Tội trộm cắp tài sản từ thực tiễn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
- Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam, nằm bên bờ Bắc hạ lưu sông Thu Bồn; có tổng diện tích tự nhiên 61,71 km2, cách thành phố Đà Nẵng 30km về phía đông nam, có vị trí địa lý: Phía đông giáp biển Đông; Phía tây giáp thị xã Điện Bàn; Phía nam giáp huyện Duy Xuyên; Phía bắc giáp thị xã Điện Bàn và biển Đông. Ngoài lợi thế nằm gần sân bay Chu Lai của Quảng Nam và cảng hàng không quốc tế hiện đại Đà Nẵng, Hội An còn có một ưu thế đặc biệt với vị trí nằm trên “Con đường di sản văn hóa miền Trung” bao gồm: Hội An- Mỹ Sơn- Huế. Đây được xem là điều kiện khách quan thuận lợi giúp Hội An thu hút được một lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước. Với những điều kiện như vậy, thành phố Hội An có quá trình phát triển về kinh tế với tốc độ cao trong thời gian qua, đời sống người dân ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, đi cùng với sự phát triển đó thì tình hình tội phạm những năm gần đây có xu hướng tăng lên và diễn biến ngày càng phức tạp, mặc dù chính quyền các cấp thành phố Hội An đã rất quan tâm tới công tác phòng, chống tội phạm, tình hình tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật, tệ nạn xã hội được kiểm soát. Tuy nhiên, một số loại tội phạm vẫn chưa thực sự được kiềm chế hiệu quả, trong đó tội trộm cắp tài sản xảy ra khá thường xuyên trên một phạm vi rộng, một loại hình tội phạm đang có chiều hướng gia tăng và có diễn biến phức tạp tại thành phố Hội An.
Dưới sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức ở một số ngành tại địa phương, nhiệm vụ phòng, chống tội phạm được đưa vào chương trình, kế hoạch phát triển theo yêu cầu của Đảng và Nhà nước, do đó các cơ quan tiến hành tố tụng của thành phố Hội An luôn thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đối với việc xử lý các vụ án hình sự nói chung và tội trộm cắp tài sản nói riêng. Nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử ngày càng được nâng cao. Tỷ lệ phát hiện số vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Hội An chiếm tỷ lệ cao và được đưa ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật. Tuy nhiên, công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trộm cắp tài sản trên thực tế địa bàn thành phố Hội An vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập.
Qua thực tiễn xét xử, số vụ phạm tội trộm cắp tài sản chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu nhóm tội xâm phạm sở hữu. Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Hội An cho thấy những bất cập, khó khăn trong việc xác định một số dấu hiệu định tội, một số tình tiết định khung hình phạt và mức hình phạt đối với người phạm tội. Hiện nay vẫn chưa có hướng dẫn mới về các tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ Luật hình sự năm 2015, văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật đối với các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội trộm cắp tài sản nói riêng còn chưa có sự thống nhất do đó dẫn đến thực tế áp dụng quy định về các tội này còn nhiều hạn chế. Do đó, việc nghiên cứu tội phạm cụ thể trong luật hình sự Việt Nam dưới góc độ thực tiễn tại thành phố Hội An, không những có ý nghĩa sâu sắc về mặt lý luận mà còn về mặt thực tiễn áp dụng pháp luật.
Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Tội trộm cắp tài sản từ thực tiễn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận văn Thạc sĩ. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với tội này, đề tài góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác áp dụng pháp luật tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
- Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- . Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, pháp luật và phân tích thực tiễn áp dụng về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019, luận văn đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản, cũng như đưa ra các kiến nghị, giải pháp cụ thể trong hoạt động áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Hội An nói riêng và tỉnh Quảng Nam nói chung.
- . Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
– Phân tích khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam; Khái quát lịch sử hình thành các quy định của pháp luật Việt Nam về tội trộm cắp tài sản;
– Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam; những hạn chế, bất cập trong áp dụng pháp luật tội trộm cắp tài sản;
– Đưa ra các kiến nghị, đề xuất, giải pháp góp phần kiến nghị nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội trộm cắp tài sản.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội trộm cắp tài sản, thực tiễn áp dụng pháp luật đối với tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
– Về nội dung, đề tài được nghiên cứu dưới góc độ của Luật hình sự và tố tụng hình sự.
– Về không gian, đề tài được nghiên cứu và khảo sát trong phạm vi thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
– Về thời gian, đề tài nghiên cứu dựa trên số liệu thực tế từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam từ năm 2015 đến năm 2019.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống tội phạm.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các yêu cầu mà đề tài đặt ra, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
– Phương pháp lịch sử: phương pháp này được sử dụng để làm rõ sự hình thành và phát triển của tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay.
– Phương pháp thống kê, tổng hợp: phương pháp này được sử dụng để làm rõ tình hình xử lý hình sự đối với tội trộm cắp tài sản.
– Phương pháp phân tích, tổng hợp được tác giả sử dụng để làm rõ những vấn đề chung và những hạn chế, vướng mắc về tội trộm cắp tài sản.
– Phương pháp tổng hợp được sử dụng kết hợp với phương pháp phân tích. Cụ thể, từ những kết quả nghiên cứu bằng phân tích, luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp kết hợp chúng lại với nhau để có được sự nhận thức về vấn đề nghiên cứu một cách đầy đủ, hoàn chỉnh. Kết quả tổng hợp được thể hiện chủ yếu bằng các kết luận, kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự.
– Phương pháp so sánh được sử dụng khi so sánh giữa pháp luật hiện hành với các các văn bản pháp luật trước đây qua các giai đoạn lịch sử.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tội trộm cắp tài sản, nghiên cứu có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn về tội trộm cắp tài sản xảy ra trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Từ những kết quả đạt được trong quá trình nghiên cứu, đề tài giúp nâng cao hiệu quả thực tiễn áp dụng pháp luật về tội trộm cắp tài sản. Bên cạnh đó, nội dung và kết quả nghiên cứu của đề tài có thể khai thác, sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác đào tạo luật, nghiên cứu khoa học, hội thảo tập huấn chuyên đề, nâng cao hiệu quả công tác của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng khi giải quyết các vụ án trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Hội An.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 Chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về tội trộm cắp tài sản theo pháp luật hình sự;
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam;
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN THEO
1.1. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội trộm cắp tài sản
1.1.1. Tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
Quy định về tội trộm cắp tài sản nói riêng và các quy định khác trong pháp luật hình sự nói chung của nước ta giai đoạn mới giành độc lập bước đầu được kế thừa từ pháp luật của chế độ cũ. Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để bảo vệ thành quả cách mạng là công cụ hữu hiệu nhất, đặc biệt đã thể hiện chính sách hình sự đối với các hành vi xâm phạm sở hữu. Một số các văn bản như: Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh tạm thời giữ lại các luật lệ tại miền Bắc, Trung, Nam Bộ; Sắc lệnh số 26/SL ngày 25/02/1946 quy định các hành vi phá hoại công sản. Ngày 09/11/1946, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua Hiến pháp đầu tiên, tại Điều 12 đã ghi nhận: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”. Trong giai đoạn này Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã ban hành một số Sắc lệnh quy định về tội phạm xâm phạm sở hữu trong đó có tội trộm cắp tài sản như: Sắc lệnh số 267 ngày 15-6-1958 trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã và của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách kế hoạch của Nhà nước về xây dựng kinh tế và văn hoá; Sắc lệnh số 12 ngày 12/3/1949 quy định trừng trị các hành vi trộm cắp vật dụng nhà binh trong thời bình và thời kỳ chiến tranh.
Đồng thời, Nhà nước ta cũng quan tâm đến việc bảo vệ các tài sản riêng của Công dân như quy định tại Thông tư 442-TTg ngày 19-01-1955 của Thủ tướng Chính phủ.
Tư tưởng chủ đạo giai đoạn này là chú trọng bảo vệ tài sản chung là tài sản XHCN hơn tài sản riêng tài sản cá nhân. Trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 được ban hành thì các hình phạt không được quy định tập trung, sắp xếp theo một trình tự nhất định và cũng không có tiêu chí đánh giá chung, áp dụng thống nhất.
Ngoài những văn bản pháp luật có liên quan nêu trên, trong giai đoạn này còn có Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 21/10/1970 và Pháp lệnh số 149-LCT ngày 21/10/1970 là Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản Xã hội chủ nghĩa và. Pháp lệnh này quy định:
Tài sản xã hội chủ nghĩa bao gồm tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước thuộc sở hữu toàn dân, và tài sản thuộc sở hữu của hợp tác xã và các tổ chức hợp pháp khác thuộc sở hữu của tập thể; tài sản của công dân bao gồm: của cải do sức lao động của công dân làm ra một cách hợp pháp hoặc để dành được như xe cộ, tiền bạc, trang sức, nhà cửa và những đồ dùng cá nhân có giá trị khác.
Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân quy định tội trộm cắp tài sản riêng của công dân tại Điều 6 như sau:
“1. Kẻ nào trộm cắp tài sản riêng của công dân thì bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc những trường hợp sau:
a) Có tính chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiểm;
b) Có tổ chức;
c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
d) Gây hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của người bị thiệt hại hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm.
3. Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN quy định tội trộm cắp tài sản XHCN tại Điều 7 như sau:
“1. Kẻ nào trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.
2. Phạm tội trong những trường hợp sau đây:
a) Có tính chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiểm;
b) Có tổ chức;
c) Có móc ngoặc;
d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
e) Trộm cắp tài sản với số lượng lớn hoặc tài sản có giá trị đặc biệt;
f) Dùng tài sản trộm cắp được vào việc kinh doanh, bóc lột, đầu cơ, hoặc vào những việc phạm tội khác thì bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
3. Phạm tội trong trường hợp số tài sản bị xâm phạm rất lớn hoặc có nhiều tình tiết nghiêm trọng hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc bị xử tử hình”.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự các cơ quan chức năng đã có những văn bản hướng dẫn giải quyết đối với các trường hợp cụ thể như: Báo cáo tổng kết công tác của TAND tối cao năm 1971, 1972; Thông tư 213/NCPL ngày 5/5/1973 của TAND tối cao – VKSND tối cao – Bộ Công an.
Nội dung hai pháp lệnh trên đã thể hiện chính sách pháp luật hình sự đối với các tội xâm phạm về sở hữu nói chung và tội trộm cắp tài sản nói riêng thể hiện trình độ kỹ thuật lập pháp của Nhà nước ta nhằm đảm bảo nguyên tắc pháp chế đáp ứng việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm nói chung và tội trộm cắp tài sản nói riêng. Hai cấu thành tội phạm hoàn chỉnh về tội trộm cắp tài sản đó là tội trộm cắp tài sản XHCN và tội trộm cắp tài sản riêng của công dân quy định cụ thể và tập trung các tình tiết định khung tăng nặng trong điều luật, có các khung hình phạt tương ứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi tội phạm, phân hoá trách nhiệm hình sự người phạm tội được thể hiện qua hai pháp lệnh này. [26, tr.25].
Việc ban hành hai bản Pháp lệnh tại thời điểm này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước ta đối với tài sản công như tài sản thuộc quyền quản lý trực tiếp của nhà nước và đối với tài sản riêng của cá nhân, nâng cao lòng tin của nhân dân đối với chính quyền trong thời điểm này. Tạo niềm tin, nhân dân càng yên tâm tích cực tham gia sản xuất và chiến đấu chống giặc Mỹ xâm lược.
Ngoài hai pháp lệnh nêu trên, Ban bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam cũng đã ban hành Chỉ thị số 185 ngày 09/12/1970 về tăng cường bảo vệ tài sản XHCN nhằm chỉ đạo thi hành nội dung hai pháp lệnh trong thực tiễn cuộc sống.
Sắc luật số 03 quy định về tội phạm và hình phạt được thông qua ngày 15/3/1976. Tại Điều 4 sắc lệnh này quy định: “Phạm các tội như: trộm cắp, tham ô, lừa đảo, bội tín, cướp giật thì bị phạt tù từ sáu tháng đến bảy năm. Trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến mười lăm năm”.
1.1.2. Tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật hình sự năm 1985
Năm 1985 Bộ luật hình sự đầu tiên của nước ta ra đời trên cơ sở của nền kinh tế bao cấp và thực tiễn của tình hình tội phạm thời kỳ đó. BLHS năm 1985 với ý nghĩa là nguồn duy nhất trong đó quy định tội phạm và hình phạt tại thời điểm này. BLHS năm 1985 là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc xử lý người phạm tội, song vẫn còn sự phân biệt giữa tội trộm cắp tài sản XHCN và tội trộm cắp tài sản của công dân.
Tội trộm cắp tài sản XHCN được quy định tại Điều 132 BLHS năm 1985 bao gồm 3 khung hình phạt. Tại khung cơ bản (Khoản 1) có quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản XHCN thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.
Khung tăng nặng thứ nhất được quy định tại Khoản 2 với mức hình phạt từ 3 năm đến 12 năm nếu trộm cắp thuộc các trường hợp:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm: a) Có tổ chức; b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; c) Hành hung để tẩu thoát; d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn; đ) Tái phạm nguy hiểm.
Khung tăng nặng thứ 2 được quy định tại khoản 3 với mức hình phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình trong trường hợp:
3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Tội trộm cắp tài sản của công dân được quy định tại Điều 155 BLHS năm 1985 bao gồm 3 khung hình phạt. Tại khung cơ bản (Khoản 1) có quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.
Khung tăng nặng thứ nhất được quy định tại Khoản 2 với mức hình phạt tù từ hai năm đến mười năm nếu trộm cắp thuộc các trường hợp:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm:
a) Có tổ chức;
b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; hành hung để tẩu thoát;
c) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác;
d) Tái phạm nguy hiểm
Khung tăng nặng thứ 2 được quy định tại khoản 3 với mức hình phạt tù từ bảy năm đến hai mươi năm trong trường hợp:
3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến hai mươi năm.
Các vấn đề liên quan đến định lượng tài sản để xác định cấu thành Tội trộm cắp tài sản và các khung hình phạt tăng nặng được hướng dẫn trong các văn bản như: Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986 hướng dẫn áp dụng quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự của Hội đồng thẩm phán; Thông tư liên ngành 04/TTLN năm 1985 hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự do Toà án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Tư pháp ban hành.
1.1.3. Tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật hình sự năm 1999
Trên cơ sở yêu cầu của xã hội, kinh tế nước ta dần chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phát triển theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN, để đảm bảo và thực hiện sự bình đẳng của các thành phần kinh tế, chính sách hình sự và pháp luật hình sự cũng phải thay đổi theo. Trước sự phát triển không ngừng của xã hội, việc sửa đổi, bổ sung các quy định của BLHS 1999 trở thành một yêu cầu tất yếu. BLHS năm 1999 đã góp phần quan trọng trong quản lý xã hội, đấu tranh và phòng ngừa tội phạm; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Đảng, Nhà nước, tổ chức và của công dân. Tại kỳ họp thứ VI Quốc hội khóa X ngày 21-12-1999, có hiệu lực từ ngày 01-07-2000 Bộ luật hình sự năm 1999 được thông qua.
Bộ luật hình sự năm 1999 đã gộp hai chương liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu trong BLHS năm 1985 thành một.
“Điều 138. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”.
So với quy định về tội trộm cắp tài sản trong bộ luật cũ, tội trộm cắp tài sản tại Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 có một số điểm mới như sau:
Thứ nhất, tội trộm cắp tài sản tại Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 đã hợp nhất hai điều luật về tội trộm cắp tài sản XHCN và tội trộm cắp tài sản của công dân thành một điều luật. Tuy nhiên, để đấu tranh có hiệu quả với hành vi trộm cắp tài sản công, Điều 48 BLHS năm 1999 quy định tình tiết tăng nặng mới “Xâm phạm tài sản nhà nước”.
Thứ hai, Bộ luật hình sự năm 1999 đã định lượng cụ thể giá trị tài sản bị chiếm đoạt, có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì bị truy cứu theo khoản 1, đồng thời người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các khoản khác nhau của điều luật tùy theo mức độ vi phạm.
Thứ ba, tội trộm cắp tài sản tại Điều 138 được quy định bốn khung hình phạt do đó khoảng cách giữ mức tối đa và mức tối thiểu của một khung hình phạt được thu hẹp lại tạo cơ sở cho việc áp dụng hình phạt chuẩn xác hơn khi lượng hình.
Thứ tư, Điều 138 BLHS năm 1999 đã xác định ranh giới giữa trường hợp xử lý hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự. Trộm cắp tài sản có giá trị có giá trị dưới năm trăm nghìn đồng nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng hoặc chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, trước những thay đổi lớn lao trên các mặt của đời sống xã hội, sự phát triển của nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập, nhận thức pháp luật của của người dân ngày càng nâng cao, những thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, nhiều loại tội phạm mới xuất hiện… những vấn đề đó đòi hỏi cần phải có sự điều chỉnh sửa đổi, bổ sung của hệ thống pháp luật trong đó có pháp luật hình sự nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. BLHS năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung một lần vào năm 2009, xác định lại ranh giới giữa trường hợp hành vi vi phạm pháp luật hành chính với trường hợp: Trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2 triệu đồng và hành vi này không gây hậu quả nghiêm trọng hoặc người đó chưa bị xử lý hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản thì chỉ bị xử phạt hành chính.
1.1.4. Tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật hình sự năm 2015
Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 ra đời đã kế thừa và phát triển trên cơ sở của Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật, thể hiện được tính nhân đạo sâu sắc mang bản chất giai cấp, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phù hợp với luật pháp quốc tế. Phù hợp với các quy định của Hiến pháp năm 2013 đề cao quyền con người, quyền công dân, đáp ứng được yêu cầu trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, là cơ sở để khắc phục những tồn tại, bất cấp trong thực tiễn thi hành Bộ luật Hình sự. Phù hợp với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, những vấn đề tội phạm, hình phạt liên quan đến đối tượng phạm tội là người mang quốc tịch nước ngoài được quy định khá đầy đủ, chi tiết đáp ứng được quá trình hội nhập và phát triển với các nước trong khu vực và thế giới. Bộ luật đã cụ thể hóa được những vấn đề mới, những nguy cơ tiềm ẩn của các loại tội phạm có thể xảy tra trong tương lai, đảm bảo sự ổn định lâu dài trong quá trình thi hành. Đối với những nội dung về quy định chung, các tội phạm cụ thể, về bố cục, kết cấu, vị trí của các chương, điều, khoản, ngôn ngữ diễn đạt về kỹ thuật lập pháp hoàn toàn phù hợp với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thể hiện được tính kế thừa và phát triển. Bộ luật Hình sự năm 2015 gồm có 3 Phần, 26 chương, 426 điều so với Bộ luật Hình sự năm 1999 thì Bộ luật này bãi bỏ 03 điều; giữ nguyên 30 điều; sửa đổi, bổ sung 396 điều, với nhiều nội dung được sửa đổi lớn. Tội trộm cắp tài sản, được quy định tại Điều 173 BLHS gồm 04 khung và hình phạt bổ sung cụ thể:
Tại khung cơ bản (khoản 1 Điều 173) quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
Khung tăng nặng thứ nhất được quy định tại Khoản 2 với mức hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm nếu trộm cắp thuộc các trường hợp:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Trộm cắp tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới
50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
g) Tái phạm nguy hiểm.
Khung tăng nặng thứ hai được quy định tại Khoản 3 với mức hình phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm nếu trộm cắp thuộc các trường hợp:
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Trộm cắp tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
Khung tăng nặng thứ ba được quy định tại Khoản 3 với mức hình phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm nếu trộm cắp thuộc các trường hợp:
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Trộm cắp tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
Ngoài ra, tội trộm cắp tài sản còn quy định hình phạt bổ sung tại khoản 5:
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Như vậy, so với Điều 138 BLHS năm 1999 về tội trộm cắp tài sản thì Điều 173 BLHS năm 2015 có một số điểm mới sau đây:
Thứ nhất, bổ sung thêm hai trường hợp đối với hành vi trộm cắp tài sản thuộc khung hình phạt từ 6 tháng đến 3 năm tù.
Khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 bổ sung thêm 02 trường hợp đối với những hành vi trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng vẫn phạm tội trộm cắp tài sản là:
“c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.”
Với tình trạng trộm cắp các loại tài sản dưới 2.000.000 đồng đang ngày càng gia tăng gây tâm lí hoang mang, bức xúc trong quần chúng nhân dân đòi hỏi phải có những hình thức răn đe tội phạm, chấn chỉnh lại trật tự xã hội. Do vậy, việc pháp luật bổ sung thêm các trường hợp này là việc làm cần thiết.
Thứ hai, bỏ một số tình tiết định khung tăng nặng.
Đối chiếu với Bộ luật hình sự 1999, Bộ luật hình sự 2015 đã bỏ các tình tiết định khung “Gây hậu quả nghiêm trọng; Gây hậu quả rất nghiêm trọng; Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại các khoản 2, 3, 4 Điều 138 BLHS năm 1999. Đây là những tình tiết rất chung, rất khó cho các cơ quan tiến hành tố tụng có thể xác định được trong quá trình thực hiện chức năng của mình.
Thứ ba, sửa đổi tình tiết định khung tại khoản 2, tình tiết định khung Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng” tại BLHS năm 1999 được sửa đổi như sau: Trộm cắp tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này”, đồng thời bổ sung thêm tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm”.
Thứ tư, bổ sung các tình tiết định khung tại hoản 3 điều luật bổ sung thêm 02 tình tiết định khung “Trộm cắp tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này và Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.”
Khoản 4, bổ sung thêm 02 tình tiết định khung “Trộm cắp tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này và Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp”
Thứ năm, bỏ hình phạt tù chung thân tại khoản 4 bỏ hình phạt tù chung thân theo đó sẽ phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
Tóm lại, nghiên cứu lịch sử các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến khi BLHS 2015 được ban hành về tội trộm cắp tài sản cho thấy:
– Tội trộm cắp tài sản từ chỗ được quy định trong từng văn bản riêng lẻ đã được pháp điển trong các văn bản có hiệu lực pháp lý cao là BLHS; từ chỗ chỉ quy định các hành vi bị trừng trị đến chỗ có tên tội danh, khung hình phạt với các tình tiết tăng nặng chi tiết trong khung hình phạt
– Tội trộm cắp tài sản lúc đầu được quy định riêng rẽ đối với tài sản XHCN và tài sản riêng của công dân với chính sách xử lý đối với tài sản XHCN là nghiêm khắc hơn. Hiện nay, với sự thay đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nên quan hệ sở hữu cũng thay đổi theo. Do đó, điều luật hiện nay đã đã hợp nhất hai điều luật lại với nhau.
– Trong quy định về tội trộm cắp, các nhà làm luật đã từ chỗ không quy định về giá trị trị tài sản bị trộm cắp đến nay khung cơ bản của tội trộm cắp và các khung hình phạt tăng nặng đều quy định giá trị cụ thể của tài sản để làm căn cứ định tội cũng như lượng hình phạt.
– Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến việc bảo vệ tài sản Nhà nước, tài sản của hợp tác xã và tài sản của công dân, chính sách xử lý với các hành vi chiếm đoạt các tài sản này nói chung và hành vi trộm cắp nói riêng trong một thời gian dài rất nghiêm khắc [19, tr.34].
1.2. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành
1.2.1. Khái niệm tội trộm cắp tài sản
Theo Từ điển pháp luật hình sự, trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có người khác quản lý [9, tr.283].
Theo pháp luật hình sự hiện hành ở nước ta, khái niệm tội phạm được các nhà làm luật ghi nhận tại Điều 8 Bộ luật hình sự năm 2015. “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” [19, Điều 8].
Theo BLHS năm 2015, tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 thuộc chương XVI quy định về các tội xâm phạm sở hữu.
Theo Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) do GS.TSKH. Lê Cảm chủ biên thì để đưa ra được khái niệm tội trộm cắp tài sản, cần khẳng định tội trộm cắp tài sản phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm, tức là thể hiện ba bình diện với năm đặc điểm của nó là: bình diện khác quan – tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; bình diện pháp lý – tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự; bình diện chủ quan – tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi.
Còn theo Ths Đinh Văn Quế thì “Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút lấy tài sản của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản mà không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực hoặc bất cứ một thủ đoạn nào nhằm uy hiếp tinh thần của người quản lý tài sản”. Theo khái niệm này thì chưa chỉ ra được khách thể cũng như chủ thể của tội trộm cắp tài sản.
Căn cứ quy định của Điều 173 BLHS năm 2015 và trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm trong khoa học luật hình sự về tội phạm này, thì tác giả đưa ra khái niệm tội trộm cắp tài sản như sau: “Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; Tài sản là di vật, cổ vật. mà còn vi phạm do người có đủ năng lực TNHS thực hiện với lỗi cố ý”
1.2.2. Dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản
1.2.2.1. Khách thể của tội trộm cắp tài sản
Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại [22, tr.86].
Tội trộm cắp tài sản không xâm phạm đến quan hệ về nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu. Đây là điểm khác của Tội trộm cắp tài sản với các khác cũng có yếu tố chiếm đoạt tương tự nhưng quy định thêm thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ như tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản trong tình tiết định khung hình phạt. Tội trộm cắp tài sản là một trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt không xâm phạm đến quan hệ về nhân thân. Do vậy cũng giống như các tội xâm phạm sở hữu khác, tội phạm này xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản. Để gây thiệt hại đến các quyền sở hữu về tài sản, người phạm tội trộm cắp tài sản phải tác động đến tài sản của người đang quản lý hợp pháp đối với tài sản bị chiếm đoạt. Như vậy, về nguyên tắc, đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản phải là tài sản đang được người khác quản lý hợp pháp. Tuy nhiên, trong trường hợp người chủ tài sản đã giao tài sản cho người khác quản lý như cho mượn, giữ hộ… nhưng sau đó lại có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của mình thì vẫn có thể cấu thành tội trộm cắp tài sản.
Sau khi người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản nhưng bị đuổi bắt mà có hành vi “hành hung để tẩu thoát” thì bi xem xét theo quy định tại Mục 6 Phần I Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC- VKSNDTC-BCA-BTP của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công an, Bộ tư pháp ngày 25 tháng 12 năm 2001về việc hướng dẫn áp đụng một số quy định tại chương XIV “các tội xâm phạm sở hữu” của bộ luật hình sự năm 1999”.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 11\SAU BAO VE\DOT 4/ NGUYEN VAN TUAN


