THÀNH VAUBAN Ở VIỆT NAM TRƯỜNG HỢP KINH THÀNH HUẾ
1. Lý do chọn đề tài
Thành Vauban là một phát minh phòng thủ nổi tiếng bậc nhất, được đặt theo tên của kỹ sư người Pháp Sebastien Le Prestre de Vauban dưới thời vua Louis XIV. Vauban được xem là một nhân vật có sức lan tỏa nhất thế kỷ XVII tại Châu Âu. Cuộc đời và sự nghiệp của Vauban luôn gắn liền với những bước đường phát triển lịch sử của nước Pháp.
Vauban là một hệ thống thành công sự phòng thủ được cải tiến và thay đổi theo tiến trình đổi mới của thời đại. Tại châu Âu, khi mà công nghệ chiến tranh chưa phát triển, thành Vauban được sử dụng như là một lá chắn quân sự hiệu quả nhất cho các vương triều. Tại Việt Nam, thế kỷ XVIII đã có nhiều hệ thống thành phòng thủ kiểu kiến trúc Vauban được các kỹ sư người Pháp xây dựng dưới yêu cầu của triều Nguyễn. Cho đến ngày hôm nay, hệ thống thành lũy này vẫn được chính quyền Việt Nam gìn giữ một cách thận trọng, điều này chứng tỏ được rằng tính hiệu quả và những lợi ích mà thành Vauban đã mang lại cho các vương triều tại Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử trước đây là không thể phủ nhận được.
Với những giá trị và tầm ảnh hưởng ở tầm cở thế giới của Vauban, vậy thì hệ thống thành này có những đặc điểm cấu tạo như thế nào về hình thức và nội dung? hệ thống thành Vauban do các kỹ sư công binh người Pháp xây dựng ở Việt Nam có gì khác biệt so với với chính quốc? Luận văn này sẽ tập trung vào việc trả lời cho ba câu hỏi chính đó là: Thành Vauban được nghiên cứu và phát minh như thế nào ? Tìm hiểu những đặc trưng của hệ thống thành Vauban tại Việt Nam thông qua trường hợp kinh thành Huế và cuối cùng là hệ thống thành cổ Vauban tại Việt Nam có đóng góp gì cho sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố Huế nói riêng và nước Việt Nam nói chung.
2. Các công trình nghiên cứu liên quan đến luận văn
2.1. Các nghiên cứu ngoài nước
2.2. Các nghiên cứu trong nước
3. Mục đích nghiên cứu
Trình bày rõ tiến trình hình thành và phát triển Thành Vauban tại Pháp.
So sánh đối chiếu hệ thống thành Vauban tại Pháp và tại Việt Nam.
Đưa ra những nhận định, những đóng góp khi tiến hành nghiên cứu về chủ đề thành vauban tại Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thành Vauban trên thế giới và Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: các công trình xây dựng trong thời gian 1709-1841(cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX).
Về không gian: Thành vauban ở Huế.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng để trả lời cho các câu hỏi đã làm gì và làm như thế nào.
5.1. Phương pháp nghiên cứu định tính
Phỏng vấn ý kiến chuyên gia.
Quan sát¸ chụp hình, gửi thư.
5.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng
Khảo sát/phỏng vấn.
Quan sát và ghi chép dữ liệu.
Tập hợp và phân tích giữ liệu.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiển của đề tài
6.1 Ý nghĩa khoa học
Làm rõ lịch sử hình thành và phát triển hệ thống thành Vauban tại Pháp để làm cứ liệu tin cậy giúp cho các tác giả trong nước khi tiến hành các nghiên cứu về thành Vauban.
5.2. Ý nghĩa thực tiển
Trình bày được các đặc điểm quan trọng của hệ thống thành Vauban về: cấu trúc, vật liệu, kỹ thuật xây dựng và cả chức năng phòng thủ để làm cơ sở khoa học cho việc bảo tồn và phát huy giá trị sử dụng hệ thống thành Vauban tại Việt Nam.
Đề xuất giải pháp nâng cao giá trị sử dụng và giá trị đóng góp về kinh tế cho địa phương thông qua trường hợp cụ thể của kinh thành Huế.
7. Đóng góp mới của luận văn
Trình bày lịch sử hình thành và phát triển của thành Vauban tại Pháp
So sánh những điểm giống và khác nhau giữa thành Vauban tại Pháp và Việt Nam.
Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị sử dụng kinh thành Huế trong giai đoạn mới.
8. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 3 phần:
Phần 1: Phần mở đầu: Lý do chọn đề tài, mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cơ sở khoa học và thực tiễn, kết quả đạt được và những tồn tại.
Phần 2: Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Thành Vauban, nền văn minh của vùng lãnh thổ.
Chương 2: Thành Vauban ở Việt Nam.
Chương 3: Trường hợp thành Vauban triều Nguyễn tại Huế: Giá trị và đóng góp cho thời đại mới.
Phần 3: Kết luận và kiến nghị.
Tài liệu tham khảo.
CHƯƠNG 1: THÀNH VAUBAN, NỀN VĂN MINH CỦA VÙNG LÃNH THỔ.
- . Chân dung của một kỹ sư.
1.1.1. Tiểu sử Vauban (sebastien Le Prestre De Vauban).
Sebastien Le Prestre thường được biết đến với cái tên Vauban (Vô-băng) (1633-1707) là Hầu tước xứ Vauban nước Pháp. Ông là một kỹ sư quân sự, nổi tiếng nhờ kỹ năng vây hãm thành lũy và sáng chế công sự lẫn xây dựng thành lũy. Ông đã cố vấn cho nhà vua Louis XIV và củng cố biên giới nước Pháp với một hệ thống 33 tòa thành và 300 đồn lũy làm cho chúng “bất khả xâm phạm”. Từ những cống hiến đặc biệt trong lĩnh vực thiết kế công sự cùng những phương thức phá hủy chúng, năm 1703, Vauban đã phong hàm Thống chế. Với hệ thống phòng ngự mang tên ông, biên giới Pháp từ những vùng đất cằn cỗi, mong manh, trống trãi ngày càng trở nên vững chắc dưới thời vua Louis XIV.
1.1.2. Chân dung của một kỹ sư.
1.2. Vauban trong triều đại vua Louis XIV (1661-1715).
1.2.1. Vauban, một nhân tài xuất hiện từ cuộc nội chiến Fronde.
1.3. Vauban, người canh giữ những thành phố
1.3.1. Vauban và những cuộc tấn công những thành lũy (1652-1672).
1.3.1.1. Vauban chỉ ra những lỗi thường xuyên mắc phải cuộc vây hãm thành lũy (1652-1672).
1.3.1.2. Vauban đề ra phương pháp về vây hãm các thành lũy từ những kinh nghiệm rút ra từ các cuộc vây hãm năm 1652-1672.
1.3.2. Vauban người canh giữ những thành phố – người chỉ huy thành công các cuộc vây hãm.
1.4 Pháo đài phòng thủ Vauban.
1.4.1. Vauban, dưới góc nhìn về biên giới nước pháp.
1.4.2. Những công trình phòng thủ quốc gia được đưa vào xây dựng.
1.4.3. Hệ thống phòng thủ của Vauban.
1.5. Vauban, từ kỹ sư đến chính trị gia.
1.5.1. Những nguyên nhân thay đổi nhận thức của một kỹ sư quân sự.
Nguyên nhân thứ nhất là do yêu cầu của cấp trên, do tính chất công việc của Vauban là đảm nhận những công việc về quản lý.
Nguyên nhân thứ hai của việc Vauban từ quân nhân trở thành nhà văn đến từ việc ông cảm thụ được sức mạnh của câu chữ, ông thường viết những bút ký, cố vấn quân sự cho nhà vua.
Nguyên nhân thứ ba về việc Vauban có một tầm hiểu biết uyên thâm trong nhiều lĩnh vực, cộng với vốn hiểu biết của Vauban khá là bao quát, ông luôn tìm kiếm tư tưởng chung của bất kì vấn đề nào.
1.5.2. Vauban từ bậc thiên tài trong quân sự đến dân sự.
1.5.3. Vauban còn là nhà toán học, nhân khẩu học và thuế khóa.
1.5.4. Vauban là quân nhân, nhà chiến lượt, chính trị gia.
1.6. Hiểu đúng về Vauban.
Để hiểu đúng về con người Vauban thì phải đặt Vauban vào giai đoạn Đại Thế Kỷ và cần phải phân biệt rõ những nhận định mà những nhân vật tầm cỡ ở cùng thời với Vauban để hiểu đúng về con người, tính cách, nhân phẩm của ông. Ở thời điểm của ông những con người là vua chúa, tướng lĩnh quân đội hơn là nghệ sĩ hay là nhà khoa học, nhưng tất cả đều có điểm chung là đóng góp cho cộng đồng.
1.7. Tóm tắt một vài đặc điểm kiến trúc thành Vauban ở Pháp.
Những pháo đài quân sự xây dựng theo kiểu kiến trúc Vauban là một phức hợp các công trình phối hợp chặt chẽ với nhau và có giá trị phòng ngự rất cao bao gồm các bộ phận và những tuyến dùng để bảo vệ và đề kháng như khu phía trước thành (Bastioned front), pháo đài (bastion), pháo đài bán nguyệt/ pháo đài góc (demi-lune/ ravelin), pháo đài con (outwort), tường thành (curtain), sườn cánh (flanks), hào nước (ditch), cầu nối (drawbridge), bờ lũy xiên (glacis), đường bao quanh (covered way), nơi chứa hỏa lực (place of arms) … Tất cả các thành lũy của nước pháp đều được xây dựng theo kiểu một trong ba hệ thống phòng thủ, Vauban là hệ thống thứ 3 (ngoài cùng).

Kết Luận chương 1
Vauban là một vị anh hùng đam mê công sự và là chuyên gia về kiến trúc quân sự. Sự nghiệp của ông là một khối đồ sộ, trước khi giúp sức cho bộ trưởng Louvois, ông đã bước ra khỏi vỏ bọc của kỹ sư công sự để cố vấn cho cấp trên của mình về tầm nhìn chính trị và chiến lượt quân sự. Ông đã sản sinh ra triết lý về chiến tranh, các quy định về kỹ thuật chiến đấu lưỡi lê, những cải cách về qui định phục vụ quân sự bắt buộc trong 3 năm dựa vào rút thăm, thành lập những trung đoàn pháo binh, áp dụng hệ thống tăng cấp bậc quân hàm. Ngoài tài năng thiên về đồn lũy ông còn là nhà kinh tế học, nhân khẩu học, toán học, nhà tự biện đã để lại cho hậu thế những cuốn Chuyên luận về trồng rừng, Bút kí về hoạt động hàng hải trên sông, Kêu gọi về những người theo Đạo tin Lành, Kênh đào Vùng Languedec… Và nhất là cuốn ” Tuyển tập kí sự nhàn rỗi” trong đó ông bàn luận đủ về mọi vấn đề từ quân sự, canh nông qua kinh tế, chính trị … Ngay sau cuốn tập kí “Thuế thân hoàng gia” vào năm 1707 được trình lên nhà vua và được in ấn phát cho các nhân vật chính trị nhằm giúp cho nhà vua lấy lại tình yêu của nhân dân, đồng thời giải quyết các vấn đề tài chính nhưng không được xuất bản và bị cấm 2 lần.
Với tài năng thiên bẩm của mình, Vauban nhận ra rất nhanh địa thế và biết vận dụng ngay điểm yếu của quân địch, khi tấn công cũng như phòng thủ. Ông tham gia nhiều cuộc vây hãm dẫn đến thất bại trước đó và ông đã chỉ ra những sai lầm mắc phải. Từ đó ông đề ra phương pháp tấn công được ông áp dụng thành công trong các cuộc vây hãm sau đó. Đồng thời kế sách thường xuyên quấy rối quân địch, Vauban luôn coi trọng cuộc xây dựng các pháo đài và dựa trên những công trình lý thuyết của bá tước Pagan. Cộng với những kinh nghiệm thu được từ những cuộc vây hãm ông đã sửa đổi đề ra các nguyên tắc hệ thống phòng thủ mà trước đó các tiền nhiệm chưa nghĩ tới đó là nguyên tắc ” Ba hệ thống cộng sự phòng thủ liên tiếp”.
Vauban với tài năng thiên bẩm về xây dựng công sự ông đã dựng lên những thành lũy, chiếm lấy những vùng đất mới, bao bọc những thành phố bằng công sự đây là một chiến thuật nhằm kiểm soát toàn bộ lãnh thổ và lãnh hải của nước Pháp. Với những kinh nghiệm được đúc kết được trong quá trình vây hãm và xây dựng thành lũy ông đã đưa ra những nguyên tắc thiết kế mới so với mô hình cũ. Những công trình của ông mang dáng hình ngôi sao, hình dáng tuyệt mỹ của những chiến lũy và thành trì hình ngôi sao này thể hiện sự thích nghi với thực địa, địa hình và với các công trình có sẵn. Với tài năng vượt trội trong các cuộc vây hãm và nguyên lý thiết kế hệ thống phòng thủ của mình đã mang lại cho ông rất nhiều thành quả quý giá đã vượt ra khỏi biên giới nước Pháp và nổi tiếng khắp thế giới.
CHƯƠNG 2: THÀNH VAUBAN TẠI VIỆT NAM.
2.1. Lịch sử ra đời kiến trúc thành Vauban ở Việt Nam.
Sau chiến tranh giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong kết thúc, thì trong thời gian đó không có thành lũy nào được xây dựng. Tây Sơn đã châm ngoài cho sự phục hồi tầm quan trọng của thành lũy bởi các cuộc vây hãm tấn công thành. Tây sơn đã cho cho củng cố kinh đô ở Chà Bàn (Quy Nhơn). Trong khi đó, Nguyễn Ánh phát triển thành Sài Gòn làm kinh đô để kháng cự lại Tây Sơn và sau cùng khởi sự thành công tái chinh phục toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Với thỏa ước ngày 2/7/1787 giữa Pháp và Nguyễn Ánh, Pháp sẽ giúp đỡ cho Nguyễn Ánh 1500 quân lính và vũ khí nhưng sau đó Pháp không thực hiện được. Để đỡ mất mặt vì đã thất hứa, Bá Đa Lộc đã vận động một số viên chức sĩ quan Pháp sang Đại Việt để giúp Nguyễn Ánh huấn luyện một đội quân sự nòng cốt. Với sự giúp đỡ của các viên chức sĩ quan người pháp, Nguyễn Ánh thành lập xây dựng một thành lũy kiên cố theo thiết kế phương Tây do hai chuyên viên kỹ thuật quân sự Pháp là Victor Oliver de Puymanel và Theodore Le Brun. Chẳng hạn như thành Sài Gòn được xây theo mô thức Vauban điểm hình kết hợp với những yếu tố dịch lý Đông Phương. Đây là bước ngoặt đánh dấu sự ra đời của loại hình kiến trúc thành Vauban ở Việt Nam mà sau này nó được áp dụng rộng rãi dưới thời Nguyễn, một loại hình công sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc quân sự Pháp và Việt Nam.
2.2. Đặc điểm kiến trúc thành Vauban ở Việt Nam.
Kiến trúc thành Vauban ở Việt Nam kế thừa hầu như toàn bộ đặc điểm thành Vauban ở Pháp. Nhưng khi áp dụng vào Việt Nam thì đã được cải tiến đơn giản hơn với các đặc điểm nổi bật pháo đài, pháo đài góc, cầu treo, hào chiến, đường bao quanh trên tường thành, đường bao ngoài hào, tường bắn, đài quan sát. Tiếp thu toàn bộ đặc điểm thành Vauban ơ Pháo nhưng khi vận dụng vào Việt Nam thì đưa về hình dáng đươn gairn hơn để phù hợp với địa hình, trình độ con người Việt Nam. Vì thế nguyên tắc phòng thủ thành Vauban ở Việt Nam cũng giống như thành Vauban ở Pháp nhưng đơn giản hơn. Một số bộ phận kiến trúc như lầu, cửa canh gác thành xây dựng bằng vật liệu nhẹ, lớp mái âm dương, đầu đao, góc mái uốn cong, cột kèo có chạm trổ, sơn phết, những chữ Hán gọi tên các cửa thành, những kỳ đài theo phong cách kiến trúc truyền thống Việt Nam.
2.3. Kiến trúc thành Vauban dưới sự chuyển giao từ Pháp sang Việt Nam.
2.4. Hệ thống phòng thủ kiểu Vauban ở Việt Nam.
2.5. So sánh đặc điểm kiến trúc thành Vauban ở pháp và thành Vauban ở Việt Nam.
2.5.1 Giống nhau:
2.5.2. Khác nhau
2.6. Thực trạng hệ thống thành Vauban tại Việt Nam.
Do bị chiến tranh tàn phá nặng nề cùng với sự hủy hoại của thiên nhiên, con người hệ thống thành Vauban ở Việt Nam hiện nay không còn được nguyên vẹn như xưa, hầu hết các thành đều đã được bảo quản trùng tu. Hiện nay vẫn có một số thành vẫn giữ được cơ bản so với hình dáng ban đầu của nó, có thành đã mất đi một phần vì đô thị hóa, và có thành đã bị phá hủy hoàn toàn.
2.7. Hệ thống điểm phân bố thành Vauban ở Việt Nam.
Kết luận chương 2
Xuất phát từ nhu cầu bảo vệ, Vauban cùng hệ thống phòng thủ của mình đã đặt mốc quan trọng và là cuộc cách mạng trong xây dựng – vây hãm thành lũy trong lịch sử chiến tranh nhân loại. Tên tuổi Vauban gắn liền với các cuộc vây hãm và xây dựng thành lũy còn đứng vững trên lãnh thổ nước Pháp và trên thế giới. Sự vững vàng của hệ thống phòng thủ kiểu Vauban và phong cách xây dựng của nước Pháp ở thế kỷ XVII là tổng hợp sức mạnh của toàn quốc gia.
Với những khát vọng và quyết tâm giành lại vương triều. Với tri thức nhạy bén trước những biến đổi của lịch sử, Nguyễn Ánh đã chủ động tiếp thu và vận dụng những giá trị của nền văn minh phương Tây trong đó kiến trúc và kỹ thuật xây dựng thành lũy. Một hệ thống phòng thủ hoàn toàn mới so với phong cách truyền thống đã được thiết lập từ Bắc vào Nam nhằm củng cố vương quyền của triều Nguyễn. Tùy vào mỗi giai đoạn lịch sử với tâm thế tiếp nhận và mục đích khác nhau song hệ thống thành lũy mang phong cách Vauban của triều Nguyễn vẫn giữ được dấu ấn truyền thống trong thiết kế, xây dựng và sử dụng. Tuy nhiên yếu tố quân sự giảm thiểu rõ rệt thay vào đó là những kiến trúc cung đình mang đậm nét dấu ấn phương Đông.
Qua nghiên cứu các đặc điểm kiến trúc thành Vauban ở Việt Nam và ở Pháp. Tác giả đã liệt kê, so sánh sự khác nhau và giống nhau của thành Vauban ở Việt Nam và ở Pháp. Qua đó thấy được sự tiếp thu và vận dụng có sáng tạo của ông cha ta trong việc xây dựng thành lũy theo phong cách hoàn toàn mới (kiểu Vauban) khi biết vận dụng nhuần nhuyễn giữa kiến trúc phương Tây và kiến trúc truyền thống Việt Nam. Các yếu tố truyền thống trong thiết kế xây dựng và chức năng sử dụng các loại hình kiến trúc phục vụ sinh hoạt của vương triều Nguyễn. Các công trình kiến trúc thành Vauban ở Việt Nam là những công trình được xây dựng trong triều đại nhà Nguyễn đã ra đời và tồn tại lâu dài cho đến ngày nay. Là một trong những di sản của triều đại phong kiến cuối cùng để lại cho hậu thế là một tài sản vô giá về kiến trúc mang phong cách phương Tây (kiểu Vauban) và kiến trúc truyền thống mang đậm nết phương Đông.
CHƯƠNG 3
TRƯỜNG HỢP THÀNH VAUBAN TRIỀU NGUYỄN TẠI HUẾ: GIÁ TRỊ VÀ GIÁ TRỊ ĐÓNG GÓP CHO THỜI ĐẠI MỚI.
3.1. Thành Vauban triều nguyễn ở Huế.
3.1.1. Lịch sử xây dựng.
Sau khi thống nhất thiên hạ, vua Gia Long đã cho quy hoạch và xây dựng kinh thành Huế theo kiểu Vauban vào năm 1805. Ban đầu thành đắp bằng đất sau đó bằng gạch với chu vi chu vi trên 10.500m (520 ha). Công cuộc xây dựng kinh thành được hoàn thành cơ bản vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng. Trong vòng 27 năm xây dựng có năm làm có năm nghỉ, có năm tu bảo vì thiên tai phá hỏng nặng. Trong các đợt thi công diễn ra vào mùa nắng và đã huy động rất nhiều nhân lực từ các tỉnh thành lân cận cuối cùng các hạng mục trong và ngoài kinh thành Huế đã hoàn thành với hàng trăm công trình kiến trúc lớn, khu kinh thành hiện nay hầu như vẫn còn nguyên vẹn.
3.1.2. Kiến trúc kinh thành Huế.
3.1.2.1. Kinh Thành.
Kinh thành Huế được quy hoạch bên bờ Bắc sông Hương, xoay mặt về hướng Nam, với diện tích mặt bằng 520 ha. Kinh Thành và mọi công trình kiến trúc của Hoàng Thành, Tử Cấm Thành đều xoay về hướng Nam, hướng mà trong Kinh Dịch đã ghi “Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ” (ý nói vua quay mặt về hướng Nam để cai trị thiên hạ). Vòng thành có chu vi gần 10.571 m, cao 6,6m, dày 21,5m được xây khúc khuỷu với những pháo đài được bố trí cách đều nhau, kèm theo các pháo nhãn, đại bác, kho đạn; thành ban đầu chỉ đắp bằng đất, mãi đến cuối đời Gia Long mới bắt đầu xây gạch. Bên ngoài vòng thành có một hệ thống hào bao bọc ngay bên ngoài. Riêng hệ thống sông đào (Hộ Thành Hà) vừa mang chức năng bảo vệ vừa có chức năng giao thông đường thủy có chiều dài hơn 7 km (đoạn ở phía Tây là sông Kẻ Vạn, đoạn phía Bắc là sông An Hòa, đoạn phía Đông là sông Đông Ba, riêng đoạn phía Nam dựa vào sông Hương). Thành có 10 cửa chính. Ngoài ra kinh thành còn có 1 cửa thông với Trấn Bình Đài (thành phụ ở góc Đông Bắc của Kinh Thành, còn gọi là thành Mang Cá), có tên gọi là Trấn Bình Môn. Hai cửa bằng đường thủy thông Kinh Thành với bên ngoài qua hệ thống Ngự Hà là Đông Thành Thủy Quan và Tây Thành Thủy Quan. Chính giữa mặt trước thành có cột cờ, được gọi là Kỳ Đài.
3.1.2.2. Hoàng thành.
Là vòng thành thứ hai bên trong kinh thành Huế, nơi ở của vua và Hoàng gia, cũng là nơi làm việc của triều đình. Ngoài ra Hoàng thành Huế còn là nơi thờ tự tổ tiên và các vị vua nhà Nguyễn. Hoàng Thành được xây dựng năm 1804 theo hình chữ nhật với diện tích khoảng 37,5ha, thành xây bằng gạch cao 4,16m, dày 1,04m, móng sâu 66cm. Giữa mỗi mặt thành có 1 pháo đài xây nhô ra ngoài, bên trên dựng “phương gia”, nhưng để hoàn chỉnh toàn bộ hệ thống cung điện với khoảng hơn 100 công trình thì phải đến thời vua Minh Mạng vào năm 1833, mọi việc mới được hoàn tất. Hoàng Thành có 4 cửa được bố trí ở 4 mặt, trong đó cửa chính (ở phía Nam) là Ngọ Môn. Bên trong Hoàng thành có Điện Thái Hòa, là nơi thiết triều; khu vực các miếu thờ; và Tử Cấm thành – nơi ăn ở sinh hoạt của vua và hoàng gia. Người ta thường gọi chung Hoàng Thành và Tử Cấm Thành là Đại Nội.
3.1.2.3. Tử cấm thành.
Tử Cấm Thành là nơi làm việc, ăn ở, sinh hoạt của vua và hoàng gia. Đây là vòng thành nhỏ nhất nằm phía trong cùng của kinh thành Huế. Vòng thành này có hình chữ nhật, tường gạch bao quanh cao 3,72m, dày 0,72m, dài 324m, rộng 290m. Tử Cấm Thành có tổng cộng 10 cửa bao gồm chính giữa hướng nam: Cửa Đại Cung Môn, hướng bắc: Tường Loan, Nghi Phụng, Văn Phòng, hướng đông: Đông An, Cẩm Uyển, Hưng Khánh, Duyệt Thị, hướng tây: Gia Tường, Tây An. Bên trong Tử Cấm thành bao gồm hàng chục công trình kiến trúc với quy mô lớn nhỏ khác nhau, được phân chia làm nhiều khu vực.
3.1.3. Đặc điểm kiến trúc Kinh thành Huế.
a) Kinh thành Huế xây dựng theo nguyên tắc phong thủy.
Triều đình nhà Nguyễn bấy giờ quan tâm đặc biệt đến những nguyên tắc quy hoạch kiến trúc truyền thống của dân tốc nói riêng và của Đông phương nói chung. Đó là những tiêu chí quy hoạch kiến trúc được rút ra từ Dịch lý và thuật Phong thủy. Đây là tư tưởng chủ đạo trong quy hoạch bố cục tổng mặt bằng kiến trúc Kinh đô Huế. Vị trí Kinh thành Huế được lựa chọn cẩn thận, chứa đựng đầy đủ các đặc trưng địa lý như là: sông, núi, đất đai bằng phẳng và các nét đặc trưng cảnh quan. Theo nguyên tắc phong thuỷ, dòng sông Hương và núi Ngự Bình đóng vai trò minh đường và bình phong cho Kinh thành, cồn Hến và cồn Dã Viên là hai yếu tố tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ hình thành nên các lớp không gian trong tổng thể đô thị Huế.
b) Kinh thành Huế mang kiểu thành lũy Vauban.
Khi đất nước vừa được thống nhất, Nguyễn Ánh muốn xây dựng kinh thành phải vững mạnh, kiên cố, đồng thời phải biểu hiện sức mạnh chính trị và quân sự của mình. Chính vì vậy, kiểu phòng thủ Vauban, kiểu kiến trúc thành lũy điển hình của phương Tây trong thời kỳ đó, theo lối zích zắc lồi lõm được chọn làm kiểu mẫu cho việc xây dựng. Kinh Thành xây theo dạng hình vuông, có tất cả 11 cổng ra vào, 24 pháo đài, tường thành dày và cao, các góc đều có đài quan sát, xung quanh là hệ thống hào nước bao quanh phía trước.
c) Kinh thành Huế kế thừa kiến trúc truyền thống Việt Nam.
Kế thừa những quy luật truyền thống, Kinh thành Huế đã được vua Gia Long chọn địa hình, dựng đồ án; kỹ thuật thi công tường thành, xử lý móng, xây gạch; nghệ thuật trang trí, điêu khắc gỗ, làm ngói men… tương tự như các phương thức xây dựng kiến trúc cổ Việt nam. Một số kiến trúc như lầu cửa, vọng đài, kỳ đài… mang phong cách kiến trúc truyền thống cổ xưa.
3.1.4 Chức năng sử dụng Kinh thành Huế.
Chức năng chính của tòa thành lũy đồ sộ và kiên cố này là dùng để phòng vệ cho tất cả các công trình kiến trúc cung đình và các sinh hoạt của triều đình cũng như gia đình nhà vua ở bên trong phạm vi của nó. Nên ngay từ đầu vua Gia Long đã khảo sát thiết kế kinh thành Huế là tuyến phòng thủ trung tâm, nhà nguyễn cũng tính toán kỹ đến các phương án bị tấn công của quân địch. Nên khi xây dựng Kinh thành nhà vua đã bố trí nhiều chướng ngại vật bằng đường thủy, đường bộ và hệ thống pháo đài (theo kiểu kiến trúc phòng thủ kiểu Vauban). Vòng bảo vệ đầu tiên là Hộ thành Hà. Sông hương là lớp bảo vệ đầu tiên của Nam Kinh thành và vua Gia Long cũng cho đào thêm 3 con sông khác ở các mặt còn lại của kinh thành vào năm 1805. Kế tiếp là lớp hộ thành bằng đất chính là các đường phố xung quanh Kinh thành ngày nay. Vượt qua Hộ thành Hào đối phương sẽ đi qua những cây cầu đá hẹp, hạn chế người qua lại.
3.1.5. Kinh thành Huế và những thay đổi với thời gian.
Từ năm 1802 đến năm 1945, vùng đất Huế là đất Kinh Sư, là Kinh đô của nước Việt Nam thống nhất. Sau năm 1945 quyền lực chính trị chuyển về 2 trung tâm lớn là Hà Nội và Sài Gòn. Vùng đất Huế trở thành Cố đô mà thực chất là một tỉnh của nước Việt Nam lúc bấy giờ là tỉnh Thừa Thiên Huế. Không còn là trung tâm chính trị xã hội và tiềm lực kinh tế không còn thì các công trình trong kinh thành bị đổ nát và bị lãng quên theo thời gian.
Sau năm 1975, kinh thành Huế phải đối mặt với sự thờ ơ của chính quyền, tình trạng vô cảm của người dân đã xâm phạm trực tiếp đến các di tích trong kinh thành ngày cành bị hư hỏng nặng nề hơn.
Ngày 11/12/1993 Quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Có được bước ngoặc như vậy là sự nổ lực rất lớn của nhà nước ta, tỉnh Thừa Thiên Huế và nhận thức đúng đắn của người dân.
3.1.6. So sánh kiến trúc Kinh thành Huế với nguyên mẫu thành Vauban ở Pháp.
3.1.6.1. Những điểm tương đồng.:
3.1.6.2 Khác nhau:
3.2. Vai trò quan trọng của Kinh thành Huế trong bối cảnh đương đại
3.2.1. Thực trạng bảo tồn và sử dụng thành Vauban Huế.
3.2.1.1. Những lợi thế cần phát huy.
Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND thành phố tỉnh Thừa Thiên Huế và bộ văn hóa thông tin, công cuộc bảo tồn di tích đã được triển khai và đã đạt được nhưng kết quả quan trọng: Di sản văn hóa Huế đã vượt qua giai đoạn cứu nguy khẩn cấp và đang từng bước hồi sinh diện mạo ban đầu của Cố đô Huế. Công cuộc bảo tồn di tích Huế chuyển sang giai đoạn ổn định và phát triển bền vững. Những thành tựu chính đạt được:
+ Về công tác bảo tồn di sản kinh thành Huế.
Hầu hết các di sản văn hóa Huế đã vượt qua giai đoạn cứu nguy khẩn cấp và đang từng bước hồi sinh diện mạo ban đầu của Cố đô Huế. Công cuộc bảo tồn di tích Huế được đầu tư mạnh mẽ các công trình kiến trúc kinh thành Huế đã khôi phục nhiều công trình quan trọng thay đổi bộ mặt kinh thành Huế, cơ sở hạ tầng cũng được đầu tư nâng cấp và cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch.
+ Về công tác phát huy giá trị di sản kinh thành Huế.
Việc khai thác và phát huy các giá trị di sản kiến trúc kinh thành Huế là giải pháp tốt nhất để bảo tồn di sản, làm cho di sản sống, hòa nhập vào cuộc sống của xã hội đương đại, có tác dụng giáo dục và nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế, tạo nguồn lợi để bảo tồn di tích. Đặc biệt là đầu tư tu bảo phát triển ngành công nghiệp du lịch và các loại dịch vụ, tạo cơ sở để giải quyết công ăn, việc làm cho người lao động. Trên cơ sở khai thác và phát huy di sản cũng đã tạo điều kiện cho công tác phục hồi các ngành nghề thủ công, các nghi lễ và nghệ thuật truyền thống. Tỉnh Thừa Thiên Huế cũng đã tổ chức thành công các hoạt động và sự kiện văn hóa của vùng đất cố đô Huế với chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển”, Festival Huế, Festival Nghề truyền đã tạo được nhiều tiếng vang và sức thu hút to lớn không chỉ trong nước mà còn trên bình diện quốc tế.
b) Nhược điểm.
+ Về công tác bảo tồn di sản kiến trúc kinh thành Huế.
Ngoài những thành tựu đạt thì thực trạng bảo tồn di tích vẫn còn tồn tại những hạn chế về mặt lịch sử, về tư liệu các di tích, sự xâm hại của môi trường tự nhiên, sự tham gia của cộng đồng vào bảo vệ di sản chưa đạt hiệu quả, thiếu các đội ngũ chuyên gia về bảo tồn và công nhân lành nghề trong công tác trùng tu di tích Huế và nhiều di tích trùng tu, tôn tạo sai lệch với nhiều di tích gốc…
+ Trong công tác phát huy di sản kinh thành Huế.
Việc phát huy di sản còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế như di sản kinh thành Huế phải cạnh tranh trực tiếp với các di sản trong khu vực miền Trung và Tây Nguyên, công tác giáo dục, đào tạo cán bộ cơ sở và người khai thác du lịch chưa được coi trọng, việc sản xuất các mặt hàng đồ lưu niệm chưa thực sự chú trọng và sự mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển chưa nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của gái trị di sản trong quá trình phát triển và đổi mới của đất nước.
3.3.3. Đề xuất bảo tồn và phát huy di sản kiến trúc Kinh thành Huế.
a) Giải pháp về bảo tồn, tu bổ di sản kiến trúc Kinh thành Huế.
* Nguyên tắc chung.
Tuân thủ theo Quyết định 818/QD-TTg phê duyệt dự án điều chỉnh Quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị di tích cố đô Huế, 2010-2020.
* Giải pháp cụ thể.
Thực hiện việc thống kê, kiểm soát số lượng di tích hiện còn tồn tại và cả những di tích đã mất, cắm mốc khoanh vùng khu vực các di tích để tránh tình trạng nhà dân chen lấn đất đai di tích trái phép.
Cần phải nghiên cứu kỹ về kiến trúc, vật liệu xây dựng, họa tiết trang trí, kết cấu công trình, thời gian xây dựng … nhằm làm cơ sở dữ liệu cho các kiến trúc sư, các nhà chuyên môn lĩnh vực trùng tu đề ra giải pháp phù hợp để đưa ra quyết định mức độ can thiệp và các kỹ thuật tu bổ, tôn tạo và trùng tu các di tích công trình kiến trúc kinh thành Huế.
Cần phải xây dựng các quy tắc về công tác bảo tồn, trùng tu các di tích kiến trúc kinh thành Huế theo đúng chuẩn mực quốc gia và quốc tế. Tôn trọng tuyệt đối tính nguyên gốc, giá trị gốc, tính chân thực của di tích.
Ưu tiên sử dụng các vật liệu và kỹ thuật xây dựng truyền thống. Các giải pháp kỹ thuật cần phải có cơ sở, phải dựa trên nguyên cứu khoa học về di tích như khảo sát, phân tích, thí nghiệm vật liệu, kết cấu, nền móng và kỹ thuật xây dựng.
Về tổng kiến trúc, quy hoạch phải phản ánh trung thực hình ảnh, bố cục không gian của các kiến trúc kinh thành Huế như nó vốn có.
b) Giải pháp phát huy các giá trị di sản kiến trúc Kinh thành Huế.
Từ những hạn chế trong công tác phát huy di sản kiến trúc kinh thành Huế. Luận văn đề ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao việc hiệu quả phát huy di sản.
3.3. Các giá trị thành Vauban ở Việt Nam.
3.3.1. Giá trị về kỹ thuật xây dựng.
3.3.2. Giá trị về mặt kiến trúc.
a) Về quy hoạch.
b) Về kiến trúc.
3.1.2. Giá trị về lịch sử.
3.4. Những đóng góp khi nghiên cứu hệ thống thành Vauban tại Việt Nam.
Trình bày lịch sử hình thành và phát triển của thành Vauban tại Pháp
So sánh những điểm giống và khác nhau giữa thành Vauban tại Pháp và Việt Nam làm rõ quá trình tiếp thu và vận dụng tri thức kỹ thuật xây dựng thành lũy phương Tây..
Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị sử dụng kinh thành Huế trong giai đoạn mới.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận:
1. Vauban là tên một kỹ sư công binh người Pháp (1633 – 1707). Sinh thời vào giai đoạn loạn lạc và nội chiến của Pháp, ông sớm thể hiện tài năng của mình trong lĩnh vực khoa học quân sự rồi được phong hàm Thống chế và vào Viện Hàn lâm quốc gia Pháp vào năm 1699. Ông đã cố vấn cho vua Louis XIV củng cố biên giới nước Pháp với một hệ thống 33 tòa thành và 300 đồn lũy, làm cho chúng trở nên bất khả xâm phạm. Ông là người tạo ra kiểu xây dựng phòng thủ quân sự mang tên “thành lũy vững chắc” mà ngày nay người ta thường gọi kiểu thành lũy phòng thủ Vauban.
2. Các thành lũy Vauban ở pháp là một phức hợp các công trình phối hợp chặt chẽ với nhau và có giá trị phòng ngự rất cao bao gồm các bộ phận và những tuyến dùng để bảo vệ và phòng thủ của một thành trì như khu vực trước thành (bastioned), pháo đài (bastion), pháo đài bán nguyệt/ pháo đài góc (demi-lune/ ravelin), pháo đài con (outwork), tường thành (curtain), sườn cánh (flanks)…các bộ phận được sắp theo một hệ thống kiểu một trong ba hệ thống của Vauban.
3. Trong hành trình xây dựng lại sự nghiệp vương triều, Nguyễn Ánh đã gặp gỡ và tiếp thu được những tư tưởng mới của thời đại thời đó. Trong đó có kỹ thuật xây dựng thành lũy mới khác với phong cách truyền thống đã được áp dụng ở thành Gia Định và thành Diên Khánh đã chứng tỏ được vai trò, ưu thế trước nhà Tây Sơn. Tiếp thu và vận dụng triệt để đặc điểm, đặc tính và nguyên tắc phòng thủ của phương Tây (kiểu Vauban), nhưng khi áp dụng vào Việt Nam thì được giảm lượt bớt các chi tiết cho phù hợp với địa hình, khí hậu, kỹ thuật xây dựng và trình độ của con người. Tuy nhiên các yếu tố truyền thống mang đậm dấu ấn văn hóa phương Đông vẫn được tôn trọng, bảo lưu và gìn giữ. Ngoài hệ thống phòng thủ bên ngoài mang dáng dấp kiểu Vauban, bên trong các tòa thành vẫn mang nặng dấu ấn của một trung tâm hành chính có tính chất tượng trưng, biểu tượng cho quyền lực của nhà nước thống trị hơn là thể hiện vai trò quân sự trong chiến đấu, phòng thủ.
4. Kinh thành Huế là cố đô của vương triều nhà Nguyễn là di sản đầu tiên của Việt Nam được công nhận di sản văn hóa thế giới. Các di sản trong và ngoài Kinh thành có vai trò quan trọng, là điểm hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc, là nơi giao lưu các luồng văn minh của nhân loại.
Di tích kiến trúc kinh thành Huế còn tồn tại cho đến ngày hôm nay là minh chứng cho trình độ, trí tuệ của con người Việt Nam. Khi biết vận dụng hai dòng kiến trúc Đông – Tây, cũng như thể hiện các đặc điểm về kỹ thuật xây dựng thành lũy lúc bấy giờ. Bên cạnh các giá trị về mặt kiến trúc, quy hoạch, kỹ thuật xây dựng, giá trị lịch sử và khoa học còn làm đa dạng kiến trúc truyền thống Việt Nam. Nó còn đóng góp quan trọng cho phá triển du lịch tạo động lực phát triển Kinh tế và xã hội Huế. Với những giá trị mà hệ thống thành Vauban mang lại đã và đang tiếp tục khai thác tối ưu mục đích nhằm phục vụ phát triển du lịch của cả nước nhằm quảng bá hình ảnh quá khứ lịch sử kiến trúc công sự của Việt Nam thông qua hệ thống kiến trúc thành Vauban, điều đó đóng góp không nhỏ vào sự phát triển du lịch văn hóa nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung.
Kiến nghị.
1. Đối với trung ương.
– Kiến nghị đưa dự án Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích cố đô Huế vào dự án ưu tiên của Nhà nước nhằm tạo điều kiện chủ động nguồn vốn đầu tư. Nâng cấp đầu tư kinh phí cả về tu bổ công trình, bảo vệ, bảo quản hiện vật và phục hồi các di tích kiến trúc kinh thành Huế. Hiện nay, còn khá nhiều di tích bị xuống cấp do ảnh hưởng của thiên tai khí hậu cần tu bổ và rõ ràng, di sản kiến trúc kinh thành Huế ở Thừa Thiên Huế là tài sản quan trọng của quốc gia, được coi là “quốc gia chi bảo”. Di sản kiến trúc kinh thành Huế sẽ không thể tồn tại và phát triển nếu không có sự tài trợ từ Nhà nước. Chính vì thế, Trung ương cần điều tiết, cốt sao có nguồn vốn kịp thời nhằm đảm bảo cho các công trình thực thi theo kế hoạch, không bị chậm lại hoặc gián đoạn.
– Nhà nước nên xây dựng đề án thiết lập Quỹ quốc gia văn hóa Việt Nam nhằm huy động các nguồn kinh phí, các tài sản hiến tặng. Điều chỉnh một phần lãi ở những đơn vị kinh doanh có lợi nhuận cao để đầu tư cho các di tích kiến trúc kinh thành Huế tiêu biểu đang xuống cấp.
2. Đối với tỉnh Thừa Thiên Huế.
– Đề nghị Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế tăng cường chỉ đạo các ngành phối hợp có các biện pháp cụ thể để thực hiện tốt các nội dung trong quyết định 818/QĐ- TTg ngày 7/6/2010 của Thủ tướng chính phủ về điều chỉnh quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố đô Huế giai đoạn 2010- 2020.
Đề nghị tỉnh chỉ đạo và có chính sách thuận lợi để di dời, giải tỏa một số hộ dân sống trong khu di tích để trả lại tính nguyên vẹn cho khu di tích và thuận lợi cho công tác tu bổ, tôn tạo di tích.
Tại vùng khai thác giá trị kiến trúc Kinh thành Huế phục vụ du lịch. Chính quyền cần có một cơ chế khuyến khích các kiến trúc sư, các nhà khảo cổ học, các nghệ nhân có kinh nghiệm, các chủ đầu tư dự án tổ chức các chuyên đề về khái thác giá trị kiến trúc Kinh Thành Huế. Từ đó làm cơ sở tham mưu cho nhà nước về công tác quản lý, quy hoạch vùng bảo tồn.
Đối với kiến trúc kinh Thành Huế đề nghị các ngành, các cấp vận động nhân dân nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc gìn giữ, tôn tạo và bảo quản. Bởi đây là tài sản vô giá của dân tộc là bằng chứng sống cho các thế hệ sau tìm hiểu và nghiên cứu về văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, kiến trúc …
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\KIEN TRUC\TRAN NGOC DON


