Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin mạng viễn thông theo Luật hình sự Việt Nam

Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin mạng viễn thông theo Luật hình sự Việt Nam

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề tài

Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đang phát triển nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu, trong đó có lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Cóthểnói, công nghệ thông tin, mạng viễn thôngđã đượcứng dụng phổ biến trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự phát triểnvượt bậc của công nghệ số đã và đang là nền tảng cho sự phát triển các lĩnh vực kinh

tế, xã hội, từ các ngành sản xuất, công nghiệp, dịch vụ thông tin đến văn hóa, giải trí, giao thông, y tế. Trong tương lai, công nghệ thông tin, mạng viễn thông ngày càng có vai trò quan trọng hơn. Ở Việt Nam trong những nămgầnđây, công nghệ thông tin, mạng viễn thông đã phát triển mạnh mẽ. Theo Bảng xếphạngchỉsốtíchhợpphát triển bưu chính do Liên minh Bưu chínhthếgiới công bố, năm 2018 Việt Namxếphạng 45/172 quốc gia trên thế giới. Trong lĩnh vực an toàn thông tin mạng, theo Báo cáo chỉ số an toàn thông tin toàncầunăm 2018 của Liên minh viễn thông quốc tế, Việt Namxếpthứ50/194 quốc gia trên thế giới, đứng thứ 5 trong các nước ASEAN1.

Song hành với sự phát triển và phổ biến của công nghệ thông tin, mạng viễn thông là sựxuất hiện ngày càng phức tạpcủa tộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Hiện nay ở Việt Nam, tội phạm nàyđã gây ra những tác hại không nhỏ đến trật tự, an toàn xã hội. Nhiều lĩnh vực của đờisống xã hộiđangứngdụng công nghệ thông tin, mạng viễn thôngđã bịgây thiệt hại. Trong lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, ngườiphạmtộithường tập trunglợidụng kênh truyền thông qua mạng internetđể xuyên tạc, vu khống cơ quan, tổ chức, xâm phạm thông tin cá nhân, tuyên truyền những tư tưởng

1 Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông (2020), Sách trắng công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam năm 2019, NXB. Thông tin và Truyền thông.

2

kích động bạo lực, trái với thuần phong mỹ tục của Việt Nam. Trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội, Việt Nam tiếp tục bịcoi là địa chỉvi phạm thường xuyên của nhữngkẻ tấncôngvớinhiềuvụtấncông, phá hoại, lây nhiễm vi rút, phầm mềm gián điệp, mã tin học độc hại… nhằm vào hệ thống mạng của cơ quan, doanh nghiệp với mức độ, tính chất ngày càng nghiêm trọng, làm rối loạn hoạtđộngcủa hệ thống và lộlọtthông tin. Tình trạngsửdụng các phương tiện điện tử đánh cắp thông tin, làm giả thẻ tín dụng để mua vé máy bay, hàng hóa ởnước ngoài chuyểnvề Việt Nam tiêuthụtiếp tục gia tăng, gây thiệt hạilớncho nạn nhân và xã hội nói chung. Các tổ chức tội phạm tại Việt Nam liên kết chặt chẽ với các tổ chức tội phạm ở nước ngoàitạothành nhữngđườngdâytộiphạm hoạtđộngtinh vi, kínđáothông qua côngcụlàcông nghệ thông tin, mạng viễn thông. Tình trạng lừa đảotrong lĩnh vực thươngmạiđiệntửvà thanh toánđiệntửgia tăng, dẫnđếnhậuquảnhiều nước trên thế giới không chấp nhận giao dịch qua mạng internet có địa chỉ IP xuất pháttừViệt Nam, làmảnhhưởngnghiêm trọngđếnuy tín và hình ảnh của Việt Nam trong lĩnh vực thương mạiđiệntử nói riêng và lĩnh vực kinh tếquốc tế nói chung. Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông có đặc điểm là việc thực hiện tội phạm không bị giới hạn bởi biên giới quốc gia. Do đó, việc xử lý người phạm tội thực hiện tội phạm ở ngoài biên giới quốc gia nhưnglạigây thiệthạichonạnnhânở Việt Nam trong những năm gần đây gặp nhiều khó khăn.

Bộluậthình sự đượccoi là công cụ sắc bén để đấu tranh với tội phạm nói chung và vớitộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông nói riêng. Dù chưa được quy định thành tên riêng như hiện nay nhưng Bộluật hình sự năm 1999 đã có quy định về tội phạm nàytạiĐiều224 (Tội tạora và lan truyền, phát tán các chương trình vi – rút tin học), Điều 225 (Tội vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính điện tử)và Điều226 (Tộisửdụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính). Do mặt trái của sự phát triển trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông, các hành vi phạmtội mớidần xuấthiện. Điều đó dẫn đếnnhu cầu sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999 vào năm 2009. Trong lần sửa đổi, bổsung này, các quyđịnhcủa Bộluật hìnhsựnăm 1999về tộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông cũngđược sửađổi, bổsung nhiều quyđịnhmới. Theo đó, các quyđịnhtạiĐiều224, Điều225 và Điều 226đã được sửa đổi,bổsung đángkể;đồngthờiđã bổsung thêm haiđiều luậtmớilà Điều226a (Tội truycập bấthợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác) và Điều 226b (Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản). Đến Bộ luật hình sự năm 2015, các quy định về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thong tin lại tiếp tục được sửa đổi, bổsung với nhiều nội dung quan trọng như quy định tên riêng cho nhóm tội này; sửa đổi, bổ sung các tội hiện có, đồng thời bổ sung thêm bốn tội danh mới bao gồm:Tộisảnxuất, mua bán, traođổihoặc tặng cho côngcụ,thiết bị, phần mềmđể sửdụng vào mục đích trái pháp luật(Điều285);Tộithu thập, tàng trữ, traođổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tinvề tài khoản ngân hàng(Điều291);Tộisửdụng trái phéptầnsốvô tuyếnđiệndành riêng cho mục đíchcấpcứu, an toàn, tìm kiếm, cứuhộ, cứunạn, quốc phòng, an ninh (Điều293); Tội cố ý gây nhiễu có hại(Điều294). Có thể thấy, quy định của Bộluật hìnhsựvề tộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông ngày càng được bổ sung, hoàn thiện. Tuy nhiên, các quy định này vẫn còn những điểmhạnchế nhất định, chưa đạt yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông hiện nay, cũng như trong thời gian tới. Bên cạnh đó, thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hìnhsựđể xétxửtộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông trong những năm qua (2009 – 2020) đã đạtđược nhữngkếtquảnhất định. Tòa án đã xét xử được 445 vụ án với 933 bị cáo phạm tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông 2. Tuy nhiên, trong thực tiễnvẫncòn xuất hiện những khó khăn, vướng mắc cần kịp thời tháo gỡ, giải quyết để hoạt động này đạt hiệu quả cao hơn. Về lý luận, tội phạm trong lĩnh vực công nghệthông tin, mạng viễn thông là tội phạm mới, liên quan đến lĩnh vực kỹ thuật cao, phức tạpnênsốlượngcông trình nghiêncứuvềtộiphạm này không nhiều, nhất là từ khi Bộ luật hình sự năm 2015 được bạn hành.

Vớinhững lý do trên, tác giảmạnhdạnlựa chọn đềtài “Tộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông theo Luật hìnhsự Việt Nam” làm luận án tiến sỹ của mình.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của Luận án là xây dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Luật hình sự Việt Nam về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông trong thời gian tới.

Đểđạtđược mục đíchđềra, Luận án có nhiệmvụnghiêncứunhững nội dung sau đây:

Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông như kháiniệm, đặc điểm và phân loại tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông; cơ sở của việc quyđịnhvềtộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông trong Bộ luật hình sự. Qua đó, xây dựng và hoàn thiện hệ thống lý luận về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông.

Thứ hai, nghiên cứu quy định của pháp luật quốc tế về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Hiểu rõ các quyđịnhcủa pháp luật quốc tế về tội phạm này là cơ sở để chứng minh cho những vấn đề 2 Số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao năm 2009 – 2020. lý luận, đồngthời là căncứđểso sánh, đánh giá vớicác quyđịnhcủa Luật hình sự Việt Nam.

Thứba, nghiêncứucác quyđịnhcủa Luật hìnhsựViệt Namvềtội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Nội dung nghiên cứu làm rõ thực trạng quy định của Luật hình sự Việt Nam về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông; so sánh, đánh giá các quyđịnh với các quy định của pháp luật quốc tế và xu thế chung trong Luật hình sựcủa các nước trênthếgiới. Qua đótìm ra nhữngkếtquảđạt được, cũng như những tồn tại, hạn chế trong quy định của Luật hình sự Việt Namvề tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Từ đó, xác định đượcnhữngvấnđềcầnphải tiếptụcnghiêncứusửa đổi, bổsung quyđịnh của Luật hìnhsựViệt Namvềtộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông.

Thứtư, nghiêncứuthực tiễn áp dụng các quyđịnhcủa Luật hìnhsựViệt Namvềtộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông trong những năm qua. Qua đó, xác định rõ những kết quả đạt được cũng nhưnhững những khó khăn, tồntại, vướngmắctrong thực tiễn áp dụng; tìm ra nguyên nhân của những khó khăn, tồntại, vướngmắc đó. Đâycũng là một trong những cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quyđịnhcủa Luật hìnhsựViệt Namvềtộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông trong thời gian tới.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là các quan điểm khoa học ở trong và ngoàinước vềtộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông; quy định và thực tiễn áp dụng các quy định của Luật hình sự Việt Nam vềtộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông; quyđịnhcủa văn bản pháp luật quốc tế về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Nộidung của Luận án nghiêncứuvềtộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thôngdướigóc độLuật hìnhsựthuộc chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự.

Thực tiễn áp dụng quyđịnhcủa Luật hìnhsự Việt Namvềtộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông được nghiên cứu trong Luận án là thực tiễn áp dụng của ngành Tòa án trên toàn quốc trong giaiđoạn từ năm 2009 đến năm 2020.

4. Cơ sở lý thuyết, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý thuyết của luận án

Luận án nghiêncứuvềtộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông trên cơ sở hệ thống lý luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lê nin và lý luận về tội phạm và hình phạt của Luật hình sự Việt Nam. Các giải phápđềxuất nhằm nâng cao hiệuquảáp dụng quyđịnhcủa Luật hình sự về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông dựa trên chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước về tội phạm nói chung và tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông nói riêng.

4.2. Câu hỏi nghiên cứu của luận án

Câu hỏi nghiên cứu chung của Luận án là trong giai đoạn hiện nay, các quy định của Luật hình sự Việt Namđã đápứng yêu cầu đấu tranh chống vàphòng ngừa hiệuquảđốivớitộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông hay chưa?Đểgiải quyết câuhỏinghiêncứunày, Luận án cần giải quyết những vấn đề cụ thể như sau:

Thứ nhất, hệ thống lý luận về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông đã đầy đủ, hoàn thiện và thống nhất hay chưa?

7

Thứhai, các quyđịnhcủa Luật hìnhsựViệt Namvềtộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông có phù hợp, phục vụ có hiệu quảcông tác đấutranh chống và phòng ngừa hiệuquảđốivớitộiphạm này hay không?

Thứ ba, thực tiễn áp dụng các quy định của Luật hình sự Việt Nam về

tộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông trong những năm qua nhưthếnào? Cơ quan có thẩm quyềnđãđạtđược nhữngkếtqủa, cũng nhưgặpphải khó khăn, vướngmắcgì? Nguyên nhân của những khókhăn, vướng mắc đó là gì?

Thứtư, trong thời gian tới, cầnphải có giải pháp gìđểnâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Luật hình sự Việt Nam về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông?

4.3. Giả thuyết nghiên cứu của luận án

Trên cơ sởcâuhỏinghiêncứutrên, Luận án xây dựnggiảthuyết nghiên cứu sau đây:

Về tổng thể Luận án giả thiết rằng, Luật hình sự Việt Nam hiện nay cơ bảnđãđápứngyêucầucủa công tácđấutranhđốivới tộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Tuy nhiên, vẫn còn có những tồn tại, hạn chế, vướng mắc nhất định, cần phải tiếp tục hoàn thiện và đề ra giải pháp thực hiện có hiệu quả hơn trong thời gian tới. Cụ thể:

Thứ nhất, hệ thống lý luận về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thôngđã được xác địnhrõ nhưngvẫncòn cónộidung chưa thống nhất, chưa hoàn thiện. Do đó, cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống lýluận về tội phạm này.

Thứhai, các quyđịnhcủa Luật hìnhsựViệt Nam cơ bảnđã đápứng được yêucầuđấutranh chống và phòng ngừa tộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông, nhưng vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, làm ảnh hưởng đến hiệu quả đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm này. Trong thời gian tới, các quyđịnhnàycầnđượctiếp tục nghiêncứusửa đổi, hoàn thiện.

Thứ ba, việc áp dụng quy định của Luật hình sự về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông trong những năm qua (2009 – 2020) đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng vẫn còn những tồn tại, hạn chế, vướngmắc. Nhữngtồntại, hạnchế,vướngmắc này do những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau. Cần phải tìm ra những giải pháp đểhạn chế, giải quyết những nguyên nhân này trong thời gian tới.

Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin mạng viễn thông theo Luật hình sự Việt Nam
Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin mạng viễn thông theo Luật hình sự Việt Nam

5. Phƣơng pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và phương pháp duy vậtlịch sử, Luận ánchủyếusửdụng phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp và phương pháp so sánh luật.

Phương pháp phân tích được sử dụng trong tất cả các chương của Luận án. Trên cơ sởphân tích các công trình nghiêncứucủa các tác giảtrong vàngoài nước về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông, Luận án tổng hợp, phân loại các nghiên cứu đó theo từng trường phái và từng vấn đề nghiên cứu. Từ đó có cái nhìn tổng thể về tình hình nghiêncứu đối với tộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thôngởtrong vàngoài nước.

Phương pháp phân tích và phương pháp tổnghợpđược sửdụngđểphân tích những vấn đề lý luận, các quan điểm khoa học, từ đó tổng hợp, khái quát thànhhệthống nhữngvấnđềlý luậnvềtộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông.

Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp thường xuyênsử dụngđểphân tích làm rõ các quyđịnhcủa Luật hìnhsựViệt Namvềtộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông và thực tiễn áp dụng các

9

quy định này trong những năm qua ở Việt Nam. Bên cạnh đó, phương pháp so sánh luật cũng được sử dụng để phân tích, so sánh giải thích sự tương đồng vàkhác biệt giữa quy định của Luật hình sự Việt Nam với pháp luật quốc tế và xuhướngchung của các nước trênthếgiớivềtộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Đâylà công trình khoa học cấpđộluận án tiếnsỹchuyên ngành Luật hìnhsựvàTốtụng hìnhsự đầutiênvềtộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông ở Việt Nam. Những đóng góp về khoa học và thực tiễn của Luận án được thể hiện thông qua những điểm mới sau đây:

Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện hệ thống lý luận như khái niệm, đặc điểm của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Đây là nhữngvấnđềphức tạp, hiện nay còn có quanđiểmkhác nhau. Vớihệthống lý luậnvềtộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thong được xây dựng và hoàn thiện trong Luận án sẽ góp phần làm rõvấn đềlý luận, làm giầu thêm tri thức về tội phạm này.

Thứ hai, phân tích các dấu hiệu pháp lý và hình phạt của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015. Bình luận, so sánh, đánh giá các quy định này với những chuẩn mực và xu hướng của pháp luật quốc tế về tội phạm trong lĩnh vực công nghệthông tin, mạng viễn thôngđểtìm ra điểmtương thích và chưa tương thích của Luật hìnhsựViệt Nam. TrongbốicảnhBộluật hìnhsựnăm 2015 vừa được ban hành và có hiệu lực chưa lâu, những phân tích, đánh giá trong Luận án giúp hiểu rõbảnchất các quyđịnhcủa Bộluật hìnhsựnăm 2015vềtội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Đólà cơ sởcần thiết trong việc áp dụng đúng các quy định này trong thực tiễn.

10

Thứ ba, tổng kết, đánh giá thực tiễn áp dụng quy định của Luật hình sựvềtộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông trong giaiđoạn2009 – 2020. Trên cơ sởđó, đềxuấtmộtsốgiải pháp nhằm nâng cao hiệuquảáp dụng quyđịnhcủa Bộluật hìnhsựnăm 2015vềtộiphạm này trong thời gian tới. Đây là những kiến nghị mang tính thực tiễn có giá trị tham khảođốivớicác cơ quan có thẩm quyền trong việc ban hành pháp luật vàtrong công tác đấutranh phòng chốngtộiphạm trong lĩnh vực công nghệthông tin, mạng viễn thông hiện nay.

7. Kết cấu của Luận án

Ngoài phầnmởđầu, phần tổng quanvềvấnđềnghiên cứu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của Luận án được kết cấu thành 3 chương như sau:

Chương 1. Những vấn đề chung về tội phạm trong lĩnh vực công nghệthông tin, mạng viễn thông.

Chương 2. Quy định của Luật hình sự Việt Nam về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông.

Chương 3. Thực tiễn áp dụng và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quyđịnhcủa Luật hìnhsựViệt Namvềtộiphạm trong lĩnh vực công nghệthông tin, mạng viễn thông.

11

PHẦN TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1. Tình hình nghiên cứu về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông

1.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

23

1.2. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài

2. Đánh giá tình hình nghiêncứuvề tộiphạm trong lĩnh vực công nghệthông tin, mạng viễn thông

Thông qua việc nghiên cứu với số lượng đáng kể các công trình nghiên cứutrong và ngoài nước, tác giả luận án cho rằng cóđủcăncứđể đánh giátình hình nghiêncứu về tội phạmtrong lĩnh vực CNTT, MVT qua một số vấnđề sau:

Thứ nhất, nhận thức và lý luận về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT:

Các nghiêncứutừtrước đếnnayở cả trongnước và ngoàinước đều nghiên cứu về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT dưới góc độ là tội phạm mới, xuất hiện cùngvớisựra đờivà phát triển của CNTT, MVT. Về nhận thức chung các nghiêncứuđềuthống nhất rằng, tộiphạm trong lĩnh vực CNTT, MVT là tội phạm có sự liên quan đến CNTT, MVT ở những vai trò làmục tiêu tấn công của tội phạm và công cụ để thực hiện tội phạm. Dưới gócđộ nghiên cứu như vậy nên tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT có phạm vi rộng và ngày càng mở rộng thêm. Với tốc độ phát triển và khả năng ứng dụng ngày càng rộng của CNTT, MVT trongđờisống như hiện nay, ngườiphạm

tộicàng ngày càng có cơ hộisửdụng CNTT, MVTđể thực hiện nhiềutội

30

phạm khác nhau. Tuy nhiên, phạm vi khái niệmtộiphạm trong lĩnh vực CNTT, MVT còn nhiều quan điểm khác nhau. Điều đó cho thấy nhậnthức cụthể về tội phạm này chưa rõ ràng và thống nhất.

Bêncạnh đó, đặc điểm của tội phạmtrong lĩnh vực CNTT, MVT cũngđược các tác giả quan tâm nghiên cứu. Các tác giả đã chỉ ra một số đặc điểm khác biệt giữa tộiphạm trong lĩnh vực CNTT, MVTvớicác tộiphạm khác làm cơ sở cho việc khẳng định đây là tội phạmmớivà LHS cần có quy định riêng về tội phạm này.

Do chưa thống nhất trong việc xác địnhphạm vi khái niệmtộiphạm trong lĩnh vực CNTT, MVT nên việc phân loại, sắp xếp các hành vi phạm tội cóđặc điểmgiống nhau thành nhóm để dễ nhận biết và giải quyếtđược nhiều ngườiquan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, tiêu chíđể phân loạitộiphạm này không có sự thống nhất, do đó có nhiều cách phân loại khác nhau.

Thứ hai, nghiêncứuquy địnhcủaLHSvề tộiphạm trong lĩnh vực CNTT, MVT:

Từkhi BLHS năm 1999 quyđịnhvề tộiphạm trong lĩnhvựcCNTT, MVT, đã có một số nghiên cứu về nội dung này. Các nghiên cứu này đa số làcác giáo trình, sách bình luận khoa học, các bài viết trên các tạpchí chuyên ngành. Nội dung của các nghiên cứu chủ yếu làm rõ nội dung, dấu hiệu pháp lý và hình phạt của từng điều luật. Có rất ít các nghiên cứu tổng thể, chuyên sâu về các quy định này. Hơn nữa, các nghiên cứu cho đến nay, đa số về các định của BLHS năm 1999, nghiên cứu các quy định của BLHS năm 2015 vềtội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT còn ít, chưa phong phú.

Thứ ba, nghiên cứu pháp luật quốc tế về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT:

Xu hướng hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT đangrấtđược quan tâm, thể hiệnở chỗcórấtnhiều văn bản pháp luậtquốc tế về vấnđề này. Việc nghiên cứu các văn bản pháp

31

luật quốctế về tộiphạm trong lĩnhvựcCNTT, MVT chưa đượcquan tâm nghiên cứu ở Việt Nam, nhưng ở nước ngoài córấtnhiều tác giả nghiên cứu. Các nghiên cứu đó đã làm rõ các nội dung các quy định của văn bản pháp luật quốc tế, nhất là nội dung về hình sự hoá các hành vi phạm tội trong lĩnh vực CNTT, MVT. Những nội dung trên sẽ được tiếp thu trong luận ánđể làm cơsở cho việc nghiên cứu, so sánh, đánh giá với quy định của LHS Việt Namvề tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT.

Thứ tư, nghiêncứuvề thực tiễn áp dụng và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của LHS về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT:

Thực tiễn áp dụng quyđịnhcủa LHS về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT ở Việt Nam đã trải qua hơn 20 năm. Cho đến nay, có nhiều vấnđề đã được đặtra đểnghiên cứu giải quyết. Các nghiên cứu này đa số là các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành. Các bài viết đã chỉ ra những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT; đồng thời đề xuất nhiều giải pháp để khắc phục những khó khăn, vướngmắc này. Tuy nhiên, các bài viết nàychủyếuviếtvề thực tiễn áp dụng quyđịnhcủa BLHS năm 1999, nhiềunộidungđã cũ. BởivìBLHS năm 2015 đã được thi hành được 3 năm nên nghiên cứu về thực tiễn thi hành BLHS năm 2015 về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT còn ít. Do đó, cầnnghiên cứu, tổng kết thực tiễn áp dụng quy định của BLHS năm 2015 về

tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT để có giải pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả áp dụng các quy định này.

3. Những vấn đề Luận án tiếp tục nghiên cứu

Trên cơ sở tình hình nghiêncứuvề tộiphạm trong lĩnh vực CNTT, MVT và mục đích nghiêncứucủa luận án, nhữngvấnđề luận án tiếp tục nghiên cứu được thể hiện qua những nội dung sau:

Về tổng thể, Luận án sẽ nghiên cứu về lý luận và thực tiễn áp dụng các quy

32

định của LHS về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT, qua đó đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định này trong thời gian tới. Cụ thể:

Thứ nhất, Luận án sẽ nghiêncứu để xâydựng và hoàn thiện về lý luận của tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT. Hệ thống lý luận về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT được nghiên cứu trong Luận án nàyvớitư cách là một nhóm tội cụ thể, được quy định trong BLHS xâmhạitớiquanhệ xã hội đảm bảo an toàn thông tin dữ liệu, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiệnđiệntử.Lý luậnvề tộiphạm trong lĩnh vực CNTT, MVT trong Luận án cóphạm vi hẹp hơn so với các nghiên cứu của các tác giả trước đây. Trong khiđó, phạm vi nghiêncứu về tội phạmtrong lĩnh vực CNTT, MVT của các tác giả trước đâybaogồm tấtcả những tội phạm có liên quan đến CNTT, MVT thuộc các lĩnh vực khác nhau như xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, xâm phạm lĩnh vực kinh tế và các lĩnh vực khác.

Thứ hai, nghiên cứu các quy định của LHS Việt Nam về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT từ trước đến nay một cách toàn diện, tổng thể, nhất làquy định của BLHS năm 2015; có đánh giá các quy định nàyvớicác quy định của pháp luật quốc tế và xu hướng chung của các nước thế giới hiện nay. Đểđưa ra được giải pháp áp dụng hiệu quả quy định của BLHS về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT, cầncó nghiêncứuxem các quyđịnhnàyđã thực sựhợplý, khoa học hay chưa. Các nghiêncứuhiện nayvề vấnđề nàyđã cónhiều nhưng đa sốđã cũ, các quyđịnhcủa BLHS năm 2015 cònmớinên ítđược nghiên cứu. Hơn nữa, ít có nghiêncứuso sánh, đánh giá quyđịnhcủa BLHS Việt Namvớivănbảnpháp luật quốc tế về tộiphạm trong lĩnh vực CNTT, MVT.

Thứ ba, nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của LHS Việt Nam về tộiphạm trong lĩnh vực CNTT, MVT trên phạm vicả nướctrong những năm quan (2009 – 2020). Thông qua đó,đánh giá nhữngkếtquả đạtđược, cũng như những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định

33

này. Đồngthời nghiên cứu, xác địnhnguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc đó.

Thứ tư, trêncơ sở kếtquả nghiên cứu về lý luận, các quy định của LHS và thực tiễn áp dụng quyđịnhcủa LHS về tộiphạm trong lĩnh vực CNTT, MVT trong những năm qua, Luận ánsẽ đề xuấtmộtsố giảipháp mang tính tổng thể, toàn diện để nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của LHS Việt Nam về tội phạm này trong thời gian tới.

Kết luận phần tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Phần tổng quanvề vấnđề nghiêncứucủa Luận ánđã phân tích, hệthống hoá các công trình, bài viết được công bố từ trước đến nay ở trong nước và nước ngoàivềtộiphạm trong lĩnhvựcCNTT, MVT. Các công trình, bài viết này cósốlượngrấtlớnvà phong phú. Tộiphạm trong lĩnh vực CNTT, MVT được nghiên cứu với nhiều nội dung khác nhau, bao gồm: các nghiênvề lý luận của tộiphạm trong lĩnh vực CNTT, MVT như khái niệm, đặc điểm, phân loạitộiphạm; các nghiêncứuvề quyđịnhcủa LHS Việt Namvề tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT; các nghiên cứu về luật quốc tế quy định về

tộiphạm trong lĩnh vực CNTT, MVT; các nghiêncứuvề thực tiễn áp dụng quyđịnhcủa LHS Việt Namvề tộiphạm trong lĩnh vực CNTT, MVT trong những năm qua; cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của LHS Việt Nam về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT.

Thông qua việc phân tích vàhệ thống hoá các công trình nghiên cứu của các tác giả về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT từ trước đến nay, tác giả Luận án đã đưa ra những nhận xét, đánh giá về kết quả đạt được cũng nhưnhững tồn tại hạn chế cần tiếp tục nghiên cứu trong thời gian tới. Trên cơ sởđó, tác giả Luận án xác địnhnhữngvấnđề cầnnghiên cứu, giải quyết trong phần nội dung của Luận án. Theo đó, Luận án tiếp tục nghiên cứu giải quyết 4

34

vấn đề sau đây: (1) xây dựng và hoàn thiện hệ thống lý luậnvề tội phạmtrong lĩnh vực CNTT, MVT; (2) phân tích, đánh giá và so sánh các quyđịnhcủa BLHSvề tội phạmtrong lĩnh vực CNTT, MVT; (3) nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quyđịnhcủa LHS về tộiphạm trong lĩnh vực CNTT, MVT trong những năm qua; (4) đề xuất những giải phápđể nâng cao hiệu quả áp dụng quyđịnhcủa LHS về tộiphạm trong lĩnh vực CNTT, MVT trong thời gian

tới.

35

PHẦN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƢƠNG 1.

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC

CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, MẠNG VIỄN THÔNG

1.1. Những vấn đề lý luận về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông

1.1.1. Khái niệm tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông

Để hiểurõ khái niệm tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT, trước tiên chúng ta cầnlàm rõ khái niệm môi trường không gian mạng. Theo tác giảDaniel T. Kuehl, trước đâyconngườichỉcó hai môi trường hoạtđộngvới những đặc điểmvậtlý khác nhau là đất liền và trên biển. Về sau, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người có thể hoạt động ở môi trường thứ ba là môi trường không gian quanh tráiđất(aerospace). Khi conngườibắtđầu chinh phục và tiến tới có thể hoạt động trong môi trường vũ trụ, con người cóthêm môi trườngthứtư là môi trường không gian vũtrụ(outer space). Khi máy tính, mạng máy tính ra đời, chúng ta có thêm môi trường hoạtđộng thứnămđólà môi trường không gian mạng (cyberspace)31. Khái niệmvề môi trường không gian mạng hiện nay có nhiều quan điểm và tên gọi khác nhau. Có tác giả cho rằng, môi trường không gianảolà “môi trường trong đó thông tin số hóa được truyền thông qua mạng máy tính”; có tác giả cho rằng không gian ảo là “môi trường có đặc trưng là việc sử dụng điện tử và phổ điệntừ đểlưu trữ, sửa đổi và trao đổi thông tin qua các hệ thống thông tin nối mạng và

31 Xem: Daniel T. Kuehl (2009), From Cyberspace to Cyberpower: Defining the Problem, Washing, D.C. National Defense University Press, tr. 2.

36

cơ sở hạ tầng vậtlý”;tác giả khác lại cho rằng đó là một mạng lưới phụ thuộc lẫnnhau của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, baogồmmạng máy tính, mạng viễn thông, hệ thống máy tính và các bộxửlý nhúng trong các ngành công nghiệp” hoặc đó là “môi trường giao tiếp điện tử”32. Các khái niệm trênđều định nghĩa vềmôi trường không gian mạng ở những lĩnh vực cụ thể khác nhau, chưa có tính khái quát. Ở Việt Nam, khái niệm môi trường không gian mạngđược sửdụng bằng các thuậtngữkhác nhau như“môitrườngmạng”, “không gian mạng”.Theo Luật công nghệ thông tin (2006), môi trường mạng là môi trường trongđóthông tinđược cung cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông qua cơ sở hạ tầng thông tin. Trong đó, cơ sởhạtầng thông tin là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, truyềnđưa, thu thập, xửlý, lưutrữvà traođổithông tin số, baogồmmạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữliệu33. Theo Luật an ninh mạng (2018), “không gianmạng” là mạng lướikết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệthống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian34.

Môi trường không gian mạng có nhữngđặc điểmrấtkhác sovớicác môi trường vật lý còn lại. Chính những đặcđiểmnày quyếtđịnh đến đặc điểm của tộiphạm trong lĩnh vực CNTT, MVT. Tác giả đồngývớinhận xét của tác giảWhittle, B. David35, theođómôi trường không gian mạng cómộtsốđặc điểm sau:

32 Xem: Daniel T. Kuehl (2009), Tlđd, tr. 3.

33 Xem: khoản 3,4 Điều 4 Luật công nghệ thông tin (2006). 34 Xem: khoản 3 Điều 2 Luật an ninh mạng (2018).

35 Xem: Whittle, B. David (1996), Cyberspace: The Human Dimension, W.H. Freeman Co., New York, tr. 7.

37

(1) Môi trường không gian mạng không phải là môi trườngvậtlý, nógiống như một trạng thái của ý nghĩ, một nơi nửa thực tế, nửa nhân tạo. Nó cóthểđược so sánhvớitrạng tháiảotưởngkhi con người ởtrongđóvà cảm nhận các giao tiếp bằng âm thanh hoặc hình ảnh như đọc, viết, quan sát, xem

hình ảnh, nghe nhạc… Môi trường không gian mạng cóđược là dokếtquảsáng tạo của con người, sự phát triển của lĩnh vực CNTT, MVT. Do đặc điểm này nên nhiều người còn gọi đây là môi trường ảo.

(2) Conngườichỉcóthểthực hiện các hoạtđộngtrong không gian mạng thông qua các công cụ, thiết bị truy cập vật lý với một quá trình xử lýnhân tạo (dữ liệu) của máy móc như máy điện toán số, phần mềm có khả năng kết hợp với các thiết bị khác bằng mạng kết nối vật lý. Nếu không có các thiết bịnày conngườikhôngthểgiao tiếp, tương tác vớinhau trong môi trường không gian mạngđược.Do đó, đểhoạtđộngtrong môi trường không gian mạng, con người cần phải sử dụng công cụ, phương tiện là CNTT, MVT.

(3) Môi trường không gian mạng cóthểtương tác và kếtnốigiữa cánhân, nhóm và sảnphẩm sángtạocủa họmộtcách rộng rãi, độc lậptrong không gian và thời gian. Mặc dù là môi trường nhân tạo, có tính chất ảo nhưng những hoạtđộngcủa conngườitrong môi trườngđólạicó tác động đến đời sống thực thông qua sự tương tác và kết nối giữa con người với nhau. Hơn nữa, sựtương tác của con người trong không gian mạng khôngbịgiới hạn bởi khoảng cách không gian và thời gian như tương tác thông thường.

Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm môi trường không gian mạng như sau:

Môi trường không gian mạng là môi trường nhân tạo, được tạo ra từ sựkếtnối của hạ tầng công nghệ thông tin, trong đó thông tin dữ liệu được cung cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi; là nơi con người thông qua các công cụ kỹ thuật giao tiếp, tương tác với nhau không bị giới hạn bởi không gian và thời gian.

38

Như vậy, môi trường không gian mạng là môi trường được tạo ra trong lĩnh vực CNTT, MVT. Khái niệm CNTT được quy định trong Luật công nghệthông tin (2006) là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụkỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số; trong đó thông tin số là thông tin được tạo lập bằng phương pháp dùng tín hiệu số36. Trong Luật viễn thông (2009), khái niệm mạng viễn thôngđược hiểu là tậphợpthiếtbịviễn thôngđược liênkếtvớinhau bằngđường truyền dẫnđểcungcấp dịch vụviễn thông, dịchvụứng dụng viễn thông”37. Trong đó, thiết bị viễn thông là thiết bị kỹ thuật, bao gồm phần cứng và phần mềm, được dùng để thực hiện viễn thông; đường truyền dẫn là tập hợp thiết bịviễn thông dùngđểxác lậpmộtphần hoặc toànbộđườngtruyền thông tin giữa hai điểm xác định; dịch vụ viễn thông là dịch vụ gửi, truyền, nhận và xửlý thông tin giữa hai hoặc mộtnhómngườisử dụngdịch vụ viễn thông, bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng; dịch vụ ứng dụng viễn thông là dịchvụsửdụngđườngtruyềndẫnviễn thông hoặc mạng viễn thôngđểcungcấpdịchvụứngdụng trong lĩnh vực công nghệ thông tin, phát thanh, truyền hình, thương mại, tài chính, ngân hàng, văn hóa, thông tin, y tế, giáo dục và lĩnh vực khác38. Lĩnh vực CNTT, MVT liên quan đến việc ứng dụng, phát triển CNTT, MVT. Việc ứng dụng và phát triển CNTT, MVT tạo ra môi trường không gian mạng. Cũng giống như các môi trường công cộng khác mà conngườitham gia, môi trường không gian mạng cũngcầnphảiđược đảm bảo an toàn và có trật tự.

Trong môi trường không gian mạng, bằng công cụ kỹ thuật, con người có thể tương tác với nhau và thực hiện các hoạt động theo mục đích của mình

36 Xem: khoản 1, 2 Điều 4 Luật công nghệ thông tin (2006). 37 Xem: khoản 10 Điều 3 Luật viễn thông (2009).

38 Xem: khoản 2,7,8,9 Điều 3 Luật viễn thông (2009).

39

nên con người cũng có thể thực hiện hành vi phạm tội. Các hành vi phạm tội này được thực hiện trong môi trường không gian mạng, sử dụng CNTT, MVTđể phạm tội hoặc tấn công trực tiếp vào môi trường không gian mạng (thông qua các đốitượngcụthểlà mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điệntử, dữliệuđiệntử). Tộiphạm nàyrấtđa dạng nhưngđềucóđặc điểm chung là có liên quan trực tiếpđếnCNTT, MVT nhưđược thực hiện trong môi trường không gian mạng, sửdụng CNTT, MVTđểphạm tội, tấncông không gian mạng. Trong Luận án này, tội phạm trên được gọi là tội phạm liên quan đến CNTT, MVT. Trên thực tế hiện nay, tội phạm liên quan đến CNTT, MVT được các tác giả khác sử dụng bằng nhiều thuật ngữ khác nhau như tội phạm máy tính,tộiphạmvềvi tính, tộiphạm mạng,tộiphạm công nghệthông tin, tội phạm công nghệ cao, tội phạm có sử dụng công nghệ cao.

Theo “Từ điển luật học” (2006) của Viện khoa học pháp lý, Bộ tư pháp,

tội phạm vi tính là “tội phạm xâm phạm trật tự an toàn xã hội được thực hiện trong lĩnh vực công nghệ thông tin, có hành vi khách quan liên quan đến sửdụng máy tính và các tính năngcủanó gây rốiloạn hoạt động, phong tỏa hoặc làm biến dạng, hủy hoại các dữ liệu hoặc đưa vào mạng những thông tin tráivớiquy địnhcủapháp luật gây hậuquảnghiêmtrọng”39. Theođịnh nghĩa này, tội phạm vi tính có hai dấu hiệu: (1) máy tính và các tính năng của nóđược sửdụng như là côngcụphạm tội; (2) tộiphạm xâm phạm an toàn, trậttựtrong không gian mạng bằng cách gâyrốiloạn hoạt động, phong tỏa hoặc làm biến dạng, hủy hoại các dữ liệu hoặc đưa vào mạng những thông tin tráivớiquyđịnhcủa pháp luật. Tác giảM.E. Kabay cũng cho rằng, trong những năm đầu khi CNTT mới ra đời, tội phạm máy tính chủ yếu là các hành vi gây thiệt hại vật chất đối với hệ thống máy tính như sử dụng quyền truy cập

39 Xem: Viện khoahọcpháp lý (2006), Từđiển luật học, NXB. Từđiểnbách khoa vàNXB. Tư pháp, tr. 794 – 795.

40

để sửa đổi, hủy dữ liệu40. Theo tác giả Trần Cảnh Hưng, “tội phạm máy tính là các hành vi tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động của máy tính, mạng máy tính, các thiết bị ngoại vi, cơ sở dữ liệu, các quá trình điều khiển dựa trên sự hoạt độngcủacác thiết bị tin học nhằm mục đích phá hoại, lừađảo, che dấu, đánh cắp thông tin”41. Tác giả Dương Tuyết Miên và Nguyễn Ngọc Khanh khi bàn về khái niệm“tộiphạm máy tính” cho rằng, khái niệm này thường được nghiêncứu dướihai góc độ, theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp. Tội phạm vi tính theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các tội phạm liên quanđến máy tính; còn theo nghĩa hẹp bao gồm các hành vi sao chép, lấy cắp, pháhủy, làm hư hỏng, thayđổidữliệu, cảntrở, khai thác trái phép dịchvụvi tính… Theo các tác giả, “đa số các chuyên gia khi bàn về tội phạm vi tính thìchỉ đề cậptới tội phạm vi tính theo nghĩahẹp”42. Có thể thấy, khái niệm tội phạm máy tính trong quanđiểmcủa các tác giả trên khá thống nhất và phổbiến trong bối cảnh CNTT, MVT mới ra đời và mớiđượcứng dụng trong đời sống xã hội. Tác giảLuận án cho rằng, những khái niệm trênđã phản ánh chính xác về bản chất của tội phạm này. Tuy nhiên về sau, trước sự phát triển không ngừngcủalĩnh vực CNTT, MVT, ngườiphạmtộikhôngchỉsửdụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiệnđiệntửđể gây thiệthạicho môi trường không gian mạng, mà còn thực hiện nhiều loạitộiphạm truyền thống khác. Do đó, phạm vi khái niệm tội phạm máy tính cần được mở rộng thêm.

40 Xem: M.E.Kabay, “A Brief History of Computer Crime: An Introduction for Students”, tr.4: http://www.mekabay.com/overviews/history.pdf (truy cập ngày 12/3/2018).

41 Xem: Trần Cảnh Hưng (2003), “Một sốvấn đềlý luận và thực tiễn vềtội phạm máy tính”, Tạp chí Kiểm sát, số 1/2003, tr.26.

42 Xem: Dương Tuyết Miên, Nguyễn Ngọc Khanh (2000), “Tội phạm vi tính”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 5/2000, tr.18.

41

TheoTừđiển “Black’s Law Dictionary” (1996) củatácgiảBryan A. Garner chủ biên, tội phạm máy tính là “tội phạm cần phải sử dụng kiến thức vềkỹthuật máy tính như phá hoại hoặc trộmcắpdữliệu máy tính hoặcsửdụng máy tính để phạm các tội khác”43. Còn tội trộm cắp qua mạnglà “hành vi sử dụng dịch vụ máy tính trực tuyến như mạng Internet để trộm cắp tài sản củangườikhác hoặccảntrởngườikhác sửdụng vàhưởnglợitàisảncủa mình”44. Các địnhnghĩa này cho thấy quan niệmvề“tộiphạm máytính” đãđược mởrộng, khôngchỉlà những hành visửdụng“kiếnthức vềkỹthuật máy tính” để tấn công không gian mạng như phá hoại, trộm cắp dữ liệu máy tính, mà còn sử dụng máy tính để thực hiện các tội phạm khác như trộm cắp

tàisảnqua mạng, cảntrởngườikhác sửdụng tàisảncủa mình…Như vậy, khái niệm tội phạm máy tính là những tội phạm sử dụng máy tính và các tính năng của máy tính để gây thiệt hại cho môi trường không gianmạng hoặc đểthực hiện những tội phạm khác trong môi trường không gian mạng.

Tác giả Debra Littejohn Shinder sử dụng khái niệm tội phạmmạng đểchỉ những tội phạm liên quan đến CNTT, MVT. Theo tác giả, tội phạm mạng là tội phạm mà máy tính, mạng máy tính liên quan đến tội phạm ở 3 vai trò: (1) máy tính, mạng máy tính là mục tiêu tấn công của tội phạm khi tội phạm gây thiệt hại chosựan toàn của máy tính, mạng máy tính (xâm hại tính bímật, tính toàn vẹn và tính khả dụng); (2) máy tính, mạng máy tính là công cụthực hiện các tộiphạm“truyềnthống”khác; (3) máy tính, mạng máy tínhđược dùng với mục đích phụ như lưu trữ số liệu về việc mua bán ma túy trái phép45. Trong khi đó, tác giảChawki, M lại cho rằngtộiphạm mạng là tội phạm có liên quan và có sự tham gia của máy tính với 4 vai trò: (1) máy tính

43 Xem: Bryan A. Garner (1996), Black’s Law Dictionary, West Publishing Co. tr.161-162. 44 Xem: Bryan A. Garner (1996), Tlđd, tr.169.

45 Xem: Debra Littejohn Shinder (2002), Tlđd, tr.5.

42

là mục tiêu của tộiphạm khitộiphạm phá huỷhoặc trộmcắpmáy tính; (2) máy tính là chủ thể của tội phạm khi máy tính tạo ra môi trường để công nghệkỹ thuật phạm tội; (3) máy tính là công cụ phạm tội; (4) máy tính là vật biểu tượngđểdụdỗ,lừarốingườikhác46. Tuysửdụng các thuậtngữkhác nhau như tội phạm CNTT, tội phạm tin học nhưng các tác giả khác như Phạm Văn Lợi, Nguyễn Mạnh Toàn, Đặng Trung Hà cũng thống nhất với quanđiểmvềkhái niệm tội phạm mạng của tác giả Chawki, M 47. Có thể thấy, dù phạm vi của khái niệm tội phạm mạng còn có sự khác nhau nhưng nội hàm khái niệm của tội phạm này khá thống nhất. Đó là tội phạm liên quan đến CNTT, MVTở những vai trò khác nhau như: (1) CNTT, MVT được sử dụng như công cụphạm tội; (2) CNTT, MVT (thông quan các đốitượngcụthểlà mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiệnđiệntử) là mục tiêutấncông của tội phạm. Tác giảLuận ánđồngývớiquanđiểmcho rằng vai trò của CNTT, MVT là “vật biểu tượng để dụ dỗ, lừa rối người khác” thực chất cũng được sửdụng như côngcụđểphạmtội48. Tác giảLuận án khôngđồngývớiquanđiểm cho rằng, máy vi tính có thể được xem như chủ thể phạm tội. Quan điểm này không những được ít người ủng hộ mà còn trái với lý luận trong khoa học LHS Việt Nam. Theođóchủthểcủa tộiphạm phải là conngườihoặc pháp nhân. Luật an ninh mạng (2018) cũngsửdụng khái niệmtộiphạm mạng. Theo đó, “Tộiphạm mạng là hành visử dụng không gian mạng, công nghệthông tin hoặc phương tiệnđiệntử đểthực hiệntộiphạmđược quy địnhtại Bộ luật Hình sự”49. Như vậy, khái niệm tội phạm mạng được sử dụng khá phổ

46 Xem: Chawki, M (2005), Tlđd, tr. 8.

47 Xem: Nguyễn Mạnh Toàn (2002), “Đặc điểm và các dạng hành vi cơ bản của tội phạm tin học”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3/2002, tr. 30

48 Xem: Phạm Văn Lợi (2007), Tlđd, tr. 25.

49 Xem: khoản 7 Điều 2 Luật an ninh mạng 2018

43

biến. Theo đó, tộiphạm mạng là tộiphạm có liên quanđếnCNTT, MVTởvớivai trò là mục tiêutấncông của tộiphạm hoặc côngcụđểthực hiện nhữngtộiphạm khác.Vớiquanđiểmnhưvậyphạm vicủakhái niệm tội phạm mạng sẽ rất rộng, bao gồm tội phạm ở nhiều lĩnh vực khác nhau.

Tác giảTrần Văn Hoàsửdụng khái niệmtộiphạm cósửdụng công nghệ cao. Theo đó,“tội phạm cósử dụng công nghệ cao là những hành vi vi phạm pháp luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự sử dụng thiết bị kỹ thuật số, mạng máy tính làm công cụ, tấn công trái pháp luật vào website, cơsởdữliệu, máy tính, mạng máy tínhmộtcáchcốý hoặc vô ý, hoặc sửdụng thiếtbịkỹthuật số, mạng máy tính, đểthực hiện các hành vi phạmtộikhác, xâm phạmđếnan ninh quốc gia, trậttựan toàn xã hội, gây nguy hiểm cho xã hội, quyền vàlợiíchhợpphápcủatổchức vàcủacông dân”50.Ngườiphạmtộisửdụng CNTT, MVT như côngcụphạmtộiđểtấn công mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử hoặc để thực hiện các tội phạm khác. Khái niệm này dựa vào tiêu chí là công cụ mà người phạm tộisửdụngđểthực hiệntộiphạm là “côngnghệ cao”. Trong đó, sửdụng “côngnghệ cao” được hiểu làsửdụng thiếtbịkỹthuật số, mạng máy tính. Như vậy, khái niệm tội phạm có sử dụng công nghệ cao cũng sẽ có phạm vi rất rộng giống như khái niệm tội phạm mạng. Hơn nữa, thuật ngữ “công nghệcao” cũng là một thuật ngữ có phạm vi rộng, không chỉ trong lĩnh vực CNTT, MVT. Bởi vì theo Luật công nghệ cao (2008), “Công nghệ cao là công nghệcó hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợptừthànhtựukhoa học và công nghệ hiệnđại; tạorasảnphẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; cóvai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc

50 Xem: Trần Văn Hoà (2011), An toàn thông tin và công tác phòng chống tội phạm sửdụng công nghệ cao, NXB. Công an nhân dân, tr.20.

44

hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có”51. Như vậy, CNTT, MVT chỉ làmộttrong những lĩnh vực của công nghệ cao. Hiện nay, khái niệm tội phạm có sử dụng công nghệ cao được sử dụng khá phổ biến trong lực lượng công an và một số văn bản dưới luật. Theo Nghị định 25/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014 của Chínhphủquyđịnhvề phòng chốngtộiphạm và vi phạm khác cósửdụng công nghệ cao,“Tộiphạm cósửdụng công nghệ cao là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự có sử dụng công nghệcao”52. Tuy nhiên, tác giả Luận án thấy rằng, khái niệm “công nghệ cao” theo quy định của pháp luật hiện nay có phạm vi rộng hơn khái niệm“thiếtbị kỹthuật số, mạng máy tính” được sử dụng trong khái niệm trên. Do đó, việc sửdụng khái niệm tội phạm có sử dụng công nghệ cao để chỉ tội phạm liên quanđến CNTT, MVT là không phù hợp.

Trong khi khái niệmvềtộiphạm liên quanđếnCNTT, MVT chưa cósự thống nhất thì pháp luật của các quốc gia trên thế giới và pháp luật quốc tếcũng ít có quy định về khái niệm này. Theo khảo sát của tác giả, hiện chỉ cómộtsốít vănbảnpháp luật quốc tếquyđịnhvềkhái niệm này như Thỏa thuận hợp tác xử lý tội phạm liên quan đến thông tin máy tính của Các nước độc lập trong Khối thịnh vượng (2001)53 và Thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực an ninh thông tin quốc tếcủa Tổchức hợptác ThượngHải(2010)54. Theo khoản a Điều1 Thỏa thuậnhợptác xửlýtộiphạm liên quanđếnthông tin máy tính của Các nước độc lập trong Khối thịnh vượng (2001), “tội phạm liên

51 Xem: khoản 1 Điều 3 Luật công nghệ cao 2008;

52 Xem: khoản 1 Điều 3 Nghịđịnh 25/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014 củaChính phủquyđịnh về phòng chống tội phạm và vi phạm khác có sử dụng công nghệ cao.

53 Cácnướctham gia gồm: Nga, Azerbaijan, Armenia, Belarus, Georgia, Kazakhstan, Kyrgyz, Moldova, Tajikistan, Turkmenistan, Uzbekistan, Ukraine.

54 Các nước tham gia: Trung Quốc, Nga, Kazakhstan, Tajikistan, Uzbekistan và Kyrgyz.

45

quan đến thông tin máy tính” là hành vi phạm tội xâm hại đến thông tin máy tính. Trong đó, “thông tin máy tính” được hiểu là thông tin được lưu trữ trong bộ nhớ của máy tính, máy móc hoặc thiết bị lưu trữ khác được định dạng đểmáy tính cóthểđọc được hoặc cóthểtruyềnđược qua các kênh viễn thông (khoản bĐiều1). TạiPhụlục số2 của Thỏa thuận giữa các quốc gia thành viên của Tổ chức hợp tác Thượng Hải trong lĩnh vực đảm bảo an ninh thông tin quốc tế (2010) có quy định về khái niệm “tội phạm thông tin” (Information crime)55. Theo đó, tội phạm thông tin là hành vi của cá nhân, tổ chức sử dụng bấthợppháp nguồn thông tin hoặc can thiệp trái phép vào nguồn thông tin nhằm mục đích phạm tội. Đặc điểmcủa tộiphạm thông tin là vi phạmhệthống thông tin thông qua việc xâm hại tính nguyên vẹn, tính khả dụng và tính bảomậtcủa thông tin;cốýsảnxuất và phát tán vi – rút máy tính hoặc các chương trình mã độc khác; tấn công DoS (từ chối dịch vụ) và các ảnh hưởng tươngtự;phá hủynguồn thông tin; xâm phạm trái phép quyền và tựdo của công dân trong lĩnh vực thông tin, bao gồm quyền sở hữu trí tuệ, thông tin cá nhân;sửdụng phương pháp và nguồn thông tinđểphạm các tộiphạm khác như lừa đảo, trộm cắp, tống tiền, buôn lậu, vận chuyển trái phép ma túy, phân

phối tài liệu khiêu dâm trẻ em…

Tạicuộc họp lần thứ 10 của Đại hội đồng liên hợp quốc về ngăn chặn và xửlýtộiphạmtổchức tạithànhphốViên (Áo) từngày 10/10/2000đến ngày 17/10/2000, các nước đã thảo luận và điđếnnhận thức chungvề tội phạm này. Theo đó, tại điểm 9 mục III của văn bản hội nghị sốA/CONF.187/10, đề cập đến khái niệm tội phạm mạng baogồm tấtcả những tội phạm: (1) được thực hiện bằng hệ thống máy tính hoặc hệ thống mạng; (2)được thực hiện trong môi trường mạng máy tính hoặc hệ thống mạng; (3) tấn

55 Nguồn: https://ccdcoe.org/sites/default/files/documents/SCO-090616-IISAgreement.pdf

46

công hệ thống máy tính hoặc hệ thống mạng56. Theođiểm14 mục III của văn bản này, tội phạm mạng được chia làm 2 loại: thứ nhất, tội phạm mạng theo nghĩa hẹp (tội phạm máy tính) baogồm tấtcả những hành vi trực tiếp sử dụng phương tiệnkỹthuậtđiệntửđểphạmtộinhằm xâmhạian ninh mạng máy tính và quá trình lưu giữ, xử lý dữ liệu máy tính; thứ hai, tội phạm mạng theo nghĩa rộng (tội phạm liên quan đến máy tính) là những hành vibấthợpphápđược thực hiệnbằng hệ thống máy tính, mạng máy tính hoặc có liên quanđến hệ thống máy tính, mạng máy tính, baogồmcả nhữngtộiphạm như chiếm hữu, tặng cho hoặc phân phối bất hợp pháp thông tin bằng hệ thống máy tính, mạng máy tính.

Thông qua việc phân tích các khái niệm trên cho thấy, khái niệm tội phạm liên quan đến CNTT, MVT hiên nay chưa có sự thống nhấtvề phạmvi và thuật ngữ. Tuỳ theo góc độ và mục đích nghiên cứu của mình, mỗi tác giảlạiđưa ra khái niệm và thuậtngữkhác nhau. Tuy nhiên, cho dùở phạm vi rộng hayhẹpvà sử dụng thuật ngữ nào, khái niệmvề tội phạmliên quanđến CNTT, MVT mà các tác giả sử dụng đều có một số đặc điểm chung như sau:

Thứ nhất, đólà tộiphạmmớisovớitộiphạm truyền thống, bởivì nóđược thực hiện trong môi trường không gian mạng và người phạm tội sử dụng CNTT, MVT để thực hiện tội phạm. Điều đó làm cho tội phạm liên quan đến CNTT, MVT khác cơ bản so với các tội phạm truyền thống.

Thứ hai, CNTT, MVT có liên quanđếntộiphạmở mộttrong các vai trò là mục tiêutấncông của tộiphạm hoặc là công cụ, phương tiệnđể thực hiện tội phạm khác.

56 Xem: Tenth United Nations Congress on the Prevention of Crime and Treatment of Offenders:https://www.unodc.org/documents/congress//Previous_Congresses/10th_Congre ss_2000/017 ACONF.187.10_Crimes_Related_to_Computer_Networks.pdf (truy cập ngày 2/3/2020).

47

Thứ ba, tội phạm liên quan đến CNTT, MVT có phạm vi rộng. Người phạmtộicó thể sửdụng CNTT, MVTđể thực hiện nhiềutộiphạm truyền thống khác như các tộixâm phạm an ninh quốc gia, các tộixâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm danh dự con người, các tội xâm phạm sở hữu trítuệ, các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Phạm vi này sẽ ngày càng mở rộng theo sự phát triển và ứng dụng rộng rãi của CNTT, MVT trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó, tộiphạm liên quanđếnCNTT, MVT có thể được quyđịnhở nhiều chương khác nhau trong BLHS.

Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm tội phạm liên quan đến CNTT, MVT như sau:

Tội phạm liên quan đến CNTT, MVT là hành vi nguy hiểm cho xãhộiđược quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS sử dụng CNTT, MVT thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được LHS bảo vệ.

Khái niệmtộiphạm trong lĩnh vực CNTT, MVTđược sửdụng trong luận án này có phạm vihẹphơn khái niệmtộiphạm liên quanđếnCNTT, MVT. Theo đó, tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT chỉ là một bộ phậncủa

tội phạm liên quan đến CNTT, MVT. Với tư cách là một nhóm tội riêng được quy định trong BLHS, tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT bao gồm những tộiphạm cómốiquanhệ gắnbó, chặtchẽvớinhau. Theo lý luậncủakhoa học LHS hiện nay, các tộiphạm trong cùngmộtnhóm có quanhệ vớinhau thông qua khách thể chung của nhóm tội đó. Các tội phạm này cùng xâmhạiđếncác quanhệ xã hộicó cùng tính chất (cùng loại) được LHS bảovệ.Tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT bao gồm các tội phạm cùng xâm phạm tới một nhóm quan hệ xã hội cùng loại được LHS bảo vệ. Đó là nhóm quan hệ xãhội đảmbảosự an toàn của không gian mạng. Cụ thể là quanhệ xã hội đảm bảo sự an toàn của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiệnđiệntử, dữ

48

liệuđiệntử.Tộiphạm trong lĩnh vực CNTT, MVT là mộtnhómnhỏnằm trongtộiphạm liên quanđếnCNTT, MVT, baogồmcác tộiphạm xâmhạiđến sự antoàn của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiệnđiệntử, dữliệu điệntử.Với sự phát triển và ứng dụng của CNTT, MVT hiện nay trong xã hội, ngườiphạmtộicó thể sửdụng CNTT, MVTđể thực hiện nhiều loại tội phạm khác nhau. Tuy nhiên, không phảitấtcả những tội phạmđó đềulàtội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT. Chỉ những tội phạm xâm hại đến quan hệ xã hội đảmbảoan toàn của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiệnđiệntử, dữliệuđiệntửmớilà tộiphạm trong lĩnh vực CNTT, MVT. Còn nhữngtộiphạm màngườiphạmtộisửdụng CNTT, MVTđể thực hiện tội phạm nhưng xâmphạm đếnnhững nhóm quan hệ xã hội khác sẽ không phải là tộiphạm trong lĩnh vực CNTT, MVT. Vídụ:hành visửdụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiệnđiện tử để khủng bố hoặc khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; hành visửdụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để đánh bạc không phải là tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT mà thuộc về các nhóm tội phạm tương ứng là tội xâm phạm an toàn công cộng, tội xâm phạm an ninh quốc gia hay tội xâm phạm trật tự công cộng khác. Nhưvậymộtsốtộiphạmđược quyđịnhtrong BLHS năm 2015 tuy có sử dụng CNTT, MVT để phạm tội nhưng không được coi là tội phạm

trong lĩnh vực CNTT, MVT bao gồm các tội phạm quy định tại điểm d khoản 2 Điều 113 Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân), điểm e khoản 2Điều155 (Tội làm nhục ngườikhác), điểme khoản 2Điều156 (Tội vu khống), điểm d khoản 2 Điều 299 (Tội khủng bố), điểm c khoản 2 Điều 321 (Tội đánh bạc), điểmg khoản 2Điều326 (Tội truyền bá văn hóa phẩmđồi trụy).

Trên cơ sở phân tích trên, có thể rút ra khái niệmtộiphạm trong lĩnh vực CNTT, MVT như sau:

49

Tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT là hành vi nguy hiểm cho xãhộiđược quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS sử dụng CNTT, MVT thực hiệnvớilỗicốý, xâm phạm an toàn mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử.

1.1.2. Đặc điểm củatộiphạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, MẠNG VIỄN THÔNG THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin mạng viễn thông theo Luật hình sự Việt Nam Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin mạng viễn thông theo Luật hình sự Việt Nam Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin mạng viễn thông theo Luật hình sự Việt Nam Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin mạng viễn thông theo Luật hình sự Việt Nam Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin mạng viễn thông theo Luật hình sự Việt Nam Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin mạng viễn thông theo Luật hình sự Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *