không chỉ trong thực tế đời sống xã hội mà trong ca dao cũng có những biểu hiện khác biệt giữa nam giới và giới nữ. Và như một lẽ tự nhiên, ngôn ngữ ca dao cũng có sự thay đổi để phù hợp với mỗi giới

Trong ngôn ngữ ca dao không nhất thiết phải sử dụng những điểm phân biệt nam hay nữ rõ ràng, có những trường hợp cùng một ngôn ngữ thể hiện vẫn có thể hiện là nam hay nữ, ví dụ “Đó buồn Đây nỏ vui chi”, “đó” “đây” vẫn có thể hiểu là nam hay nữ cũng được

Tiểu kết:

Thế giới nghệ thuật của ngôn ngữ chỉ giới tính ca dao phong phú và rất đa dạng, nó tạo nên đường nét riêng biệt cho kho tàng ca dao Việt Nam. Sự kết hợp nhuần nhuyễn các đặc trưng ngôn ngữ ca dao sát với thực tế nội dung làm cho ca dao trở nên những câu hát thấm thía về mặt trữ tình. Ngôn ngữ chỉ giới tính trong ca dao là một nét đẹp nghệ thuật ngôn ngữ mà chúng ta đáng khám phá. Qua mỗi bài ca, chính là thê hiện cách ứng xử của người xưa trong từng hoàn cảnh

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN KHOA HỌC XH&NV\NGON NGU HOC\DO THI PHUONG DUNG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *