TƯ DUY NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI

TƯ DUY NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

1.1. Việc khám phá các hiện tượng văn học từ góc độ tư duy nghệ thuật được các nhà nghiên cứu, phê bình quan tâm, lựa chọn. Đây là một trong những cách thức tiếp cận mang lại hiệu quả cho việc xem xét toàn diện các mối quan hệ từ khung thẩm mĩ từ văn bản đến tác phẩm.

1.2. Sau năm 1986, trong tiến trình đổi mới của văn học, tiểu thuyết Việt Nam hiện đại có những bước chuyển mạnh mẽ trong kĩ thuật viết, gắn với thế hệ các nhà văn.

1.3. Trong hành trình sáng tạo nghệ thuật tiểu thuyết, Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn luôn ý thức tìm tòi, đổi mới, cách tân về lối viết.

1.4. Tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra và Người đàn bà trên đảo đã ghi dấu cho một lối viết mang đậm tư duy sáng tạo. Trong đó, những nỗ lực thể nghiệm của kĩ thuật dòng ý thức và sự hiện đại hoá trong phương thức trần thuật ở các khía cạnh xây dựng hình tượng, tổ chức kết cấu cũng như dẫn giải các lớp ngôn ngữ, giọng điệu trong nhiều khu vực tiếp xúc thẩm mĩ khác nhau.

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung khảo sát tiểu thuyết Người đàn bà trên đảo và tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra. Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi cũng tiến hành tham khảo một số tiểu thuyết khác của Hồ Anh Thái và sáng tác của các tác giả khác liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là Tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra và tiểu thuyết Người đàn bà trên đảo.

4. Phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp hệ thống, cấu trúc

Sử dụng để đặt đối tượng nghiên cứu trong các sáng tác của tác giả. Trên cơ sở đó có cái nhìn khách quan và chính xác hơn các đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

4.2. Phương pháp phân tích – tổng hợp

Dùng để phân tích những biểu hiện thuộc về đối tượng phản ánh, qua đó, khái quát thành các yếu tố thẩm mĩ xuyên suốt trong tác phẩm từ góc nhìn tư duy nghệ thuật.

4.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu

Nhằm so sánh đối chiếu giữa các tiểu thuyết của Hồ Anh Thái; và so sánh đối chiếu giữa sáng tác của Hồ Anh Thái với các tác giả khác.

4.4. Phương pháp loại hình

Căn cứ vào tính chất của thể loại để hướng tới khu biệt hoá đặc trưng tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái trong đó có Trong sương hồng hiện ra và Người đàn bà trên đảo.

4.5. Phương pháp liên ngành

Vận dụng tích hợp các lí thuyết thi pháp học, tự sự học, phân tâm học nhằm làm sáng rõ hơn về bản bản chất và vai trò của tư duy nghệ thuật trong tạo sinh những giá trị cho văn bản tiểu thuyết.

TƯ DUY NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI
TƯ DUY NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI

5. Đóng góp của luận văn

Thực hiện đề tài Tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái (Khảo sát qua Trong sương hồng hiện ra và Người đàn bà trên đảo), chúng tôi mong muốn đưa cái nhìn khách quan và hệ thống về tư duy nghệ thuật viết tiểu thuyết trong giai đoạn đầu của Hồ Anh Thái (trước thập niên 90 của thể kỉ XX) qua hai cuốn tiểu thuyết trên.

6. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của luận văn triển khai trong 3 chương:

Chương 1: Tư duy nghệ thuật và tiểu thuyết Hồ Anh Thái trong tiến trình tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

Chương 2: Tư duy nghệ thuật tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra và Người đàn bà trên đảo nhìn từ phương diện hình tượng nghệ thuật

Chương 3: Tư duy nghệ thuật tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra và Người đàn bà trên đảo nhìn từ phương thức trần thuật.

CHƯƠNG 1

TƯ DUY NGHỆ THUẬT VÀ TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI TRONG TIẾN TRÌNH TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1986

1.1. Tư duy nghệ thuật và tư duy nghệ thuật tiểu thuyết

1.1.1. Tư duy nghệ thuật

Trong hành trình sáng tạo văn học, tư duy nghệ thuật chính là tiền đề cho sự hình thành thế giới quan, nhân sinh quan và tư tưởng thẩm mĩ của người nghệ sĩ. Theo đấy, “tư duy nghệ thuật là dạng thức hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật” [31, tr.136].

Tư duy nghệ thuật của nhà văn là sự phản ánh nhận thức của chủ thể sáng tạo trong quá trình hình thành tri thức mới về các mối liên hệ và quan hệ với hiện thực đời sống trên cơ sở của thế giới hình tượng.

Một trong những thuộc tính quan trọng của tư duy nghệ thuật khởi đi từ sợi dây cảm xúc. Bởi vậy, dấu hiệu bản chất của hình thái tư duy là ngoài tính giả định, ước lệ, nó hướng tới việc nắm bắt đời sống cụ thể, cảm tính mang nội dung khả nhiên về cái có thể, cái có thể có, cái có không thể (cái trong tưởng tượng). Từ đặc trưng này, nội dung khái quát hiện thực trong tác phẩm thường mang tính chất phổ quát, hoạt nhất trong nhiều giao diện thẩm mĩ hơn so với cuộc sống đời thường. Trở lên, tư duy nghệ thuật thuộc địa hạt của chủ thể sáng tác và chủ tiếp nhận trong thực nghiệm các hoạt động nghệ thuật.

1.1.2. Tư duy nghệ thuật tiểu thuyết

Tiểu thuyết là hình thức tổng hợp của văn xuôi hư cấu, được xây dựng trên nhiều sự kiện, biến cố, cảnh ngộ, nhiều mối xung đột. Đó là dạng văn bản phi tập trung hóa, có sự đa dạng về điểm nhìn và nhân vật, gồm đủ mọi hạng người, mọi tính cách, tạo nên những mối quan hệ chồng chéo với những diễn biến tâm lí đa dạng.

Trước hết, tiểu thuyết là hình thức tổng hợp của văn xuôi hư cấu. Tiếp đến, tiểu thuyết được xây dựng dựa trên nhiều sự kiện, biến cố, cảnh ngộ, nhiều mối xung đột. Đó là văn bản phi tập trung hóa, có sự đa dạng về điểm nhìn và nhân vật, gồm đủ mọi hạng người, đủ mọi tính cách, tạo nên những mối quan hệ chồng chéo, với những diễn biến tâm lí đa dạng. Tiếp đấy, tiểu thuyết mở rộng những chiều kích của không gian và thời gian, dẫn dắt nhân vật đi qua nhiều địa điểm, hoàn cảnh, môi trường, làm sống lại những giai đoạn lịch sử lâu dài. Không bị giới hạn trong dung lượng phản ánh, tiểu thuyết có khả năng dựng lên những bức tranh hoành tráng về mặt xã hội. Theo đó, nhà viết tiểu thuyết thường dùng kĩ thuật làm cho hành động chậm lại. Và sau cùng, tiểu thuyết là một thể loại đa dạng về mặt thẩm mĩ.

1.2. Tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 và những dấu ấn đổi mới

1.2.1. Khám phá hiện thực trong tinh thần đối thoại

Tính đối thoại trong tiểu thuyết sau 1986 có những biểu hiện đa dạng, và về cơ bản được thể hiện trên các phương diện chính như: yếu tố đa thanh và phức điệu; từ đối thoại liên chủ thể đến đối thoại liên văn bản; từ tính tranh biện đến tính trò chơi như tác giả Thái Phan Vàng Anh đã tổng kết [5].

Yếu tố đối thoại trong tiểu thuyết đặc biệt nổi bật ở lời thoại tranh biện của người kể chuyện đa trị, của nhiều chủ thể đối thoại, với sự cọ xát những quan điểm nhiều lúc đối lập nhau. Hình thức trần thuật đối thoại với sự luân phiên lượt lời, luân chuyển điểm nhìn cái tôi này sang cái tôi khác trong nhiều tiểu thuyết có tác dụng đặc biệt trong đối thoại. Mỗi người tham thoại đều có thể bộc lộ quan điểm riêng. Đây chính là tiền đề của tính đối thoại liên chủ thể, liên cá nhân trong tiểu thuyết

1.2.2. Thể hiện những lối viết mới

Điểm nổi bật trong tư duy nghệ thuật tiểu thuyết sau 1986 là những dấu ấn về kĩ thuật viết, lối viết mới. Ở đó chủ thể sáng tạo luôn chú trọng xác lập mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn phong, là “một thực tại hình thức độc lập với ngôn ngữ và văn phong”, nó là sự lựa chọn lấy một thái độ dấn thân cho hình thức của mình “mà mỗi nhà văn tự giác về mối liên kết chặt chẽ của anh ta với xã hội”, lối viết “là sự chọn lựa tổng quát một giọng điệu, một đặc tính – nếu ta muốn gọi như thế – và chính tại đây, nhà văn tự cá thể hóa rõ ràng, bởi chính ở đây, người ta dấn thân” [12].

Sự đổi mới trong kĩ thuật viết của các nhà văn sau năm 1986 còn biểu hiện ở lối viết “hiện đại”, bám sát chức năng thẩm mĩ nghệ thuật tiểu thuyết. Tức vừa xác lập mối quan hệ cho cấu hình văn bản vừa cho các yếu tố hình thức ghi dấu vào những mối quan hệ xã hội của chúng. Qua đó khẳng định những sắc thái hình thức phải là lựa chọn mang tính chiến lược nghệ thuật, biểu hiện cho hành động viết mang đậm cá tính sáng tạo của chủ thể.

1.3. Hồ Anh Thái, sự kế thừa trong tinh thần tư duy hiện đại

1.3.1. Viết là lập ngôn cho khung truyện kể

Trong luận văn này, chúng tôi đề cập đến tư duy của thể loại tiêu biểu nhất trong loại tác phẩm tự sự đó là tư duy tiểu thuyết và khung truyện kể cũng đồng thời là những phạm vi rộng nhất của loại hình hư cấu.

Phần lớn các tiểu thuyết Hồ Anh Thái đều nằm trong trường tư duy hiện đại và những yếu tố hậu hiện đại. Những điều này được thể hiện trong khung truyện kể và mã thể loại tiểu thuyết. Cách tiếp cận hiện thực và phương pháp sáng tác theo tiến trình càng về sau bút pháp nhà văn cũng khác đi, đổi mới. Bằng phong cách giễu nhại, nghịch dị, Hồ Anh Thái, tác giả của SBC là săn bắt chuột, Mười lẻ một đêm thì cho rằng: “Tôi quan niệm tiểu thuyết như một giấc mơ dài, gấp sách lại người ta vừa mừng rơn như vừa thoát khỏi một cơn ác mộng, lại vừa tiếc nuối vì phải chia tay với những điều mà đời thực không có. Nếu tôi chỉ dùng phương pháp hiện thực thuần túy thì sẽ không có được giấc mơ ấy đâu” [71, tr.245].

Trong nhiều sáng tác của mình, Hồ Anh Thái đã thể hiện kiểu con người với hành trình kiếm tìm được xây dựng với những nét độc đáo riêng biệt. Đó là hành trình con người ngược dòng quá khứ tìm kiếm ở chiều sâu lịch sử ánh sáng soi chiếu hiện tại để ý thức rõ hơn về cuộc sống hiện tại của bản thân mình, tìm thấy ý nghĩa đích thực trong cuộc sống hiện tại của mình như nhân vật Tân ở tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra. Xuyên qua màn sương huyền thoại, Tân thực hiện hành trình tìm kiếm của mình để nhận thức lại quá khứ, không chỉ để thấy những con người anh hùng, dũng cảm trong chiến đấu, còn khám phá ra “chất người” và cả những thiếu sót, những gì chưa hoàn thiện.

1.3.2. Sự viết là quá trình trải hiện trong “cõi người”

Trong nhiều sáng tác của mình, Hồ Anh Thái đã thể hiện kiểu con người với hành trình kiếm tìm được xây dựng với những nét độc đáo riêng biệt. Đó là hành trình con người ngược dòng quá khứ tìm kiếm ở chiều sâu lịch sử ánh sáng soi chiếu hiện tại để ý thức rõ hơn về cuộc sống hiện tại của bản thân mình, tìm thấy ý nghĩa đích thực trong cuộc sống hiện tại của mình như nhân vật Tân ở tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra. Xuyên qua màn sương huyền thoại, Tân thực hiện hành trình tìm kiếm của mình để nhận thức lại quá khứ, không chỉ để thấy những con người anh hùng, dũng cảm trong chiến đấu, còn khám phá ra “chất người” và cả những thiếu sót, những gì chưa hoàn thiện.

Với sự nổ lực không ngừng trong sáng tạo nghệ thuật, Hồ Anh Thái đã thể hiện lối viết vừa kế thừa vừa dịch biến cho những quy phạm nghệ thuật thành “trò chơi” trong cấu trúc của văn bản. Đây là tiền đề quan trọng, khơi nguồn cảm hứng cho người nghệ sĩ trong quá trình sinh thành cho bản mệnh văn chương và nghệ thuật. Điều này chứng tỏ, chiến lược nghệ thuật tạo dựng khung thẩm mĩ cho bản mệnh tác phẩm của nhà tiểu thuyết tiệm cận chân lí nghệ thuật – khơi nguồn cho vòng đời văn bản lưu dấu trong bản hợp âm đa sắc của đời sống tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.

Tiểu kết chương 1

Tư duy nghệ thuật của mỗi nhà văn luôn được trình hiện qua cách thức chiếm lĩnh hiện thực theo cách riêng. Trong đó, sự nhận thức của chủ thể tư duy được hoạt nhất qua nhiều khu vực tiếp xúc của đường biên thể loại. Đây là quá trình người nghệ sĩ hiện thực hoá đối tượng thẩm mĩ trên các phương diện: đổi mới quan niệm về con người; đổi mới quan niệm về thể loại; đổi mới về bút pháp nghệ thuật. Theo đấy, cùng với các cây viết khác trong dòng chảy tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986, Hồ Anh Thái đã lựa chọn cho mình lối viết giàu cá tính sáng tạo. Với nhà văn, sự viết là quá trình lập ngôn cho khung truyện kể, là hướng tới trải hiện trong “cõi người” không ngoài mục đích xây lên những giá trị nghệ thuật đích thực của văn chương. Bởi vậy, mỗi sáng tác nhất thiết phải đem lại lối cắt nghĩa mới mẻ về cuộc sống, con người bằng cái nhìn rất riêng khác. Sự viết phải vượt lên giới hạn, chạm tới những “chân tuỷ” của nghệ thuật. Từ quan niệm này, nhà văn đem lại cho người đọc được thể nghiệm, được sống trong nhiều tiếng vọng của chân trời nghệ thuật.

CHƯƠNG 2

TƯ DUY NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT

TRONG SƯƠNG HỒNG HIỆN RA VÀ NGƯỜI ĐÀN BÀ TRÊN ĐẢO NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT

2.1. Tổ chức hình tượng nhân vật

2.1.1. Nhân vật chấn thương, khơi sâu vào yếu tính bản thể

Thực nghiệm tiểu thuyết Hồ Anh Thái chúng tôi nhận thấy các nhân vật chấn thương là một trong những thành phần cơ bản và thiết yếu, có vai trò rất lớn đối với quá trình biểu đạt tư tưởng cho nhà văn, cũng như giúp nhà tiểu thuyết khơi sâu vào thị phần khuất lấp của hiện thực đời sống. Theo đấy, với nỗ lực truy tìm bản thể người và đổi mới văn chương, Hồ Anh Thái đã tạo dựng hình tượng con người chấn thương đầy ám ảnh. Bản chất nghiệt ngã của đời sống gia đình, giữa cá nhân và tập thể (Người đàn bà trên đảo), giữa những cấm đoán của gia đình đối với tự do cá nhân (Trong sương hồng hiện ra) và những con mắt nhìn, bàn luận và đàm tiếu của tập thể, của dư luận áp đặt lên cá nhân được lột trần qua lời tự sự của nhân vật.

Dưới góc nhìn của chấn thương, các biểu hiện của nhân vật chấn thương trong được hiện lên và bóc tách thành nhiều lớp, phần và từ nhiều phương diện khác nhau. Ở đó con người vừa là chủ thể mang trong mình nỗi đau, vừa là tiếng nói cho những hành động. Chấn thương thể xác và những va đập, thương tổn nơi thẳm sâu tinh thần dường như chất chồng theo thời gian, để rồi hằn lên thành những vết sẹo đeo bám vào chiều sâu mỗi hữu thể người. Việc tổ chức nhân vật tựa trên những vòng sóng chấn thương. Có thể nói, nhà tiểu thuyết dường như đưa bạn đọc được chạm sâu hơn vào những mặt trái, những thị phần còn nhiều khuất lấp trong dòng chảy cuộc đời.

2.1.2. Nhân vật tự thức, khát khao trong kiếm tìm bản ngã

Tiểu thuyết Người đàn bà trên đảo bộc lộ mô hình triết học cụ thể là triết lý thiền qua hình ảnh ông chú Chỉnh của Hoà trong những lần nổi giận đều cố gắng tỉnh tâm lại bằng cách ngồi vót mãi ngọn roi cho đến khi nguôi giận. Thế giới nhân vật trong Người đàn bà trên đảo đi từ quá khứ đầy huyễn hoặc của nghĩa quân Tần Đắc và nó vẫn còn sức ám ảnh đến cuộc sống hiện tại bằng những chứng vật trong hang động hay những hậu quả mà nó đang tác động trong hiện tại. Đó là sự tra hỏi về những mối liên hệ giữa quá khứ và hiện tại. Nhân vật Tân trong Trong sương hồng hiện ra quay ngược cái nhìn của mình về thời quá khứ của cha mẹ mình để ý thức và truy tìm những căn nguyên của hành động hiện tại. Họ đều đi tìm những bí mật, những bí ẩn có ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại và tương lai của họ.

Nhân vật tự ý thức là kiểu nhân vật tự phán xét hành động của mình, tự đối thoại, lục vấn và cảnh tỉnh chính mình với những xung động của nội tâm trước sự dồn đẩy âm thầm mà quyết liệt của lương tâm, của nhân cách con người.

Quan tâm đến việc bộc lộ khát vọng tình yêu và hạnh phúc cá nhân, với riêng Trong sương hồng hiện ra và Người đàn bà trên đảo, Hồ Anh Thái không ngần ngại trong việc đi sâu vào miêu tả tình yêu nhục thể. Tính dục trong con người được tác giả chú ý miêu tả như là một cái gì bản năng, không thể hoặc rất khó có thể kìm chế “Hoà sang trại được gần một tháng, sự nén chịu của Tường đã căng thẳng như một cái dây diều. Tường quen thói buông thả trong nhục dục mất rồi. Nhiều đêm Hoà nghe Tường xoay trở kèn kẹt trên chõng tre. Tường cắn gối, tay cấu vào chiếu day dứt, làm đứt tung cả một khoảng sợi cói” [67, tr.140].

2.1.3. Nhân vật nghịch dị và biến dạng, kết tinh trong chiều sâu huyền thoại

Nhân vật Tường trong Người đàn bà trên đảo có thể coi là một trường hợp nghịch dị, theo nghĩa những hành vi và tâm lí nghiêng lệch, không hoà hợp với cộng đồng. Nhân vật này nghiêng về những lạc thú mù quáng trong quãng thời gian ở trên đảo Cát Bạc. Những người xung quanh đều thất vọng và nghi ngờ về Tường. Chính Tường cũng nhận thấy “em sa sút quá rồi”, “chỉ có Tường là bị hất ra ngoài lề. Hai mươi bốn tuổi rồi, thử hỏi Tường đã làm được những gì? Buồn chán, tuyệt vọng, Tường quay trở lại bãi cát ấy. Những người đàn bà luống tuổi vẫn đợi ở đó” [67, tr. 191-192]. Hình ảnh của Vân khiến Tường tự đặt mình trong một so sánh về nhân tính, anh phải thốt lên “Vân ơi, anh hổ thẹn khi nhìn thấy chiếc phong bì còn trắng tinh nguyên vẹn này. Em không thể hình dung được anh đã tồi tệ đến mức nào đâu. Anh tự mình dứt đứt cái đầu dây ở trong tay em. Cánh diều của anh đã tung bổng phóng đãng quá đà. Rồi nó đã bị giông gió quật cho tơi tả. Đã rụng xuống, gẫy gập, bẹp dúm…” [67, tr. 192-193]. Trong đối sánh với Hoà hay với nhân vật Vân, Tường là là sự đối lập mang tính chất nghịch dị giữa cao thượng và thấp hèn, người tốt và kẻ xấu, sự trong trắng và phóng đãng bụi đời, v.v. Tường tự ý thức được điều đó và dằn vặt, nhận ra sự tha hoá của mình.

Yếu tố nghịch dị, nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết biểu hiện trên nhiều phương diện khác nhau, từ hình tượng nhân vật, hình tượng không gian, hình tượng thời gian, ngôn ngữ suồng sã, trò chơi, giễu nhại, v.v. Từ bình diện nhân vật, chất nghịch dị gắn với những tư duy đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người. Trong văn học hôm nay, phần lớn không còn nhân vật chính diện hay phản diện mà trộn lẫn con người của tốt – xấu, cao thượng – thấp hèn. Từ đó, hình thành các kiểu con người cô đơn, con người tha hóa, con người tự giễu nhại, tự ý thức, con người lệch chuẩn, con người xấu xí, dị dạng. Con người không tràn đầy lí tưởng mà đã được làm cho trở nên nhỏ bé đi, đầy bi kịch.

2.2. Xây dựng hình tượng không gian và thời gian nghệ thuật

2.2.1. Những mặt cắt không gian

Trong Người đàn bà trên đảo, mở đầu là không gian huyền thoại, không gian lịch sử nhuốm màu đạo đức và tâm linh của nghĩa quân Tần Đắc trong thời chiến. Những không gian này lại thu vào trong không gian địa lí là hòn đảo Cát Bạc – một kiểu không gian tách biệt, cô lập với không gian phố phường hay không gian sinh hoạt. Đảo trong trường hợp này vừa là không gian tự nhiên – nơi hoang vu, cách li với phần đất liền nhưng cũng trở thành không gian linh thiêng khi nghĩa quân bị hi sinh và phát sinh những chuyện huyền hoặc ở đó (khí thiêng tụ lại ở cây cổ thụ và hang động). Không gian đảo ở đây cũng trùng với không gian rừng, rừng trên đảo. Nhưng cũng chính không gian này lại là không gian sinh hoạt của nông trường, của tập thể những người lao động. Không gian của hi vọng lại biến thành không gian của sự đe dọa và nỗi sợ hãi.

Những mảng không gian này tác giả ví nó như một con tàu trên chuyến hành trình từ hiện tại quay về quá khứ đi đến hiện tại và tương lai, nhưng chuyến đi này nhuốm màu sương mỏng, nhuốm màu sương hồng lãng đãng: “Con tàu TƯƠNG LAI một lần nữa đỗ lại ở bến xe điện bên kia đường, Tân nhanh chóng đi ngang đường, vừa kịp nhảy lên đúng lúc tàu chuyển bánh. Một màn sương màu hồng kéo qua, che lấp tất cả cảnh sắc rực rỡ của mùa thu. Sau màn sương ấy, lại thấp thoáng bóng người đi qua bãi cát, dựng lều bạt, và bắt đầu đào bới… màn sương hồng lãng đãng tan dần… một làn sương mỏng lại kéo ngang qua phía trước. Và một chàng trai cô đơn vừa chạy, vừa vấp ngã, vừa gào thét tuyệt vọng… Sương mù cũng tan dần. Tân đã bắt đầu nhận ra” [67, tr. 396-398].

Bên cạnh không gian của nhân vật, gắn với nhân vật là không gian của người kể chuyện. Dù người kể chuyện ở ngôi thứ nhất hay ngôi thứ ba thì luôn luôn có một tác giả hàm ẩn nhìn thấu và trải nghiệm các kiểu không gian xẩy ra trong tác phẩm.

2.2.2. Thời gian kí ức và hoài niệm

Trong Người đàn bà trên đảo và Trong sương hồng hiện ra của Hồ Anh Thái, thời gian kí ức và hoài niệm trở thành một “đặc sản” của hai tiểu thuyết này, đặc biệt là tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra. Nét nổi trội về yếu tố thời gian trong Người đàn bà trên đảo là thời gian hoài niệm và kí ức. Trước hết là thời gian của kí ức hoài niệm lịch sử của người kể chuyện và nhân vật. Tiểu thuyết có tám phần, riêng kí ức lịch sử về nghĩa quân Tần Đắc được nói đến và lặp lại ở phần Một, phần Bảy và phần Tám. Kí ức của người kể chuyện hướng người đọc về lịch sử của đảo Cát Bạc trong khoảng thời gian cuối thế kỉ XIX (khởi nghĩa của Nguyễn Thiện Thuật – Tán Thuật và tàn quân của Tán Thuật – Nghĩa quân Tần Đắc).

Bên cạnh kí ức và hoài niệm về lịch sử, các nhân vật cũng luôn sống trong kí ức và hoài niệm của chính mình. Trong tâm trí của Tường, những chuyện trong quá khứ ở thành phố luôn ám ảnh anh, ngay cả khi ra làm việc ở đảo. Nhân vật Hòa luôn nhớ về thời thanh niên đi kháng chiến và đặc biệt là nhớ những kỉ niệm với Vân. Những người phụ nữ trên đảo luôn so sánh quá khứ thanh niên xung phong vô tư, gạt bỏ mọi ham muốn dục vọng cá nhân với những đòi hỏi riêng tư trong thời bình, v.v

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE CUONG DE AN 2024\TƯ DUY NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI\TOM TAT

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *