Sự vận động trong truyện ngắn Ma Văn Kháng

Sự vận động trong truyện ngắn Ma Văn Kháng

Sự vận động trong truyện ngắn Ma Văn Kháng

1. Lý do chọn đề tài

1.1. Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Ma Văn Kháng được đánh giá là một đại biểu tinh anh, từng được mệnh danh là “người khuấy động văn đàn Việt Nam hiện đại” và là một trong những nhà văn góp phần không nhỏ cho sự nghiệp đổi mới văn học. Với nguồn cảm hứng và khát vọng sáng tạo nghệ thuật, hơn nửa thế kỉ cầm bút, cho đến hôm nay, Ma Văn Kháng đã để lại một thành tựu văn chương đồ sộ, ghi dấu ấn giá trị nhất định trong văn học sử nước nhà.

1.2. Thành công của Ma Văn Kháng được kết tinh ở cả hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết. Cùng với tiểu thuyết, truyện ngắn đã in đậm cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Với Ma Văn Kháng, quá trình sáng tác tự nhiên cũng như việc con người hít thở để sinh tồn. Theo đó, từ tác phẩm đầu tay “Phố cụt” ra đời năm 1961 cho đến các truyện ngắn sau này, người đọc nhận thấy một Ma Văn Kháng luôn có sự dịch chuyển, đổi mới trong tư duy nghệ thuật. Đó thực sự là những bước đi chắc chắn, hướng đến mục đích cao cả của văn chương là khơi lên những nguồn sáng giá trị cho con người và cuộc đời.

1.3. Trước và sau đổi mới (1986), truyện ngắn Ma Văn Kháng đã có sự vận động một cách rõ nét. Nếu như sáng tác ở giai đoạn trước chủ yếu viết về cuộc sống con người miền núi, thì ở giai đoạn sau, truyện ngắn của ông tập trung viết về những đa đoan, phức tạp của cuộc sống thị thành và nông thôn. Bên cạnh đó, nhà văn đã có những bước đột phá trong nhận thức và lí giải đời sống.

1.4. Nghiên cứu truyện ngắn Ma Văn Kháng, chúng tôi mong muốn có cái nhìn xuyên suốt về chiều sâu tư tưởng nghệ thuật và những đóng góp của nhà văn cho nền học Việt Nam hiện đại. Đồng thời, việc triển khai luận văn còn có ý nghĩa thiết thực trong lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy sau này. Chính điều đó đã thôi thúc chúng tôi triển khai thực hiện đề tài Sự vận động trong truyện ngắn Ma Văn Kháng. 

2. Lịch sử vấn đề:

Cho đến nay, các tác phẩm văn học của Ma Văn Kháng đã được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học quan tâm, tìm hiểu và khám phá. Bên cạnh đó là những ý kiến đánh giá và các công trình nghiên cứu về các sáng tác truyện ngắn của nhà văn được đăng tải trên các sách báo và tạp chí. Liên quan đến phạm vi khảo sát của đề tài , đáng chú ý là công trình nghiên cứu, các bài viết tiêu biểu của Bùi Việt Thắng, Trần Bảo Hưng, Lã Nguyên, Nguyễn Ngọc Thiện…

Có thể nói, những đánh giá của các học giả, nhà nghiên cứu và công chúng về tác phẩm cũng như chặng đường sáng tác của Ma Văn Kháng rất sâu sắc. Dù xuất phát từ những góc độ khác nhau, trong những giai đoạn khác nhau nhưng các ý kiến đều thống nhất đánh giá Ma Văn Kháng là một trong những đại diện xuất sắc thuộc thế hệ nhà văn thứ ba đóng vai trò tiền trạm cho công cuộc đổi mới văn học. Tuy nhiên, chưa thực sự có một công trình mang tính hệ thống hoặc khảo sát một cách kĩ lưỡng về sự vận động trong truyện ngắn của ông. Vì vậy, luận văn này hy vọng sẽ mang lại một cái nhìn sâu sắc hơn về sự vận động, cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng. 

3. Mục đích nghiên cứu

Khái quát, khẳng định được chiều sâu tư tưởng, giá trị nhân văn và những đóng góp to lớn của nhà văn này với nền Văn học Việt Nam hiện đại; qua đó thấy được bước chuyển mình của Văn học Việt Nam nói chung. Đồng thời, việc nghiên cứu vấn đề nói trên sẽ góp phần bổ sung vào việc đánh giá một cách hoàn chỉnh khái quát những thành tựu nổi bật của truyện ngắn Ma Văn Kháng trong nền văn xuôi đương đại. 

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là Sự vận động trong truyện ngắn Ma Văn Kháng được biểu hiện qua các phương diện: đề tài, hình tượng nhân vật và những cách tân nghệ thuật.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Những truyện ngắn của Ma Văn Kháng trước và sau thời kì đổi mới (1986). Ngoài ra, luận văn còn khảo sát một số truyện ngắn của các tác giả khác liên quan đến phạm vi nghiên cứu đề tài.

5. Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu, căn cứ vào nội dung, yêu cầu của đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

– Phương pháp cấu trúc – hệ thống

– Phương pháp tiếp cận thi pháp học

– Phương pháp phân tích, tổng hợp.

– Phương pháp so sánh, đối chiếu

– Phương pháp lịch sử

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Tìm hiểu “ Sự vận động trong truyện ngắn Ma Văn Kháng”, chúng tôi mong rằng sẽ góp thêm tiếng nói mới và cái nhìn toàn vẹn hơn về quá trình vận động tư tưởng nghệ thuật của nhà văn.Từ đó góp phần khẳng định phong cách nghệ thuật Ma Văn Kháng và sự đóng góp to lớn của ông trên thi đàn văn học nước nhà.

7. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai gồm 3 chương:

Chương 1: Sự vận động trong truyện ngắn Ma Văn Kháng nhìn từ phương diện đề tài

Chương 2: Sự vận động trong truyện ngắn Ma Văn Kháng nhìn từ cảm hứng sáng tạo hình tượng nhân vật

Chương 3: Sự vận động trong truyện ngắn Ma Văn Kháng nhìn từ phương diện nghệ thuật thể hiện

Sự vận động trong truyện ngắn Ma Văn Kháng
Sự vận động trong truyện ngắn Ma Văn Kháng

CHƯƠNG 1

SỰ VẬN ĐỘNG TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN ĐỀ TÀI

1.1. Từ vùng biên ải thời kì đấu tranh xây dựng đất nước

1.1.1. Xứ sở hoang sơ và dữ dội

Khảo sát sơ bộ các truyện ngắn Ma Văn Kháng trong quá trình sáng tác, chúng ta có thể nhận thấy, từ những ngày đầu, với cảm hứng sử thi, ông đã có những khám phá bất ngờ đầy thú vị trước vẻ hoang sơ, hùng vĩ của núi rừng cũng như sự hồn nhiên chân chất của người dân Tây Bắc. Bằng khả năng quan sát và ý thức tìm tòi sáng tạo, nhà văn luôn thể hiện những điều mới mẻ ở khả năng chiếm lĩnh hiện thực đề tài miền núi.

Tiếp cận những sáng tác của Ma Văn Kháng, người đọc nhận thấy ông không viết về miền núi phía Bắc nói chung mà hướng mọi sự chú ý về vùng biên ải với không gian mang tính chất sử thi. Trong các truyện ngắn về miền núi, nhà văn đã phát họa một xứ sở hoang sơ và dữ dội. Miền núi Tây Bắc luôn hiện ra không gian hoang vắng, ghê rợn, gợi một nỗi sợ hãi bởi cái hoang sơ, u ám. Có thể nói, thiên nhiên nơi đây được nhà văn nhìn từ cái nhìn lịch sử, lịch sử nguyên sơ tự thuở ban đầu của con người. Thiên nhiên ấy là nơi ngự trị của sự hoang sơ, rừng rú, của những con người sống và hành động theo bản năng. Không những thế, ở vùng biên ải, con người cũng mang nét hoang sơ như thiên nhiên, bản năng con người hòa vào tự nhiên mộc mạc của núi rừng, có cái ác tồn tại mang tính bản thể thật giản đơn. Ma Văn Kháng còn miêu tả nơi đây là vương quốc tự do của bản năng tàn bạo. Ở đó, “những bản năng bán khai” được buông phóng không còn giới hạn.

Khi miêu tả sự hoang sơ và bản tính tàn bạo của đời sống rừng rú, bút lực của Ma Văn Kháng trở nên dữ dội, mạnh mẽ khác thường. Biên ải vốn là vùng đất dữ dội vì đó là nơi diễn ra liên miên “những cuộc chinh chiến, sát phạt tàn hại giữa các bầy đoàn, phe cánh”. Bản tính tàn bạo, rừng rú, bản năng đao phủ lại luôn luôn được dung dưỡng, buông phóng phục vụ cho những cuộc sát phạt, tàn hại lẫn nhau ấy. Cho nên, đất biên ải càng trở nên baọ liệt được thể hiện rõ nét qua từng trang viết.

1.1.2. Vùng đất yên bình, gắn với vẻ đẹp ngàn đời

Ở giai đoạn đầu, nhìn chung truyện ngắn Ma Văn Kháng chủ yếu được viết theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Khảo sát những tác phẩm viết về vùng biên ải, chúng ta không khỏi ngỡ ngàng khi bên cạnh vẻ hoang sơ và dữ dội là vẻ yên bình, gắn với vẻ đẹp ngàn đời. Nơi ấy hiện lên với vẻ đẹp thơ mộng, tự nhiên, hoang dại làm say đắm lòng người. Đọc truyện ngắn của ông, độc giả sẽ đắm say với những cảnh đẹp gắn liền với các địa danh Y Tí, U Ní, Sa San Chải. Con người miền núi với lối sống giản dị trong không gian làng bản với khung cảnh thiên nhiên yên bình. Ở giai đoạn sau này, từ chốn thị thành, Ma Văn Kháng vẫn viết về miền núi với tất cả sự hoài niệm về vùng đất đẹp đến mê người.

Cùng với vẻ yên bình của cảnh quan thiên nhiên là nét sinh hoạt gắn với vẻ đẹp ngàn đời của vùng đất này. Gắn liền với nét nét sinh hoạt của người dân miền núi là những phong tục tập quán mang đặc trưng riêng. Người Tày với “ những đám cưới còn giữ nguyên phong tục cổ truyền”. Người dân Y Tí với những đêm sinh hoạt nơi hội quán ở đầu làng Lao Chải. Ma Văn Kháng còn đưa người đọc đến với tập tục đi săn vào mùa xuân của các dân tộc thiểu số miền núi ở Tây Bắc. Những buổi đi săn thật náo nhiệt với không khí hào hứng vui vẻ trong tinh thần đoàn kết, gắn bó của con người miền núi. Không phải là một nhà văn thường viết về các phong tục như Tô Hoài nhưng tác giả đã giúp người đọc khám phá rất nhiều phong tục tập quán lạ, mang đậm bản sắc của người dân tộc.

Ma Văn Kháng còn nhìn về con người miền núi với ngòi bút ngợi ca về tấm lòng nhân hậu. Họ luôn biết nương tựa vào nhau, yêu thương đoàn kết. Có thể khẳng định, ở giai đoạn đầu trong hành trình sáng tác, truyện ngắn Ma Văn Kháng là những bức tranh sinh động đầy màu sắc về cuộc sống đồng bào các dân tộc. Các sáng tác của ông đã làm sống dậy một vùng lãnh thổ miền núi phía Bắc vừa hoang sơ dữ dội, vừa bình yên gắn với vẻ đẹp ngàn đời, vừa cụ thể vừa gần gũi. Nhìn lại chặng đường sáng tác văn chương của nhà văn, ta nhận ra đó là cả một quá trình lao động miệt mài không ngừng nghỉ, tự vươn lên để tự khẳng định mình.

1.2. … đến chốn thị thành thời cơ chế thị trường

1.2.1. Nơi cuộc sống phồn tạp, đa đoan, vụn vỡ

Nhìn lại chặng đường sáng tác của Ma Văn Kháng, có thể thấy truyện ngắn của ông chia thành hai mảng khá rõ rệt: giai đoạn đầu gắn với những sáng tác về miền đất và con người vùng biên ải; giai đoạn sau là sự trải nghiệm, tìm tòi với mảng đề tài cuộc sống nơi thành thị. Cuộc sống đô thị với hiện thực bề bộn, phức tạp đã được phản ánh một cách chân thực vào trang văn mang hơi thở mới mẻ, đem đến nhiều biến đổi rõ rệt trong đề tài sáng tác. Sự biến đổi này không chỉ đơn giản là hệ quả của sự chuyển đổi địa bàn sinh sống của nhà văn mà đó còn là kết quả của một sự thay đổi căn bản trong tư duy nghệ thuật của người cầm bút. Trong sự khám phá những ngả đường thể nghiệm mới, Ma Văn Kháng với sự mẫn cảm trước đòi hỏi cuộc sống đã trăn trở thầm lặng mà quyết liệt. Hòa chung vào sự vận động của văn xuôi đương đại, những năm 80, truyện ngắn Ma Văn Kháng mang nhiều dấu ấn của tư duy tiểu thuyết; vừa có sự vận động theo xu hướng chung của văn học dân tộc, lại vừa có sự vận động riêng trong chính quá trình sáng tác của nhà văn.

Có thể nói, đây là một bước chuyển lớn khi nhà văn dám đối diện và đào xới sự thật một cách trọn vẹn. Ông không hề né tránh các vấn đề bức xúc của đời sống xã hội nhìn dưới góc độ đạo đức, nhân sinh. Ngòi bút của Ma Văn Kháng không chỉ miêu tả hiện thực mà còn phân tích, cắt nghĩa, lí giải đời sống xã hội bằng những hình tượng nhân vật. Sự tha hóa, băng hoại về đạo đức, nhân phẩm của con người đang bị đồng tiền chi phối ngay cả trong cơ quan, nhà trường, trong các quan hệ xã hội và ngay trong bản thân mỗi gia đình, mỗi con người được nhà văn thẳng thắn vạch trần. Ông khai phá mảng hiện thực này với một thái độ không khoan nhượng, che giấu những cái xấu cái ác, những suy nghĩ manh nha, những quan niệm đối lập nhau trong xã hội. Nhà văn như phơi bày xung đột quyết liệt giữa hai khuynh hướng, hai lối sống: sống cho tốt hơn và sống cho sướng hơn.

Trong các truyện ngắn, Ma Văn Kháng đã tái hiện một hiện thực đời sống của con người nơi thành thị trong buổi giao thời với những phồn tạp, đa đoan, khó khăn đầy bất trắc. Con người phải bươn chải, tìm mọi cách để lo cho cuộc sống hằng ngày. Họ được đặt trong đủ mọi mối quan hệ như: quan hệ gia đình, quan hệ xóm giềng, quan hệ thầy trò, quan hệ đồng nghiệp, bè bạn, quan hệ yêu đương, và rất nhiều quan hệ khác mà ở đó, những mâu thuẫn gay gắt nảy sinh từ bản tính ích kỉ thâm căn cố hữu trong mỗi con người được nhà văn phản ánh một cách trung thực. Từ đó, đời sống trong cơ chế thị trường hiện lên khá đa dạng và phức tạp. Cuộc sống đời thường với những vụn vỡ xuất hiện ngày ngày trong mọi ngóc ngách và không gian thành thị. Con người đang dần dần bị chi phối bởi lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền mà quên đi mọi đạo lý. Nhà văn đã báo động, rung lên hồi chuông cảnh tỉnh một thực trạng đau lòng của xã hội thời đổi mới, lo ngại về một cuộc sống phồn tạp với căn bệnh đang ngày càng phát triển: bệnh lãnh cảm, thờ ơ, lạnh lùng trước nỗi đau của đồng loại.

Chốn thị thành trong buổi giao thời của đất nước chuyển mình luôn ẩn hiện bao cảnh nhếch nhác, đốn mạc đến thảm hại. Hệ thống giá trị cũ đứng trước sự đổi thay như vũ bão của thời đại, sự va đập tất yếu với những luồng văn hóa, tư tưởng ngoại nhập khiến những giá trị xác tín, những hiện thực tất yếu của thời đại đã qua khiến người ta hoài nghi. Xã hội khó phân biệt rạch ròi yêu – ghét, đúng – sai, con người hoang mang, mất phương hướng và thậm chí là đổ vỡ niềm tin về hiện thực cuộc sống vốn đang đảo lộn từng ngày. Ông đã chiếu cái nhìn hiện thực về một bức tranh chân thực đậm nét về “ một nhân thế đang phai lạt nhân tình”. Nếu như trước đây, Ma Văn Kháng chỉ phản ánh được một vài khía cạnh của hiện thực thì giờ đây, bằng sự chiêm nghiệm sâu sắc, bằng sự nghiên cứu nghiêm túc đối tượng phản ánh, nhà văn đã dựng lại bức tranh chân thực và rộng lớn với tất cả sự đa dạng của hiện thực đời sống phong phú và phức tạp; đa đoan, vụn vỡ trong sự đan xen của cái cao cả và cái thấp hèn, cái thiện và cái ác.

1.2.2. Nơi cuộc sống an nhiên, thấm đượm nghĩa tình

Ở mảng đề tài thành thị, Ma Văn Kháng không chỉ đề cập đến sự phức tạp, đa đoan, trong bức tranh hiện thực xô bồ mà còn hướng ngòi bút của mình về không gian phố phường với tất cả tình cảm nồng hậu. Trong chốn thị thành với những đa đoan, vụn vỡ ấy, nhà văn cảm nhận được những âm thanh vui nhộn, trong trẻo của đủ mọi kiếp người đang làm ăn sinh sống. Một dòng chảy sinh động, tươi vui trong lòng không gian phố phường được nhà văn phát họa với tất cả sự chân thật và tinh tế của một tâm hồn nhạy cảm. Ở đó, những con người lao động đã tạo nên sự phong phú, đa dạng, nhiều hình, nhiều vẻ của đời sống, “ phù hợp với cái hăm hở vốn có của con người”

Dù cho cuộc sống thường nhật có hỗn độn đến thế nào chăng nữa và thế thái nhân tình có bạc bẽo đến đâu, Ma Văn Kháng vẫn luôn thể hiện niềm tin vào bản thể con người với một tinh thần lạc quan, nhân hậu. Vì thế, trong những truyện ngắn của ông, chúng ta nhận ra sự đồng cảm, ngợi ca vẻ đẹp của cuộc đời bình dị, vẻ đẹp được cất lên từ sự ấm áp nghĩa tình của con người. Tình người ấy hiện hữu trong mọi mối quan hệ. Đó có thể là tình làng nghĩa xóm tối lửa tắt đèn có nhau. Đó còn là sự thân tình, xuề xòa mà ấm áp của những người lao động dưới đáy của xã hội. Ma Văn Kháng đã chỉ ra cuộc sống an nhiên, thấm đượm nghĩa tình.

Trong các truyện ngắn về đề tài thành thị của Ma Văn Kháng, không gian phố phường được tái hiện rõ nét với tất cả sự phong phú, đa dạng và sinh động. Hơi thở của cuộc sống thường nhật đi vào những trang văn tự nhiên, bình dị. Nhà văn đã khám phá, phát hiện cuộc sống an nhiên, thấm đượm nghĩa tình của con người.

Tiểu kết

Sự vận động trong truyện ngắn Ma Văn Kháng diễn ra đồng thời với sự phát triển chung của văn học Việt Nam. Sự thay đổi lớn lao về mọi mặt của đất nước và đặc biệt là chủ trương “ mở cửa”, “ cởi trói”, “ nhận thức lại hiện thực, nhìn thẳng vào sự thật” của Đảng đã tạo nên sự chuyển biến toàn diện trong lĩnh vực văn học.

Hiện thực đã khác trước. Dịch chuyển phạm vi nhận thức và phản ánh hướng vào hiện thực đời sống hằng ngày, nhà văn chú ý nhiều đến đời sống cá nhân của mỗi người. Con người vẫn được đặt trong quan hệ với hoàn cảnh lịch sử xã hội, tuy nhiên, nhà văn xem hoàn cảnh lịch sử xã hội chỉ là cái nền để khai thác những khía cạnh của số phận cá nhân trong trăn trở đời thường, trong quan hệ với gia đình, những người xung quanh, với chính bản thân mình.

Chính hiện thực cuộc sống xã hội, con người ấy đã khơi nguồn sáng tạo cho Ma Văn Kháng, là một trong những nguyên nhân tạo ra sự vận động trong truyện ngắn của ông và hàng loạt nhà văn khác trong giai đoạn này. Bên cạnh đó, sự dịch chuyển địa bàn sinh sống, sự từng trải, dày dặn cả về kinh nghiệm sống, bản lĩnh cùng sự vững chãi về tay nghề lẫn sự học hỏi không ngừng, tìm tòi nghiên cứu cũng đã góp phần to lớn làm cho ngòi bút ngày càng sắc bén, có sự bức phá lớn của chính mình, tạo nên sự chuyển biến trong sáng tác của nhà văn để hòa chung vào dòng chảy văn học nước nhà.

CHƯƠNG 2

SỰ VẬN ĐỘNG TRONG TRUYỆN NGẮN MA VĂN KHÁNG

NHÌN TỪ CẢM HỨNG SÁNG TẠO HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT

2.1. Truyện ngắn Ma Văn Kháng với những cảm hứng xót xa, đau đớn về số phận con người trước thế sự nhân sinh

2.1.1. Con người sinh ra “không hề biết đến hạnh phúc”

Khi viết về đề tài miền biên ải, nhà văn đã bày tỏ nỗi xót xa cho thân phận con người giữa chốn hoang sơ, dữ dội, bạo liệt của miền núi thuở mới khai thiên. Họ là những con người sinh ra mà không biết đến niềm hạnh phúc được làm người. Trong chốn biên ải dữ dội và bạo liệt, bao quanh cuộc sống của con người là núi rừng, muông thú, trình độ văn minh và giới hạn văn hóa ở đây đang còn xa lại với con người. Thật xót xa khi những con người lương thiện dường như chưa bao giờ được hưởng niềm vui trọn vẹn, thậm chí những niềm hạnh phúc đơn sơ trong cuộc sống. Từ những con người cụ thể, nhà văn gợi lên những vấn đề có ý nghĩa khái quát về cuộc sống và con người miền núi còn nhiều hoang sơ ấu trĩ, tăm tối trong nhận thức và hiểu biết. Qua đó, nhà văn đã có cái nhìn xót xa thương cảm cho sự mông muội của kiếp người, ông hướng sự thể hiện đến những kẻ chưa được hoặc không được làm người nơi núi rừng hoang sơ. Họ là những số kiếp sinh ra “ không hề biết đến hạnh phúc”.

Đau đớn thay, những con người sinh ra “ không hề biết đến hạnh phúc ấy” đâu chỉ tồn tại ở chốn rừng nuí mông muội mà họ còn xuất hiện đầy rẫy khắp nơi, cả chốn thị thành hoa lệ. Đọc truyện Ma Văn Kháng, chúng ta còn thấm thía những bi kịch của số phận kiếp người. Họ chưa bao giờ cảm thấy hạnh phúc khi mà sự thiếu thốn, khốn khó của cuộc sống vật chất cứ bám lấy họ từng ngày. Đâu chỉ có bi kịch về sự túng quẫn và thiếu thốn vật chất, con người còn chìm trong nỗi đớn đau với những tấn bi kịch tinh thần. Đó là bị kịch với nỗi đau đớn của con người nhận ra những người xung quanh mình, thậm chí cả bản thân mình đang từng ngày bị tha hóa trong cuộc hành trình tuyệt vọng chạy trốn nợ đời.

Thông qua việc xây dựng những nhân vật có số kiếp sinh ra “ không hề biết đến hạnh phúc”, nhà văn thể hiện sự đồng cảm, sẻ chia và niềm xót thương cho những số phận bất hạnh trước thế sự nhân sinh. Có thể nói, mỗi nhân vật đều đã để lại nỗi ám ảnh, day dứt trong lòng người đọc.

2.1.2. Con người gắn với chuỗi ngày lầm lạc, tha hóa

Theo dòng chảy và sự phát triển chung của văn học nước nhà, ngòi bút Ma Văn Kháng đã quan tâm đến những biểu hiện phức tạp, đa chiều của con người cá nhân. Bắt đầu từ những năm 1980, dường như tư duy tiểu thuyết đã chi phối đến những sáng tác của nhà văn. Ông đã có cách nhìn mới trong quan niệm về con người. Từ vị trí ngoại biên ở giai đoạn trước, con người đời tư được tác giả đưa vào đường hoàng trở thành nhân vật trung tâm của bức tranh văn học. Hình tượng nhân vật cũng vận động theo sự chuyển đổi của xã hội, phát triển theo mạch nguồn chung của truyện ngắn.

Từ sự nhận thức của mình trước hiện thực cuộc sống với bao tồi tệ, nhếch nhác, sự suy đồi về đạo đức, Ma Văn Kháng không thể đứng ngoài cuộc, dửng dưng trước hiện thực tha hóa, nguội lạnh của con người trước người thân, bạn bè, đồng loại. Ma Văn Kháng đã phản ánh sâu sắc bản chất con người bị biến chất, xuống cấp về đạo đức vì tiền – tình, tha hóa trong các mối quan hệ luân thường vì một chút ghen ghét, đố kị, ích kỉ thâm căn. Con người ngày càng xấu xa, độc ác bởi sự băng hoại nhân cách. Nhà văn đã tinh tế bóc tách lớp vỏ che đậy của sự tha hóa trong những hoàn cảnh cụ thể, phân tích mọi dạng tồn tại của các kiểu tha hóa và lật xới tìm hiểu những biểu hiện khác nhau của chúng. Đó có thể là tha hóa về đạo đức, về lối sống, về tinh thần, dục vọng, quyền lực…

Từ việc quan tâm đến những vẫn đề lớn lao của lịch sử dân tộc, nhà văn đã chuyển hướng sang chú ý đến những vấn đề của đời thường. Khi viết về cuộc sống đời thường, tác giả đặc biệt quan tâm đến vấn đề thân phận con người.

Từ khát vọng hướng đến giá trị chân, thiện, mĩ, bằng những chiêm nghiệm và trải nghiệm của bản thân, bằng từ duy tiểu thuyết, Ma Văn Kháng đã có cái nhìn thẳng thắn, đấu tranh không khoang nhượng với sự xuống cấp của đạo đức con người. Nhìn con người như một thực thể đa nhân cách, phức tạp và bất toàn, đi ngược lại lối lý tưởng hóa, nhà văn đã dựng lên một hình tượng nhân vật lầm lạc, tha hóa chân thực, sống động, phức tạp như tính chất bề bộn, đa dạng và bất ổn của cái cuộc sống thực đang diễn ra hằng ngày.

2.1.3. Con người mang phận người “cay đắng giữa thế thái nhân tình”

Khi đời sống xã hội chuyển từ cơ chế bao cấp sang nền kinh tế thị trường có nhiều biến động, phức tạp thì số phận con người trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà văn. Từ những thay đổi của thời cuộc, ông cũng có những trăn trở, băn khoăn và suy ngẫm của riêng mình. Nhiều tác phẩm của ông đã hướng tới miêu tả số phận của những con người bình thường với những bi kịch của cuộc đời họ. Ông luôn ý thức “ đào sâu bản thể”, khám phá tận cùng ngọn nguồn sự đa tạp trong đời sống cá nhân, thậm chí đi đến cùng nguyên nhân mang tới hạnh phúc cũng như khổ đau của họ. Đây được xem là sự vận động, đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn với việc khám phá số phận cá nhân, lấy số phận cá nhân làm khởi điểm.

Trong thời buổi kinh tế thị trường, thói đời bạc bẽo ẩn hiện ở bất cứ nơi đâu khiến cho bao phận người rơi vào “ cay đắng giữa thế thái nhân tình”. Vì lòng vị kỉ, con người ghen ghét, đố kị và gieo cho người khác bao đớn đau. Không biết bao nhiêu người là nạn nhân của thói ích kỉ như một thứ thuốc độc gặm nhấm, giết dần nhân tính tốt đẹp. Về một khía cạnh nào đó, con người không thể sống yên ổn với đồng loại.

Từ sự nhận thức của mình trước hiện thực cuộc sống với bao nhếch nhác trong xã hội, sự suy đồi về đạo đức con người, Ma Văn Kháng đã phản ánh sâu sắc bản chất con người bị biến chất ở từng ngóc ngách. Từ đó, ông phơi bày “ sự phai lạc của thế thái nhân tình” đang tồn tại, hoành hành trong mỗi con phố ngõ hẽm, luồn lách vào từng gia đình. Truyền thống đạo lí bị phá vỡ khiến con người phải đớn đau trong cách hành xử bất nhân của những người xung quanh.

Viết về những phận người “ cay đắng giữa thế thái”, Ma Văn Kháng đã chỉ ra phần nào bản chất sâu xa của cuộc sống và mặt trái của xã hội kim tiền. Thông qua việc xây dựng những nhân vật này, nhà văn thể hiện tiếng nói xót thương cho những số phận bất hạnh, tạo ra nỗi day dứt khôn nguôi trong lòng người đọc.

2.2. Truyện ngắn Ma Văn Kháng gắn với cảm hứng ngợi ca nhiệt thành về con người và cuộc đời

2.2.1. Con người thi vị, mang vẻ đẹp truyền thống

Nằm trong dòng chảy chung của văn học Việt Nam trước năm 1975 và hoàn cảnh lịch sử lúc vận mệnh đất nước đang đặt lên hàng đầu, truyện ngắn của Ma Văn Kháng mang tính sử thi. Ở giai đoạn này, truyện ngắn của ông là những bức tranh sinh động đầy màu sắc về cuộc sống của đồng bào các dân tộc vùng Tây Bắc. Hình ảnh người dân miền núi hiện lên qua những trang viết với tình yêu quê hương xứ sở, sự trung thực thật thà, say mê, yêu đời và nhiệt tình cách mạng. Nhà văn luôn tin tưởng con người miền núi mang nhiều phẩm chất tốt đẹp. Sau bề ngoài mộc mạc là vẻ đẹp của đồng bào các dân tộc được nhà văn luôn ý thức và say mê khám phá. Vẻ đẹp truyền thống của các nhân vật được biểu hiện ở tấm lòng vàng, sự chân chất, chịu thương chịu khó trong lao động, giàu lòng tự trọng. Dẫu cho cuộc sống có nhiều thay đổi thì những nét đẹp đó vẫn trường tồn theo thời gian.

Với một tâm hồn nhạy cảm và sự quan sát tinh tế, nhà văn nhận ra một sức sống mãnh liệt tiềm tàng đằng sau những bản làng ám sương khói, cũ kĩ, xa xăm. Nơi ấy có những con người dũng cảm, thông minh, yêu làng bản một cách nguyên sơ nhất, đầy tự do và ý chí nghị lực. Người dân miền núi đâu chỉ mông muội và hoang dã, họ còn sống trách nhiệm và đầy tính nhân văn với những suy nghĩ đáng trân trọng.

Như vậy, ở đề tài miền núi, trước đây nhà văn phản ánh cuộc sống lao động, chiến đấu của đồng bào dân tộc. Ở giai đoạn sau, ông khai thác đề tài này trên một bình diện mới: phản ánh, đề cập những vấn đề về cuộc đời và số phận con người. Ma Văn Kháng đã hòa nhập, thấu hiểu cuộc sống vùng Tây Bắc. Vì vậy, ở các sáng tác của ông, người đọc bắt gặp những con người miền núi hiền lành thật thà, luôn giàu tình cảm yêu thương trong vùng đất mang vẻ đẹp ngàn đời. Không nằm ngoài dòng chảy chung của văn học trước đổi mới, nhà văn soi chiếu hiện thực đời sống trên cùng cảm hứng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Vì vậy, chúng ta vẫn bắt gặp sự đơn thanh, độc thoại trong các tác phẩm; sự đơn điệu, lặp lại chủ đề tư tưởng tác phẩm, trong cách nhìn nhân vật thuần nhất, chưa đậm nét, trong tính cách còn đơn giản, đơn tuyến. Đây là hạn chế của Ma Văn Kháng và cũng là hạn chế chung của thời kỳ văn học lúc bấy giờ.

Không chỉ có những tiêu cực, cặn bã, xã hội còn có những tình cảm xúc động, cao đẹp, khơi dậy niềm tin của con người vào một xã hội mới tốt đẹp hơn. Trong các truyện ngắn Ma Văn Kháng, bên cạnh những kẻ đê tiện, bỉ ổi, còn có những nhân vật không hề bị thay đổi bản chất dù tồn tại giữa cuộc đời đầy cạm bẫy bon chen. Họ là minh chứng cho sự tồn tại bền vững của cái đẹp, cái thiện. Viết về người phụ nữ, nhà văn đã gợi tả những phẩm chất cao đẹp của họ một cách rất bình dị mà tràn đầy ý nghĩa. Ông chú ý đến vẻ đẹp tâm hồn theo lí tưởng thẩm mĩ công, dung, ngôn, hạnh, đạo đức truyền thống trong lối sống. Hầu hết họ rất đảm đang và chịu thương chịu khó. Họ gánh trên vai trách nhiệm thật nặng nề: vừa sinh con đẻ cái, nuôi nấng và dạy dỗ chúng nên người, vừa hoàn thành công việc xã hội và đảm bảo cuộc sống mưu sinh cơm áo gạo tiền. Bên cạnh đó, một hình tượng nhân vật được tồn tại như một thực thể sinh động trong truyện ngắn Ma Văn Kháng là người trí thức. Ma Văn Kháng cũng chủ yếu viết về những người lao động trí óc như nhà văn, nhà giáo, nhà báo, một cán bộ nghỉ hưu…Hình tượng nhân vật người trí thức được xây dựng như những người thức ngộ, thấu hiểu sự đời. Họ là những con người đầy lòng tự trọng, vừa có tài lại vừa có tâm, có học vấn cao, có sự hiểu biết sâu rộng. Họ luôn khát khao hướng tới chân, thiện, mĩ trong đời. Đã từng là một nhà giáo, Ma Văn Kháng luôn hiểu rõ và trân trọng những phẩm cách của con người này. Vì thế, ông luôn dành những trang viết trân trọng vẻ đẹp và ngợi ca những người đứng trên bục giảng.

2.2.2. Con người cải biên thực tại, vượt lên thế sự

Sau khi đất nước được giải phóng, văn học đã bắt đầu có sự mở rộng quan niệm về hiện thực rồi dần dần dịch chuyển từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự đời tư. Trong cảm hứng đó, các sáng tác của Ma Văn Kháng đã có sự cảm nhận đời sống và con người trên những tọa độ mới, với những cung bậc mới phong phú và đa dạng hơn.

Trong truyện ngắn Ma Văn Kháng, ông thường đặt nhân vật vào những tình huống, hoàn cảnh éo le để nhân vật lựa chọn cách sống của mình. Nhà văn thường tạo ra tình huống lựa chọn để nhân vật hành động, cải biến thực tại. Một số nhân vật sống hồn nhiên theo lẽ đời, tin ở nghị lực bản thân. Dù gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống nhưng họ không bao giờ chịu khuất phục trước những bất hạnh mà mình gặp phải. Ma Văn Kháng có phần ưu ái với kiểu nhân vật vượt lên thế sự này. Họ luôn hướng về chân, thiện, mỹ; sống và hành động theo tiếng gọi của cái đẹp. Các nhân vật đối nhân xử thế trên cơ sở cái đẹp của tính người và tình người để vượt lên trên những thói thường của cuộc đời vốn đa đoan đa sự.

Khảo sát các tác phẩm của Ma Văn Kháng, ta nhận thấy các nhân vật thường rơi vào những trắc trở và bất công. Nhà văn luôn hướng họ đến việc tự ý thức vượt qua những rào cản vô lí của cái xấu, cái tráo trở trong xã hội để cải biên thực tại, vượt lên thế sự, hướng tới những căn cốt, nền tảng của đạo lý, văn hóa làm nên cốt cách đầy giá trị nhân bản. Trong các truyện ngắn, dù miêu tả con người ở góc độ nào chăng nữa, Ma Văn Kháng cũng luôn hướng về bản chất tốt đẹp của con người. Cuộc đời đầy những thăng trầm biến động, dằng dặc nỗi buồn thương, cay đắng, xót xa bởi sự tồn tại bao nhiêu điều phi lí, đưa con người vào ngõ cụt, mọi ước mơ, khát vọng tốt đẹp của con người bị chông chênh. Dẫu thế, nhà văn vẫn luôn nhìn thấy nỗ lực của con người nhằm đi đến một niềm tin, một lý tưởng để cho sự tồn tại của mình trở nên có ý nghĩa. Vì vậy, nhân vật của ông luôn hành động để cải biến thực tại, không chấp nhận buông xuôi tuyệt vọng, mà ngược lại, “ biết cách sống cả trong những hoàn cảnh khủng khiếp nhất”. Nhà văn luôn thể hiện niềm tin sâu sắc vào bản chất tốt đẹp của con người. Họ sống hồn nhiên theo lẽ đời, tin ở bản năng và tiềm thức, tin ở nghị lực của bản thân. Họ không bao giờ khuất phục trước những bất hạnh, tai ương, không bao giờ chịu đầu hàng số phận mà luôn đi tìm một giải pháp mới. Họ luôn tin ở lý trí và luôn mang khát vọng và hành động để cải biến hoàn cảnh, vượt lên trên thế sự đa đoan, phức tạp đảo điên để ứng xử một cách đường hoàng và khẳng định mình.

2.2.3. Con người nghĩa tình, hạnh phúc trước cuộc sống mới

Bên cạnh đó, trong truyện ngắn Ma Văn Kháng, người đọc nhận ra những nét đẹp nhân bản ngời sáng, những con người nghĩa tình, hạnh phúc trước cuộc sống mới. Đó là tấm lòng nhân ái, bao dung của chú bé Kiểm. Nhà văn đã khắc họa chú bé có nhân cách cao đẹp này bằng giọng điệu ngợi ca và trái tim yêu thương. Không chỉ đề cập đến tình cảm tốt đẹp trong mối quan hệ gia đình, truyện ngắn Ma Văn Kháng còn thể hiện tình thầy trò. Khi chứng kiến thầy Khiển bị trù dập, anh Ngôn lớp trưởng đã đưa ba đứa con thầy về sống cùng vợ chồng anh. Họ đã vô cùng lo lắng và thương cho người thầy đáng kính trước thực tế đầy bất công.

Trong truyện ngắn Ma Văn Kháng, chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp của con người, tình người ngay trong công việc lao động hằng ngày và cách ứng xử của những con người bình thường. Hai người đàn bà trong cuộc đời anh Thiều ( Anh thợ chữa khóa) ở vào tình cảnh chồng chung, vậy mà họ không có những cuộc đánh ghen tàn bạo. Chính tình yêu sâu sắc tẩm hương phụng thờ đã hàn gắn đau thương, vượt qua ranh giới hận thù khiến hai người đàn bà xích lại gần nhau. Hằng ngày, họ cùng nhau chăm sóc và sống trong bầu không khí gia đình ấm cúng rộn rã tiếng trẻ thơ. Chính nghĩa tình đã làm cho “ con người lại bó bệnh với nhau” vượt qua những cách biệt tầm thường. Hạnh phúc, sự an nhiên trong cuộc đời nhiều khi giản dị làm sao.

Tiểu kết

Ma Văn Kháng có cách nhìn, cách nghĩ khác nhau về cuộc sống, về con người ở mỗi giai đoạn văn học. Trước đây, cũng như nhiều tác giả cùng thời, nhìn chung những nhân vật trong các sáng tác của ông mang đặc điểm cá tính, những hiện tượng tâm lý chưa đầy đặn và trọn vẹn. Sau này, những vấn đề đời tư được tạm gác lại trong giai đoạn trước lại được đặt ra cụ thể với sự thôi thúc quyết liệt hơn. Với cảm hứng thế sự, tính cách nhân vật của Ma Văn Kháng ngày càng trở nên phức tạp và có tính đa trị. Cách nhìn con người và sự sáng tạo hình tượng nhân vật có sự chuyển biến lớn. Con người được soi chiếu dưới nhiều góc độ khác nhau của cuộc sống đời thường. Từ việc xây dựng các hình tượng nhân vật cho thấy Ma Văn Kháng rất tỉnh táo trong sự nhìn nhận con người. Trong quan niệm nghệ thuật về con người, Ma Văn Kháng bước đầu đã có những thể nghiệm mới. Nhà văn có một cái nhìn cởi mở, phát hiện những góc độ khác nhau, thậm chí đối lập nhau về con người và cả trong một con người để hiểu được con người một cách toàn diện hơn. Ma Văn Kháng muốn khẳng định: dù cuộc sống muôn màu muôn vẻ và đôi khi lẩn quẩn với bao toan tính thấp hèn, những tha hóa trong nhân cách con người thì chìm dưới mạch ngầm của nó vẫn là chiều sâu của căn cốt tình người, những giá trị tiềm tàng của con người như một vùng sâu thẳm chưa bao giờ khám phá hết.

Cùng với nhiều nhà văn khác như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng là một trong những nhà văn tiên phong trong sự nghiệp đổi mới văn học. Những sáng tác của ông mở ra nhiều dấu hiệu mới trong phương thức chiếm lĩnh hiện thực, trong sự lý giải và thể hiện con người. Từ giai đoạn mang tính sử thi sang thế sự đời tư, quan nhiệm về con người trong sáng tác của ông có những chuyển biến rõ nét. Bên cạnh con người công dân, con người tập thể, con người chính trị, nhà văn đã bổ sung thêm con con người cá thể có số phận riêng, có thế giới nội tâm tiềm thức, bản năng riêng. Cách nhìn của nhà văn không còn đơn giản, sơ lược . Tính cách nhân vật không còn sự đơn nhất như trước. Trong các truyện ngắn ở giai đoạn trước, dường như mỗi nhân vật được nhìn ở khía cạnh con người của công việc phận sự, thể hiện một cách đánh giá, minh họa cho một ý đồ nào đó của nhà văn. Tính cách của nhân vật được nhà văn xây dựng nổi bật chứ chưa đi sâu vào miêu tả nội tâm. Đời sống nội tâm nếu được nói đến cũng chỉ là khoảnh khoắc suy nghĩ thoáng qua chứ chưa có chiều sâu duy lý. Trong các truyện ngắn ở giai đoạn sau, nhà văn quan tâm ở khía cạnh con người cá nhân, con người đời tư. Bên cạnh những nhân vật có tính cách đơn nhất và ổn định còn xuất hiện những nhân vật có tính cách phức tạp và có đời sống nội tâm hết sức phong phú. Ông có cái nhìn rất đầy đủ về con người qua những trang viết cảm động và chân thực, khiến người đọc luôn cảm thấy day dứt, xót xa và đồng cảm với số phận các nhân vật đang rơi vào bế tắc, cùng hy vọng và vui mừng cho những con người tìm thấy lẽ sống, niềm tin trong cuộc sống. Qua đó, ta thấy cái nhìn của nhà văn về con người chân thực hơn gần gũi và toàn diện hơn.

CHƯƠNG 3

SỰ VẬN ĐỘNG TRONG TRUYỆN NGẮN MA VĂN KHÁNG

NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN

3.1. Nghệ thuật tổ chức cốt truyện

3.1.1. Từ sử dụng phép tương phản, liệt kê tăng cấp

Theo dõi quá trình sáng tác của Ma Văn Kháng, người đọc nhận thấy dạng thức cốt truyện trong truyện ngắn của ông có sự biến chuyển phức tạp. Trong quá trình phát triển, truyện ngắn Ma Văn Kháng những năm 80, cách phản ảnh hiện thực, tư duy nghệ thuật thông qua việc tạo dựng cốt truyện có những đổi mới đáng kể. Song về cơ bản, nhiều tác phẩm vẫn chưa thực sự thoát ra khỏi khung cốt truyện truyền thống. Tuy vậy, nó đã báo hiệu và tạo tiền đề cho sự đột phát từ năm 1986. Nhà văn không còn cố gắng tái hiện một câu chuyện sao cho mạch lạc, đồng nhất với hiện thực, mà đã biết hướng tới đối tượng bạn đọc, cắt nghĩa câu chuyện bằng lôgic đời sống, quan tâm đến đổi mới cách viết, cách kể và cách xây dựng cốt truyện. Đôi khi, tác giả không bằng lòng với việc miêu tả, đánh giá con người một cách đơn giản nữa mà thay vào đó là sự đa dạng ở nhiều phương diện.

Ma Văn Kháng đã sử dụng phép tương phản, đối lập để tạo cốt truyện. Trong một số truyện ngắn, cốt truyện được tạo dựng qua sự tương phản đối lập giữa các nhân vật. Đó là sự tương phản về chân dung, tính cách, học vấn, văn hóa, lối sống…Từ hàng loạt các chi tiết, sự kiện mang tính đối lập, tác giả để người đọc tự xác định vấn đề nội dung tư tưởng được thể hiện. Với cái nhìn của tư duy tiểu thuyết, khai thác chiều sâu ý nghĩa của sự vật, hiện tượng, khám phá cuộc sống từ nhiều bình diện khác nhau, nhà văn như lách sâu hơn vào ngõ ngách đời sống tinh thần, tìm ra những nguyên nhân và quy luật khắc nghiệt của tồn tại xã hội. Ma Văn Kháng đào sâu bản thể cuộc sống, truy tới cùng ngọn nguồn sự đa tạp trong cuộc sống, thậm chí đi đến cùng mọi nguyên nhân đem tới hạnh phúc cũng như khổ đau, bất hạnh của con người.

Trong sự phát triển nhất quán của truyện ngắn Ma Văn Kháng, chúng ta luôn thấy ông dụng tâm xây dựng sự đối lập trong chân dung, tương phản trong lối sống, nhân phẩm. Vì vậy, mặc dù không có nhiều tình huống dẫn đến đỉnh điểm, song truyện ngắn của nhà văn họ Đinh luôn hấp dẫn, thể hiện sâu sắc về nội dung tư tưởng. Bên cạnh việc sử dụng thủ pháp tương phản, để tạo nên các lớp nội dung tư tưởng phong phú trong tác phẩm, nhà văn còn sử dụng kết hợp nghệ thuật liệt kê tăng cấp. Có thể nói,“ cách liệt kê các câu chuyện, sự kiện cùng loại quay quanh một vấn đề trung tâm không hề khiến cho câu chuyện trở nên nhàm chán, trái lại, bởi nó xảy ra trong những hoàn cảnh, địa vị khác nhau của nhân vật nên nó vẫn tạo những bất ngờ, hứng thú với người đọc khi theo dõi cốt truyện” .

3.1.2… đến sử dụng không gian tâm trạng

Không chỉ dừng lại ở những câu chuyện có cốt truyện tương phản, liệt kê tăng cấp mang tính truyền thống với hệ thống sự kiện là cốt lõi của tác phẩm, một trong những nét đặc sắc trong cách dựng truyện của Ma Văn Kháng là sử dụng không gian tâm trạng để tạo cốt truyện. Ở cách xây dựng này, cốt truyện được xây dựng đơn giản đến độ nó gần như là không có chuyện bởi ở đây tác giả sử dụng một bối cảnh không gian, không khí, tâm trạng chung làm nền cho câu chuyện hoặc là chất keo kết dính các chi tiết, sự kiện, các câu chuyện nhỏ lại với nhau. Truyện thường có cốt truyện lỏng, chất truyện mờ nhạt, phân tích nội tâm trở thành phương tiện nghệ thuật chủ yếu trong cách thức xây dựng cốt truyện. Trong cách xây dựng cốt truyện, nhà văn không chỉ đơn giản là kể lại sự việc, trình bày sự việc mà muốn khơi sâu vào thế giới tâm hồn con người.

3.1.3. Sử dụng linh hoạt các yếu tố dân gian:

Với xu hướng tiểu thuyết hóa, nhà văn đã thể nghiệm những cách tân về kĩ thuật truyện ngắn. Bên cạnh những cốt truyện có bố cục chặt chẽ gợi cảm giác về một thế giới được định hình trong những khuôn mẫu cố định, Ma Văn Kháng đã có sự đa dạng về tổ chức cốt truyện. Ông tìm đến với những cốt truyện linh hoạt hơn nhằm có thể tái hiện những gì bí ẩn, khó lí giải trong đời sống tâm lí phức tạp của con người trước cuộc đời đa sự.

Một trong những yếu tố tạo được sức hấp dẫn của truyện ngắn Ma Văn Kháng là sự thành công của ông trong việc sử dụng yếu tố dân gian truyền thống mà cụ thể ở đây là sử dụng giai thoại trong xây dựng cốt truyện. Nhà văn đôi khi mượn gần như trọn vẹn các giai thoại dân gian vào cốt truyện. Những câu chuyện, những tích xưa được được lồng ghép, kể lại vừa sâu xa vừa hấp dẫn, lý thú, thể hiện sự sáng tạo của tác giả. Ngoài ra, một điều dễ nhận thấy là những giai thoại được nhà văn sử dụng để cấu tạo cốt truyện không chỉ là những câu chuyện, những tích xưa được tác giả kể lại mà đó còn là những câu chuyện hấp dẫn lý thú do nhà văn sáng tạo, nhằm mục đích làm nổi bật nhân vật, tình huống hoặc để chứng minh một luận điểm nào đó của tác giả.

Tựu trung lại, việc mượn các giai thoại và sáng tạo các giai thoại để xây dựng cốt truyện đã khiến cho các tác phẩm của Ma Văn Kháng trở nên có nhiều tầng, nhiều hàm ý. Bên cạnh đó, nhà văn còn chú ý sử dụng những yếu tố hư ảo, phi lí tính thường xuyên xuất hiện trong thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích và văn xuôi trung đại. Cũng giống như nhiều nhà văn khác: Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Thiệp…., Ma Văn Kháng thường kết hợp một số yếu tố kì ảo, hoang đường trong cốt truyện làm để hấp dẫn người đọc bởi tính hư hư thực thực của câu chuyện.

Hầu như ở mỗi truyện ngắn sau này, Ma Văn Kháng đều tìm ra cách xây dựng kiểu cốt truyện phù hợp và mới mẻ. Điều này là một trong những biểu hiện cho thấy việc đổi mới tư duy nghệ thuật cũng như đánh dấu sự vận động, bước trưởng thành trên con đường nghệ thuật của ông.

3.2. Nghệ thuật xây dựng kết cấu

Đọc các sáng tác của Ma Văn Kháng ở thời kì đầu, tác giả luận văn nhận thấy các tác phẩm được kết cấu với các sự kiện, sự việc theo một trình tự quen thuộc, truyền thống. Truyện thường xoay quanh cuộc đời, số phận của nhân vật chính theo một trình tự thời gian nhất định. Với cách kết cấu này, người đọc có thể xâu chuỗi các sự kiện, sắp xếp thành một mạch trình tự và kể lại câu chuyện một cách dễ dàng. Từ sau 1980, kiểu kết cấu cổ điển truyền thống này vẫn xuất hiện trong các truyện ngắn của ông, tuy nhiên với ý thức tìm tòi, đổi mới, nhà văn đã luôn chủ động chú trọng xây dựng những kiểu kết cấu mới đầy sáng tạo. Dễ dàng nhận thấy trong những sáng tác sau này là cách kết cấu khoáng đạt, tự do, không bị câu thúc bởi cách kết cấu cổ điển mà hoàn toàn tùy thuộc vào ý tưởng, mục đích của nhà văn. Ở đây, chúng tôi tiến hành khảo sát một số kiểu kết cấu tiêu biểu và thấy được sự vận động của nó trong truyện ngắn Ma Văn Kháng: từ lối kết cấu chính luận đến kết cấu tự do và sự đột phá trong kết cấu trùng phức các mạch truyện.

Với nghệ thuật tinh xảo, cấu trúc, tổ chức nghiêm ngặt, một số tác phẩm của Ma Văn Kháng có kết cấu phức tạp và khá độc đáo, cùng với một số nhà văn trong giai đoạn này, ông đã kích hoạt cho sự chuyển động cho sự phát triển của kết cấu truyện ngắn. Sau mỗi sáng tác, ngòi bút Ma Văn Kháng đều có sự biến chuyển. Nhà văn luôn có ý thức làm mới chính bản thân mình thông qua việc xây dựng kết cấu tác phẩm một cách đa dạng, biến hóa. Nhà văn có thể sử dụng cùng một lúc nhiều kiểu kết cấu để tạo nên cốt truyện trong một sáng tác và chính lối kết hợp linh hoạt, uyển chuyển này làm nên sức hấp dẫn đặc biệt cho tác phẩm.

3.2.1. Từ lối kết cấu chính luận

Khi xây dựng tác phẩm, một trong những đặc điểm nổi bật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng là nhà văn sử dụng lối kết cấu chính luận. Vì vậy, trong các tác phẩm, tác giả nhiều khi như công khai ý định của mình về việc muốn luận bàn đến mức triệt để về một vấn đề nào đó trong đời sống xã hội. Ngay từ nhan đề, tác giả đã tuyên bố rõ ràng vấn đề, chủ đề cần triển khai. Theo đó, mọi chi tiết, tình tiết, mọi hình ảnh đều được đưa vào một quan hệ mang tính sắp đặt rõ rệt. Các sự kiện và nhân vật được nhà văn chủ động sắp xếp vào một tương quan đầy tính dụng ý, có khi khá khiên cưỡng.

Với kết cấu chặt chẽ, hệ thống chi tiết sự kiện được sắp xếp lô –gic theo một trình tự nhất định nhằm làm sáng tỏ cho một tư tưởng cơ bản nào đó. Trong kiểu kết cấu này, truyện ngắn của ông thường có sự đan xen lời kể, tả và những đoạn mang tính triết luận. Đồng thời, mọi chi tiết sự kiện, biến cố đều được sắp xếp tuân thủ nghiêm ngặt để phục vụ cho việc thể hiện tư tưởng mà nhà văn đang hướng tới.

Để thể hiện tư tưởng nghệ thuật của riêng mình, Ma Văn Kháng chủ động xây dựng lối kết cấu chính luận rõ nét. Sự hấp dẫn người đọc ở truyện ngắn của ông là sức thuyết phục của lý lẽ. Bao giờ nhà văn cũng đặt vấn đề và đưa ra cách giải đáp, lối đối thoại, bàn bạc, tranh luận. Từ những truyện ngắn, ta thấy nhà văn đã chú trọng việc đan cài, lồng ghép nhiều chủ đề, luận đề tạo cho tác phẩm nhiều tầng bậc ý nghĩa. Tính chất, ý nghĩa của truyện nằm sâu trong cấu trúc tác phẩm, từ cách lựa chọn chi tiết, hình ảnh, giọng điệu, tổ chức kết cấu. Việc xây dựng kết cấu nhiều tầng bậc cùng tổ chức một hệ thống phức tạp những thủ pháp nghệ thuật ở mọi cấp độ đã góp phần tạo nên giá trị truyện ngắn Ma Văn Kháng.

3.2.2. … đến kết cấu tự do

Với ý thức tìm tòi đổi mới, Ma Văn Kháng luôn tìm đến những kiểu kết cấu mới đầy sáng tạo. Một số truyện ngắn của ông có hình thức kết cấu vượt ra khỏi kết cấu truyền thống, nó được thiết lập tự do hơn. Ma Văn Kháng đã phá vỡ những quan niệm truyền thống về không gian, thời gian, cốt truyện,…mang lại sự mới mẻ cho truyện ngắn. Truyện ngắn của ông cho thấy những lát cắt nhỏ của cuộc sống được phản ánh thực tại như cái đương thời. Trên thực tế, trong một tác phẩm, nhà văn thường kết hợp linh hoạt nhiều kiểu kết cấu tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh, trong đó có một kiểu kết cấu chính giữ vai trò chủ đạo.

Khảo sát một số truyện ngắn thế sự – đời tư của nhà văn trong mối quan hệ so sánh nội tại, đối chiếu với truyện ngắn theo kết cấu truyền thống, chúng tôi nhận thấy có sự kế thừa và vận động về phương diện kết cấu. Một trong những phương thức kết cấu tiêu biểu trong truyện Ma Văn Kháng là kết cấu mở. Ông tạo ra không gian cho người đọc cùng đồng sáng tạo trong truyện ngắn, kiểu kết cấu mở tạo ra không gian nhiều chiều, hướng nhìn nhận khác nhau. Nó đánh giá đúng vào tâm lí, thị hiếu của người thưởng thức.Truyện ngắn “mở” của Ma Văn Kháng thường có sự đan xen của đa kết cấu, đây là yếu tố tất yếu của truyện ngắn hiện đại bởi nó yêu cầu nhà văn phải có một cái nhìn đa chiều và biện chứng về hiện thực khách quan.

Chú trọng đổi mới tư duy nghệ thuật, ông luôn tìm ra một kiểu kết cấu phù hợp và mới mẻ cho các truyện ngắn. Minh chứng cho điều đó là kiểu kết cấu đảo chiều. Ông đã chủ động tìm đến sự phối hợp của nhiều phương thức trần thuật, cho phép nhà văn mở rộng hơn biên độ phản ánh, thể hiện cuộc sống và con người trong dung lượng ngắn gọn. Ma Văn Kháng không bằng lòng với việc miêu tả, đánh giá con người một cách giản đơn nữa mà thay vào đó là sự đa dạng ở nhiều phương diện, trong đó ông chú trọng đến phương diện kết cấu đảo lộn thời gian. Trong các truyện ngắn, trình tự thời gian được trần thuật thường có sự đan xen, xáo trộn. Thủ pháp này giúp cho truyện ngắn Ma Văn Kháng có sức khái quát cuộc sống, khái quát số phận, khái quát tâm lý con người ngay trong một khoảnh khoắc. Trật tự thời gian, sự kiện, biến cố bị xáo trộn, không theo logic của đời sống, không có sự trùng khít giữa thời gian lịch sử và thời gian trần thuật. Sự kết hợp đan xen và xáo trộn các bình diện đó không những không làm đơn điệu cách kể chuyện mà còn tạo ra sức hấp dẫn riêng, đánh dấu sự đổi mới của Ma Văn Kháng với văn học truyền thống.

Ngoài ra, để phù hợp với xu hướng và cảm quan giải trung tâm của truyện ngắn, Ma Văn Kháng đã xây dựng hình thức kết cấu dung hợp các thể loại như hội họa, điện ảnh… Các truyện ngắn của ông tìm đến cách tổ chức kết cấu chồng xếp nhiều lớp truyện, câu chuyện, đan cài trong đó nhiều văn bản khác. Bằng tài năng và vốn kiến thức uyên thâm của mình, nhà văn đã tạo ra trong tác phẩm một trò chơi văn bản thú vị, nó kêu gọi ý nghĩa giữa các văn bản, giữa tác giả và độc giả, tạo nên sự cộng hưởng đa âm sắc, đa giọng điệu và đa văn hóa. Đây cũng chính là một trong những nhân tố tạo nên tính chất đa thanh, phức điệu cho truyện ngắn của nhà văn họ Đinh từ sau năm 1986.

3.2.3. Sự đột phá trong kết cấu trùng phức các mạch truyện

Ý thức làm mới những tác phẩm của mình thông qua việc xây dựng kết cấu tác phẩm được Ma Văn Kháng hết sức chú ý. Gắn với cảm quan hậu hiện đại, truyện ngắn thế sự – đời tư với quan niệm hiện thực là những mảnh vỡ đã đổ bóng xuống trang viết của thế hệ các nhà văn đương đại nói chung và Ma Văn Kháng nói riêng. Một trong những kết cấu đặc sắc của thể tài này là trùng phức các mạch truyện. Với kĩ thuật kết cấu này, tác phẩm của Ma Văn Kháng đã có sự đột phá, không còn bị ràng buộc bởi thi pháp truyền thống, nó được viết ra tự nhiên hơn.

Hình thức trùng phức “ truyện trong truyện” với kiểu kết cấu truyện ngắn thành từng chùm truyện, có những mối liên hệ nhất định về đề tài, chủ đề, tư tưởng. Tuy nhiên, giữa các truyện lại có khả năng tồn tại một cách độc lập tương đối. Đây là một kiểu kết cấu độc đáo, cho thấy được vốn sống phong phú và sự táo bạo của nhà văn trong việc thử ngiệm các hình thức mới. Lối kết cấu đa tầng giúp cho việc giải quyết các mâu thuẫn, xung đột trong những truyện ngắn giàu kịch tính trở nên dễ dàng và uyển chuyển, độ căng trong cảm xúc của người đọc về một lớp truyện này sẽ được giải tỏa hợp lí nhờ một lớp truyện khác.

Mỗi truyện ngắn của Ma Văn Kháng được tổ chức theo lối kết cấu này là tập hợp của những truyện, mảnh hồi ức, dòng nhật kí, những suy nghĩ, liên tưởng của các nhân vật được phân mảnh và lắp ghép cạnh nhau, không theo mạch thời gian tuyến tính. Mỗi truyện ngắn là những câu chuyện bị ngắt đoạn gồm nhiều mảnh truyện kể ghép lại. Nhìn chung, phương thức kết cấu trùng phức các mạch truyện được nhà văn sử dụng đã tạo ra những truyện có sức chứa lớn, có sự mở rộng biên độ và chiều sâu của sự tái hiện thế giới, mang khuynh hướng tư duy tiểu thuyết. Xu hướng này phù hợp với thị hiếu và tâm lý tiếp nhận của người đọc đương đại, khi mà thời gian dành cho việc đọc ngày càng ngắn lại trong khi nhu cầu tiếp nhận thông tin và thụ hưởng thẩm mỹ ngày càng cao. Với phương thức này, truyện ngắn Ma Văn Kháng hàm chứa lượng thông tin cô đặc, tạo ra sự dịch chuyển không gian và thời gian, đem đến cho người đọc trải nghiệm đa chiều trong dung lượng vừa phải. Việc chủ động trùng phức các mạch truyện, thay đổi linh hoạt các ngôi kể cũng như các hình thức xuất hiện của chủ thể trần thuật, mở ra nhiều dạng lời văn và giọng điệu trần thuật đa dạng, tạo tiền đề cho những đối thoại tư tưởng không ngừng vang lên trong tác phẩm đã phần nào thể hiện rõ bản lĩnh ứng xử nghệ thuật của Ma Văn Kháng trong bút pháp tự sự độc đáo của mình.

Tóm lại, nghệ thuật tổ chức kết cấu là một trong những phương diện tạo nên thành công của truyện ngắn Ma Văn Kháng. Một trong những dấu ấn nghệ thuật đậm nét nhất mà nhà văn tạo nên trong văn đàn Việt Nam là việc kết hợp và sử dụng linh hoạt nhiều kiểu kết cấu: từ lối kết cấu chính luận đến kết cấu tự do và cách thức trùng phức các mạch truyện. Điều đó đã tạo nên sự hấp dẫn, phong phú và hiện đại cho truyện ngắn của ông. Đó là những sáng tạo nghệ thuật hết sức độc đáo, đồng thời cũng là kết quả của quá trình tiếp thu, học hỏi thành tựu văn học truyền thống và hiện đại, trong nước và thế giới .Ông thu hẹp tối đa khoảng cách hiện thực và văn chương. Những nỗ lực cách tân của nhà văn trên phương diện xây dựng kết cấu đã thổi luồng sinh khí mới lạ và góp phần không nhỏ thúc đẩy sự vận động và biến đổi của thể loại truyện ngắn Việt Nam đương đại.

3.3. Nghệ thuật ngôn từ

3.3.1. Từ ngôn ngữ đời thường giản dị

Trải qua những năm tháng sống ở miền núi, Ma Văn Kháng không chỉ am hiểu sâu sắc tâm hồn, bản chất thật thà của người dân tộc thiểu số mà còn học được tiếng nói của họ, rồi đưa ngôn ngữ đó vào các truyện ngắn. Khảo sát các tác phẩm viết về miền núi, ta thấy Ma Văn Kháng vận dụng những thành ngữ hoặc những câu dân ca quen thuộc của người dân vùng cao, tạo nên màu sắc miền núi sống động và tự nhiên. Giai đoạn đầu, khi viết về người dân miền núi, nhà văn sử dụng lớp ngôn ngữ thuần chất, hồn nhiên, mộc mạc, lời ăn tiếng nói hằng ngày của con người miền cao. Một lớp ngôn ngữ giản gị gần với cách cảm, cách nghĩ của đồng bào dân tộc thiểu số. Không chỉ vận dụng tiếng nói, Ma Văn Kháng còn đưa lối nói năng giàu hình ảnh so sánh gắn với tư duy trực quan của người miền núi vào truyện ngắn. Khi miêu tả về chân dung các nhân vật, nhà văn mượn ngôn ngữ, cách ví von của người dân tộc để qua đó làm toát lên đặc điểm, tính cách, số phận của họ. Đồng thời, ngôn ngữ của nhân vật cũng được bảo tồn ở dạng tự nhiên mang tính khẩu ngữ. Đời sống vùng cao được nhà văn tái hiện qua một hệ thống từ ngữ sinh hoạt mang đặc trưng vùng miền như: A Đa ( Cha), A Má ( Mẹ), thắng cố, túi bột ngô, lù cở, lễ hội A Tha Chin Đơ, lễ cống ma…. Đặc biệt, khi xây dựng ngôn ngữ đối thoại của những người dân nơi đây, nhà văn thường rút gọn thành phần câu sao cho ngắn gọn, không có thành tố phụ, chỉ vừa đủ lượng thông tin cho những câu hỏi trước đó.

Theo lộ trình sáng tác truyện ngắn của Ma Văn Kháng, chúng tôi nhận thấy ngôn ngữ đã có sự vận động, biến chuyển. Khi chuyển đổi từ đề tài dân tộc miền núi sang đề tài đời sống đô thị, thành công của truyện ngắn Ma Văn Kháng là một bước chuyển đổi mạnh mẽ, bắt đầu bằng tư duy nghệ thuật, trong đó có việc đổi mới sử dụng ngôn ngữ. Ngôn ngữ nghệ thuật dần bớt đi vẻ trang trọng, thi vị, gia tăng chất thô mộc, góc cạnh, tự nhiên của cuộc sống. Thứ ngôn ngữ xù xì, thân mật và tươi rói sự sống của khẩu ngữ dần thâm nhập vào các tác phẩm của ông.

Trong các truyện ngắn, để phát họa cuộc sống một cách chân thực nhất, Ma Văn Kháng đã khai thác tối đa nguồn tư liệu dân gian. Hầu như toàn bộ kinh nghiệm cọ xát của tác giả với ngôn ngữ đời sống thực tế đã được huy động. Thay đổi lối văn chương trang trọng, mực thước ít cá tính, việc nhà văn dung nạp nhiều thành ngữ, tục ngữ và lối nói dân gian không chỉ góp phần nâng cao chất lượng nghệ thuật cho tác phẩm mà còn phản ánh hiện thực bức tranh đầy màu sắc của cuộc sống sinh hoạt, khắc họa tính cách nhân vật. Bằng bản lĩnh nghệ thuật vững vàng và tài năng sáng tạo nghệ thuật, nhà văn đã góp phần làm phong phú ngôn ngữ văn học, đưa ngôn ngữ đời sống vào văn học một cách tinh tế, sâu sắc. Đặc điểm này phù hợp với xu hướng vận động chung của ngôn ngữ truyện ngắn đương đại: diễn tả đời sống trong tính hiện thực, trong tất cả sự xù xì, thô nhám, góc cạnh, thậm chí tục tằn của nó, khước từ lối diễn đạt trang trọng, ước lệ, thuần khiết.

Trong quá trình khảo sát các truyện ngắn để phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn, chúng tôi nhận thấy có lúc Ma Văn Kháng rơi vào sự sa đà khi lạm dụng quá nhiều ngôn ngữ đời thường, mang lại cảm giác ít nhiều dung tục và rơi vào tự nhiên chủ nghĩa. Tuy nhiên, việc bình thường hóa ngôn ngữ truyện ngắn như vậy xuất phát từ thế giới quan và sự đổi mới quan niệm nghệ thuật. Vượt lên trên tất cả, việc nhà văn khéo léo sử dụng ngôn ngữ đời thường một cách giản dị đã cho thấy nỗ lực kéo gần khoảng cách văn chương với hiện thực đời sống khiến cho văn và đời thật gần gũi, chân thực, xóa nhòa ranh giới giữa tác phẩm với bạn đọc. Nhìn chung, ngôn ngữ truyện ngắn Ma Văn Kháng đã bám sát sự vận động của hiện thực và tư duy, tinh thần của con người trong thời đại mới.

3.3.2. … đến ngôn ngữ giàu chất thơ

Nghiên cứu truyện ngắn Ma Văn Kháng, chúng tôi nhận thấy, ngôn từ của nhà văn phần nào chịu sự chi phối, tác động của nguyên tắc trữ tình hóa. Vậy nên, khi viết về hiện thực con người và thể hiện bức tranh muôn màu muôn vẻ của cuộc sống, ông thường hay sử dụng ngôn ngữ đời thường giản dị. Còn khi viết về không gian thiên nhiên, miêu tả con người, tâm trạng nhân vật, ngôn ngữ của nhà văn lại giàu chất thơ, giàu hình ảnh và sức gợi cảm.

Khi tả cảnh thiên nhiên, Ma Văn Kháng sử dụng ngôn ngữ đầy màu sắc và biểu cảm, làm cho thiên nhiên hiện lên với tất cả hồn cốt của nó. Những bức tranh thiên nhiên, những cảnh tượng sinh hoạt được dệt bằng ngôn từ sống động, tinh tế, giàu sức gợi hình và gợi cảm. Nhà văn đã không nhìn thiên nhiên đơn giản như bản thân nó vốn có mà thiên nhiên thấm đượm cảm xúc con người. Thiên nhiên bước đi cùng hơi thở của thời gian, của nhịp sống. Từng câu, từng chữ trong trẻo và hồn nhiên tạo nên một nhịp điệu thiết tha, đằm thắm.

Không chỉ được thể hiện trong lời văn miêu tả, kể cả trong ngôn ngữ kể, chất thơ trong truyện ngắn Ma Văn Kháng cũng hiện diện đầy cảm xúc. Thỉnh thoảng, tác giả lại lồng ghép vào ngôn ngữ trần thuật của người kể chuyện những dòng thơ, ý thơ làm cho câu văn trở nên nhịp nhàng, uyển chuyển. Như vậy, ngôn ngữ gàu chất thơ, giàu sức gợi cảm đã giúp cho cái nhìn của Ma Văn Kháng về con người, về lẽ đời trở nên sâu lắng hơn, giúp cho những trang viết trở nên tha thiết và lấp lánh hơn, thể hiện tài năng của nhà văn trong lao động nghệ thuật ngôn từ. Với ngôn ngữ giàu chất thơ, ông đã lôi cuốn người đọc bằng một văn phong giản dị, trong sáng.

3.2.3. Sự cá thể hóa trong ngôn ngữ trần thuật

Giai đoạn trước năm 1980, ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng không hướng tới việc tranh biện hay giải bày mà chủ yếu để khẳng định và thuyết phục, tạo dựng niềm tin nơi người đọc qua những thông điệp. Vì thế, ngôn ngữ người trần thuật và ngôn ngữ nhân vật…đều có cùng một giọng, có tính phi đối thoại. Tất cả đề có sự thống nhất trong cách nhìn, cách nhận định, đánh giá…Trong các truyện ngắn tuy có xuất hiện những cuộc đối thoại nhưng ở mức độ vừa. Nhất là ở đề tài miền núi, nội dung đối thoại thường tập trung xoay quanh vấn đề thiết thực của đồng bào dân tộc. Ngôn ngữ đối thoại thiếu đi sự tranh luận, bàn bạc, tính cách và ngôn ngữ nhân vật có sự nhất quán. Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng ở thời kì này vẫn mang đậm dấu ấn của thời đại.

Giai đoạn sau năm 1980, đặc biệt là từ năm 1986, gắn với tư duy tiểu thuyết, ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn của ông dần bớt đi tính một chiều, cùng hướng và trở nên dân chủ , đa giọng và mang tính cá thể hóa hơn. Các chủ thể trần thuật kêu gọi người đọc cùng quan sát, cùng cảm, cùng nghĩ với mình trong một quan hệ giao tiếp bình đẳng. Nhiều khi nhà văn, người kể chuyện, nhân vật đối thoại trực tiếp với bạn đọc. Trong nỗ lực đổi mới, ý thức đối thoại trở thành một nhu cầu thường trực trong ngòi bút của Ma Văn Kháng. Sự chủ động về tư tưởng và ngôn ngữ bước đầu trở thành một niềm đam mê trong tâm lí sáng tạo của người nghệ sĩ.

Trong các truyện ngắn Ma Văn Kháng, hiện thực cuộc sống và tâm trạng con người dường như gắn liền với những biến cố dữ dội. Phần lớn các nhân vật là người nhạy cảm nên những tác động từ môi trường sống dễ khiến họ suy nghĩ, trăn trở trong thế giới nội tâm. Vì thế, nhà văn thường phản ánh thế giới ấy qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm, một thủ pháp có ý nghĩa trong việc cá tính hóa nhân vật. Ngôn ngữ độc thoại nội tâm trong các sáng tác của ông giàu tính cá thể bởi nó tạo nên những tính cách đang vận động, đang đổi thay trước hoàn cảnh. .

Mỗi nhân vật có một loại ngôn ngữ riêng biệt được dung nạp hoặc chắt lọc từ cuộc sống. Người đọc có thể nghe được ngôn ngữ của đủ mọi lứa tuổi, ngành nghề, giới tính, dân tộc. Tác giả đã tạo nên một hệ thống từ ngữ mang tính đặc trưng cá tính, cụ thể hóa nhân vật.

Đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc sáng tạo nghệ thuật, ngôn ngữ trần thuật của truyện ngắn Ma Văn Kháng in đậm cá tính nhà văn. Nó phát huy tối đa khả năng miêu tả, biểu hiện cái muôn hình muôn vẻ của cuộc sống và có xu hướng ngày càng tiến tới ngôn ngữ hiện thực đời thường. Chính những biện pháp xử lí ngôn ngữ đã tạo ra giọng điệu riêng, phong cách nghệ thuật riêng của ông.

Tiểu kết

Như vậy, cùng với sự biến chuyển về cốt truyện và kết cấu, truyện ngắn Ma Văn Kháng đã có sự vận động và chuyển biến mới mẻ trong ngôn ngữ nghệ thuật. Với phong cách làm việc cần mẫn và không ngừng sáng tạo, ngôn ngữ nghệ thuật trong văn xuôi của ông được định hình rõ nét và in đậm dấu ấn phong cách cá nhân. Giữa các giai đoạn sáng tác, ngôn ngữ của tác giả tuy có biến đổi, nhiều khi khá rõ nét đến mức như đối lập, nhưng thực ra nó vẫn có sự kế tục và vận động liên tục. Có thể nhận xét, từ ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác sử thi đến ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác thế sự đời tư là cả một nỗ lực sáng tạo của nhà văn. Càng về sau, ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng đời thường hơn nhưng lại rất sinh động và sắc nét, đồng thời ông vẫn giữ được cho lời văn của mình chất lãng mạn, thơ mộng của một phong cách văn xuôi trữ tình. Truyện của ông luôn thể hiện sự chọn lọc chữ nghĩa tinh tế, làm bật lên những liên tưởng độc đáo nội tại và những liên tưởng đồng vọng của độc giả

KẾT LUẬN

Cùng với phong cách và sự sáng tạo của nhiều nhà văn khác, sự vận động trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng đã có những đóng góp nhất định cho quá trình vận động, biến chuyển chung của dòng chảy văn học Việt Nam. Đặt vấn đề nghiên cứu “Sự vận động trong truyện ngắn Ma Văn Kháng”, luận văn chỉ tiếp nhận đối với mảng truyện ngắn, thể loại cùng với tiểu thuyết đã đạt nhiều thành tựu to lớn. Qua khảo sát, luận văn đi đến một số kết luận cụ thể về sự vận động nhìn từ phương diện đề tài, từ cảm hứng sáng tạo hình tượng nhân vật và từ phương diện nghệ thuật thể hiện:

1. Nhìn một cách toàn diện, đề tài trong truyện ngắn Ma Văn Kháng bao gồm đề tài miền núi và đề tài thành thị. Xét theo sự vận động, các mảng đề tài có các mạch phát triển tương đối rõ nét: từ vùng biên ải thời kì đấu tranh xây dựng đất nước đến chốn thị thành thời cơ chế thị trường. Ở mảng đề tài về miền núi, mạch vận động hướng về một xứ sở hoang sơ, dữ dội và cũng là vùng đất yên bình, gắn với vẻ đẹp ngàn đời. Viết về đề tài miền núi phía Bắc của Tổ quốc, Ma Văn Kháng đã có những khám phá đặc sắc về cảnh quang, con người nơi đây. Không chỉ dừng lại ở những phát hiện, ông còn trực tiếp thể hiện, bày tỏ tình cảm của mình với bà con dân tộc thiểu số. Đối chiếu với các nhà văn viết về cùng mảng đề tài này như Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Mạc Phi…, chúng tôi chưa có đủ cơ sở để nhận ra những nét độc đáo, riêng biệt của ông. Song, chúng tôi nhận thấy, ở một góc độ khác, bên cạnh những gương mặt đó, dường như chỉ có Ma Văn Kháng là vẫn còn tiếp tục cuộc hành trình sáng tạo của mình trong mảng đề tài này, song hành cùng với sự đổi thay của văn học, của thời cuộc và đất nước. Ở mảng đề tài về thành thị, nhà văn tập trung vào cuộc sống phồn tạp, đa đoan, vụn vỡ đến cuộc sống an nhiên, thấm đượm nghĩa tình. Đứng trước bề bộn cuộc sống, những biến đổi dữ dội trong xã hội hiện đại, Ma Văn Kháng không hề né tránh mà cố gắng tìm ra một lối đi mới trong cách phản ánh hiện thực. Từ cảm hứng sử thi chuyển sang cảm hứng đời tư – thế sự, biên độ hiện thực được mở rộng, nhà văn hướng đến việc tiếp cận mới với đời sống nhân sinh vốn đa sự, đa đoan. Với ý thức và nhãn quan nhạy bén cùng sự gắn bó cuộc sống, ông đã xới lên những vấn đề của cuộc sống đương thời để vừa gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh, vừa khẳng định niềm tin vào con người.

Điều đáng chú ý là mạch vận động của các mảng đề tài này khi thì riêng biệt, khi song hành, khi đan xen kết hợp tạo nên sự phong phú đa dạng và đặc sắc của truyện ngắn Ma Văn Kháng. Sự thay đổi đáng chú ý trong phạm vi đề tài không đơn thuần là sự khác biệt về hiện thực phản ánh giữa miền núi và thành thị mà nó còn đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy nghệ thuật cùng hệ thống quan niệm của nhà văn về hiện thực cuộc sống.

2. Sự vận động về đề tài dẫn đến sự vận động về việc xây dựng hình tượng nhân vật, bởi vì nhân vật là một trong những phương diện quan trọng để thể hiện nội dung. Tương ứng với đề tài, trong truyện ngắn Ma Văn Kháng có sự biến chuyển từ hình tượng nhân vật thi vị, mang vẻ đẹp truyền thống đến hình tượng nhân vật tha hóa giữa đời thường; từ hình tượng nhân vật đau đớn, xót xa trước thế sự nhân sinh đến hình tượng nhân vật, tin yêu vào cuộc đời. Mỗi hình tượng nhân vật không chỉ có chức năng khái quát hiện thực, khái quát tính cách mà còn là phương tiện để chuyển tải những quan điểm nhân văn của nhà văn về số phận con người. Mỗi loại hình nhân vật đều cho thấy sự vận động trong quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn. Bằng cái nhìn biện chứng, đa chiều, đa diện, con người được khám phá bản chất, chiều sâu tâm lý trong bức tranh đời sống thế sự đa tạp, trong dòng đời sinh hóa hồn nhiên.

Trong sự thể nghiệm về xây dựng hình tượng nhân vật, Ma Văn Kháng luôn đi sâu tìm hiểu, khám phá con người ở chiều sâu nhân bản. Khảo sát những truyện ngắn, ta thấy hình tượng nhân vật trong các sáng tác của ông đa hình đa dạng, nhiều màu sắc, nhiều dáng vẻ. Mỗi sáng tác lại là một sự khám phá về con người trong đời sống hiện tại với nhiều khía cạnh khác nhau trong bản thể chiều sâu tâm hồn. Mặc dù không phải lúc nào ông cũng khắc họa được những tính cách sắc sảo và sinh động, nhưng khi đã xây dựng nhân vật trong tác phẩm, bao giờ ông cũng chủ ý tô đậm chân dung, tính cách của hình tượng. Vậy nên, trong các truyện ngắn của Ma Văn Kháng, nhân vật dù phức tạp đến đâu thì ta cũng dễ dàng nhận diện và có thể xếp ngay nhân vật ấy vào một hạng người nào đó: độc ác hay nhân từ, cao thượng hay đê tiện…Theo nhà nghiên cứu Lã Nguyên, các hình tượng nhân vật của Ma Văn Kháng được gọi tên theo “ mô hình con người”. Ông không nằm ngoài quỹ đạo chung của sự vận động và đổi mới nền văn học dân tộc, phản ánh chân thực sự thay đổi của con người trong đời sống. Đồng thời, ông xây dựng những quan niệm về con người mới, xây dựng hệ thống hình tượng nhân vật mang nét riêng biệt được người đọc nhận ra căn cứ vào loại hình học tính cách nhân vật. Thông qua các truyện ngắn của mình, tác giả xây dựng lên hình tượng nhân vật cụ thể đại diện cho từng lớp người trong xã hội với một cái nhìn mang đậm tính nhân văn, nhân bản. Nhân vật được soi chiếu cả ở phần thể chất lẫn tâm hồn nên vừa nồng nàn trong niềm khát khao giao cảm, vừa chật vật đời thường với những toan tính mưu sinh trong sự đa đoan của nhân tình thế thái, góp phần tạo nên sức sống lâu bền cho truyện ngắn của ông trong lòng bạn đọc mọi thế hệ.

3. Cùng với sự vận động đề tài, hình tượng nhân vật là sự đổi mới trong các phương diện nghệ thuật thể hiện. Sự đổi mới tư duy nghệ thuật trong quan niệm về hiện thực và con người đã dẫn đến những đổi mới về nghệ thuật tổ chức cốt truyện, xây dựng kết cấu và nghệ thuật ngôn từ. Cốt truyện trong truyện ngắn Ma Văn Kháng không còn bó buộc trong khuôn khổ truyền thống, nó lối cuốn bởi việc sử dụng phép tương phản, liệt kê tăng cấp, sử dụng không gian tâm trạng và sử dụng linh hoạt các yếu tố dân gian. Cốt truyện cho phép người đọc suy ngẫm về sự ngổn ngang, đa sự của cuộc sống hôm nay. Cũng chính từ lối xây dựng cốt truyện với bút pháp hiện đại nên kết cấu truyện ngắn của ông rất độc đáo: từ lối kết cấu chính luận đến kết cấu tự do và đặc biệt là sự đột phá trong việc trùng phức các mạch truyện. Phương thức kết cấu truyện ngắn của ông rất nhất quán trong việc thể hiện quan điểm và tư tưởng của tác giả. Về mặt ngôn ngữ nghệ thuật, truyện ngắn của ông cũng có sự chuyển động đáng kể. Nhà văn có “ một dấu ấn khu biệt với nhiều người” bởi “ một giọng điệu riêng và một ngôn ngữ riêng của Ma Văn Kháng” ( Phong Lê). Trong các sáng tác, ranh giới giữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ thông tục, giản dị của đời sống dường như bị xóa bỏ. Nghệ thuật trần thuật đã cho thấy sự biến đổi linh hoạt của ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn của ông gắn liền với những đổi mới trong quan niệm, tư duy nghệ thuật : ngôn ngữ văn chương bình đẳng và phản ánh chân thực sự vận động cả ngôn ngữ đời sống. Cùng với đó là một ngôn ngữ văn xuôi giàu chất thơ đậm chất trữ tình và đặc biệt là sự cá thể hóa trong ngôn ngữ trần thuật.

4. Tiếp nối các thế hệ đàn anh đi trước và đồng hành cùng những nhà văn đương thời như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng không ngừng tìm tòi, đổi mới trong lao động sáng tạo nghệ thuật để tìm cho mình một lối đi riêng, đồng thời góp phần vào sự phát triển chung của truyện ngắn Việt Nam đương đại. Ở phương diện nào, truyện ngắn Ma Văn Kháng cũng vừa kế thừa những đặc điểm từ giai đoạn trước, vừa nỗ lực cách tân để mang một diện mạo mới, cho thấy sự vận động trong tư duy nghệ thuật. Những cách tân trên nền truyền thống đã mang lại cho sáng tác nói chung và truyện ngắn nói riêng của nhà văn sức hấp dẫn và thu hút độc giả. Sự đổi mới của truyện ngắn Ma Văn Kháng vừa là hệ quả tất yếu của sự vận động trong đối tượng phản ánh, vừa do những tác động ngoại sinh, vừa cho thấy tài năng và tư duy nghệ thuật linh hoạt của nhà văn. Nó nằm trong quỹ đạo vận động, phát triển không ngừng của văn học Việt Nam. Mặc dù còn những giới hạn khách quan và chủ quan, song Ma Văn Kháng đã cho thấy sự cần mẫn, sự nhiệt huyết và tinh thần sáng tạo, tạo đà cho thế hệ cầm bút đang tiếp bước và công cuộc đổi mới của văn học Việt Nam hiện đại.Việc tìm hiểu “ Sự vận động trong truyện ngắn Ma Văn Kháng” giúp chúng tôi xác định sâu sắc hơn về nỗ lực cởi trói chính mình, sự tự đổi mới của nhà văn và sự vận động trong truyện ngắn của ông theo hướng hiện đại hóa. Chúng tôi hy vọng luận văn sẽ góp một tiếng nói, một cách nhìn nhận vào quá trình nghiên cứ sự vận động và phát triển nền văn học nước nhà.

Chọn đề tài từ góc nhìn về sự vận động trong truyện ngắn để nghiên cứu về một nhà văn nổi tiếng như Ma Văn Kháng, sau rất nhiều công trình nghiên cứu về các sáng tác của ông, chúng tôi tự biết mình đã gặp vô vàn khó khăn và áp lực. Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi không có tham vọng khái quát toàn diện về nội dung và nghệ thuật truyện ngắn của tác gia này, mà chỉ chú trọng nắm bắt những đổi mới đáng kể về một số phương diện nhất định trong phạm vi truyện ngắn mà nhà văn đã góp phần vào một dòng chảy liền mạch cho truyện ngắn dân tộc. Mặc dù, chúng tôi đã cố gắng hết sức trong khả năng có thể, song do đặc thù của nghiên cứu văn học, không bao giờ hạn hẹp trong một phương pháp, một quan niệm, một góc nhìn, nên luận văn còn tồn tại nhiều hạn chế, có thể chưa đạt tới tầm vóc của vấn đề cần theo đuổi. Vì vậy, vấn đề mà chúng tôi nghiên cứu cần đến sự cảm thông , chia sẻ cũng như đóng góp ý kiến của nhiều nhà khoa học và mọi người để có thể hoàn thiện hơn.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\VAN HOC VIET NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *