Tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

Tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi

Tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

1.1. Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất góp phần tạo nên sự gắn kết giữa các thành viên trong cộng đồng, đồng thời phản ánh đời sống văn hóa của dân tộc. Cùng với chức năng giao tiếp, ngôn ngữ còn là công cụ để tư duy. Hai chức năng này quan hệ mật thiết với nhau. Ngôn ngữ phản ánh năng lực tư duy, năng lực trí tuệ của mỗi người và cũng là phương tiện để thể hiện hiểu biết của con người về thế giới xung quanh. Khi tư duy của con người phát triển thì ngôn ngữ cũng phát triển, và ngược lại, khi ngôn ngữ phát triển thì cũng có nghĩa là tư duy phát triển. “Không có ngôn ngữ thì không có tư duy và ngược lại, không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là những âm thanh trống rỗng” [10, tr.22].

Giáo dục ngôn ngữ là nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục mầm non. Ngôn ngữ giúp trẻ biểu đạt nguyện vọng, nhu cầu, là điều kiện để tham gia vào mọi hoạt động xã hội, từ đó, hình thành nhân cách. Qua các hoạt động ngôn ngữ, trẻ được phát triển toàn diện cả về tư duy, trí tuệ, thẩm mĩ, đạo đức và các kĩ năng xã hội…Trong các nhiệm vụ giáo dục ngôn ngữ cho trẻ em, PTVT là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. PTVT giúp trẻ mở rộng vốn hiểu biết, nhận thức thế giới xung quanh, để phát triển tư duy. Trẻ muốn diễn đạt ý nghĩ của bản thân cho người khác hiểu và hiểu được người khác phụ thuộc rất nhiều vào sự PTVT. Vốn từ là cơ sở để trẻ giao tiếp, phát triển ngôn ngữ cũng như mọi lĩnh vực khác.

1.2. Trẻ ở giai đoạn 3 – 4 tuổi có sự phát triển mạnh mẽ về mọi phương diện. Đây được xem là “cơ hội vàng” để phát triển ngôn ngữ. Giai đoạn này, trẻ có nhu cầu giao tiếp, nhận thức thế giới xung quanh, tự khẳng định mình và tham gia vào các hoạt động. Những nhu cầu này thúc đẩy trẻ khám phá và tạo ra cơ hội gia tăng vốn từ nhanh chóng. VT của trẻ ở giai đoạn này phát triển nhanh trên mọi phương diện: số lượng từ, cơ cấu từ loại, khả năng hiểu nghĩa của từ… Do đó, cùng với việc phát triển các thành tố khác như phát âm, học mẫu câu… thì PTVT là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình giáo dục ngôn ngữ cho trẻ, đặc biệt là trẻ MG 3 – 4 tuổi.

1.3. Ở trường mầm non, tất cả các hoạt động đều có thể PTVT cho trẻ. Mỗi hoạt động đều có những ưu thế riêng, trong đó, KPKH là hoạt động có nhiều lợi thế. Thông qua hoạt động này, trẻ không những thu nhận được vốn kiến thức về các sự vật hiện tượng xung quanh, biết tên gọi các loài cỏ cây hoa lá, các loài động vật… mà còn mở rộng VT đa dạng, chính xác hóa và tích cực hóa VT. Trẻ sử dụng từ ngữ để gọi tên, mô tả các sự vật hiện tượng. Khi trực tiếp tham gia hoạt động KPKH, trẻ được sờ, được ngửi, được nghe, được cảm nhận bằng các giác quan các sự vật, hiện tượng. Vì vậy, việc tiếp thu kiến thức và lĩnh hội VT của trẻ sẽ gần với thực tế đời sống hơn và trở nên hiệu quả hơn..

1.4. Thực tế ở các trường mầm non, khi tổ chức hoạt động KPKH, GV thường chú trọng tới mục tiêu phát triển nhận thức, mà ít chú ý đến phát triển ngôn ngữ nói chung, PTVT cho trẻ nói riêng. Việc PTVT chưa được đặt trong tính hệ thống, trong sự kết hợp giữa các hoạt động với nhau. Trẻ chưa có nhiều cơ hội được giao tiếp, chia sẻ, diễn đạt ý tưởng của mình; các hoạt động KPKH chưa thực sự tạo được môi trường ngôn ngữ tích cực cho trẻ. Mặt khác, đa số GV còn gặp khó khăn về biện pháp PTVT cho trẻ trong hoạt động KPKH. Những nhược điểm, khó khăn này cần được nghiên cứu để tìm ra các biện pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục PTVT, phát triển ngôn ngữ cho trẻ.

1.5. Nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ nói chung, PTVT nói riêng cho trẻ đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm. Tuy nhiên, đi sâu nghiên cứu tổ chức hoạt động KPKH như là phương tiện để PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống. Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi”.

2. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề xuất biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi góp phần giúp trẻ phát triển ngôn ngữ để giao tiếp học tập, và nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ ở trường mầm non.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

Quá trình giáo dục PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi ở trường mầm non.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi ở trường mầm non.

4. Giả thuyết khoa học

Hoạt động KPKH là một trong những phương tiện hiệu quả để PTVT cho trẻ 3 – 4 tuổi. Việc tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi đã có những kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn nhiều thiếu sót, vốn từ biểu đạt và tiếp nhận của trẻ còn một số hạn chế. Nếu xây dựng và thực hiện các biện pháp tổ chức hoạt động KPKH cho trẻ MG 3 – 4 tuổi một cách có hệ thống từ thiết kế hoạt động và môi trường hoạt động theo mục tiêu PTVT, tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm khám phá trực tiếp sự vật, hiện tượng và sử dụng từ một cách tích cực, thường xuyên, gắn với đối tượng cụ thể trong ngữ cảnh có ý nghĩa, phối hợp tốt giữa gia đình và nhà trường thì sẽ giúp trẻ phát triển VT tốt hơn.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi ở trường mầm non.

5.2. Khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi ở các trường mầm non tại tỉnh Thanh Hóa.

5.3. Đề xuất và thực nghiệm các biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi ở trường mầm non.

6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi gồm vốn từ tiếp nhận và vốn từ biểu đạt.

Các biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi được thực hiện ở trường mầm non.

Tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi
Tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

6.2. Khách thể và địa bàn nghiên cứu

– Khảo sát thực trạng:

+ 210 GVMN ở 15 trường mầm non công lập tại tỉnh Thanh Hóa;

+ 120 trẻ 3 – 4 tuổi ở 04 trường (trong 15 trường trên).

– Thực nghiệm: 120 trẻ MG 3 – 4 tuổi ở 02 trường mầm non (trong 15 trường trên).

7. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

7.1. Cách tiếp cận

– Tiếp cận hoạt động: Sự PTVT của trẻ chỉ có hiệu quả nếu tiến hành thông qua các hoạt động phù hợp với hứng thú, khả năng, nhận thức của trẻ, đặc biệt là hoạt động trải nghiệm, giao tiếp giữa trẻ với bạn bè và người lớn xung quanh. Ở trường mầm non, hoạt động KPKH có ưu thế riêng đối với việc tạo môi trường, tạo cơ hội cho trẻ được quan sát, trải nghiệm, tích lũy, giao tiếp. Do vậy, cần lựa chọn hoạt động với những đối tượng phong phú, đa dạng, hấp dẫn, phù hợp với trẻ MG 3- 4 tuổi nhằm giúp trẻ PTVT.

– Tiếp cận hệ thống: Quá trình tổ chức hoạt động KPKH là một bộ phận hợp thành của quá trình giáo dục trong trường mầm non. Quá trình này bao gồm nhiều thành tố như: mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, đánh giá… Các thành tố này có vị trí, chức năng nhất định và có tác động qua lại với nhau. Tính hệ thống yêu cầu khi hướng dẫn trẻ KPKH cần đặt trong mối quan hệ với các điều kiện khách quan khác có ảnh hưởng đến quá trình tổ chức hoạt động như: điều kiện kinh tế, xã hội, đặc điểm của môi trường tự nhiên, xã hội của địa phương, điều kiện của trường mầm non.

– Tiếp cận tích hợp: Vận dụng quan điểm tiếp cận tích hợp, luận án nghiên cứu tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ có phối hợp nhiều phương pháp, biện pháp khác nhau. PTVT cho trẻ cần được tiến hành tích hợp đan cài thông qua các hoạt động và sinh hoạt hàng ngày của trẻ. Thông qua tổ chức hoạt động KPKH, GV tạo điều kiện để trẻ trực tiếp tiếp xúc với đối tượng bằng các giác quan, tiếp thu VT cùng với quá trình hình thành biểu tượng về các sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh.

– Tiếp cận phát triển: PTVT của trẻ là một quá trình liên tục mang tính kế thừa. Nghiên cứu các biện pháp tổ chức hoạt động KPKH cho trẻ MG 3 – 4 tuổi được dựa trên sự phát triển chung của trẻ, ở từng giai đoạn các biện pháp tác động nhằm củng cố VT đang có, giúp trẻ đạt được mức độ phát triển cao hơn. Trên cơ sở kế thừa những kết quả đã đạt được, tìm kiếm cách thức tác động nhằm nâng cao VT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi thông qua tổ chức hoạt động KPKH ở trường mầm non.

7.2. Phương pháp nghiên cứu

7.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

7.2.1.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp: Thu thập, phân tích, tổng hợp tư liệu khoa học trong và ngoài nước về PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi; tổ chức hoạt động KPKH cho trẻ 3 – 4 tuổi; tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi.

7.2.1.2. Phương pháp hệ thống hóa, khái quát hóa lí luận: Sử dụng phương pháp này nhằm xác định hệ thống khái niệm và quan điểm, xây dựng khung lý thuyết, thiết kế điều tra, thiết kế thực nghiệm của luận án.

7.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.2.1. Phương pháp quan sát: Quan sát việc tổ chức hoạt động KPKH cho trẻ MG 3 – 4 tuổi ở trường mầm non nhằm phát hiện thực trạng, các biện pháp đã áp dụng, biểu hiện VT của trẻ. Kết quả quan sát được ghi chép, mô tả và kết hợp với các thông tin thu thập được từ các phương pháp nghiên cứu khác để phân tích, rút ra nhận xét khoa học.

7.2.2.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Sử dụng phiếu hỏi đối với GV để điều tra thực trạng tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi.

7.2.2.3. Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp GV để có thông tin về thực trạng tổ chức hoạt động KPKH; phương pháp, hình thức và những thuận lợi, khó khăn trong việc tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi ở trường mầm non. Ngoài ra, trò chuyện trực tiếp với trẻ MG 3 – 4 tuổi để thu thập thêm thông tin về mức độ PTVT của trẻ.

7.2.3.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm nhằm kiểm nghiệm tính khoa học, sự phù hợp, khả thi của biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi ở trường mầm non.

7.2.3.5. Phương pháp sử dụng thang đo: Sử dụng thang đo của Pham, G., & Tipton, T. (2018) nhằm kiểm tra VT tiếp nhận và VT biểu đạt của trẻ MG 3 – 4 tuổi. Đây là công cụ được xây dựng theo qui trình chuẩn được sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu về đánh giá năng lực ngôn ngữ của trẻ em nói tiếng Việt được công bố trong khoảng 5 năm gần đây. Hai nội dung đo của công cụ gồm VT tiếp nhận và VT biểu đạt là hai năng lực cơ bản trong VT của trẻ. Hệ số alpha Cronbach ở VT tiếp nhận và VT biểu đạt cao hơn 0,71 cho thấy độ tin cậy nội bộ là rất cao. Hiện nay ở Việt Nam thiếu công cụ đo VT được chuẩn hóa. Vì vậy, chúng tôi sử dụng thang đo này để đánh giá VT của trẻ. (xem Phụ lục 5)

7.2.3.6. Phương pháp mô tả chân dung phát triển vốn từ của một số trẻ: Theo dõi trực tiếp sự tiến bộ về VT của 02 trẻ và mô tả kết quả đó trong và sau quá trình nghiên cứu.

7.2.3. Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học: Sử dụng phần mềm SPSS và Microsoft Excel 2010 để xử lí các số liệu thu được từ khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ và thực nghiệm sư phạm.

8. Luận điểm bảo vệ

9. Đóng góp mới của luận án

10. Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận án gồm 04 chương:

Chương 1: Tổng quan và cơ sở lí luận của tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi;

Chương 2: Thực trạng tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi;

Chương 3: Biện pháp tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi;

Chương 4: Thực nghiệm sư phạm.

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG

KHÁM PHÁ KHOA HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN VỐN TỪ

CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI

    1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Những nghiên cứu về phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

1.1.2. Những nghiên cứu về tổ chức hoạt động khám phá khoa học cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

1.1.3. Những nghiên cứu về tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

1.2. Cơ sở lý luận của tổ chức hoạt động Khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3- 4 tuổi

1.2.1. Từ và vốn từ

1.2.1.1. Từ

– Khái niệm:

Có nhiều cách hiểu về từ, tuy nhiên khi đưa ra khái niệm về từ, người ta thường chú ý đến các bình diện chính: hình thức (ngữ âm và cấu tạo); ngữ nghĩa; ngữ pháp và phong cách.

Theo Từ điển tiếng Việt: “Từ là đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ. Từ là đơn vị nhỏ nhất có cấu tạo ổn định, được dùng để cấu thành câu.” [29, tr.1035].

Theo nhóm tác giả Lã Thị Bắc Lý, Phan Thị Hồng Xuân và Nguyễn Thị Thu Nga: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ có ý nghĩa và có chức năng độc lập tạo câu” [22, tr.33].

Trong luận án này, chúng tôi sử dụng khái niệm của Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [6, tr.6].

– Phân loại:

Theo Lã Thị Bắc Lý, Phan Thị Hồng Xuân và Nguyễn Thị Thu Nga: “từ loại tiếng Việt được chia thành hai lớp lớn và một lớp trung gian” [22].

Thực từ: gồm danh từ, động từ, tính từ, số từ. Chúng có đặc điểm: “(1) Có ý nghĩa từ vựng; (2) Có khả năng làm thành tố chính trong cụm từ chính phụ; (3) Có khả năng đảm nhiệm các thành phần chính trong câu.” [22]

+ Danh từ: là những từ chỉ sự vật (người, vật, hiện tượng, khái niệm hoặc đơn vị).

+ Động từ: là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật.

+ Tính từ: là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất của vật, hoạt động, trạng thái,…

+ Số từ: là những từ chỉ số lượng và thứ tự

Hư từ: gồm phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ. Chúng có đặc điểm: “không có ý nghĩa từ vựng, không có khả năng làm thành tố chính trong cụm từ chính phụ, không có khả năng đảm nhiệm các thành phần chính trong câu” [22].

Lớp từ trung gian: Là đại từ, có đặc điểm: “(1) Giống thực từ: Có khả năng đảm nhiệm một số thành phần câu như chủ ngữ, bổ ngữ; (2) Giống hư từ: Không có ý nghĩa từ vựng. Khi thay thế cho từ loại nào thì đại từ mang đặc điểm của từ loại đó” [22].

1.2.1.2. Vốn từ

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, “VT bao gồm toàn thể những từ và các đơn vị tương đương với từ” [47, tr.428]. Với khái niệm này, “vốn từ’’ được hiểu theo nghĩa rộng, tương đương với từ vựng.

Theo Lê Hữu Tỉnh, “VT của cá nhân là toàn bộ các từ và đơn vị tương đương từ của ngôn ngữ được lưu giữ trong trí óc của cá nhân và được cá nhân đó sử dụng trong hoạt động giao tiếp” [40, tr.14].

Khái niệm này cho thấy, “từ được lưu giữ trong trí óc của cá nhân” tức là cá nhân đã hiểu được nghĩa của từ đó (VT tiếp nhận), còn “sử dụng được từ trong hoạt động giao tiếp” tức là phải được biểu hiện ra bên ngoài bằng cách cá nhân đó vừa phát âm được vừa sử dụng được từ trong các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau (VT biểu đạt). Như vậy, VT của trẻ bao gồm cả những từ/ cụm từ trẻ hiểu, đã có trong trí não nhưng chưa biết cách sử dụng và những từ/cụm từ trẻ đã biết sử dụng trong giao tiếp.

1.2.2. Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

1.2.2.1. Khái niệm vốn từ của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi.

Từ khái niệm vốn từ của Lê Hữu Tỉnh [40, tr.14], luận án hiểu:

“VT của trẻ MG 3- 4 tuổi là toàn bộ các từ và đơn vị tương đương từ của một ngôn ngữ, được lưu giữ trong trí óc của trẻ dưới dạng tiếp nhận (hiểu nghĩa của từ) hoặc biểu đạt (sử dụng được từ phù hợp)”

1.2.2.2. Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non nói chung, trẻ MG 3 – 4 tuổi nói riêng là một quá trình từ thấp đến cao với các giai đoạn mang những đặc trưng khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi của trẻ, ở mỗi giai đoạn có sự kế thừa và phát triển những thành tựu của giai đoạn trước

– Vốn từ xét về mặt số lượng

Trong phần Tổng quan, luận án đã trình bày cụ thể các kết quả nghiên cứu về số lượng từ của trẻ ở những mốc tháng mà trẻ có thể đạt được. Chúng tôi xin nhắc lại số liệu của một số tác giả trong nước. Theo Lưu Thị Lan, trẻ 3 tuổi có số lượng từ là 486. Trẻ 4 tuổi có số lượng từ là 724 [20], theo Nguyễn Xuân Khoa trẻ 3 tuổi có số lượng từ là 1300, trẻ 4 tuổi có khoảng 1900 – 2000 từ [17].

– Vốn từ xét về mặt cơ cấu từ loại

Xét về cơ cấu từ loại, trẻ MG 3-4 tuổi chủ yếu tiếp thu danh từ và động từ, các từ loại khác ít hoặc chưa xuất hiện trong vốn từ của trẻ. Tỉ lệ các từ loại khác tăng lên theo độ tuổi của trẻ, song mức độ ở các năm có sự khác nhau và ở từng loại cũng khác nhau. Theo Lưu Thị Lan, cơ cấu từ loại trong VT của trẻ 4 tuổi gồm: danh từ: 37.91% → 35,36%; động từ: 33,36% → 31,04%; đại từ: 2,82% → 3,61% [20].

Sự tăng giảm của các từ loại trong VT phù hợp với nhận thức của trẻ. Khi còn nhỏ thì sự nhận biết của trẻ chủ yếu là các đồ vật, hành động và những người thân thiết nhất. Chính vì thế VT của trẻ chủ yếu là các danh từ, động từ chỉ tên gọi sự vật, hiện tượng và hoạt động . Khi lớn hơn, trẻ nhận biết thêm được các đặc điểm, tính chất, mối quan hệ của các sự vật, hành động,… do đó các từ loại khác được xuất hiện và phát triển phong phú hơn.

Theo các nhà ngữ pháp học chức năng thì động từ là từ loại có vai trò đặc biệt quan trọng đối với trẻ. Động từ giúp trẻ biểu thị được mong muốn của bản thân và giúp những người xung quanh hiểu mong muốn của trẻ. Ví dụ: Khi trẻ nói ăn mẹ hiểu trẻ đói, cần ăn. Khi trẻ nói đi chơi nghĩa là bé muốn được đi chơi. Vì thế, sử dụng tốt động từ sẽ giúp trẻ biết sử dụng các từ loại khác.

– Khả năng hiểu nghĩa từ của trẻ

Khi tiếp thu được một từ mới, trẻ thường dùng từ đó như một từ riêng, có nghĩa là một từ chỉ biểu hiện cho một đối tượng duy nhất chứ chưa thể khái quát được cho các đối tượng cùng loại. Ví dụ, trẻ dùng từ “áo” để chỉ một cái áo cụ thể trẻ mặc, sau này khi lớn hơn trẻ mới có thể dùng để khái quát mọi cái áo khác cùng loại. Điều này cho thấy, khả năng hiểu nghĩa từ tùy thuộc vào sự phát triển nhận thức của trẻ qua các độ tuổi.

Theo Fedorenko, trẻ em có 5 mức độ hiểu nghĩa khái quát của từ như sau: – Mức độ zêrô (mức độ không): Mỗi sự vật có tên gọi gắn với nó. Trẻ hiểu được ý nghĩa gọi tên này: mẹ, bố, bàn, bát, … (nghĩa biểu danh). – Mức độ 1: Ý nghĩa biểu hiện ở mức thấp, tên gọi chung của các sự vật cùng loại: búp bê, bóng, cốc, nhà, … – Mức độ 2: Khái quát hơn: quả (cam, xoài); xe (máy, ô tô); con (gà, cá, heo),… – Mức độ 3: mức độ cao hơn trẻ có thể nắm được như: phương tiện giao thông: ô tô, tàu thủy, xe máy, đồ vật; đồ chơi, đồ nấu bếp, đồ dùng học tập… MG 5 – 6 tuổi – Mức độ 4: Khái quát tối đa, gồm những khái nhiệm trừu tượng; số lượng, chất lượng, hành động…

Theo đó, trẻ lứa tuổi nhà trẻ hiểu được ý nghĩa ở mức độ zêrô và 1.Trẻ mẫu giáo, đặc biệt là mẫu giáo lớn hiểu được ý nghĩa của từ ở mức độ 2 và 3.Trẻ ở cấp phổ thông hiểu được nghĩa của từ ở mức độ 4. [8].

Giai đoạn 3 – 4 tuổi trẻ không chỉ hiểu nghĩa của từ chỉ các sự vật, hành động cụ thể mà còn có thể hiểu nghĩa các từ biểu thị tính chất, màu sắc, các mối quan hệ,… để có thể vận dụng giao tiếp với người khác. Trẻ có thể hiều được đặc điểm của một số loài vật, chẳng hạn như: con khỉ sống ở đâu, ăn gì… Đây cũng là giai đoạn trẻ có thể nói được tên, đặc điểm, công dụng của một số phương tiện giao thông quen thuộc (xe đạp, xe máy, ô tô, máy bay, tàu điện,…); Nói được đặc điểm của một số con vật (con gà, con chó, con lợn, con khỉ,…); Nói được đặc điểm của một số loại rau, củ, quả (quả táo, quả nho, quả na, rau cải, củ cà rốt…); Nói được chức năng của một số đồ dùng, đồ chơi (bút dùng để viết, tẩy dùng để xóa,…); Nói được một số hiện tượng thiên nhiên (trời mưa, trời nắng, gió, sấm, chớp,…).Ở giai đoạn này, trẻ còn có thể trả lời và đặt câu hỏi: Ai? Cái gì? Ở đâu? Khi nào? Gọi tên, mô tả sự vật qua tranh ảnh; Kể lại sự việc/câu chuyện được nhìn/nghe kể; Đọc thuộc một số bài thơ, bài hát, bài đồng dao, kể lại được câu chuyện ngắn.

VT của trẻ được chia thành 2 loại: VT thụ động (VT tiếp nhận) bao gồm những từ trẻ mới chỉ hiểu được nhưng chưa nói được; VT tích cực (VT biểu đạt) gồm những từ trẻ hiểu và sử dụng trong giao tiếp, học tập. Chuyển từ VT thụ động sang VT tích cực (tích cực hóa VT) chính là nội dung và nhiệm vụ quan trọng của PTVT cho trẻ MG, đặc biệt là 3 – 4 tuổi.

1.2.2.3. Quá trình học từ của trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

Các nghiên cứu về quá trình học từ của trẻ em đều chỉ ra rằng để học được một từ trẻ cần trải qua các giai đoạn nghe → hiểu → bắt chước → nói.

Nghe: Khả năng nghe là tiền đề cho sự phát triển ngôn ngữ. Trẻ nghe được mới có thể nói – giao tiếp và phát triển ngôn ngữ. “Giai đoạn MG 3 – 4 tuổi, trẻ tập trung vào nghe hiểu âm thanh/lời nói. Nghe hiểu âm thanh/ lời nói, gắn với sự vật, hiện tượng cụ thể. Do vậy, các hoạt động KPKH tạo cơ hội cho trẻ được nghe một từ nhiều lần trong bối cảnh thực với các đối tượng cụ thể. Đây là môi trường tốt để trẻ được nghe – hiểu các từ cụ thể” [82].

Hiểu: Là khi trẻ thiết lập được mối liên hệ giữa một âm thanh lời nói nghe được với ý nghĩa của nó. Khả năng hiểu từ của trẻ diễn ra theo trình tự: Hiểu những từ đầu tiên: Ban đầu trẻ hiểu nghĩa của từ giới hạn trong những ngữ cảnh cụ thể, sau đó có khả năng nhận biết được những đồ vật quen thuộc bằng tên thậm chí ngay cả khi những đồ vật này không nằm ở những chỗ quen thuộc. Hiểu danh từ: Danh từ diễn tả một sự vật có thể nhìn thấy và thao tác được nên trẻ dễ ghi nhớ. Hiểu động từ: Hiểu những động từ phản ánh hành động mà trẻ có thể tự thực hiện; hành động tác động vào đồ vật và hành động tạo ra sự thay đổi trong môi trường. Động từ trừu tượng hơn danh từ, do đó khó học hơn đối với trẻ. Trẻ MG 3 – 4 tuổi có thể hiểu được động từ và tỉ lệ động từ trong VT của trẻ đang tăng lên, trẻ có thể kết hợp được danh từ và động từ khi nói; Hiểu từ chỉ thuộc tính và không gian: Trẻ hiểu được các tính từ (màu sắc, hình dạng, kích cỡ). Hiểu giới từ: Những từ chỉ không gian như­ “trong”, “trên” và “d­ưới” th­ường được tiếp thu trư­ớc những từ “đằng trước”, “ở giữa” và “bên dư­ới”; Hiểu đại từ: Khi lên 3, sử dụng được một cách chuẩn xác các đại từ như “Con/cháu”, “của con”, “của cháu” [82].

Bắt chước: Là giai đoạn đầu của việc sử dụng từ. Trẻ nhắc lại từ được người lớn nói. Trẻ MG 3 – 4 tuổicó thể bắt chước được những câu dài 5 – 6 từ. Lời nói của trẻ phản ánh màu sắc ngôn ngữ của người lớn sống gần gũi với trẻ. Chính vì vậy, để giúp trẻ nói đúng từ cần xây dựng môi trường ngôn ngữ mang tính sư phạm chuẩn mực, đặc biệt là môi trường ngôn ngữ ở gia đình và ở trường, lớp MG [82].

Nói: Đây là bước cuối cùng trong chu trình học từ của trẻ, trẻ sử dụng được từ để giao tiếp với những người xung quanh. cần tạo ra các tình huống kích thích nhu cầu nói của trẻ. Trẻ cần được tham gia vào hoạt động giao tiếp, vui chơi, trải nghiệm… để có nhiều cơ hội được nghe, hiểu, bắt chước và nói. Hoạt động KPKH là một trong các hoạt động có nhiều ưu thế trong việc tạo cơ hội cho trẻ được giao tiếp, vui chơi, trải nghiệm để nghe, hiểu, bắt chước, nói [82].

1.2.2.4. Biểu hiện phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

Căn cứ vào khái niệm, đặc điểm PTVT của trẻ; khái niệm, nhiệm vụ và nội dung PTVT cho trẻ, biểu hiện PTVT của trẻ được xem xét ở các phương diện sau:

STTNhiệm vụ PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổiBiểu hiện PTVT của trẻ
1.Tích lũy số lượng từ cần thiết cho giao tiếp ngôn ngữ của trẻSố lượng vốn từ của trẻ tăng lên, phạm vi vốn từ được mở rộng… sau đó tốc độ tăng vốn từ chậm dần theo độ tuổi.
2.Tạo ra cơ cấu từ loại hợp lí trong vốn từ của trẻTrẻ gọi tên được các vật, hiện tượng (danh từ), mô tả được hoạt động trạng thái của sự vật hiện tượng con người (động từ), mô tả được tính chất đặc điểm các trang thái hoạt động (tính từ)
3.Giúp trẻ lĩnh hội nghĩa của từ (từ tiếp nhận)Thiết lập được mối quan hệ giữa từ với sự vật hiện tượng tương ứng. Ví dụ: Khi cô nói từ quả cam, trẻ chỉ tay vào bức tranh có hình quả cam .
4.Giúp trẻ sử dụng được từ trong những ngữ cảnh phù hợp (từ biểu đạt)Trẻ sử dụng được từ để diễn đạt suy nghĩ, ý tưởng của bản thân phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và giúp cho người khác hiểu mình.

1.2.2.5. Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

* Khái niệm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

Khái niệm PTVT được một số tác giả quan tâm, tùy theo mục đích nghiên cứu, các tác giả nhấn mạnh đến các đặc điểm khác nhau của PTVT. Trịnh Thị Hà Bắc nhấn mạnh đến quá trình/cách thức tiến hành và mục tiêu hướng tới của PTVT: “PTVT cho trẻ là việc tổ chức có kế hoạch, khoa học nhằm cung cấp vốn từ, làm giàu vốn từ, nâng cao khả năng hiểu nghĩa của từ, củng cố và tích cực hoá vốn từ cho trẻ, giúp trẻ biết vận dụng phù hợp vốn từ đó trong hoạt động giao tiếp” [1, tr.7].

Nhóm tác giả Hoàng Thị Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức nhấn mạnh đến các mục tiêu của PTVT: “PTVT cho trẻ là giúp trẻ nắm được nhiều từ, hiểu ý nghĩa của từ và biết sử dụng trong các tình huống giao tiếp” [27, tr.17].

Nguyễn Thị Phương Nga nhấn mạnh quá trình/cách thức tác động khi cho rằng: “PTVT cho trẻ là hoạt động có chủ đích, có kế hoạch, nhằm giúp trẻ lĩnh hội vốn từ có hiệu quả” [24, tr.74]. Cũng theo tác giả, PTVT cho trẻ là cơ sở của phát triển ngôn ngữ. Đơn vị ngôn ngữ đầu tiên trẻ sử dụng là từ. Trường mầm non có nhiệm vụ PTVT cho trẻ không chỉ về số lượng mà về cả chất lượng. Dạy trẻ không chỉ biết nhiều từ, mà còn phải hiểu từ, sử dụng từ đúng, loại ra những từ không hay, không đẹp trong lời nói của trẻ.

Từ nhiều cách tiếp cận khác nhau khi định nghĩa PTVT cho trẻ, luận án hiểu: PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi là quá trình sư phạm có mục đích, có kế hoạch nhằm giúp trẻ gia tăng số lượng từ, hiểu nghĩa (VT tiếp nhận) và sử dụng từ (VT biểu đạt) trong các ngữ cảnh giao tiếp khác nhau.

* Nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

PTVT cho trẻ bao gồm hai mặt: gia tăng về VT tiếp nhận và VT biểu đạt của trẻ. Cụ thể:

– Tích lũy số lượng từ cần thiết cho giao tiếp ngôn ngữ của trẻ: Mặc dù chức năng cơ bản của từ không phải là giao tiếp nhưng thiếu từ thì giao tiếp trở nên khó khăn. Vì vậy, phải cung cấp cho trẻ VT cần thiết. Đó là những từ về môi trường xung quanh (ở gia đình, ở trường mầm non) cần cho cuộc sống cá nhân và quan hệ trong sinh hoạt, học tập, vui chơi của trẻ.

– Tạo ra cơ cấu từ loại hợp lí trong VT của trẻ: Khi PTVT cho trẻ, cần chú ý tới cơ cấu từ loại sao cho hợp lí. Số lượng từ lớn mà cơ cấu từ loại không hợp lí hoặc thiếu một số từ loại nào đó thì trẻ sẽ khó khăn khi diễn đạt. “Với trẻ 3 – 4 tuổi, cần đảm bảo đủ các từ loại với tỉ lệ vào khoảng: 38% danh từ, 32% động từ, 6,8% tính từ, 7,8% phó từ, 4,7% tình thái từ, 3,1% đại từ, 2,5% số từ, 1,7% quan hệ từ…” [35]. Như trên đã nói, động từ thường diễn đạt những hoạt động gần gũi và gắn với nhu cầu hàng ngày của trẻ do đó cần nâng cao tỉ lệ động từ trong cơ cấu từ loại, thậm chí cao hơn danh từ.

– Giúp trẻ lĩnh hội nghĩa của từ: Hiểu nghĩa của từ là một nội dung quan trọng của phát triển ngôn ngữ. Ở trường mầm non, nhiệm vụ này bao gồm: Giúp trẻ nắm được ý nghĩa của từ trên cơ sở đối chiếu chính xác chúng với các đồ vật ở xung quanh, giúp trẻ lĩnh hội được ý nghĩa khái quát của từ trên cơ sở phân biệt được những dấu hiệu đặc trưng của sự vật và hiện tượng, thâm nhập vào thế giới hình tượng của lời nói và biết cách sử dụng chúng. Trong quá trình giao tiếp, dần dần trẻ lĩnh hội được ý nghĩa của từ, thậm chí có nhiều nghĩa khác nhau trong một từ (từ nhiều nghĩa) hay nhiều từ có chung một nghĩa (từ đồng nghĩa).

– Tích cực hóa vốn từ cho trẻ: Trẻ không những hiểu từ mà còn phải sử dụng được chúng trong giao tiếp. Đây là quá trình biến những từ thụ động thành những từ chủ động. Việc sử dụng một từ trong nhiều hoàn cảnh giao tiếp sẽ làm cho từ ngữ đó tích cực hóa trong hoạt động của trẻ.

* Nội dung phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

Theo tác giả Đinh Hồng Thái, quá trình hình thành VT có mối quan hệ mật thiết với hoạt động nhận thức tích cực của trẻ; do đó, PTVT gắn liền với quá trình phát triển tư duy, kết quả hoạt động nhận thức của trẻ. Trẻ phải được khám phá, được trải nghiệm đặc biệt là trải nghiệm ngôn ngữ thì quá trình tích cực hóa VT mới hiệu quả. Các nội dung PTVT phải đưa vào tất cả các hoạt động của trẻ (học tập, vui chơi, sinh hoạt…) [36].

Nội dung PTVT được phức tạp hóa dần cùng với sự tăng độ tuổi của trẻ. Điều này có thể thực hiện theo ba bước: 1) Mở rộng VT của trẻ trên cơ sở cho trẻ làm quen với thế giới các sự vật, hiện tượng đang dần dần mở rộng; 2) Đưa vào những từ chỉ thuộc tính, phẩm chất, quan hệ trên cơ sở cho trẻ hiểu sâu thêm về các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh; 3) Đưa ra từ chỉ khái niệm sơ đẳng trên cơ sở phân biệt và khái quát các sự vật theo những dấu hiệu căn bản. Tác giả Đinh Hồng Thái phân chia nội dung PTVT theo đề tài gồm: “Những từ ngữ nói về cuộc sống riêng, những từ ngữ nói về cuộc sống xã hội và những từ ngữ nói về thế giới tự nhiên” [36].

Trong nghiên cứu này, PTVT cho trẻ tập trung vào những từ liên quan đến nội dung KPKH ở trường mầm non (đồ vật, hiện tượng tự nhiên, thực vật, động vật và Các bộ phận của cơ thể).

1.2.3. Tổ chức hoạt động khám phá khoa học với phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

1.2.3.1. Khái niệm hoạt động khám phá khoa học

– Khám phá khoa học:

Theo Từ điển tiếng Việt [29], “khám phá là tìm ra, phát hiện ra cái còn ẩn giấu, cái bí mật” (tr. 610); “khoa học là hệ thống tri thức tích lũy trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh những quy luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như hoạt động tinh thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực” (tr. 623). Từ đó, có thể hiểu một cách khái quát: KPKH là tìm ra, phát hiện ra những tri thức bí mật, còn ẩn giấu nhằm giúp con người cải tạo thế giới hiện thực.

Theo Trần Thị Ngọc Trâm và Nguyễn Thị Nga: “KPKH với trẻ nhỏ là quá trình trẻ tích cực tham gia hoạt động thăm dò, tìm hiểu thế giới tự nhiên. Đó là quá trình quan sát, so sánh, phân loại, thử nghiệm, dự đoán, suy luận, thảo luận, giải quyết vấn đề, đưa ra quyết định…”[42, tr.12]. Như vậy, dù cách diễn đạt khác nhau, nhưng nhìn chung các tác giả trên đều cho rằng KPKH là tìm ra, phát hiện ra những tri thức bí mật, còn ẩn giấu nhằm giúp con người cải tạo thế giới hiện thực. Theo đó, đối với trẻ nhỏ thì KPKH là quá trình trẻ tích cực tham gia hoạt động thăm dò, tìm hiểu thế giới tự nhiên. Đó là quá trình quan sát, so sánh, phân loại, thử nghiệm, dự đoán, suy luận, thảo luận, giải quyết vấn đề, đưa ra quyết định.

Từ phân tích các khái niệm trên luận án hiểu rằng: “KPKH của trẻ mầm non là quá trình tham gia các hoạt động tìm hiểu thế giới xung quanh bằng các quá trình quan sát, thử nghiệm, suy luận, giải quyết vấn đề…”

– Hoạt động khám phá khoa học:

Khái niệm hoạt động KPKH được đề cập trong nghiên cứu của các tác giả Hoàng Thị Phương, Hoàng Thị Oanh, Nguyễn Thị Xuân, Nguyễn Thị Thanh Thủy. Theo Hoàng Thị Phương: “Hoạt động khám phá môi trường xung quanh được hiểu là quá trình tìm tòi cái mới, những điều chưa biết đối với trẻ trong các sự vật, hiện tượng ở môi trường tự nhiên, xã hội, qua đó trẻ sẽ lĩnh hội được kiến thức, kĩ năng và có thái độ đúng đắn với môi trường xung quanh. Thông qua hoạt động này, trẻ được tiếp xúc với môi trường, trải nghiệm cảm xúc, tình cảm, kĩ năng, hành vi, tự lĩnh hội kiến thức về môi trường xung quanh, đồng thời có cơ hội tham gia vào việc giữ gìn, bảo vệ môi trường xung quanh” [33, tr.65]. Như vậy, trong khái niệm này, tác giả Hoàng Thị Phương cho rằng khám phá môi trường xung quanh bao gồm khám phá khoa học và khám phá xã hội. “Khám phá” là: tìm tòi cái mới, những điều chưa biết, nhờ đó trẻ được trải nghiệm để lĩnh hội kiến thức.

Tác giả Hoàng Thị Oanh và Nguyễn Thị Xuân cho rằng: “Hoạt động KPKH chính là việc GV tạo ra các điều kiện, cơ hội và tổ chức các hoạt động để trẻ tích cực tìm tòi, phát hiện những điều thú vị về các sự vật, hiện tượng xung quanh. Điều quan trọng hơn cả là thông qua hoạt động khám phá này, trẻ học được các kĩ năng quan sát, so sánh, phân loại, đo lường, phán đoán, giải quyết vấn đề, chuyển tải ý kiến của mình và đưa ra kết luận” [28, tr.17]. Khái niệm này đề cập tới vai trò của GV là người chuẩn bị, tạo điều kiện, cơ hội cho trẻ tìm tòi, phát hiện ra các đặc điểm của sự vật, hiện tượng và nhấn mạnh tới kết quả của hoạt động là hình thành và phát triển kĩ năng nhận thức, ngôn ngữ… cho trẻ em.

Theo Nguyễn Thị Thanh Thuỷ: “hoạt động KPKH là hoạt động đòi hỏi trẻ phải huy động tối đa các giác quan. Kết quả của hoạt động này là khơi dậy, nuôi dưỡng ở trẻ tính tò mò, ham hiểu biết, kích thích các giác quan phát triển, đem lại cho trẻ kiến thức khoa học đơn giản, sơ đẳng phù hợp với độ tuổi; qua đó phát triển các kĩ năng nhận thức ở trẻ như: quan sát, so sánh, phỏng đoán, suy luận, giải quyết vấn đề, hợp tác...” [38]. Khái niệm này nhấn mạnh tới hứng thú, niềm tin, ý chí… và các kĩ năng của trẻ.

Từ phân tích các khái niệm trên luận án hiểu rằng: “Hoạt động KPKH của trẻ MG 3 – 4 tuổi là quá trình trẻ trực tiếp tham gia tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh bằng các giác quan thông qua nhiều hoạt động: quan sát, so sánh, phân loại, thử nghiệm, làm thí nghiệm đơn giản, thảo luận,…; qua đó lĩnh hội được kiến thức, kĩ năng và có thái độ đúng đắn với các đối tượng này.”

Như vậy, bản chất của hoạt động KPKH là: (1) Trẻ được thao tác, trải nghiệm trực tiếp trên đối tượng bằng các giác quan; (2) Trẻ được đặt vào trạng thái tò mò, hứng thú tìm tòi, phát hiện đối tượng nên luôn tích cực tham gia hoạt động khám phá; (3) Trẻ được thăm dò, tìm tòi cái mới, những điều chưa biết; (4) Trẻ lĩnh hội được nhiều kiến thức và phát triển ngôn ngữ về đối tượng khám phá; (5) Hình thành và phát triển các kĩ năng quan trọng như: quan sát, so sánh, phỏng đoán, làm việc nhóm, giao tiếp…; (6) Hình thành xúc cảm, tình cảm và thái độ tích cực nhận thức ở trẻ.

1.2.3.2. Đặc điểm hoạt động khám phá khoa học của trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

Hoạt động KPKH ở trẻ MG 3 – 4 tuổi là tìm tòi, khám phá những sự vật hiện tượng ở thế giới xung quanh để trẻ có thể nhận biết, gọi tên, đặc điểm, tính chất…, biết cách sử dụng từ trong những tình huống cụ thể. Trẻ MG 3-4 khám phá thế giới xung quanh bằng quan sát, cảm nhận trực tiếp đối tượng thực hoặc gián tiếp qua các phương tiện trực quan khác.

Đối tượng của hoạt động KPKH của trẻ MG 3-4 tuổi là những sự vật, hiện tượng gần gũi xung quanh trẻ.

Như vậy, với những đặc thù riêng, hoạt động KPKH chính là một trong những phương tiện hiệu quả để PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi.

1.2.3.3. Ưu thế của hoạt động khám phá khoa học đối với phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

– Hoạt động KPKH tạo môi trường đa dạng cho trẻ tiếp xúc, quan sát, nhận biết để tích lũy vốn từ: Hoạt động KPKH tạo cơ hội cho trẻ được tiếp xúc với đồ vật, động vật, thực vật, hiện tượng tự nhiên …. Mỗi một đối tượng, sự việc, hiện tượng sẽ cung cấp cho trẻ nguồn ngữ liệu phong phú về từ. Qua trải nghiệm, quan sát, khám phá các sự vật, hiện tượng, trẻ được hình thành và phát triển nhận thức về các đối tượng với tên gọi, đặc điểm, hoạt động, tính chất. Từ nhu cầu muốn tìm hiểu, khám phá thế giới tự nhiên trong đời sống khiến trẻ muốn tìm hiểu các đối tượng đó, miêu tả các đối tượng đó, nhờ vậy, số lượng từ của trẻ tăng lên.

– Hoạt động KPKH kích thích trẻ tương tác, trao đổi để sử dụng từ trong câu: Khi được thao tác, trải nghiệm trực tiếp trên đối tượng thực, trẻ hứng thú, tò mò, ham hiểu biết;tích cực tham gia hoạt động bằng cách sẵn sàng tiếp nhận cái mới, tự đặt câu hỏi, biết liên hệ kiến thức mới với những gì đã biết trước đó để mô tả và giải thích về những gì được quan sát, khám phá, phát hiện và thử nghiệm… Thông qua đó, trẻ được sử dụng từ trong ngữ cảnh cụ thể có ý nghĩa, tức là gắn từ với đối tượng, tình huống cụ thể; không những được nghe GV giải thích, trẻ còn được tạo cơ hội để bộc lộ ý kiến, quan điểm của bản thân về các đối tượng đó. Điều này giúp trẻ vừa được gia tăng số lượng từ, vừa hiểu được nghĩa và sử dụng từ trong các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau.

– Hoạt động KPKH tạo cơ hội cho trẻ mở rộng phạm vi sử dụng của từ: Điểm đặc trưng của hoạt động KPKH là trẻ được quan sát, so sánh, phỏng đoán, làm việc nhóm, giao tiếp, dự đoán, suy luận, thảo luận, giải quyết vấn đề, đưa ra quyết định… trên đối tượng cụ thể; do vậy, các kĩ năng tương ứng được hình thành và phát triển. Trong quá trình đó, GV tạo ra nhiều nhiệm vụ nhận thức với những tình huống “có vấn đề” buộc trẻ phải huy động những điều đã biết để giải quyết vấn đề cần tìm. Điều này giúp trẻ suy nghĩ nhiều hơn về những gì chúng nhìn thấy và đang làm, học được cách nghĩ chứ không chỉ là học những quy luật của khoa học, qua đó phát triển tư duy, nhận thức. Trẻ được rèn luyện thường xuyên đối tượng thực gắn với từ có chủ đích ở nhiều tình huống khác nhau, do đó học được cách sử dụng từ đúng với nhiều ngữ cảnh giao tiếp khác nhau.

Như vậy, hoạt động KPKH là hoạt động có nhiều ưu thế trong việc PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi ở trường mầm non.

1.2.3.4. Quá trình tổ chức hoạt động khám phá khoa học phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

* Khái niệm tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ

Tổ chức là “làm những gì cần thiết để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm có được hiệu quả tốt nhất” [29, tr.1249]. Như vậy, tổ chức là tiến hành một công việc theo cách thức trình tự là sắp xếp, bố trí thành các bộ phận để cùng thực hiện một nhiệm vụ hoặc cùng một chức năng chung.

Tổ chức hoạt động giáo dục là quá trình nhà giáo dục tiến hành các công việc theo trình tự để tác động đến trẻ giúp trẻ tự giác, tích cực, độc lập hình thành và phát triển nhân cách của mình cho phù hợp với quy định của xã hội, đáp ứng được mục đích và nhiệm vụ giáo dục của nhà trường. Theo tác giả Trần Thị Ngọc Trâm “Tổ chức hoạt động KPKH thực chất là việc GV tạo môi trường hoạt động hấp dẫn, an toàn, phù hợp kích thích trẻ tích cực hoạt động tìm tòi, khám phá và giải quyết các tình huống có vấn đề nảy sinh một cách phù hợp. Khi thực hiện hoạt động KPKH GV chú trọng giúp trẻ phát triển các kĩ năng: quan sát, so sánh, phân loại, đo lường, phán đoán, giải quyết vấn đề, trao đổi, thảo luận và đưa ra kết luận về sự vật, hiện tượng được khám phá. Đồng thời với việc rèn luyện, phát triển các kĩ năng này, GV còn rèn luyện phát triển cho trẻ các kĩ năng xã hội, giáo dục trẻ thái độ ứng xử đúng đắn, khoa học với thế giới xung quanh phù hợp với trẻ. Đối với trẻ MG, khoa học không chỉ là kiến thức mà còn là quá trình hay con đường tìm hiểu, khám phá thế giới vật chất. Theo đó, kiến thức khoa học của trẻ không nhất thiết phải chính xác ở mức độ cao mà phụ thuộc vào vốn kinh nghiệm” [42].

Luận án hiểu rằng: “Tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ là quá trình GV tiến hành các công việc cần thiết để tạo ra các điều kiện, tác động đến trẻ giúp trẻ tự giác, tích cực, độc lập tham gia hoạt động KPKH thông qua đó VT tiếp nhận và VT biểu đạt trẻ được tăng lên.” Như vậy, khái niệm này đề cập tới vai trò của GV là người chuẩn bị, tạo điều kiện, cơ hội cho trẻ tìm tòi phát hiện ra các đặc điểm của sự vật, hiện tượng và nhấn mạnh tới kết quả của hoạt động là hình thành và phát triển kĩ năng nhận thức, ngôn ngữ… cho trẻ em.

* Mục tiêu tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ

– Cung cấp cơ hội để trẻ tiếp xúc, quan sát, nhận biết môi trường xung quanh. GV luôn tạo cơ hội để trẻ được tự mình quan sát được đối tượng, thao tác với đồ vật bằng tay để phát hiện các đặc điểm bề ngoài của sự vật, hiện tượng. Tạo điều kiện cho trẻ tham gia trực tiếp vào các hoạt động, cảm nhận các sự vật, hiện tượng, từ đó nhận thức được tri thức mới. Điều đó giúp trẻ hiểu biết sâu sắc hơn, ghi nhớ tốt hơn.

– Tạo cơ hội cho trẻ tương tác và sử dụng ngôn ngữ trong quá trình khám phá. Cùng với việc cho trẻ tiếp xúc với đồ vât, sự vật, hiện tượng, GV cần tạo cơ hội để trẻ được sử dụng ngôn ngữ. Qua việc nghe, nói, bắt chước, trẻ có khả năng sử dụng từ ngữ hợp lí hơn. Tương tác với cô giáo, với các bạn sẽ giúp trẻ hình thành từ ngữ và biết cách sử dụng từ ngữ hiệu quả hơn.

– Mang lại cho trẻ sự mới mẻ, đa dạng, hấp dẫn của các đối tượng trong môi trường xung quanh, tạo cho trẻ thích thú khi tham gia các hoạt động KPKH. Từ đó giúp trẻ tích cực chủ động trong việc tiếp thu từ mới và sử dụng từ trong các tình huống có ý nghĩa. Ví dụ: Cho trẻ tham gia hoạt động Hạt nảy mầm giúp trẻ nắm được vốn từ chỉ các bộ phận của cây (rễ, thân, cành, lá, hoa, quả), quá trình sinh trưởng (hạt, mầm, cây), các nhân tố tác động đến sự phát triển của cây (đất, nước, không khí, ánh sáng),…

* Nội dung tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ

KPKH là một trong ba nội dung thuộc lĩnh vực giáo dục phát triển nhận thức (bên cạnh nội dung “Khám phá xã hội” và “Làm quen với một số khái niệm sơ đẳng về toán”). KPKH được coi là một trong những phương tiện để PTVT cho trẻ MG. Dựa theo nội dung chương trình GDMN [2], VT cần được phát triển thông qua hoạt động KPKH dành cho trẻ MG 3 – 4 tuổi bao gồm:

Đồ vật: VT về tên gọi một số đồ dùng (bàn, ghế, tủ…); tên gọi các đồ chơi (búp bê, gấu bông, xếp hình…), phương tiện giao thông (xe đạp, xe máy, ôtô, thuyền…) và các bộ phận của phương tiện (bánh xe, còi…); về chức năng (lợi ích) của đồ dùng (học, ăn, ngồi, đựng, xem…), đồ chơi (lắp, ghép, xếp, tháo…); về đặc điểm hình dạng, màu sắc, kích thước…của đồ dùng, đồ chơi và phương tiện giao thông

Hiện tượng tự nhiên: VT về tên gọi các hiện tượng tự nhiên thường gặp (mặt trời, mặt trăng, gió, mây, mưa, sấm chớp, bão, cầu vồng…), tính từ (tí tách, lộp độp, mọc, lặn, thổi, ầm ầm, vù vù…), các hoạt động sinh hoạt phù hợp với thời tiết (ăn, ngủ, tắm, mặc…); về đặc điểm của các hiện tượng tự nhiên (màu sắc, nóng, lạnh, mát mẻ, chói chang…).

Thực vật: VT về đặc điểm các bộ phận của cây (lá, hoa, quả, hạt…) quen thuộc, gần gũi; cấu tạo, công dụng, cách sử dụng, môi trường sống (nước, ánh sáng, đất, độ ẩm…); về sự sinh trưởng và phát triển của thực vật (đâm chồi, nảy lộc, nở…), chăm sóc và bảo vệ chúng (hái, tỉa, cắt, trồng, bón, tưới…); về đặc điểm hình thái, màu sắc, kích thước, mùi, vị… của cây và các bộ phận của cây (lá, hoa, quả, hạt…).

Động vật: VT về đặc điểm của cơ thể (lưng, ngực, bụng, chân, tai, mắt, cánh…); về hành động, ăn uống, thói quen, vận động… của động vật; về đặc điểm con vật (màu sắc, kích thước, cân nặng…); thể hiện cách chăm sóc, bảo vệ con vật gần gũi (tắm,…).

Một số bộ phận cơ thể: VT về tên gọi các giác quan và bộ phận của cơ thể (mắt, mũi, chân, tay, đầu, mồm…); về chức năng của giác quan và bộ phận cơ thể (nhìn, ngửi, đi, đứng, cầm, nói, cúi, nghe, chạy, nhảy, khóc, cười, nghĩ…), giữ gìn, chăm sóc và bảo các bộ phận cơ thể (vệ sinh, rửa, tắm, băng bó,…); VT về đặc điểm các giác quan và bộ phận cơ thể (long lanh, đỏ hoe, ngắn, dài, to, nhỏ, cao, thấp, khỏe…)…

* Phương pháp, biện pháp, hình thức tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ

– Khái niệm phương pháp:

Theo Từ điển Tiếng Việt, “phương pháp là cách thức nghiên cứu, nhìn nhận các hiện tượng của tự nhiên và đời sống xã hội”; hay “là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động nào đó” [29, tr. 983].

Theo Nguyễn Thị Hòa, “Phương pháp giáo dục mầm non là cách thức, con đường hoạt động hợp tác cùng nhau giữa GV và trẻ nhằm thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục đã đặt ra ở lứa tuổi mầm non” [14, tr. 87]. Từ đó, có thể hiểu: Phương pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ là cách thức, con đường hoạt động hợp tác cùng nhau giữa GV và trẻ để tạo ra các điều kiện, cơ hội nhằm kích thích trẻ tích cực thăm dò, tìm tòi cái mới, phát hiện những điều thú vị, chưa biết về các sự vật, hiện tượng trong môi trường tự nhiên bằng các hoạt động: quan sát, so sánh, phân loại, thử nghiệm, làm thí nghiệm đơn giản, dự đoán, thảo luận, đưa ra quyết định…; để thông qua đó, trẻ gia tăng được số lượng từ, hiểu nghĩa của từ và hình thành cách sử dụng từ trong các ngữ cảnh giao tiếp khác nhau.

Trong dạy học, có nhiều cách phân loại phương pháp tùy theo quan điểm tiếp cận. Dựa vào đặc điểm nhận thức của trẻ mầm non, mục đích và nội dung tri thức về thế giới tự nhiên, có thể phân chia thành 03 nhóm phương pháp: trực quan (quan sát, sử dụng tài liệu trực quan…), dùng lời (đàm thoại, kể chuyện, đọc truyện…), thực hành (trò chơi, thí nghiệm, lao động, trải nghiệm…). Cụ thể:

+ Nhóm phương pháp trực quan: Đây là nhóm phương pháp trẻ sử dụng các giác quan của mình để trực tiếp nhìn, nghe, cầm, nắm, sờ, ngửi, nếm… nhằm khám phá thế giới xung quanh. Việc tổ chức cho trẻ trực tiếp tiếp xúc, trải nghiệm, gọi tên giúp trẻ hình thành các khái niệm, bắt chước, nói và sử dụng từ trong giao tiếp. Nhóm phương pháp này được sử dụng với các mục đích: Phát triển và rèn luyện năng lực cảm giác, tri giác, các thao tác trí tuệ; hình thành, củng cố, làm chính xác biểu tượng về các đối tượng trong thế giới xung quanh; giúp trẻ gọi tên đối tượng chính xác và sử dụng từ đúng trong các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau.

+ Nhóm phương pháp dùng lời: Là phương pháp dùng các phương tiện ngôn ngữ như trò chuyện, trao đổi, đưa ra câu hỏi, giải thích, lời gợi ý…nhằm giúp trẻ tiếp nhận và phản hồi thông tin, khuyến khích trẻ giao tiếp với mọi người xung quanh; thể hiện ý muốn, chia sẻ cảm xúc với người khác bằng lời nói. Trong quá trình tổ chức cho trẻ KPKH, phương pháp dùng lời thường kết hợp với phương pháp quan sát, sử dụng tranh ảnh, phim, thí nghiệm, thực hành…để tăng hiệu quả của quá trình nhận thức cũng như phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Lời nói làm sâu sắc kiến thức của trẻ về mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh. Khi sử dụng phương pháp dùng lời, GV cần dựa trên đặc điểm của trẻ về khả năng nghe hiểu lời nói, sự chú ý có chủ định, khả năng chú ý đến nội dung của bài dạy. Có nhiều phương pháp dùng lời, nhưng trong tổ chức hoạt động KPKH, phương pháp “đàm thoại” với những câu hỏi mở có vai trò quan trọng trong PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi.

+ Nhóm phương pháp thực hành, trải nghiệm: Là phương pháp cho trẻ thực hành làm việc, được trải nghiệm trong hoạt động thực tiễn. Trẻ được thực hiện lặp đi lặp lại để phát hiện ra bản chất, đặc trưng của sự vật, hiện tượng và các mối quan hệ xung quanh, nhờ đó trẻ hình thành VT chủ động hơn, sâu sắc hơn và tích cực hơn. Việc trực tiếp tham gia các hoạt động KPKH vừa giúp trẻ hình thành kiến thức vừa giúp trẻ hình thành các kĩ năng khác. Khi tổ chức hoạt động KPKH, sử dụng trò chơi gắn với từ có chủ định trước của GV ở các chủ đề khác nhau là phương pháp hiệu quả giúp trẻ lĩnh hội VT. Hoạt động thí nghiệm, thử nghiệm trên đối tượng cụ thể cũng giúp cho trẻ hứng thú, tò mò và tích cực tham gia, qua đó phát triển được những từ ngữ gắn với đối tượng thực, hiểu và sử dụng được từ trong ngữ cảnh thí nghiệm.

Phương pháp thực hành trải nghiệm giúp kết nối kiến thức với thực tiễn cuộc sống phong phú mà trẻ em sẽ được trải qua trong cuộc sống. Bên cạnh việc giúp hình thành kiến thức mới, hoạt động trải nghiệm còn tạo cho trẻ niềm say mê, khơi gợi hứng thú tìm tòi, khám phá về sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh.

Để tổ chức hoạt động trải nghiệm cho trẻ, GV cần phải lưu ý: Đảm bảo môi trường hoạt động an toàn cho trẻ cả về thể chất và tinh thần; Môi trường hoạt động phong phú, đa dạng, phù hợp với mục đích cần đạt của hoạt động trải nghiệm; GV phải có chương trình, kế hoạch, nội dung phát triển trẻ hướng đến các mục tiêu phát triển toàn diện: thể chất, nhận thức, ngôn ngữ và giao tiếp,… phù hợp với đặc điểm sinh lí của trẻ. GV cần quan sát từng trẻ, nắm được đặc điểm tâm lí, nhận thức của từng trẻ, từ đó đề ra các mục tiêu cho từng trẻ trong hoạt động trải nghiệm. Cần có sự tương tác giữa GV với trẻ và giữa trẻ với nhau. Môi trường vật chất, các loại đồ chơi, nguyên vật liệu,… phục vụ cho hoạt động trải nghiệm phải an toàn, không gây nguy hiểm cho trẻ.

– Biện pháp tổ chức hoạt động khám phá khoa học

Theo Từ điển tiếng Việt: “Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [29, tr.96]. Tác giả Nguyễn Thị Hòa cho rằng, “Biện pháp giáo dục mầm non là cách làm cụ thể trong hoạt động cùng nhau giữa GV với trẻ nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục đã đặt ra ở lứa tuồi mầm non” [14, tr.88]. Theo chúng tôi: Biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ là cách thức cụ thể trong hoạt động cùng nhau giữa GV với trẻ để thực hiện hoạt động KPKH giúp trẻ đạt được sự phát triển VT tiếp nhận (hiểu nghĩa của từ) và VT biểu đạt (sử dụng từ đúng ngữ cảnh).

Mỗi phương pháp, biện pháp đều có ưu điểm nhất định, nên trong quá trình tổ chức các hoạt động, cần phối hợp sử dụng đồng thời, linh hoạt để nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\ĐẠI HỌC SƯ PHẠM\Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi qua chơi tại các trường mầm non thuộc địa bàn Quận Hải Châu – TP Đà Nẵng\New folder/ Tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 t

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *