Tác động của nhận thức trách nhiệm xã hội điểm đến du lịch đến hành vi trách nhiệm của người lao động trong lĩnh vực khách sạn tại Đà Lạt
MỞ ĐẦU
Phát triển du lịch đang được nhiều quốc gia trên thế giới coi trọng vì du lịch là động lực để phát triển kinh tế xã hội và là một trong những hoạt động quan trọng nhất trên phạm vi toàn cầu [64, 66]. Theo Sheldon & Park, trên thế giới, các phương thức hoạt động du lịch bền vững ngày càng được quan tâm. Các hoạt động du lịch có thể có những tác động tiêu cực đến một quốc gia. Các tổ chức tìm cách quảng bá và thu lợi nhuận từ du lịch có thể tham gia vào các hoạt động gây suy thoái môi trường do quá đông đúc, tạo ra chất thải, cạn kiệt động vật hoang dã, thiệt hại cho thảm thực vật của điểm đến du lịch [40]. Điều đó góp phần làm ô nhiễm và cạn kiệt tài nguyên điểm đến [39]. Các hoạt động trách nhiệm xã hội (TNXH) của điểm đến du lịch thể hiện cách điểm đến quan tâm đến lợi ích lâu dài của sự phát triển bền vững. Điều này thúc đẩy các bên liên quan có hành vi tích cực hơn [46].
TNXH điểm đến giải quyết việc giảm thiểu các tác động tiêu cực và tăng các tác động tích cực đối với xã hội [20]. TNXH của điểm đến du lịch được xây dựng dựa trên các hoạt động trong quá khứ có ảnh hưởng quan trọng đến thái độ và hành
- của các bên liên quan. Do đó, việc nhận thức được TNXH của điểm đến du lịch của các bên liên quan nói chung và của các tổ chức kinh doanh du lịch trong đó có tổ chức kinh doanh khách sạn nói riêng đóng vai trò quan trọng trong phát triển du lịch [48].
Trong các nghiên cứu trước đây, một số nhà nghiên cứu như Su và Swanson
đã tìm hiểu về TNXH điểm đến du lịch với hành vi trách nhiệm với môi trường của du khách [53], đóng góp của TNXH điểm đến du lịch đối với hành vi trách nhiệm với môi trường của người dân địa phương [54] hay nhận thức TNXH điểm đến ảnh hưởng đến cảm xúc tiêu dùng của du khách [55]. Nghiên cứu gần đây nhất trong năm 2021 của Hassan và Soliman cho thấy vai trò của TNXH điểm đến đối với niềm tin và sự sợ hãi để thực hiện chuyến du lịch của du khách trong đại dịch COVID 19 [27]…. Nhìn chung, có nhiều nghiên cứu chủ yếu thảo luận về mối quan hệ của TNXH điểm đến du lịch với du khách, hay cư dân địa phương; nhưng chưa
1
có nghiên cứu nào thảo luận về TNXH điểm đến du lịch trong mối quan hệ với hành vi của NLĐ trong lĩnh vực khách sạn [62]. Điều này thật sự quan trọng đối với quản lý TNXH điểm đến bởi vì thực hiện TNXH điểm đến là một công việc không thể bỏ qua trên con đường hội nhập và phát triển du lịch; thực hiện tốt điều này không chỉ làm nâng cao khả năng cạnh tranh giữa các điểm đến, phát triển hành vi trách nhiệm của người lao động (NLĐ) phục vụ du lịch nói chung và của NLĐ trong lĩnh vực khách sạn (KS) nói riêng trong việc góp phần phát triển du lịch bền vững tại điểm đến mà còn góp phần phát triển kinh tế địa phương [61]. Tuy nhiên, TNXH điểm đến du lịch vẫn còn là một khái niệm và thang đo chưa được thống nhất giữa các nhà nghiên cứu.
Các nghiên cứu về TNXH điểm đến du lịch trong bối cảnh khác nhau đã tạo ra những đóng góp đáng kể về mặt khái niệm cũng như hướng tới việc hoàn thiện thang đo [60]. Để làm cơ sở cho các nghiên cứu về sau, một số tác giả như Su và Huang [56], Su và Swanson [55], Lee và cộng sự [35] đã tổng hợp những yếu tố của TNXH điểm đến. Kết quả thể hiện, có những yếu tố được sử dụng phổ biến như trách nhiệm môi trường, trách nhiệm văn hóa xã hội, trách nhiệm kinh tế [43]; một số yếu tố khác phụ thuộc vào đặc trưng của mỗi điểm đến như đặc điểm tự nhiên, môi trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên, các chế độ kiểm soát chi phí của các tổ chức quản lý điểm đến, các chính sách mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương, việc cải thiện chế độ phúc lợi chung, cách giải quyết các vấn đề văn hóa xã hội,….
- Điều này càng khẳng định khó có một thang đo TNXH điểm đến du lịch áp dụng chung cho mọi bối cảnh nghiên cứu. Bên cạnh đó, chưa có nghiên cứu nào trước đây tìm hiểu về mối quan hệ giữa TNXH điểm đến với hành vi của NLĐ trong lĩnh vực KS. Vì vậy, nghiên cứu của luận án nhằm tìm hiểu vai trò, mối quan hệ của TNXH điểm đến trong việc tác động đến hành vi có TNXH của NLĐ trong
lĩnh vực KS nhằm góp phần hoàn thiện khái niệm và khung lý thuyết đo lường TNXH điểm đến du lịch.
Nâng cao nhận thức TNXH điểm đến du lịch đang là chủ trương của ngành du lịch Việt Nam và các nhà quản lý doanh nghiệp du lịch nói chung và các doanh
2
nghiệp KS nói riêng trong cả nước [62]. Theo thống kê của báo Lâm Đồng và Tổng cục Du lịch Việt Nam, số lượng cơ sở lưu trú tại Đà Lạt được thống kê vào đầu năm 2021 lên đến 2130 cơ sở và số lượng lao động trong lĩnh vực KS là 9700 người
- NLĐ trong lĩnh vực KS đóng vai trò rất quan trọng đối với TNXH điểm đến du lịch [1]. Vấn đề đặt ra là nếu NLĐ không nhận thức được TNXH điểm đến và hành động một cách bền vững thì sẽ xảy ra hàng loạt các tác động tiêu cực. Đặc biệt, số lượng khách mà KS phải đón tiếp trong những mùa cao điểm là rất đông, và trong quá trình phục vụ số lượng khách đông như vậy thì lượng rác, nước thải ra từ các phòng khách được dọn dẹp, các phòng giặt ủi đồ vải cho KS và các khu vực bếp, nhà hàng chuyên phục vụ ăn uống là rất lớn. Do đó, các nhân viên và nhà quản lý tại các KS cần có nhận thức hành vi có TNXH trong quá trình làm việc để giúp
hạn chế sự ô nhiễm cũng như sự thiếu hụt điện nước tại điểm đến du lịch.
Về khía cạnh xã hội, NLĐ trong lĩnh vực du lịch cần có nhận thức để quan tâm đến sức khỏe và an toàn của khách du lịch khi họ đến cư trú tại KS. Mặt khác, NLĐ trong lĩnh vực KS cần nhận thức về những đóng góp trở lại cho cộng đồng địa phương [64]. Hành động có đạo đức, tuân theo nghĩa vụ pháp lý và đối xử tốt với các bên liên quan là một trong những TNXH điểm đến của các nhà quản lý và nhân viên KS cũng cần được thúc đẩy. Về mặt kinh tế, TNXH điểm đến được thể hiện qua sự thành công của các nhà quản lý trong việc tạo và phân bổ doanh thu du lịch [51]. Đẩy mạnh sự phát triển kinh tế bằng cách các KS, nhà hàng tận dụng các nguồn lực địa phương như lao động, hàng hóa do địa phương cung cấp góp phần cải thiện đời sống và mối quan hệ với cộng đồng. Thể hiện sự lãnh đạo mang tính bền vững của nhà quản lý, hành động mang tính TNXH điểm đến của nhân viên KS góp phần nâng cao uy tín và tạo ra lợi thế đáng kể trong cạnh tranh với những đối tượng không thực hiện các hành động bền vững [67]. Vì vậy, một câu hỏi được đặt ra là “NLĐ trong lĩnh vực KS nhận thức như thế nào về TNXH điểm đến du lịch, và nhận thức đó tác động như thế nào đến hành vi trách nhiệm của họ?”
Cho đến thời điểm hiện nay, theo tìm hiểu của tác giả chưa có nghiên cứu về nhận thức TNXH điểm đến du lịch cho Đà Lạt trong mối quan hệ giữa nhận thức
3
TNXH điểm đến du lịch với hành vi trách nhiệm của NLĐ trong lĩnh vực KS. Trong khi đó, TNXH điểm đến du lịch được chứng minh có những đóng góp rất quan trọng trong việc duy trì, phát triển bền vững điểm đến du lịch góp phần làm tăng kết quả, hiệu quả hoạt động kinh doanh du lịch [65]. Vì vậy, cần thiết phải có nhiều nghiên cứu cùng chủ đề về việc vận dụng khung lý thuyết đa dạng để có thể đánh giá toàn diện TNXH điểm đến du lịch Đà Lạt và vai trò của nhận thức TNXH điểm đến tới hành vi của NLĐ trong lĩnh vực KS.

Xuất phát từ tình hình trên, đề tài “Tác động của nhận thức trách nhiệm xã hội điểm đến du lịch đến hành vi trách nhiệm của người lao động trong lĩnh vực khách sạn tại Đà Lạt.” được chọn làm luận án Tiến sĩ của tác giả.
4
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ TNXH ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH
1.1. Khái niệm cơ bản về TNXH điểm đến du lịch
Khái niệm TNXH điểm đến du lịch được bắt nguồn từ TNXH doanh nghiệp. TNXH doanh nghiệp coi trọng TNXH và nghĩa vụ doanh nghiệp ngoài lợi nhuận của chủ sở hữu dựa trên nền tảng xây dựng lợi ích chung giữa các bên liên quan về lâu dài, đồng thời giảm thiểu các tác động tiêu cực của tổ chức. TNXH doanh nghiệp tập trung vào ba lĩnh vực: kinh tế, xã hội và môi trường [18].
Về mặt khách quan, các doanh nghiệp du lịch cần áp dụng các sáng kiến TNXH để giảm thiểu các tác động tiêu cực của tăng trưởng du lịch [13]. Do đó, các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu TNXH của các doanh nghiệp du lịch như các công ty dịch vụ du lịch, KS, nhà hàng,…Tuy nhiên, khái niệm TNXH doanh nghiệp không hoàn toàn phù hợp với bối cảnh điểm đến du lịch, bởi vì TNXH điểm đến du lịch liên quan đến tất cả các bên có liên quan và đòi hỏi nổ lực tập thể của họ để thúc đẩy tính bền vững của điểm đến [14]. Trong khi TNXH doanh nghiệp tập trung vào một doanh nghiệp thì TNXH điểm đến xem xét nổ lực tập thể của tất cả các bên liên quan như các tổ chức quản lý điểm đến, doanh nghiệp, cư dân địa phương từ một góc độ tổng thể. Với sự khác biệt trên, Su và cộng sự đưa ra khái niệm TNXH điểm đến du lịch để mô tả ý thức tập thể và nổ lực của các bên liên quan để thực hiện các hoạt động có TNXH điểm đến du lịch [55].
Sự phát triển bền vững của một điểm đến đòi hỏi sự tham gia và hợp tác của tất cả các bên liên quan bao gồm cả nhà nước và tư nhân, du khách, NLĐ sẽ xem TNXH điểm đến là kết quả của nổ lực tập thể của tất cả các bên liên quan [37]. Nếu một doanh nghiệp tham gia làm những việc nhỏ để giảm thiểu lãng phí thì chúng ta có thể không nhận thấy được tác động của các hành vi trách nhiệm của họ. Tuy nhiên, nếu mỗi cá nhân và các công ty tại điểm đến thực hiện phần việc của mình để giảm thiểu chất thải và các tác động tiêu cực thì các tác động tổng hợp sẽ rất đáng kể [21]. Do đó, TNXH điểm đến trong luận án này là sự đánh giá tổng thể về tất cả
5
các hoạt động có TNXH của các bên liên quan từ quan điểm của NLĐ trong lĩnh vực KS.
TNXH điểm đến hiện nay vẫn còn là một khái niệm chưa được thống nhất giữa các nhà nghiên cứu do xuất phát từ góc nhìn khác nhau. Su đã mở rộng TNXH điểm đến tập trung vào các khía cạnh trách nhiệm môi trường, trách nhiệm xã hội, trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm văn hóa, các bên liên quan và tự nguyện [54]. TNXH điểm đến bao gồm các hoạt động của các bên liên quan nhằm bảo vệ, cải thiện lợi ích xã hội và môi trường của toàn bộ điểm đến bên cạnh lợi ích kinh tế của các tổ chức các nhân [28]. TNXH điểm đến là việc các tổ chức quản lý điểm đến và các nhà cung cấp dịch vụ du lịch phải hành động có trách nhiệm mang lại lợi ích cho xã hội bằng việc quan tâm đến những đóng góp trở lại cho cộng đồng địa phương, hành động có đạo đức, quan tâm đến vấn đề an toàn sức khỏe trong hoạt động du lịch, đối xử tốt với các bên liên quan; có trách nhiệm với môi trường hay thành công trong việc phân bổ doanh thu du lịch địa phương [52].Trong đó, tổ chức quản lý điểm đến được xem là tổ chức phối hợp nhiều yếu tố cấu thành của sản phẩm du lịch; cung cấp các dịch vụ du khách và cấu trúc thông tin cần thiết để tiếp thị điểm đến một cách dân chủ nhất nhằm nâng cao phúc lợi cho người dân [64].
Theo Su và Huang [52], TNXH điểm đến du lịch là nghĩa vụ và hoạt động của các bên liên quan của một điểm du lịch. Các bên liên quan này bao gồm người lao động, các nhà cung cấp dịch vụ du lịch, các doanh nghiệp du lịch, chính quyền địa phương, cộng đồng địa phương, khách du lịch. Bên cạnh đó, các bên liên quan cần cải thiện và đảm bảo lợi ích của điểm đến như lợi ích môi trường, xã hội, kinh tế.
TNXH điểm đến là tư tưởng tập thể và nổ lực của các bên liên quan đến điểm đến để thực hiện các hoạt động có trách nhiệm với xã hội [56].
TNXH điểm đến du lịch thể hiện trách nhiệm của các bên liên quan tại điểm đến nhằm tạo ra các lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương, nâng cao đời sống của cộng đồng và giảm các tác động tiêu cực đến môi trường, xã hội, kinh tế và văn hóa. TNXH điểm đến có thể cải thiện được các tác động du lịch tích cực, đồng thời làm suy yếu các tác động du lịch tiêu cực [40].
6
Nhìn chung, TNXH điểm đến là sự hợp tác của tất cả các bên liên quan trong việc bảo tồn và phát triển bền vững điểm đến du lịch. TNXH điểm đến không đo lường các hoạt động TNXH của các bên liên quan một cách riêng lẻ mà là sự đánh giá tổng thể các hoạt động có TNXH của các bên liên quan [51]. Nghiên cứu này tập trung đánh giá TNXH điểm đến theo quan điểm của NLĐ trong lĩnh vực KS và mức độ ảnh hưởng của nhận thức TNXH điểm đến du lịch đến hành vi trách nhiệm của họ.
Tổng hợp quan điểm TNXH điểm đến từ các tác giả Su và cộng sự [52, 51, 55, 56], Lee và cộng sự [37], He và cộng sự [28], TNXH điểm đến du lịch bao gồm các yếu tố trách nhiệm môi trường, xã hội, kinh tế và văn hóa. Mô hình hình thành TNXH điểm đến được thể hiện qua Hình 1.1.

Trách nhiệm
môi trường
| Trách nhiệm | TNXH điểm | Trách nhiệm | |
| xã hội | đến du lịch | ||
| kinh tế | |||
Trách nhiệm
văn hóa
Hình 1.1. Các yếu tố cấu thành TNXH điểm đến du lịch
(Nguồn: Su và cộng sự [54])
7
1.2. Khái niệm các bên liên quan
Các bên liên quan của điểm đến du lịch là các cá nhân hay tổ chức có ảnh hưởng, có liên quan đến điểm đến hay sự phát triển của điểm đến. Các bên liên quan là cụm từ chỉ những cá nhân liên quan tác động từ bên ngoài và bên trong của điểm đến. [47].
Theo nghĩa hẹp, các bên liên quan được xem như là tác nhân của tổ chức. Theo nghĩa rộng, các bên liên quan là bất kỳ nhóm hoặc cá nhân nào có thể tác động hoặc bị ảnh hưởng bởi việc đạt được mục đích của tổ chức [49]. Lý thuyết các bên liên quan chỉ ra rằng các cá nhân và nhóm khác nhau có thể hỗ trợ và ảnh hưởng đến tổ chức, đồng thời có thể được hỗ trợ và tác động qua lại bởi tổ chức [51].
Theo Su [54], các bên liên quan của điểm đến du lịch bao gồm: tổ chức quản lý điểm đến du lịch, NLĐ, các nhà cung cấp dịch vụ du lịch, các doanh nghiệp du lịch, chính quyền địa phương, cộng đồng địa phương, khách du lịch.Trong đó, tổ chức quản lý điểm đến được xem là tổ chức phối hợp nhiều yếu tố cấu thành của sản phẩm du lịch; cung cấp các dịch vụ du khách và cấu trúc thông tin cần thiết để tiếp thị điểm đến một cách dân chủ nhất nhằm nâng cao phúc lợi cho người dân [64].
Tóm lại: các bên liên quan của điểm đến du lịch gồm: NLĐ phục vụ du lịch nói chung và NLĐ trong lĩnh vực KS nói riêng, tổ chức quản lý điểm đến du lịch, các nhà cung cấp dịch vụ du lịch, chính quyền địa phương, cư dân địa phương và khách du lịch.
1.3. Khái niệm hành vi người lao động trong lĩnh vực khách sạn
1.3.1. Khái niệm hành vi và hành vi trách nhiệm của người lao động
Theo Bùi Anh Tuấn và cộng sự [2], hành vi của con người là cách thể hiện, suy nghĩ của một người ra bên ngoài thông qua hành động, cử chỉ, trạng thái trong một hoàn cảnh nhất định và trong một khoảng thời gian cụ thể. Hành vi có thể bị chịu tác động từ hai yếu tố cơ bản là yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan. Yếu tố khách quan là môi trường sống, môi trường làm việc, môi trường giáo dục,….Yếu tố chủ quan là khả năng nhận thức cũng như khả năng điều chỉnh hành vi của mỗi
8
người là khác nhau. Hành vi của con người nói chung, của NLĐ nói riêng có thể phân ra thành hành vi tổ chức và hành vi ngoài tổ chức.
Hành vi tổ chức là hành vi của con người trong tổ chức (còn được gọi là NLĐ). Hành vi đó được chi phối và quyết định bởi sự nhận thức, thái độ, năng lực của bản thân NLĐ. Hành vi tổ chức bao gồm hành vi và thái độ của cá nhân, tương tác của hành vi và thái độ cá nhân với tổ chức [2].
Hành vi tổ chức nghiên cứu hành vi, thái độ của NLĐ liên quan tới công việc và nó phải diễn ra trong tổ chức. Hành vi tổ chức hướng tới việc xem xét mối quan hệ giữa NLĐ với tổ chức trong những vai trò khác nhau của NLĐ trong tổ chức đó [67].
Hành vi ngoài tổ chức là hành vi của NLĐ KS nằm bên ngoài tổ chức, không thuộc phạm vi quản lý của tổ chức. Hành vi này được chi phối và quyết định bởi nhận thức, thái độ, trí tuệ của NLĐ. Hành vi bên ngoài tổ chức chịu ảnh hưởng của môi trường sống, giáo dục và năng lực của mỗi cá nhân NLĐ [15].
Tóm lại: Hành vi của NLĐ trong lĩnh vực KS là cách suy nghĩ, thể hiện của một cá nhân ra bên ngoài thông qua hành động, cử chỉ, trạng thái trong một hoàn cảnh nhất định và thời gian cụ thể. Hành vi thường chịu tác động của hai yếu tố khách quan và chủ quan. Hành vi của NLĐ trong KS phân ra làm hai loại là hành vi trong tổ chức và hành vi ngoài tổ chức.
Hành vi trách nhiệm được mô tả là bất kỳ hành vi nào mà cá nhân sẽ thực hiện để bảo tồn hay giải quyết các vấn đề liên quan đến trách nhiệm đó [54].
Trong nội dung nghiên cứu của luận án, hành vi trách nhiệm của NLĐ trong lĩnh vực KS được giới hạn ở hành vi vì môi trường và hành vi xã hội của NLĐ.
1.3.2. Hành vi vì môi trường
Hành vi có trách nhiệm với môi trường được mô tả là nổ lực của cá nhân để bảo tồn môi trường bằng cách tìm kiếm các biện pháp giải quyết các vấn đề liên quan đến môi trường [28]. Hành vi có trách nhiệm với môi trường dành cho lao động du lịch nói chung và NLĐ trong lĩnh vực KS nói riêng liên quan đến việc giảm thiểu các hoạt động có hại cho môi trường và thể hiện cam kết bảo vệ môi
9
trường. Điều này có nghĩa là hành vi có trách nhiệm với môi trường của NLĐ có thể góp phần giảm thiểu, ngăn chặn sự tàn phá đối với môi trường tự nhiên [37].
Theo Iwata [31], trách nhiệm môi trường có thể phản ánh qua nhiều hành vi như thu hồi chất thải, quản lý tiêu thụ năng lượng thông qua những khía cạnh như tái chế rác, tham gia những hoạt động giảm thiểu tác động đến môi trường như thực hiện chiến dịch xanh trong các cơ sở lưu trú, tham gia bảo vệ môi trường trong cộng đồng và giáo dục cho NLĐ trong lĩnh vực KS nhận thức về môi trường.
Lee và cộng sự [38], cho rằng, hành vi có trách nhiệm với môi trường bao gồm bốn khía cạnh: hành động công dân, giáo dục, tái chế và hành động thuyết phục.
Theo Steg và cộng sự [50], hành vi môi trường là một tập hợp các hành động làm giảm tác động tiêu cực của môi trường và góp phần phát triển bền vững một điểm đến du lịch.
Nhìn chung, hành vi trách nhiệm với môi trường là nổ lực của cá nhân để bảo tồn môi trường bằng cách tìm kiếm các biện pháp giải quyết các vấn đề liên quan đến môi trường nhằm làm giảm tác động tiêu cực của môi trường và góp phần phát triển bền vững điểm đến [58].
1.3.3. Hành vi xã hội
Hành vi xã hội là hành vi giữa hai hoặc nhiều người và bao gồm bất kỳ hành
- nào trong đó một thành viên ảnh hưởng đến người khác. Điều này là do sự tương tác giữa các thành viên [24]. Hành vi này có thể được thực hiện bởi phẩm chất của cá nhân và các yếu tố môi trường. Do đó, hành vi xã hội là kết quả của sự tương tác giữa con người nói chung và NLĐ trong lĩnh vực KS nói riêng với môi trường xung quanh. Điều này có nghĩa là, liên quan đến NLĐ, hành vi xã hội có thể được xác định bởi cả đặc điểm cá nhân của NLĐ với tình huống tại chỗ [57].
Hành vi xã hội hay còn gọi là hành vi có trách nhiệm xã hội là một lý thuyết đạo đức, trong đó các cá nhân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân của mình, và các hành động của một cá nhân phải mang lại lợi ích vì mục tiêu phát triển của xã hội [16]. Hành vi xã hội được xây dựng dựa trên hệ thống đạo đức. Hành vi
10
xã hội chịu tác động của cảm xúc bằng cách tạo ra nhiều hành vi giúp đỡ, hợp tác và xã hội [30].
Hành vi xã hội là những hành động có đạo đức và tuân theo nghĩa vụ pháp lý, đối xử tốt với các bên liên quan [52]. Hành vi xã hội thể hiện qua việc quan tâm đến vấn đề sức khỏe và an toàn trong các hoạt động du lịch [54]. Hành vi xã hội của NLĐ trong lĩnh vực KS còn là những hoạt động, thái độ phục vụ thể hiện sự chuyên nghiệp, tri thức và văn minh trong mối quan hệ tương tác giữa nhân viên KS và du khách.
Theo Penner và cộng sự, hành vi xã hội là bất kỳ hành động nào được thực hiện bởi một bộ phận xã hội hoặc nhóm xã hội quan trọng có lợi cho người khác [44].
Tóm lại: Hành vi xã hội là tổng hợp những hành động có đạo đức, quan tâm đến vấn đề sức khỏe và an toàn trong quá trình phục vụ du lịch của NLĐ. Bên cạnh đó còn phải thực hiện đối xử tốt với các bên liên quan, đặc biệt là với du khách.
1.4. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến TNXH điểm đến du lịch ở trong nước
Nghiên cứu TNXH điểm đến du lịch là một khía cạnh còn khá mới mẻ chưa được nghiên cứu nhiều tại Việt Nam. Các nghiên cứu trong nước cho đến thời điểm hiện nay chủ yếu chỉ tập trung nhiều vào TNXH doanh nghiệp. Các nghiên cứu về TNXH doanh nghiệp trong nước theo thống kê của tác giả như sau:
Lê Thanh Tiệp nghiên cứu về ảnh hưởng của TNXH và sự gắn bó nhân viên đến kết quả hoạt động các doanh nghiệp phía Nam [5]. Nghiên cứu xác định được mức độ tác động giữa các nhân tố TNXH, sự gắn bó nhân viên và kết quả doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy TNXH doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến sự gắn bó nhân viên. Từ đó, mở ra một cái nhìn mới cho các doanh nghiệp phía Nam muốn nhân viên gắn bó với doanh nghiệp thì phải thực thi TNXH đầy đủ.
Nguyễn Thanh Hùng nghiên cứu về mối quan hệ giữa thực tiễn quản trị nguồn nhân lực, TNXH và kết quả hoạt động kinh doanh tại các doanh nghiệp chế biến thực phẩm đồng bằng sông Cửu Long [7]. Nghiên cứu đã phân tích được mối quan hệ giữa thực tiễn quản trị nguồn nhân lực và TNXH đến cam kết tổ chức và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
11
Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Quân về TNXH của các doanh nghiệp số đối với vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân khách hàng trong kỷ nguyên 4.0: Nhìn từ khía cạnh pháp lý và thực thi [8]. Kết quả nghiên cứu đã hệ thống hóa một số quan điểm bảo vệ dữ liệu cá nhân gắn với TNXH của doanh nghiệp số, quy định pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân ở Việt Nam, tình hình bảo vệ dữ liệu cá nhân trên mạng, doanh nghiệp trong vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân khách hàng.
Lê Phước Hương và Lưu Tiến Thuận tìm hiểu về TNXH của doanh nghiệp – tổng hợp một số vấn đề và đề xuất nghiên cứu [6]. Bài báo tổng kết 135 bài báo khoa học liên quan đến chủ đề TNXH doanh nghiệp, cụ thể là thảo luận về nguồn dữ liệu, các khung lý thuyết, đánh giá kết quả nghiên cứu, đo lường TNXH doanh nghiệp theo các bên liên quan và đề xuất các hướng nghiên cứu trong tương lai. Bài viết tập trung doanh nghiệp vừa và nhỏ, bổ sung các biến trung gian, cũng như tập trung vào đối tượng khách hàng nhằm tối đa hóa lợi ích từ các hoạt động TNXH doanh nghiệp.
Nguyễn Ngọc Hiền và Nguyễn Trọng Hoàng Thái nghiên cứu về các yếu tố tác động đến nhận thức và thái độ của khách hàng đối với hoạt động TNXH doanh nghiệp [9]. Kết quả cho thấy hình ảnh nước xuất xứ thương hiệu, hình ảnh nước sản xuất, danh tiếng và niềm tin đều có ảnh hưởng tích cực đến nhận thức TNXH doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nhận thức TNXH doanh nghiệp là trung gian tác động của hình ảnh nước xuất xứ thương hiệu và niềm tin đến thái độ của khách hàng.
Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Thắng về TNXH doanh nghiệp gắn với quản trị nhân sự [10]. Nghiên cứu đã đề xuất quy trình hướng dẫn dành cho các giám đốc nhân sự và giám đốc chiến lược phối hợp trong việc lồng ghép các chính sách quản trị nhân sự với TNXH doanh nghiệp nhằm mục đích thúc đẩy và tạo ra lợi ích cho cả doanh nghiệp và xã hội.
Nguyễn Thị Lanh và Phạm Thị Ngọc Trâm tìm hiểu về các nhân tố tác động đến việc thực hiện TNXH của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam [11]. Kết quả nghiên cứu thông qua phương trình hồi quy Binary Logistic cho thấy trong bốn nhân tố được kiểm định là nhân lực, vốn, thể chế bắt buộc từ Nhà nước và kiến thức
12
về TNXH doanh nghiệp thì chỉ có hai nhân tố tác động đến việc thực hiện TNXH doanh nghiệp đó là nhân lực và vốn. Trong đó, nguồn nhân lực là nguyên nhân chính tác động đến việc thực hiện TNXH doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.
Nguyễn Hữu Khôi nghiên cứu về TNXH và ý định nghỉ việc: Kiểm định tác động trực tiếp và gián tiếp trong bối cảnh Việt Nam [12]. Nghiên cứu đã khám phá ảnh hưởng trực tiếp của biến số TNXH doanh nghiệp đến ý định nghỉ việc của nhân viên cũng như đề xuất cơ chế tác động gián tiếp của TNXH doanh nghiệp đến ý định nghỉ việc qua hai biến số trung gian là sự gắn kết và sự căng thẳng. Kết quả cho thấy các giả thuyết trong nghiên cứu được chấp nhận và nghiên cứu đã có những đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn quản trị nguồn nhân lực.
Một nghiên cứu duy nhất ở trong nước liên quan đến TNXH điểm đến du lịch là nghiên cứu của Mai Thị Kiều Lan và Hoàng Trọng Hùng về ảnh hưởng của nhận thức TNXH điểm đến du lịch đến ý định quay trở lại của du khách tại Đà Lạt [3]. Nghiên cứu này cho thấy rằng TNXH điểm đến tác động tích cực đến sự yêu thích điểm đến và sự hài lòng của du khách. Sự yêu thích điểm đến có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòng và gắn bó với điểm đến của du khách, từ đó ảnh hưởng tích cực đến ý định quay trở lại của du khách. Tuy nhiên, nghiên cứu này tập trung vào ý định hành vi của du khách trong mối quan hệ giữa TNXH điểm đến với việc hành thành ý định quay trở lại điểm đến.
Tóm lại, TNXH điểm đến chưa được chú trọng ở nghiên cứu trong nước. Các nghiên cứu trong nước mới chủ yếu dừng lại ở nghiên cứu TNXH doanh nghiệp. Tuy nhiên, đây là tiền đề để tiếp tục phát triển nghiên cứu TNXH điểm đến du lịch cho phù hợp với bối cảnh du lịch hiện nay.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TÀI LIỆU 2024/ Đề cương luận án Du lịch – TÁC ĐỘNG CỦA NHẬN THỨC TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH ĐẾN HÀNH VI TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC KHÁCH SẠN TẠI ĐÀ LẠT

