Tổ chức hoạt động giáo dục STEAM nhằm phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Tổ chức hoạt động giáo dục STEAM nhằm phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Giáo dục luôn giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đổi mới giáo dục (GD) là nhiệm vụ cần thiết, là xu thế tất yếu để các quốc gia, trong đó có Việt Nam đảm bảo sự phát triển bền vững, khẳng định vị thế, thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của thế giới trong kỉ nguyên số. Nghị quyết số 29/NQ-TW về đổi mới giáo dục đào tạo (GDĐT) đưa ra những đổi mới quan trọng với quan điểm GD “lấy việc hình thành năng lực người học làm trung tâm, làm mục tiêu đào tạo thay cho truyền thụ kiến thức” (Ban Chấp hành Trung ương, 2013).

Định hướng chỉ đạo của Bộ GDĐT nêu rõ: “Tăng cường hướng dẫn các cơ sở giáo dục mầm non (GDMN) nghiên cứu, học hỏi, áp dụng mô hình, phương pháp giáo dục tiên tiến của các nước trong khu vực và thế giới nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ; tăng cường hợp tác và đầu tư với nước ngoài, khuyến khích hợp tác với các cơ sở GDĐT từ các quốc gia phát triển, đẩy mạnh hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non giữa các cơ sở GDMN với các tổ chức quốc tế. Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong GDMN tại địa phương; đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tranh thủ nguồn lực, kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực hiện đổi mới nội dung chương trình, phương pháp GDMN trong các cơ sở GDMN có điều kiện, cơ hội tiếp cận và hội nhập.” Với quan điểm trên, các cơ sở GDMN có nhiều cơ hội lựa chọn phương pháp dạy học mới ngoài mô hình giáo dục truyền thống như phương pháp Reggio Emilia, phương pháp Montessori, phương pháp STEAM… vào việc phát triển Chương trình GD nhà trường theo quan điểm “GD lấy trẻ làm trung tâm”.

Việc ứng dụng phương pháp GD quốc tế trong thực hiện Chương trình GDMN là đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động cho trẻ, nên phải đáp ứng được mục tiêu GD; nội dung GD; khả năng nhận thức và kĩ năng của trẻ; điều kiện và năng lực của giáo viên (GV)…

GD STEAM là một bước phát triển từ GD STEM với việc bổ sung thêm thành tố Arts (nghệ thuật). “STEAM tích hợp các môn nghệ thuật khai phóng để trở thành một môn học mới STEAM”. STEM chuyển sang STEAM như là một phương thức tiếp cận mới, được xem là một chiến lược GD cải tiến hiệu quả cao cho lĩnh vực GDMN, phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục mầm non.

GD STEAM nhấn mạnh đến cách thức tương tác với trẻ, tạo cơ hội cho trẻ được phát triển các năng lực thông qua việc thiết kế hoạt động và tạo dựng môi trường học tập cho trẻ của GV và những người lớn khác đáp ứng yêu cầu chương trình GDMN hiện hành cũng chú trọng tiếp cận lấy trẻ làm trung tâm, hướng vào phát triển năng lực cho trẻ “tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương châm “học mà chơi, chơi bằng học”.

Kĩ năng giải quyết vấn đề (GQVĐ) giúp con người ứng phó tích cực và hiệu quả đối với những vấn đề hay tình huống trong học tập, làm việc và sinh hoạt ở gia đình, cơ quan, trường học và ngoài xã hội. Năng lực GQVĐ là một trong ba năng lực chung cần hình thành cho học sinh tiểu học được đưa ra trong yêu cầu cần đạt về các năng lực trong chương trình giáo dục phổ thông mới. Năng lực GQVĐ là một trong những năng lực quan trọng, góp phần giúp con người kết nối được các tri thức học tập vào xử lý các vấn đề trong cuộc sống. Tư duy thực tiễn giúp tri thức khoa học quay trở lại phục vụ cuộc sống của con người, phù hợp với xu thế giáo dục hình thành và phát triển năng lực của đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay. Để đáp ứng được yêu cầu trên của giáo dục phổ thông, việc giáo dục kĩ năng GQVĐ cho trẻ 5-6 tuổi là cần thiết, mặt khác đây cũng là một kĩ năng trong lĩnh vực giáo dục tình cảm-xã hội nhằm đáp ứng được mục tiêu Chương trình giáo dục mầm non hiện nay “Giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời.”

Hiện nay, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới đang có sự thay đổi to lớn với mục đích cuối cùng là đào tạo ra thế hệ trẻ có đủ trí tuệ và sự nhạy cảm thời đại để thích ứng và phát triển.

GD STEAM là cách tiếp cận cung cấp cho trẻ em tình huống học tập và cho phép trẻ tích cực xây dựng kiến thức và kỹ năng thông qua thăm dò, khám phá, hợp tác, GQVĐ. Các nghiên cứu cũng đã cho thấy, trẻ em không có được những kinh nghiệm STEAM phong phú có thể ảnh hưởng đến sự sẵn sàng đi học và thành công ở trường phổ thông. Hơn nữa, lứa tuổi mầm non được coi là thời kì nhạy cảm cho sự phát triển của cá nhân. Ở giai đoạn này, nếu thiếu vắng các kích thích cần thiết sẽ dẫn đến kìm hãm sự phát triển của trẻ, ngược lại, các kích thích không phù hợp cũng tạo ra sự phát triển lệch lạc ở trẻ. Có thể nói, GD STEAM phù hợp với phong cách học tập của trẻ mầm non, kích thích trẻ được hứng thú học tập và có tác động tích cực đến sự phát triển về nhận thức, năng lực GQVĐ, tạo dựng sự tự tin, năng động và tư duy đổi mới cho trẻ mầm non, điều này hoàn toàn phù hợp với mục tiêu và quan điểm đổi mới GDMN.

Từ những lí do trên đây, chúng tôi chọn “Tổ chức hoạt động giáo dục STEAM nhằm phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” làm đề tài nghiên cứu.

Tổ chức hoạt động giáo dục STEAM nhằm phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Tổ chức hoạt động giáo dục STEAM nhằm phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và khảo sát, đánh giá thực trạng, luận văn đề xuất biện pháp tổ chức hoạt động GD STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở các trường mầm non quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non.

3.2. Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa tổ chức hoạt động giáo dục STEAM với phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non.

4. Phạm vi nghiên cứu

Giới hạn về khách thể khảo sát: Khảo sát 08 trường mầm non công lập với 70 trẻ, 13 cán bộ quản lý (CBQL) và 70 GV, thực nghiệm tại 01 trường mầm non quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng.

Về nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu và đề xuất biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong các hoạt động ở trường mầm non.

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2/2023 đến tháng 04/2024

5. Giả thuyết khoa học

Hiện nay việc tổ chức hoạt động giáo dục dục STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng đã đạt được một số kết quả song vẫn còn hạn chế. Nếu đề xuất và áp dụng biện pháp tổ chức hoạt động GD STEAM theo hướng tạo cơ hội cho trẻ tích cực tham gia vào hoạt động và giải quyết các vấn đề trong quá trình hoạt động dựa trên kinh nghiệm, cuộc sống thực của trẻ thì có thể nâng cao kết quả phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại các trường mầm non ở quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng.

6. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Nghiên cứu cơ sở lí luận của tổ chức hoạt động GD STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi.

– Khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động GD STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại các trường mầm non quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng.

– Đề xuất biện pháp tổ chức hoạt động GD STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi và thực nghiệm sư phạm.

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận. Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết trong nghiên cứu các tài liệu liên quan tới đề tài nghiên cứu để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu.

7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1. Phương pháp quan sát

Tiến hành dự giờ, quan sát, ghi chép quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục của GV và trẻ trong hoạt động GD STEAM ở lớp mẫu giáo 5-6 tuổi.

7.2.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Sử dụng phiếu điều tra đối với CBQL, GV để tìm hiểu thực trạng biện pháp tổ chức hoạt động GD STEAM giáo dục kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non.

7.2.3. Phương pháp phỏng vấn

Trao đổi, trò chuyện trực tiếp với GV về việc tổ chức hoạt động giáo dục STEAM cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.

7.2.4 Phương pháp trắc nghiệm

Dùng trắc nghiệm để đánh giá kĩ năng GQVĐ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.

7.2.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tiến hành thực nghiệm ở một số lớp mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non.

7.3. Phương pháp xử lý số liệu

Sử dụng một số phép tính thống kê trong toán học để xử lí số liệu thu được trong nghiên cứu đề tài.

8. Cấu trúc của luận văn

Phần mở đầu

Phần nội dung: Gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của tổ chức hoạt động GD STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường mầm non.

Chương 2: Thực trạng tổ chức hoạt động GD STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường mầm non quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng.

Chương 3: Biện pháp tổ chức hoạt động GD STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường mầm non.

Kết luận và kiến nghị; Tài liệu tham khảo; Phụ lục.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC STEAM NHẰM PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO TRẺ

MẪU GIÁO 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

      1. 1.1.1. Nghiên cứu về giáo dục kĩ năng giải quyết vấn đề cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
      2. 1.1.2. Nghiên cứu về tổ chức hoạt động giáo dục STEAM cho trẻ 5-6 tuổi
      3. 1.1.3. Nghiên cứu về tổ chức hoạt động giáo dục STEAM nhằm phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

1.2. Kĩ năng giải quyết vấn đề của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

      1. 1.2.1. Khái niệm kĩ năng giải quyết vấn đề
      2. 1.2.2. Cấu trúc của kĩ năng giải quyết vấn đề
      3. 1.2.3. Quá trình hình thành kĩ năng giải quyết vấn đề của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Theo các nhóm tác giả Taatgen, N. A., và Lee, F. J. [71]; DeKeyser, R, và cộng sự ; Addie Johnson và Robert W. Proctor [51], quá trình hình thành kĩ năng GQVĐ gồm ba giai đoạn: nhận thức, liên kết và tự điều khiển, cụ thể:

  1. Giai đoạn nhận thức

Nhận thức là giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thành kĩ năng GQVĐ. Việc tiếp nhận kiến thức có thể diễn ra thông qua việc quan sát, phân tích, nghe người khác nói, đọc, thảo luận, trải nghiệm… Tức là, kiến thức có thể được tiếp thu một cách chủ động hoặc bị động. Điểm đặc trưng của giai đoạn này là kiến thức được tiếp thu mang tính mới và chưa có bất kì sự liên kết nào đối với vốn kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng đã có, đồng thời chủ thể chưa thực hiện hành vi sử dụng kiến thức vừa học được. Ví dụ, trẻ làm thí nghiệm khoa học tìm hiểu về tính chất vật lí của nhiệt độ nóng – lạnh; trẻ trải nghiệm rửa bát và biết được xà phòng khiến tay mình trơn, rất khó nắm giữ đồ vật; thậm chí quan sát người khác GQVĐ cũng là một quá trình nhận thức.

  1. Giai đoạn liên kết

Sau giai đoạn nhận thức, chủ thể tiến hành liên kết những tri thức đã biết với tình huống có vấn đề trong thực tiễn để tìm ra điểm chung giữa chúng, từ đó xác định con đường hành động để từng bước đạt được mục tiêu. Với những vấn đề đơn giản, trẻ có thể chỉ cần vận dụng một loại tri thức để giải quyết được vấn đề, ví dụ trẻ gỡ được hai chiếc cốc thủy tinh bị dính vào nhau bằng cách thả vài viên đá vào chiếc cốc bên trong, ngâm chiếc cốc bên ngoài vào một bát nước ấm nhờ vận dụng tính chất vật lí của nhiệt độ. Ở mức độ cao hơn, trẻ cần vận dụng nhiều loại tri thức hay tri thức của nhiều lĩnh vực để GQVĐ. Ví dụ, từ kiến thức về các loại thước đo và cách đo độ dài, trẻ lựa chọn được thước dây (khoa học, công nghệ) để đo số đo cơ thể khi muốn may quần áo mới, sau đó tiến hành đo, đọc kết quả chính xác (kĩ thuật, toán học). Ngoài ra, trẻ có thể mặc thử quần áo mới (kiểm tra kết quả), đo lại kích thước quần áo mới để khám phá được sai số giữa số đo cơ thể và số đo quần áo có mối liên hệ với cảm giác thoải mái khi mặc (làm phong phú trí thức đã biết). Ở giai đoạn này, chủ thể cần nỗ lực ghi nhớ kiến thức đã có, liên tưởng, so sánh với vấn đề hiện tại; các thao tác GQVĐ có thể có sai sót (số lượng thao tác thừa hoặc thiếu, trình tự các thao tác bị đảo lộn, độ chính xác của thao tác chưa cao) dẫn đến tốn thời gian, sức lực, chất lượng GQVĐ chưa cao.

  1. Giai đoạn tự điều khiển

Ở giai đoạn thứ ba, HĐ nhận thức và hành vi đã đạt đến mức độ tự động hóa. Cụ thể, việc phân tích vấn đề, liên hệ với kiến thức, kinh nghiệm đã biết và hành động thực tiễn diễn ra rất thuần thục, trơn tru. So với giai đoạn đoạn trung gian, việc lựa chọn thước dây làm công cụ diễn ra nhanh hơn, trẻ đo độ dài thành thạo hơn về tốc độ và tính chính xác. Lúc này, kĩ năng GQVĐ cụ thể đã được hình thành và thể hiện rõ ưu thế của mình so với các cách GQVĐ thông thường. Sự chuyển tiếp giữa giai đoạn thứ hai và giai đoạn thứ ba diễn ra trên cơ sở rèn luyện. Ba giai đoạn trên tạo thành một quá trình khép kín và tuần hoàn (được thể hiện trong sơ đồ 1.1). Trong đó, giai đoạn trước là nền tảng cho giai đoạn sau, giai đoạn sau là bước phát triển cao hơn, hoàn thiện hơn so với giai đoạn trước. Đặc biệt, giai đoạn thứ ba có thể coi là kết thúc của kĩ năng GQVĐ đề cụ thể, nhưng nó lại là tiền đề cho giai đoạn đầu ở một vấn đề mới để từ đó kĩ năng GQVĐ càng phong phú, bền vững và hiệu quả hơn. Trong mỗi giai đoạn có sự xuất hiện của các phương pháp khác nhau, song nhóm phương pháp thực hành, trải nghiệm bao gồm thực hành, sử dụng trò chơi, tiến hành thí nghiệm, lao động đóng vai trò đặc biệt quan trọng.

Hình 1.1. Quá trình hình thành kĩ năng GQVĐ

      1. 1.2.4. Đặc điểm phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi có khả năng tập trung, chú ý lâu hơn, bền vững hơn, ghi nhớ của trẻ có tính chủ định hơn nên khả năng khám phá các sự vật, hiện tượng ở trẻ cũng tốt hơn. Giai đoạn này, dựa trên quá trình nhận thức cảm tính ở các lứa tuổi trước, nhờ trí nhớ có chủ định, quá trình nhận thức lí tính của trẻ phát triển mạnh. Trẻ có khả năng tiến hành các thao tác tư duy, như so sánh những điểm khác nhau và giống nhau của vài đối tượng, phân nhóm đối tượng theo một hay vài dấu hiệu rõ nét, trẻ tổng hợp và khái quát những dấu hiệu bên ngoài của sự vật, hiện tượng tương đối tốt [27].

Lứa tuổi 5-6 tuổi xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới – tư duy trực quan sơ đồ và những yếu tố của kiểu tư duy logic [36]. Nhờ đó, trẻ có thể khám phá mối liên hệ phức tạp của sự vật, hiện tượng, giữa chúng với nhau, giữa chúng với môi trường xung quanh. Trẻ em cuối tuổi mẫu giáo có khả năng hiểu một cách dễ dàng và nhanh chóng về cách biểu diễn sơ đồ và sử dụng có kết quả những sơ đồ đó đề tìm hiểu sự vật bên trong và GQVĐ trẻ gặp phải.

Những HĐ trí tuệ như quan sát, trí nhớ, tư duy,…. đạt tới mức độ nhất định để có thể lĩnh hội tri thức khoa học một cách dễ dàng, mặc dù đó chưa phải là tri thức khoa học thực sự, mà chính là tri thức tiền khoa học, Vygotsky gọi tri thức đó là “tiền khái niệm” [36]. Trẻ có khả năng giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống, từ các vấn đề mang tính chất địa phương tới các vấn đề có tính toàn cầu [16].

Một trong những phương pháp giáo dục được đề cập đến trong chương trình GDMN là phương pháp nêu tình huống có vấn đề: Đưa ra các tình huống cụ thể nhằm kích thích trẻ tìm tòi, suy nghĩ dựa trên vốn kinh nghiệm để giải quyết vấn đề đặt ra [5].

Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn, “Không cần phải đợi đến khi trẻ biết nói hay đã đến trường thì mới bộc lộ kĩ năng GQVĐ. Nếu quan tâm và chú ý, các bậc cha mẹ sẽ phát hiện ra kĩ năng GQVĐ của con mình thông qua những hành động mà chúng ta vẫn cho rằng đó là những biểu hiện thông thường của trẻ” và “Kĩ năng này được thể hiện ngay từ những năm tháng đầu đời thông qua những khả năng về ghi nhớ, chú ý, ngôn ngữ…” [28].

Như vậy để giúp trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi dễ dàng thích nghi với môi trường mới-trường tiểu học thì việc phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ là việc làm hết sức cần thiết.

      1. 1.2.5. Biểu hiện kĩ năng giải quyết vấn đề của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Các hoạt động giáo dục được tổ chức trong trường mầm non là hoạt động chơi; hoạt động học; hoạt động lao động; hoạt động ngày hội, ngày lễ thông qua các hoạt động này kĩ năng GQVĐ biểu hiện rõ nét.

– Kĩ năng nhận biết và mong muốn GQVĐ: Ở độ tuổi này, Nguyễn Ánh Tuyết và cộng sự đã chỉ ra rằng: trẻ mẫu giáo lớn có thể sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hằng ngày để trình bày vấn đề một cách mạch lạc [36]. Vì vậy, trẻ có thể nhận biết, xác định và trình bày vấn đề tương đối rõ ràng nhờ sự phát triển của tất cả các giác quan, vốn biểu tượng và ngôn ngữ; khi phát hiện ra vấn đề trẻ cũng có mong muốn GQVĐ qua việc thể hiện phản ứng của trẻ đối với vấn đề đó (trẻ cố gắng suy nghĩ, cố gắng tìm cách). Trẻ lúc này có nhu cầu GQVĐ để được khen, được tìm hiểu, để đưa lại kết quả, để nhận thức hoặc có thể vì tò mò…

Ví dụ như: Trong tổ chức hoạt động học thể dục “Ném trúng đích bằng 1 tay” tuy nhiên bóng cô chuẩn bị lại lớn hơn vòng tròn đích, ngay lúc này trẻ có thể phát hiện ra vấn đề và trẻ có thể xử lý bằng cách đi lấy quả bóng nhỏ hơn…

– Kĩ năng đề xuất các ý tưởng để GQVĐ: Một biểu hiện nữa của năng lực GQVĐ của trẻ mẫu giáo chính là sự tập trung suy nghĩ, tìm kiếm và đề xuất các ý tưởng để GQVĐ đặt ra. Với mong muốn giải quyết được những vấn đề mình quan tâm, trẻ tập trung suy nghĩ, huy động cả về trí tuệ, tinh thần và thể chất để kiếm tìm và đưa ra các phương án giải quyết khác nhau nhằm đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của tình huống xảy ra. Trẻ biết tự lựa chọn phương án giải quyết tốt nhất cho trò chơi và đưa ra quyết định cuối cùng. Việc tự cân nhắc, lựa chọn cách giải quyết phù hợp và đưa ra quyết định mang tính khả thi và hiệu quả trong quá trình tham gia và các hoạt động cũng là một biểu hiện cơ bản về năng lực GQVĐ của trẻ mẫu giáo. Nó thể hiện được tính độc lập, tính tự tin và sự quyết đoán của trẻ trong mọi hoạt động.

– Kĩ năng lập kế hoạch: Nguyễn Ánh Tuyết và cộng sự nhận định tính chủ định trong HĐ tâm lí và tư duy trực quan – sơ đồ của trẻ ở giai đoạn này là chìa khóa để trẻ hình thành kĩ năng lập kế hoạch [36]. Một trong những đặc trưng tâm lí của trẻ 5-6 tuổi là đặt mục đích cho hành động và lập kế hoạch để thực hiện hành động. Động cơ của trẻ đã bắt đầu định hướng đến kết quả. Tư duy trực quan – sơ đồ tạo điều kiện cho trẻ tiếp nhận tri thức ở trình độ khái quát cao hơn, nhờ đó trẻ hiểu được bản chất của sự vật, sự việc. Đây là giai đoạn trung gian để chuyển tiếp lên kiểu tư duy logic.

Trẻ có thể vạch ra các bước tiến hành những HĐ lặp đi lặp lại gần gũi với mình, chẳng hạn các công việc cần làm từ khi thức dậy tới khi đến trường. Tuy nhiên, trẻ chưa có thói quen lập kế hoạch trước khi hành động và trình bày bằng lời nói, nhất là với những vấn đề mới lạ.

– Kĩ năng tiến hành giải quyết vấn đề: Biểu hiện quan trọng nhất của kĩ năng GQVĐ trong các hoạt động giáo dục là việc trẻ tiến hành thực hiện theo quyết định đã lựa chọn, trẻ tiến hành GQVĐ một cách nhanh chóng, hiệu quả. Trẻ là chủ thể trong quá trình thực hiện hoạt động, trẻ cần sự giúp đỡ kịp thời đúng lúc, đúng chỗ của giáo viên (nhà giáo dục).

– Kĩ năng đánh giá kết quả: Theo Nguyễn Ánh Tuyết và cộng sự, ý thức bản ngã được xác định và ngôn ngữ giải thích [36] xuất hiện giúp trẻ vừa tự đánh giá được kết quả HĐ của mình, vừa nêu được nguyên nhân dẫn đến thành công hay thất bại. Ở độ tuổi này, trẻ rất quan tâm đến kết quả của HĐ và có nhu cầu thưởng thức cái đẹp, đánh giá sản phẩm của mình và so sánh với các bạn. Nhìn chung, trẻ đánh giá đúng kết quả và có thể trình bày bằng lời, nhưng đôi khi chưa lí giải được nguyên nhân, một phần do vốn kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế.

1.3. Tổ chức hoạt động giáo dục STEAM cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non

      1. 1.3.1. Khái niệm giáo dục STEAM, hoạt động giáo dục STEAM

* Khái niệm về giáo dục STEAM

GD STEAM được sự ủng hộ của đông đảo các giáo viên, đặc biệt là giáo viên tiểu học và mầm non bởi vì quá trình dạy học tích hợp khá thuận lợi [9]. Giáo dục STEAM không phải lúc nào cũng đầy đủ 5 thành tố trong cùng một hoạt động. Mỗi hoạt động là cơ hội để trẻ được tham gia các trải nghiệm thực tế, giúp các bé làm quen với các khái niệm đơn giản, ban đầu phù hợp lứa tuổi mầm non. Trẻ có thể làm quen với cách thiết kế và khoa học đơn giản dựa vào vật liệu thiên nhiên. Theo Bagiati và cộng sự (2015), một trong những cách giúp người học tham gia quy trình kỹ thuật chính là yêu cầu tạo ra một thứ nào đó. Hiện nay, tổ chức hoạt động STEAM cho trẻ mầm non được thực hiện với đa dạng các mô hình, quy trình, chu trình. Như: chu trình dạy học 5E, chu trình chơi sáng tạo, chu trình thiết kế kĩ thuật…

GD STEAM là quá trình GD có sự tích hợp kiến thức, kĩ năng của hai hay nhiều lĩnh vực khoa học, công nghệ, kĩ thuật, toán học, nghệ thuật một cách hài hoà theo một dự án/chủ đề chung gắn với thực tiễn, phù hợp với nhận thức, nhu cầu, hứng thú của người học và hướng đến phát triển những năng lực cần thiết cho cuộc sống thực của người học [4].

GD STEAM ở mầm non là trang bị cho trẻ những kiến thức kĩ năng liên quan đến các lĩnh vực: Khoa học (S), Công nghệ (T), Kĩ thuật (E), Toán học (M) và nghệ thuật (A) theo cách tiếp cận liên ngành… Giáo dục STEAM ở bậc mầm non vận dụng các phương pháp dạy học chủ yếu dựa trên thực hành và hoạt động trải nghiệm sáng tạo, học qua dự án – chủ đề, học qua trò chơi… [20].

GD STEAM là một cách tiếp cận liên ngành trong quá trình học, trong đó người học áp dụng các kiến thức trong khoa học, công nghệ, kỹ thuật, nghệ thuật và toán học vào các bối cảnh cụ thể, giúp kết nối giữa trường học, cộng đồng và nơi làm việc để từ đó phát triển các năng lực trong lĩnh vực STEAM [35]. Đây là khái niệm được sử dụng trong luận văn, khái niệm này phù hợp với đề tài nghiên cứu.

* Khái niệm về hoạt động GD STEAM

Hoạt động STEAM là các hoạt động tương tác và tích hợp giữa các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kĩ thuật, nghệ thuật và toán học. Mục tiêu là khuyến khích sự sáng tạo, tư duy phản biện và kĩ năng thực hành thông qua việc áp dụng kiến thức từ nhiều lĩnh vực để giải quyết vấn đề thực tế. Hoạt động STEAM không đặt nặng yếu tố về mục đích, yêu cầu cần đạt, hoạt động hướng đến yếu tố chơi vui vẻ, hào hứng qua trải nghiệm, thí nghiệm. Các yếu tố STEAM hiện diện ở khắp mọi nơi, mọi hoạt động trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ, do đó hoạt động STEAM có thể linh hoạt và đa dạng, có thể áp dụng trong vui chơi, trong hoạt động góc, trong hoạt động ngoài trời, hoạt động ngoại khóa, một phần trong hoạt động học hay bất cứ thời gian, hoạt động nào trong chế độ sinh hoạt tại trường mầm non.

Tác giả Nguyễn Văn Biên và cộng sự cho rằng: “Hoạt động giáo dục STEAM trong giáo dục trẻ mầm non là hoạt động giáo dục được tổ chức có mục đích, có kế hoạch của giáo viên đến trẻ dựa trên sự tích hợp kiến thức, kĩ năng của từ ít nhất hai lĩnh vực khoa học, công nghệ, kĩ thuật, toán học, nghệ thuật một cách hài hoà theo một dự án/chủ đề chung gắn với thực tiễn, phù hợp với nhận thức, nhu cầu, hứng thú của trẻ nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non và phát triển kĩ năng cần thiết cho cuộc sống thực của trẻ” [4].

Như vậy có thể khẳng định rằng:

Tổ chức hoạt động GD STEAM đáp ứng tốt nhu cầu của trẻ mầm non. Hoạt động STEAM cũng đồng thời tạo cơ hội cho trẻ được tiếp xúc, cọ xát với thế giới xung quanh để tăng cường sự tự tin và mạnh dạn, mở rộng hiểu biết với thế giới bên ngoài.

Tổ chức hoạt động giáo dục STEAM cho trẻ 5-6 tuổi là quá trình lồng ghép, đan cài kiến thức, kĩ năng, thái độ của hai hay nhiều lĩnh vực khoa học, công nghệ, kĩ thuật, toán học, nghệ thuật một cách hài hoà, tự nhiên theo một dự án/ chủ đề chung gắn với thực tiễn dựa theo nhu cầu, hứng thú của trẻ nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ 5-6 tuổi.

* Đặc trưng của HĐ giáo dục STEAM

(1) HĐ giáo dục STEAM mang tính tích hợp:

Giáo dục STEAM có đặc điểm là tập trung vào sự tích hợp hai hay nhiều môn học, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vào khoa học và toán. Nhìn chung về cơ bản, Giáo dục STEAM và chương trình GVMN hiện hành đều đề cao tính tích hợp trong quá trình TCHĐ. Trong mỗi HĐ của giáo dục cho trẻ mầm non đều được tích hợp, lồng ghép kiến thức của nhiều HĐ giáo dục khác như: Tạo hình, toán học, khoa học, ngôn ngữ, văn học, thể chất…

(2) HĐ giáo dục STEAM chú trọng tới tính trải nghiệm:

HĐ giáo dục STEAM dựa trên thực hành, trải nghiệm và sau đó người học phân tích, suy ngẫm về sự trải nghiệm đó để đưa ra kết luận. Quy trình này giúp học sinh củng cố kiến thức, hình thành và phát triển các năng lực, kỹ năng, hành xử mới và thậm chí là cách tư duy mới. Cách tiếp cận trên được xem là có nhiều điểm ưu việt hơn so với phương pháp giáo dục chủ yếu tập trung vào việc cung cấp kiến thức/thông tin và truyền tải thông tin qua các bài giảng.

(3) HĐ giáo dục STEAM hướng tới việc liên hệ và vận dụng tri thức đó vào các tình huống thực trong cuộc sống: Do sự tích hợp và đa ngành thể hiện sự kết nối của khoa học nên giáo dục STEAM không thiên về lí thuyết mà thiên về thực hành, vận dụng và giải quyết vấn đề trong thực tiễn cuộc sống.

(4) HĐ giáo dục STEAM hướng tới HĐ điều tra, nghiên cứu của người học: Giáo dục STEAM đề cao, khuyến khích trẻ đặt câu hỏi khi chúng có thắc mắc. Việc đặt câu hỏi chính là hình thành ở trẻ những tò mò đầu tiên về đối tượng. Việc của nhà giáo dục là tìm cách kích thích trẻ tìm hiểu về đối tượng bằng những cách thức, thao tác, hành động khác nhau như: Khảo sát, điều tra, nghiên cứu và tìm cách chứng minh một hoài nghi nào đó.

Qua nghiên cứu lí luận về đặc trưng của giáo dục STEAM, có thể thấy được điểm tương đồng những đặc trưng cơ bản của giáo dục STEAM và chương trình GDMN hiện hành ở nước ta.

      1. 1.3.2. Cách thức tổ chức hoạt động giáo dục STEAM cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non

Các cách thức tổ chức hoạt động GD STEAM trong GDMN được nhiều các nhà nghiên cứu cho rằng có hiệu quả cần kể đến như:

– Mô hình bài học 5E­­­­­

Trong nhiều nghiên cứu đã nêu rõ rằng mô hình bài học 5E phù hợp với giáo dục STEAM. Hassan và cộng sự nêu rõ lợi ích của việc sử dụng mô hình bài học 5E trong khi áp dụng giáo dục STEAM trong GVMN [50]. Bởi vì mô hình bài học 5E cho phép trẻ tham gia tích cực vào quá trình học tập, liên kết với cuộc sống hằng ngày, trải nghiệm khoa học như các nhà khoa học và giải quyết các vấn đề. Mô hình bài học 5E được phát triển bởi Hassan bao gồm 5 giai đoạn:

Hình 1.2. Mô hình bài học 5E

(1) Gắn kết: Giai đoạn này khơi dậy sự tò mò của trẻ thông qua một tình huống dựa trên vấn đề và làm sự chú ý của trẻ hướng tới chủ đề của bài học. Bên cạnh đó, GV giúp trẻ liên kết kiến thức cũ và mới thông qua các câu hỏi gợi mở. (2) Khám phá: Trong giai đoạn này trẻ nảy sinh ý tưởng về một tình huống có vấn đề từ đó tiến hành nghiên cứu và tìm hiểu. (3) Giải thích: Ở giai đoạn này, GV đóng vai trò tích cực bằng cách cung cấp thêm chi tiết dưới dạng thuật ngữ, định nghĩa và giải thích cho một chủ đề hoặc khái niệm cụ thể. Trẻ trình bày cách chúng đã giải quyết vấn đề và tóm tắt kết quả trước lớp. (4) Vận dụng: Ở giai đoạn này, trẻ được tiếp xúc với một vấn đề mới. Vì vậy, nhờ những trải nghiệm mới, trẻ phát triển sự hiểu biết sâu hơn và rộng hơn cả về kiến thức và kỹ năng có liên quan đến chủ đề của bài học. (5) Đánh giá: Giai đoạn đánh giá khuyến khích trẻ đánh giá sự hiểu biết và khả năng của mình. Đồng thời GV đánh giá sự tiến bộ của trẻ để đạt được kết quả học tập.

– Quy trình thiết kế kĩ thuật:

Quy trình thiết kế kĩ thuật như một cách tiếp cận để giáo dục một cách hiệu quả để triển khai STEAM cho trẻ em [56]. Bằng cách nhấn mạnh thiết kế kĩ thuật như một quy trình cho trẻ em có cơ hội thực hành ý tưởng.

Hình 1.3. Quy trình thiết kế kĩ thuật

Quy trình thiết kế kĩ thuật theo chu kỳ bao gồm các giai đoạn: (1) Hỏi: Trẻ em tìm hiểu thêm về bối cảnh của vấn đề, mục tiêu cũng như cách để giải quyết vấn đề. (2) Tưởng tượng: Đối với giải pháp thiết kế của trẻ cần động não, đề xuất nhiều giải pháp và đánh giá các ưu và nhược điểm của các giải pháp đó. Trẻ sau đó sử dụng kế hoạch phát triển để chế tạo sản phẩm. (3) Lập kế hoạch: Trẻ suy ngẫm, ghi lại ý tưởng của mình bằng bút và giấy. Những trẻ nhỏ hơn có thể tưởng tượng và nói ra ý tưởng của chúng, hoặc vẽ những bức tranh về những ý tưởng của chúng. (4) Chế tạo: Trẻ thử chế tạo sản phẩm thông qua bản thiết kế. Sau khi một mô hình được tạo ra sẽ được kiểm tra, đánh giá và thử nghiệm theo các tiêu chí của sản phẩm, cũng như các ràng buộc trong phạm vi vấn đề. (5) Cải tiến: Trẻ kiểm tra giải pháp của mình và xác định xem thiết kế của chúng có đáp ứng các tiêu chí và ràng buộc. Trẻ có thể thu thập hoặc được cung cấp dữ liệu thông qua các thí nghiệm khác nhau. Trẻ có thể được yêu cầu trao đổi thiết kế của chúng trong các nhóm nhỏ hoặc với GV. Trẻ có thể vẽ hoặc chụp ảnh các thiết kế của mình và ghi âm lại suy nghĩ của mình hoặc nhờ GV để ghi chép lại [42].

Trong luận văn này vận dụng mô hình bài học 5E làm cơ sở để thiết kế và tổ chức hoạt động GD STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ.

      1. 1.3.3. Nội dung hoạt động giáo dục STEAM cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non

Theo Luật giáo dục 2019, Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi với mục tiêu đề ra phát triển toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một.

Nội dung giáo dục trong chương trình GDMN bao gồm: Giáo dục phát triển thể chất, giáo dục phát triển nhận thức, giáo dục phát triển ngôn ngữ, giáo dục phát triển tình cảm và kĩ năng xã hội, giáo dục phát triển thẩm mỹ [5].

Với trẻ em, khoa học là nghiên cứu (quan sát, điều tra, khám phá) và hiểu biết về thế giới xung quanh); công nghệ là hiểu và biết sử dụng các công cụ máy móc (đơn giản và phù hợp) giúp công việc dễ dàng hơn, bao gồm KN công nghệ thông tin; kĩ thuật là GQVĐ, là sử dụng công cụ, vật liệu để lập kế hoạch cần thiết và thiết kế giải pháp cho một số vấn đề trong thực tiễn cuộc sống xung quanh; toán học là nghiên cứu và hiểu về hình dạng, số lượng, khối lượng, quy tắc, hình mẫu và ứng dụng tính toán trong cuộc sống [9].

Giáo dục STEAM đề cao phương diện thực hành trong học tập từ đó rèn luyện cho trẻ năng lực tư duy và sáng tạo là cốt lõi [66].

STEAM phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ khiến cho quá trình học được dễ dàng và hứng thú hơn ở tuổi mẫu giáo, đồng thời đánh giá cao tầm quan trọng của giáo dục nghệ thuật vì nghệ thuật nuôi dưỡng và làm nảy sinh ý tưởng mới, giải pháp mới cho các vấn đề [13].

Vậy, nội dung hoạt động giáo dục STEAM trong trường mầm non bao gồm:

(1) Hoạt động giáo dục STEAM trong lĩnh vực phát triển phát triển thể chất – Ứng dụng yếu tố Công nghệ (Technology) có sức ảnh hưởng sâu rộng đối với đời sống của con người. Các vấn đề về an toàn thực phẩm, sức khỏe, môi trường, thiết bị điện tử… luôn cần có kiến thức và hiểu biết để con người đưa ra các quyết định và lựa chọn sáng suốt.

(2) Hoạt động giáo dục STEAM trong lĩnh vực phát triển nhận thức

– Ứng dụng Engineering (Kỹ thuật) giúp trẻ hiểu được cách thức, quy trình sản xuất, chế tạo ra một sản phẩm nào đó, tăng khả năng sáng tạo, tư duy và hình thành kĩ năng giải quyết các vấn đề liên quan đến kĩ thuật.

– Ứng dụng Science (Khoa học) giúp trẻ hiểu và biết các sự vật, hiện tượng xung quanh. Trên cơ sở đó thực hành và ứng dụng vào giải quyết những vấn đề có liên quan trong thực tế đời sống.

– Ứng dụng Math (Toán) trong STEAM trẻ học về số lượng, thêm bớt, so sánh…hình học, đo lường. Tuy nhiên nó được kết hợp hài hòa trong mối tương quan tổng thể với các môn còn lại. Đặc biệt với trẻ mầm non thì vô cùng coi trọng khả năng tư duy phân tích, tư duy ứng dụng trong toán chứ không phải là những con số khô khan.

(3) Hoạt động giáo dục STEAM trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ, tình cảm và kỹ năng xã hội, thẩm mỹ-Ứng dụng Art (Nghệ thuật) STEAM sẽ dạy trẻ những kĩ năng cơ bản của mỹ thuật bằng việc biểu hiện suy nghĩ một cách sáng tạo. Mọi thứ xung quanh trẻ đều có thể tạo nên một sản phẩm tạo hình độc đáo và đáng yêu.

1.4. Tổ chức hoạt động giáo dục STEAM nhằm phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho trẻ 5-6 tuổi

      1. 1.4.1. Vai trò của hoạt động giáo dục STEAM trong giáo dục kĩ năng giải quyết vấn đề cho trẻ 5-6 tuổi

Thông qua hoạt động giáo dục STEAM, trẻ em được mong đợi, không chỉ học tập tốt mà còn có các kĩ năng tổng hợp và kích thích phát triển một cách tối ưu, phát triển các kĩ năng hợp tác, giao tiếp, nghiên cứu, GQVĐ và tư duy phản biện [2].

GD STEAM là cách tiếp cận “tích hợp”, “liên môn” để giảng dạy các khái niệm học thuật đi đôi với các bài học về thế giới thực, nơi học sinh có thể ứng dụng kiến thức khoa học, công nghệ, chế tạo, toán học trong các hoạt động thực hành trên lớp để phát triển tư duy và kĩ năng GQVĐ” [12].

Giáo dục STEAM dành cho trẻ mầm non đề cập đến là STEAM tích hợp, được định nghĩa là cách tiếp cận tích hợp giúp trẻ hiểu và áp dụng các khái niệm trong khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn trong đời sống. Dạy trẻ học cách chấp nhận rủi ro, theo đuổi GQVĐ, sự hợp tác và phát triển trong quá trình sáng tạo [16].

GD STEAM trong hoạt động học ở trường mầm non là việc GV áp dụng các lí thuyết về cách tiếp cận “tích hợp”, “liên môn” thuộc các lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật, Toán học và Nghệ thuật vào tổ chức hoạt động học tập cho trẻ 5-6 tuổi thông qua các thí nghiệm đơn giản dưới hình thức chơi nhẹ nhàng, thoải mái nhằm phát triển tư duy và KN GQVĐ cho trẻ [35].

Như vậy, với mô hình bài học 5E trong tổ chức hoạt động GD STEAM giúp trẻ em chủ động trong mọi hoạt động, trẻ được làm chủ bài học, GV là người hướng dẫn hỗ trợ trẻ khi cần thiết và cùng trẻ thảo luận đưa kết quả cuối cùng. Với phương thức tổ chức hoạt đông như vậy giúp trẻ có kĩ năng GQVĐ khi có tình huống xảy ra một cách hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế.

Hình 1.4. Kỹ năng GQVĐ của trẻ trong tổ chức hoạt động giáo dục STEAM

      1. 1.4.2. Quá trình tổ chức hoạt động giáo dục STEAM nhằm phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho trẻ 5-6 tuổi

(1) Mục tiêu tổ chức hoạt động GD STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Mục tiêu của GD STEAM là hình thành cho trẻ tư duy tích hợp và năng lực giải quyết vấn đề của cuộc sống hiện đại

Cuộc sống hiện đại đặt ra cho con người nhiều thách thức mới những thách thức đó đòi hỏi phải giải quyết bằng phương thức mới và phương thức có tính phổ quát để giải quyết vấn đề ngày nay chính là sử dụng tri thức và kĩ năng tích hợp giữa khoa học, công nghệ, kỹ thuật, nghệ thuật và toán học. GD STEAM nhằm hình thành ở trẻ các năng lực:

– Kĩ năng giải quyết vấn đề: Trong các chủ đề GD STEAM thường xuyên xuất hiện các nhiệm vụ đòi hỏi trẻ phải thiết kế kĩ thuật, lập trình điều khiển dựa trên các thuật toán từ đơn giản tới phức tạp và cuối cùng phải tạo ra được sản phẩm công nghệ thông minh, có trí tuệ nhân tạo ở một trình độ nhất định. Thông qua các hoạt động học tập đó, trẻ sẽ hình thành và phát triển được tư duy giải quyết vấn đề thực tiễn của con người hiện đại.

– Hiểu được cặn kẽ về một kiến thức khoa học sơ đẳng. Với các vấn đề cần khám phá, trẻ phải tiếp cận vấn đề đó ở nhiều khía cạnh bằng cách trả lời các câu hỏi:… như thế nào? và vì sao…? Ví dụ: Nhà của Lợn Trắng và Lợn Đen được xây dựng như thế nào? Vì sao lại bị đổ? – Đó là Khoa học (S).

Suy nghĩ như một kỹ sư và sử dụng công nghệ: Ví dụ: Làm thế nào để nhà đứng vững được mà không bị đổ? – Đây là phần Công nghệ và chế tạo (T và E).

Sáng tạo: Trẻ phải thiết kế (vẽ) trước khi thực hiện sản phẩm. Ví dụ: Vẽ ngôi nhà – Đây là Nghệ thuật (A); tính toán và đo lường trong quá trình thực hiện (Bé cần đến hình khối gì để làm tường nhà?,…) – Đây là Toán (M). Trẻ biết cách làm việc theo nhóm: đưa ra ý kiến thảo luận và hợp tác với các bạn nhằm hoàn thành một đề án hay một dự án theo kế hoạch.

(2) Nội dung tổ chức hoạt động GD STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

GD STEAM không phải để biến trẻ thành những nhà khoa học, nhà toán học, kĩ sư, những lập trình viên, kĩ thuật viên mà xây dựng cho trẻ những KN có thể được sử dụng để vận dụng trong thế giới công nghệ hiện đại này.

Theo Nguyễn Thành Hải (2019), với trẻ em, khoa học là nghiên cứu (quan sát, điều tra, khám phá) và hiểu biết về thế giới xung quanh); công nghệ là hiểu và biết sử dụng các công cụ máy móc (đơn giản và phù hợp) giúp công việc dễ dàng hơn, bao gồm KN công nghệ thông tin; kĩ thuật là giải quyết vấn đề, là sử dụng công cụ, vật liệu để lập kế hoạch cần thiết và thiết kế giải pháp cho một số vấn đề trong thực tiễn cuộc sống xung quanh; toán học là nghiên cứu và hiểu về hình dạng, số lượng, khối lượng, quy tắc, hình mẫu và ứng dụng tính toán trong cuộc sống.

GV cần tăng cường cơ hội cho trẻ em tham gia vào việc học STEAM và phát triển các KN tư duy phê phán của trẻ. Các kĩ năng GD STEAM cho trẻ MN là vô tận. Đặc điểm của trẻ em thích thử nghiệm, kết hợp các cách mới, xây dựng, tháo lắp, thu thập, sắp xếp và vui chơi trong khi học. GV có thể cho trẻ làm các hoạt động STEAM ở mọi hoạt động và ở mọi lúc, mọi nơi.

(3) Phương pháp tổ chức hoạt động GD STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Khác với mô hình giáo dục truyền thống, nội dung giáo dục được tổ chức thành các bài học chặt chẽ và logic, trong GD STEAM, nội dung học tập được tổ chức thành các chủ đề, dự án tích hợp 5 lĩnh vực khoa học và gắn với hiện thực đời sống. Phương thức chủ yếu để trẻ giải quyết các nhiệm vụ trong các chủ đề, dự án tích hợp này chính là tìm tòi khám phá, nghiên cứu cá nhân. Bên cạnh đó, trẻ cũng thường xuyên được tổ chức học tập theo nhóm, sử dụng các công cụ, phương tiện kỹ thuật hiện đại để thực hành phát minh, sáng chế ra các sản phẩm công nghệ. Quan hệ chủ yếu giữa trẻ với trẻ là hợp tác và thi đua cạnh tranh tích cực. Giáo dục STEAM không chú trọng nhiều tới kết quả học tập mà coi trọng quá trình học tập. Chính trong quá trình tìm tòi phương thức để giải quyết vấn đề, tìm kiếm thông tin, trao đổi thảo luận để thống nhất phương án giải quyết vấn đề thì trẻ hình thành được năng lực cần thiết để thích ứng và phát triển trong môi trường hiện đại.

Phương pháp tổ chức hoạt động GD STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi gồm:

Dạy học dự án

Phát hiện và GQVĐ

Dạy học dựa trên thiết kế

Dạy học dựa trên thực hành trải nghiệm

Dạy học bằng trò chơi

Dạy học theo quy trình thiết kế kỹ thuật

Dạy học theo mô hình bài học 5E

(4) Biện pháp tổ chức hoạt động GD STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Với các mục tiêu, nội dung, phương pháp tổ chức hoạt động GD STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đã nêu trên, chúng tôi đề xuất những biện pháp cụ thể để tổ chức hoạt động GD STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi một cách hiệu quả, cụ thể như sau:

– Xây dựng môi trường trong tổ chức hoạt động GD STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.

– Đề xuất quy trình xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động GD STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.

– Áp dụng mô hình bài học 5E và quy trình thiết kế kĩ thuật trong tổ chức hoạt động GD STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.

– Kích thích trẻ phát hiện vấn đề thực tiễn phù hợp với nhu cầu, khả năng của mình thông qua các hoạt động giáo dục STEAM.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức hoạt động giáo dục STEAM phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Hiện nay, các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức hoạt động GD STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong thực hiện Chương trình giáo dục mầm non như:

(1) Yếu tố về nguồn nhân lực

* Giáo viên:

Trong các hoạt động chăm sóc, GD trẻ nói chung và hoạt động GD STEAM cho trẻ mầm non nói riêng, GV đóng vai trò vô cùng quan trọng quyết định đến chất lượng, hiệu quả, sự thành bại của quá trình chăm sóc GD trẻ. Đội ngũ GV mầm non ngày càng được chuẩn hóa về vị trí việc làm, chế độ làm việc, tiêu chuẩn và bồi dưỡng thường xuyên nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, tích cực tự học, tự bồi dưỡng để thực hiện linh hoạt, sáng tạo chương trình GDMN nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, GD trẻ em, đáp ứng đổi mới giáo dục mầm non. GV là người có ảnh hưởng lớn đến sự tích hợp các yếu tố STEAM trong sự phát triển chương trình GD của nhà trường đến với trẻ. Trẻ em đi học mẫu giáo có thể đạt được mức độ hiểu biết STEAM cao hơn khi chúng được hỗ trợ cụ thể thông qua các hoạt động được lập kế hoạch, kích thích và phát triển phù hợp. Ở mầm non, việc ứng dụng GD STEAM để nâng cao chất lượng giáo dục trẻ đang được các cơ sở GDMN quan tâm, tìm hiểu, ứng dụng phù hợp. Tuy nhiên, GV chưa được đào tạo chuyên sâu về GD STEAM, có rất ít hoặc chưa được hướng dẫn một cách đầy đủ, khoa học cách tiếp cận với STEAM. Khi đối mặt với hướng tiếp cận mới về GD STEAM, GV thường bị áp lực, thiếu tự tin vào bản thân. Nếu GV được tập huấn về GD STEAM một cách khoa học, tăng cường các hoạt động thực hành thì sẽ có thể tác động tích cực lên trẻ của họ thông qua những gì đã được học trong tập huấn. Khi GV có kiến thức, kĩ năng, thái độ tốt có nhận thức đúng, đủ, linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tế trong tổ chức hoạt động GD ứng dụng GD STEAM sẽ có khả năng thúc đẩy tư duy sáng tạo, khám phá và giải quyết vấn đề của trẻ, cùng với ứng dụng các hướng tiếp cận giáo dục quốc tế khác nâng cao chất lượng chăm sóc, GD trẻ phù hợp với nhu cầu, bối cảnh, địa phương, văn hóa, vùng miền.

* Cán bộ quản lí

Hiện nay cán bộ quản lý các trường mầm non nói chung cũng như các CBQL các trường mầm non công lập nói riêng việc xây dựng kế hoạch chiến lược mang tính đột phá trong nhà trường cũng gặp nhiều khó khăn trong việc thực thi cơ chế chính sách đảm bảo, đúng theo quy định. Do đó, CBQL luôn chọn giải pháp an toàn trong mọi hoạt động của nhà trường, ví dụ như: việc trang bị các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng dạy học và đồ chơi theo đúng danh mục được quy định, tuy nhiên một số thiết bị theo danh mục được ban hành từ năm 2010 không đáp ứng được mục tiêu giáo dục hiện nay. Vì vậy, đòi hỏi CBQL cần phải linh hoạt, nhạy bén để có những giải pháp vừa đảm bảo an toàn trong công tác quản lý chỉ đạo vừa nâng cao chất lượng nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục trong trường mầm non đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội.

(2) Yếu tố về môi trường cho trẻ hoạt động

Chương trình GDMN quy định môi trường cho trẻ hoạt động cần đảm bảo các yêu cầu sau:

* Môi trường vật chất

– Môi trường cho trẻ hoạt động trong phòng lớp: Trang trí phòng lớp đảm bảo thẩm mỹ, thân thiện và phù hợp với nội dung, chủ đề giáo dục; Có các đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu đa dạng, phong phú, hấp dẫn trẻ; Sắp xếp và bố trí đồ dùng, đồ chơi hợp lý, đảm bảo an toàn và đáp ứng mục đích giáo dục; Có khu vực để bố trí chỗ ăn, chỗ ngủ cho trẻ đảm bảo yêu cầu quy định; Các khu vực hoạt động bố trí phù hợp, linh hoạt (có thể bố trí cố định hoặc có thể di chuyển), mang tính mở, tạo điều kiện dễ dàng cho trẻ tự lựa chọn và sử dụng đồ vật, đồ chơi, tham gia hoạt động và thuận lợi cho sự quan sát của giáo viên; Các khu vực hoạt động của trẻ gồm có: Khu vực chơi đóng vai; tạo hình; thư viện (sách, tranh truyện); khu vực ghép hình, lắp ráp/xây dựng; khu vực dành cho hoạt động khám phá thiên nhiên và khoa học; hoạt động âm nhạc và có khu vực yên tĩnh cho trẻ nghỉ ngơi. Khu vực yên tĩnh cần bố trí xa các khu vực ồn ào. Tên các khu vực hoạt động đơn giản, phù hợp với chủ đề và tạo môi trường làm quen với chữ viết

– Môi trường cho trẻ hoạt động ngoài trời, gồm có: Sân chơi và sắp xếp thiết bị chơi ngoài trời; Khu chơi với cát, đất, sỏi, nước; Bồn hoa, cây cảnh, nơi trồng cây và khu vực nuôi các con vật.

* Môi trường xã hội

Môi trường chăm sóc giáo dục trong trường mầm non cần phải đảm bảo an toàn về mặt tâm lý, tạo thuận lợi giáo dục các kỹ năng xã hội cho trẻ.

Trẻ thường xuyên được giao tiếp, thể hiện mối quan hệ thân thiện giữa trẻ với trẻ và giữa trẻ với những người xung quanh.

Hành vi, cử chỉ, lời nói, thái độ của giáo viên đối với trẻ và những người khác luôn mẫu mực để trẻ noi theo.

Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy được rằng Chương trình GDMN quy định rất cụ thể về môi trường cho trẻ hoạt động trong trường mầm non, nếu các cơ sở giáo dục mầm non thực hiện tốt nội dung này thì sẽ đáp ứng được ứng dụng GD STEAM vào trong chương trình GDMN nói chung cũng như tổ chức hoạt động GD STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.

(3) Thực hiện chương trình giáo dục mầm non: CBQL, GV cần linh hoạt trong việc ứng dụng GD STEAM trong thực hiện chương trình GDMN thông qua:

– Lựa chọn mục tiêu phát triển chương trình GD nhà trường; mục tiêu cho từng độ tuổi phù hợp với khả năng, năng lực của GV và đặc điểm tâm sinh lý của trẻ (phụ thuộc khá nhiều vào yếu tố địa phương: trong cùng một quận/huyện nhưng mỗi xã/phường điều kiện kinh tế phát triển khác nhau thì sự phát triển của cá nhân trẻ cũng khác nhau).

– Công tác truyền thông, tuyên truyền: Cần tạo một môi trường khích lệ và hỗ trợ cho GV và trẻ để khám phá, sáng tạo và thử nghiệm. Sự động viên và phản hồi tích cực từ gia đình và cộng đồng cũng rất quan trọng để thúc đẩy tinh thần và sự quan tâm của trẻ trong quá trình tham gia hoạt động GD STEAM.

– Cách đánh giá trẻ: Đánh giá trẻ là một việc làm thường xuyên của GV, tuy nhiên để đánh giá chính xác được năng lực GQVĐ của trẻ khi tham gia vào các hoạt động GD STEAM đòi hỏi GV phải có thang đánh giá cụ thể thông qua phương pháp quan sát, ghi chép và phân tích dữ liệu đầy đủ, chính xác của GV.

Kết luận chương 1

Qua nghiên cứu tổng quan và cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động giáo dục STEAM nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non, có thể kết luận:

1. Vấn đề phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo nói chung, cho trẻ 5-6 tuổi nói riêng đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới và ở Việt Nam. Các hướng nghiên cứu tập trung vào thực trạng, biện pháp giáo dục kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 thông qua chơi đóng vai theo chủ đề, thông qua hoạt động làm quen với toán, thông qua hoạt động vui chơi, thông qua dạy học theo dự án… Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào được tiến hành một cách bài bản, hệ thống, đầy đủ về biện pháp tổ chức hoạt động GD STEAM phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non.

2. Phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi rất cần thiết và phù hợp với Chương trình GDMN hiện nay, GV cần hình thành ở trẻ các kĩ năng: xác định được vấn đề, lựa chọn cách giải quyết vấn đề, xác định được các bước giải quyết vấn đề, thực hiện giải quyết vấn đề và đánh giá kết quả giải quyết vấn đề nhằm hình thành ở trẻ những kĩ năng nền tảng cho các cấp học tiếp theo.

3. Với cách thức tổ chức hoạt động GD STEAM cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non theo mô hình bài học 5E (E1: gắn kết; E2: Khám phá; E3: Giải thích; E4: Vận dụng; E5: Đánh giá) hoàn toàn phù hợp với các bước hình thành kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi (xác định được vấn đề; lựa chọn cách giải quyết vấn đề; xác định được các bước giải quyết vấn đề; thực hiện giải quyết vấn đề; đánh giá kết quả giải quyết vấn đề).

4. Trên cơ sở nghiên cứu lí luận về giáo dục kĩ năng GQVĐ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi; Tổ chức hoạt động GD STEAM cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi; Tổ chức hoạt động GD STEAM cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi; Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức hoạt động giáo dục STEAM phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi là cơ sở để giúp chúng tôi xây dựng nội dung, phương pháp đánh giá và tiêu chí đánh giá về thực trạng tổ chức hoạt động GD STEAM cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi nhằm phát triển kĩ năng GQVĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở các trường mầm non trên địa bàn quận Liên Chiểu một cách hiệu quả, phù hợp.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\Quản trị rủi tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam chi nhánh Huyện Buôn Đôn\THAM KHẢO\TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC STEAM NHẰM PHÁT TRIỂN KĨ

Tổ chức hoạt động giáo dục STEAM nhằm phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi  Tổ chức hoạt động giáo dục STEAM nhằm phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi  Tổ chức hoạt động giáo dục STEAM nhằm phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *