Quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án theo pháp luật hình sự

Quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án theo pháp luật hình sự

Quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Tội phạm là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, nên việc đấu tranh phòng chống tội phạm để bảo vệ lợi ích và duy trì kỉ cương xã hội luôn là một nhiệm vụ quan trọng nhất của mỗi Nhà nước. Để cụ thể hóa, Bộ luật hình sự đã quy định những hành vi nào được coi là nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hay vô ý xâm phạm các khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ là tội phạm.

Hình phạt là một dạng điển hình nhất và phổ biến của trách nhiệm hình sự. Hình phạt là chế tài nghiêm khắc nhất của Nhà nước đối với người phạm tội và họ phải gánh chịu hậu quả bất lợi do hành vi phạm tội của mình. Hậu quả đó là hạn chế hoặc tước bỏ quyền và lợi ích của người phạm tội, thậm chí là cả quyền sống của họ. Thực tế xét xử vụ án hình sự trong những năm qua cho thấy: Có nhiều trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội nhưng không bị phát hiện và đưa ra xét xử cùng một lúc, mỗi hành vi cấu thành một tội phạm riêng biệt hay một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án đó hoặc một người đang phải chấp hành bản án mà phạm tội mới thì để đánh giá toàn diện và đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của tất cả các tội mà người phạm tội đã thực hiện, Tòa án phải quyết định hình phạt của các tội thành hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành. Đây là một quy định đặc biệt quan trọng trong Luật hình sự. Bộ luật hình sự hiện hành tuy đã có quy định về quy định này nhưng xét về nội dung cũng như kỹ thuật lập pháp của các quy định đó còn chưa hoàn thiện và điều đó đã dẫn đến một số vướng mắc trong quá trình áp dụng. Điều này gây lúng túng và có không ít trường hợp áp dụng còn chưa thống nhất các quy định của BLHS trong hoạt động xét xử của Tòa án các cấp. Bên cạnh đó, Đà Nẵng là một thành phố đang phát triển với tốc độ tăng trưởng hàng đầu của Việt Nam, được xếp vào hàng thành phố đáng sống với mặt bằng dân trí cao, người lao động từ các tỉnh khác tập trung về TP Đà Nẵng để làm ăn sinh sống rất đông, nên đây cũng là điều kiện để cho các loại tội phạm nhân cơ hội đó mà phát triển ngày càng có tính tinh vi và nguy hiểm hơn trước. Hiện nay, khoa học luật hình sự trong nước đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về hình phạt, quyết định hình phạt nhưng chủ yếu chỉ đề cập một cách tổng thể và có hệ thống những khía cạnh lý luận chung nhất về hình phạt mà chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu có hệ thống, toàn diện và sâu sắc riêng về tổng hợp hình phạt dưới góc độ lý luận cũng như thực tiễn áp dụng. Trong khi đó, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các văn bản quan trọng về cải cách tư pháp như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trong tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 25/4/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”. Đặc biệt, trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đã xác định: “Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp, phù hợp mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội” [8]. Việc Tổng hợp hình phạt cũng là một nội dung quan trọng trong công tác hoàn thiện pháp luật để răn đe và đấu tranh phòng ngừa tội phạm có hiệu quả hơn. Như vậy, cần có những nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về quyết định hình phạt để làm sáng tỏ về mặt khoa học và đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng quyết định hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam nói chung và từ thực tiễn trên địa bàn TP Đà Nẵng nói riêng không chỉ có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng mà còn là lý do luận chứng cho sự cần thiết để tác giả lựa chọn đề tài “Quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sĩ luật học.

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu: Mục đích của luận văn là làm rõ bản chất pháp lý của việc quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án và thực tiễn áp dụng trên địa bàn TP Đà Nẵng, từ đó đề xuất một số giải pháp bảo đảm thực hiện có hiệu quả việc quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

Một là, làm rõ hơn cơ sở lý luận về quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án;

Hai là, khái quát các quy định pháp luật về quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay;

Ba là, nghiên cứu cụ thể một số trường hợp quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án từ thực tiễn xét xử trên địa bàn TP Đà Nẵng;

Bốn là, Từ thực tiễn của Đà Nẵng, đề xuất một số kiến nghị, bảo đảm thực hiện có hiệu quả các quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án.

4.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án từ thực tiễn xét xử của Tòa án các cấp trên địa bàn TP Đà Nẵng từ năm 2013 đến năm 2017

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận: Cơ sở phương pháp luận được áp dụng để nghiên cứu đề tài luận văn là chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng; chính sách hình sự của Đảng và nhà nước ta; chủ trương cải cách tư pháp theo tinh thần và nội dung Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và các văn kiện khác của Đảng

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể cụ thể như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp hệ thống.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn là công trình nghiên cứu ở cấp độ thạc sĩ về việc quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án từ thực tiễn địa bàn một thành phố khu vực miền Trung đang trên đà phát triển mạnh là Đà Nẵng. Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa tham khảo trong việc hoàn thiện chế định quyết định hình phạt trong luật hình sự.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể sử dụng như tài liêu tham khảo cho việc giảng dạy chuyên đề về hình phạt và quyết định hình phạt trong Luật hình sự; đồng thời có thể là tài liệu tham khảo cho việc hướng dẫn áp dụng trong thực tiễn các quy định pháp luật về quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án

Chương 2: Quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án theo Bộ luật hình sự năm 1999 và thực tiễn áp dụng trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng.

Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án từ thực tiễn của thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ NHIỀU BẢN ÁN

    1. 1.1. Đặc điểm và ý nghĩa của quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án

1.1.1. Khái niệm nhiều bản án trong luật hình sự

Quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án là một trong những vấn đề nan giải của luật hình sự, gắn với việc giải quyết nhiều vấn đề phát sinh trong thực tiễn. Trong đó có việc đánh giá về mặt pháp lý các hành vi phạm tội theo một trình tự riêng so với trường hợp phạm một tội, do tính chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn.

Tóm lại quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án là việc Tòa án xác định hình phạt chung cho người phạm tội bị kết án.

Quyết định hình phạt trong trường hợp một người phạm nhiều tội có đặc điểm là, trong một số trường hợp, các tội này đều cùng được phát hiện và đưa ra xét xử cùng một thời điểm; nhưng cũng có những trường hợp tội phạm được phát hiện và đưa ra xét xử ở những thời điểm khác nhau.

Trường hợp tội phạm được đưa ra xét xử ở những thời điểm khác nhau thì có ba dạng:

– Dạng thứ nhất, người phạm tội đang chấp hành hình phạt của bản án có hiệu lực pháp luật thì họ bị đưa ra xét xử về một tội đã phạm trước khi có bản án này;

– Dạng thứ hai: Người phạm tội đang chấp hành một bản án có hiệu lực pháp luật lại phạm tội mới và bị đem ra xét xử;

– Dạng thứ ba: Người phạm tội được kết án bằng nhiều bản án có hiệu lực pháp luật nhưng các bản án này chưa được tổng hợp.

Các dạng nói trên là nội dung của vấn đề tổng hợp hình phạt của nhiều bản án. Như vậy, quyết định hình phạt của nhiều bản án là việc Tòa án quyết định cho người phạm tội một hình phạt chung trong trường hợp người đó bị tuyên nhiều hình phạt trong nhiều bản án khác nhau.

1.1.2. Phân biệt trường hợp nhiều bản án với phạm tội nhiều lần, phạm nhiều tội

Cùng là trường hợp phạm nhiều tội (đa tội phạm) nhưng trường hợp nhiều bản án khác so với phạm tội nhiều lần và phạm nhiều tội. Vì phạm tội nhiều lần phản ánh trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi ấy được quy định tại cùng một điều luật (hoặc cùng một khoản của Điều tương ứng trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự; đồng thời với những tội ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và người phạm tội chưa bị xét xử). Như vậy người phạm tội thực hiện từ 2 lần trở lên hành vi phạm tội mà mỗi lần có đầy đủ dấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản, nhưng lần thứ nhất chưa bị phát hiện và chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo mức độ tương ứng với cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc đặc biệt tăng nặng. quy định phạm tội nhiều lần được coi là tình tiết tăng nặng khi đưa ra xét xử cùng một lúc (cùng một vụ án). Nếu truy tố và xét xử ở các thời điểm khác nhau thì khi định tội danh và quyết định hình phạt không áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần mà phải theo nguyên tắc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.

Còn phạm nhiều tội là trường hợp một người phạm vào hai tội khác nhau trở lên, có thể vào thời điểm khác nhau hoặc cùng một thời điểm và tất cả những lần phạm tội đó có thể đã bị truy cứu trước đó hoặc đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự lần nào, nay đưa ra truy cứu cùng một lần hoặc đã truy cứu trước đó một tội nay lại vi phạm một tội khác bị đưa ra truy cứu. Trong trường hợp phạm nhiều tội hoặc phạm tội mới nhưng trước đó lại phạm một tội khác đã có bản án nhưng chưa thi hành xong thì khi vụ án được đưa ra xét xử, Tòa án sẽ xem xét định tội danh và quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó tổng hợp hình phạt của bản án cho từng tội hoặc tổng hợp bản án tội cũ và tội mới.

1.1.3. Ý nghĩa của việc quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án

Thứ nhất, việc quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án đúng sẽ góp phần đạt được mục đích của hình phạt.

Thứ hai, việc quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án đúng là góp phần củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Thứ ba, việc quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án đúng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thi hành án hình sự thực thi nhiệm vụ, góp phần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

Thứ tư, việc quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án đúng đắn sẽ đảm bảo nguyên tắc công bằng trong luật hình sự nói riêng và công bằng trong xã hội nói chung.

1.1.4. Nguyên tắc quyết định hình phạt

Việc quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án tuy là trường hợp đặc biệt nhưng vẫn phải tuân thủ các nguyên tắc chung của quyết định hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự. Đó là nguyên tắc cộng hình phạt và nguyên tắc thu hút hình phạt.

    1. 1.2. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án

1.2.1. Giai đoạn 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1985

1.2.2. Quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án theo Bộ luật hình sự năm 1985

    1. 1.3. Quy định pháp luật hình sự một số quốc gia về quyết định hình phạt theo nhiều bản án

1.3.1. Liên bang Nga

1.3.2. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

1.3.3. CH Liên bang Đức

Quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 2

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 199 VỀ

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ NHIỀU BẢN ÁN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

    1. 2.1. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án

2.1.1. Quy định của BLHS năm 1999 về quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án

Theo quy định tại điều 51 BLHS năm 1999, quyết định hình phạt của nhiều bản án có ba trường hợp sau:

* Trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về một tội đã phạm trước khi có bản án này

Có hai loại ý kiến về vấn đề này:

Một là, một người đang chấp hành một bản án tức là người đó phải đang thực tế chấp hành bản án đó. Do vậy, một người mặc dù phải chấp hành một bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng thực tế chưa chấp hành, mà bị đưa ra xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì không tổng hợp hình phạt theo quy định tại khoản 1, điều 51 BLHS. Hai là, một người đang phải chấp hành hình phạt được hiểu là người đó đang có nghĩa vụ phải chấp hành một bản án đã có hiệu lực pháp luật nghĩa là cả trường hợp người đó đã bắt đầu việc chấp hành hình phạt của bản án đó nhưng chưa chấp hành xong và cả trường hợp người đó chưa bắt đầu chấp hành hình phạt của bản án đã có hiệu lực pháp luật đó.

* Trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án có hiệu lực pháp luật lại phạm tội mới và bị đem ra xét xử .

Căn cứ khoản 2, điều 51 BLHS: Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó cộng với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại điều 50 bộ luật này [54, tr.426-427].

Theo quy định trên, trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án có hiệu lực pháp luật lại phạm tội mới và bị đem ra xét xử có tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội phạm trước đó bởi vì họ đã không chịu cải tạo, giáo dục, ăn năn, hối lỗi mà lại tiếp tục đi vào con đường phạm tội mới. Do đó, việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp này có tính nghiêm khắc hơn, mang tính răn đe cao hơn so với trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội phạm trước.

* Trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp.

Căn cứ khoản 3, điều 51 BLHS quy định: Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp thì Chánh án tòa án ra quyết định tổng hợp các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều này” [54, tr.427].

Theo quy định trên, có thể hiểu, một người phải chấp hành hai hay nhiều bản án có hiệu lực pháp luật (chưa thi hành hoặc đang thi hành) mà chưa được tổng hợp (vì lý do chủ quan hay khách quan) thì Chánh án là người có thẩm quyền quyết định cao nhất ra quyết định tổng hợp hình phạt theo quy định.

Tóm lại, Quyết định hình phạt của nhiều bản án được quy định tại điều 51 BLHS năm 1999 là một trường hợp quyết định hình phạt đặc biệt. Theo điều 51 BLHS, Quyết định hình phạt của nhiều bản án nảy sinh trong ba loại trường hợp và mỗi trường hợp có cách thức quyết định tổng hợp khác nhau, thể hiện thái độ của Nhà nước thông qua chính sách hình sự được áp dụng. Nhận thức và áp dụng đúng điều luật quy định về quyết định tổng hợp hình phạt trong trường hợp này có ý nghĩa quan trọng trong việc tuyên hình phạt chính xác đối với người phạm tội.

2.1.2. Quy định của BLHS năm 2005 về quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án

Theo quy định tại điều 56 BLHS năm 2015, Quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án có những điểm mới so với Bộ luật hình sự năm 1999, thể hiện ở ba trường hợp sau:

* Trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về một tội đã phạm trước khi có bản án này

* Trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án có hiệu lực pháp luật lại phạm tội mới và bị đem ra xét xử .

* Trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp.

Tóm lại, Quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án được quy định tại điều 56 BLHS năm 2015 là một trường hợp quyết định hình phạt đặc biệt. Theo điều 56 BLHS, tổng hợp hình phạt của nhiều bản án nảy sinh trong ba loại trường hợp và mỗi trường hợp có cách thức tổng hợp khác nhau, thể hiện thái độ của Nhà nước thông qua chính sách hình sự được áp dụng. Nhận thức và áp dụng đúng điều luật quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp này có ý nghĩa quan trọng trong việc tuyên hình phạt chính xác đối với người phạm tội.

BLHS Việt Nam 2015 ra đời thay thế cho BLHS 1999 là một tất yếu khách quan. BLHS năm 2015 đã có nhiều quy định thể hiện sự thay đổi về chính sách hình sự của Nhà nước ta và cũng thể hiện được sự tiến bộ về mặt kỹ thuật lập pháp. Quy định tổng hợp hình phạt cũng có những thay đổi. Được quy định cụ thể hơn các giai đoạn trước đó, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, những quy định đó cũng chưa thật hoàn thiện nên thực tiễn áp dụng còn gặp phải những vướng mắc, đòi hỏi có sự sửa đổi bổ sung và hoàn thiện hơn sao cho phù hợp.

    1. 2.2. Thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng
    2. 2.2.1. Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn từ 2012-2016

Bảng 2.1. Số liệu về công tác giải quyết, xét xử án hình sự của

tòa án nhân dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2012

đến năm 2016

Năm Thụ lý Xét xử
VụBị cáoVụBị cáo
201272612786841179
201368112726441154
201470512546641140
201567111756041019
201661311295751013
Tổng3396610831715505

(Nguồn: Văn phòng – TAND TP Đà Nẵng)

Trong những năm qua, các vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng đều đã được các Tòa án trên địa bàn thành phố Đà Nẵng khẩn trương nghiên cứu hồ sơ để đưa ra xét xử kịp thời, nghiêm minh, đáp ứng yêu cầu chính trị của các địa phương.

    1. 2.2.2. Thực tiễn Tổng hợp hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ 2012-2016

2.2.2.1. Những kết quả đạt được về tổng hợp hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án

Bảng 2.2. Số liệu về các bị cáo phạm nhiều tội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2012 đến năm 2016

NămTổng số bị cáo đã xét xửSố bị cáo đang chấp hành một bản án lại bị xét xử trước khi có bản án khác Tỷ lệ số bị cáo đang chấp hành một bản án lại bị xét xử trước khi có bản án khác
20121179443.73%
20131154353.03%
20141140363.1%
20151019262.55%
20161013282.76 %
Tổng55051693.06%

(Nguồn Văn phòng Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng )

2.2.2.2. Những tồn tại khó khăn, vướng mắc về quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án và nguyên nhân

Khi nghiên cứu Điều 51 có thể thấy, quy định Điều 51 vẫn áp dụng các quy định tổng hợp hình phạt giống với quy định việc tổng hợp hình phạt tại Điều 50. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 50, tất cả các tội đều bị đem ra xét xử cùng một lần, Tòa án tuyên hình phạt đối với từng tội sau đó tổng hợp thành hình phạt chung; còn trong trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án quy định tại Điều 51, các tội đó được đưa ra xét xử ở các lần khác nhau, Tòa án sẽ phải tổng hợp hình phạt của các tội này dựa trên cơ sở các bản án khác nhau.

Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng quy định về Điều 51 là không cần thiết [19, tr. 137] vì trong trường hợp có nhiều bản án, Tòa án sẽ vẫn áp dụng nguyên tắc tổng hợp hình phạt như trường hợp phạm nhiều tội, việc quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, thực chất nhằm phân hóa đối tượng để có đường lối xử lý tương ứng. Trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 51, về bản chất không có gì khác so với trường hợp phạm nhiều tội. Việc nhà làm luật quy định Khoản 2 Điều 51 mang tính nghiêm khắc hơn Khoản 1 Điều 51 với mục đích để răn đe vì người phạm tội vì chưa có ý thức cải tạo tốt, chưa tuân thủ pháp luật. Đối với trường hợp bị cáo đang thi hành mà phạm tội mới thì có hai khả năng xảy ra: Một là, bị cáo phạm tội mới thuộc trường hợp Tái phạm, Tái phạm nguy hiểm theo Điều 49 Bộ luật hình sự thì Tòa án sẽ sử dụng tình tiết này để tăng nặng hình phạt trong Bản án thứ hai (bản án xét xử về tội mới) nên Tòa án không cần phải áp dụng thêm nguyên tắc tổng hợp hình phạt theo Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự vì như vậy sẽ xử quá nặng cho bị cáo; Hai là, bị cáo phạm tội mới nhưng hành vi phạm tội của bị cáo không thuộc trường hợp Tái phạm, Tái phạm nguy hiểm (ví dụ, bị cáo đang chấp hành án nhưng phạm tội ít nghiêm trọng) nên Tòa án cũng không nên áp dụng nguyên tắc tổng hợp hình phạt nghiêm khắc hơn theo Khoản 2 Điều 51. Chính vì lý do trên, ý kiến này cho rằng Bộ luật hình sự nước ta không cần thiết quy định Điều 51 mà chỉ cần bổ sung một khoản mới vào cuối Điều 50 Bộ luật hình sự vì nó đảm bảo sự gọn nhẹ về kỹ thuật lập pháp cũng như tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.

Trong giai đoạn 2012-2016, Tòa án hai cấp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng chưa xãy ra sai sót trong vấn đề quyết định tổng hợp hình phạt theo Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trên thực tiễn xét xử của cả nước thì vấn đề quyết định tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự còn gặp nhiều vấn đề cần xem xét như:

Thứ nhất, bị cáo bị xét xử bằng nhiều bản án nhưng các bản án chưa được tổng hợp theo quy định tại Khoản 1 Điều 51; Thứ hai, bị cáo bị xét xử bằng nhiều bản án và các bản án này đã được tổng hợp không đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 51 như bản án bị tổng hợp hai lần hay có trường hợp bản án này được tổng hợp hai lần, bản án kia lại không được tổng hợp, dẫn đến việc kháng nghị và xét xử giám đốc thẩm; Thứ ba,việc tổng hợp bản án vi phạm khoản 2 như đã hết thời hạn thử thách nhưng vẫn xác định phạm tội trong thời gian thử thách; Thứ tư, việc giải quyết vụ án không được nhanh chóng, kịp thời do khó khăn trong xác định lý lịch. Có thể nói, để đạt được kết quả như vậy, cán bộ công chức ngành Tòa án trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã phải nỗ lực hết mình cũng như sự phối, kết hợp tốt trong công tác xét xử của các ban, ngành liên quan.

Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới cũng quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án, nhưng khác Bộ luật hình sự nước ta ở chỗ đều không quy định trường hợp bị cáo có nhiều bản án có hiệu lực pháp luật nhưng chưa được tổng hợp.

Tóm lại, Quyết định hình phạt của nhiều bản án được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999 là một trường hợp quyết định hình phạt đặc biệt. Theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, Quyết định hình phạt của nhiều bản án có ba trường hợp và mỗi trường hợp có cách thức tổng hợp khác nhau, thể hiện thái độ của Nhà nước thông qua chính sách hình sự được áp dụng. Nhận thức và áp dụng đúng điều luật quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp này có ý nghĩa quan trọng trong việc tuyên hình phạt chính xác đối với người phạm tội.

Quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 3

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUYẾT ĐỊNH

HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ NHIỀU BẢN ÁN

TỪ THỰC TIỄN CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

    1. 3.2. Tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự liên quan đến quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án

Thứ nhất: Quy định “Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này.”. Như vậy, câu hỏi đặt ra là “Tòa án nào? Cấp nào? có thẩm quyền quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án?”.  Cần có văn bản hướng dẫn thi hành quy định rõ thẩm quyền Tòa án tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.

Thứ hai: Để tạo điều kiện thuận lợi trong thực tiễn tổng hợp hình phạt cũng cần có hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục, cách thức tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.

* Kiến nghị hoàn thiện. Từ những hạn chế, bất cập nêu trên kiến nghị một số nội dung về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án như sau:

Thứ nhất: Về thẩm quyền tổng hợp hình phạt của nhiều bản án. Trong trường hợp các bản án đã có hiệu lực pháp luật đều của cùng một Toà án thì Chánh án Toà án đó ra quyết định tổng hợp hình phạt.

Thứ hai: Trình tự, thủ tục tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì Tòa án có thẩm quyền tổng hợp hình phạt gửi văn bản yêu cầu Tòa án đã xét xử trước đó gửi bản án và quyết định thi hành án để tiến hành tổng hợp hình phạt. Sau đó làm văn bản tổng hợp hình phạt và thông báo cho Tòa án đã xét xử trước đó về kết quả tổng hợp hình phạt.

    1. 3.3. Một số giải pháp khác

3.3.1. Tăng cường giải thích, hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về Tổng hợp hình phạt

Thứ nhất, Quốc hội cần nghiên cứu bổ sung quy định trong Hiến pháp và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thẩm quyền giải thích luật của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước, đặc biệt là thẩm quyền giải thích Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh của TANDTC.

Thứ hai, tiến hành rà soát hệ thống các văn bản giải thích hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự.

Thứ ba, cần nghiên cứu bổ sung chế định nguồn của Luật hình sự trong BLHS.

Thứ tư, trong quá trình soạn thảo để ban hành BLHS, cần tham vấn các nhà nghiên cứu luật học, nhất là những chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực luật hình sự, cán bộ làm công tác giảng dạy luật hình sự ở các học viện, trường đại học, viện nghiên cứu, cán bộ công tác thực tiễn ở các cơ quan điều tra, truy tố và xét xử, thi hành án hình sự.

3.3.2. Chú trọng tổng kết rút kinh nghiệm về tổng hợp hình phạt

Để thực hiện việc nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ Tòa án, Chánh án TANDTC đã ban hành công văn số 344/TANDTC-TCCB ngày 07/6/2010 về việc tăng cường kỷ luật công vụ và công tác xét xử. Theo đó, yêu cầu thủ trưởng các đơn vị thuộc TANDTC và chánh án TAND địa phương tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng để cán bộ, công chức thường xuyên giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức, ý thức chấp hành kỷ luật công vụ, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và trách nhiệm công tác được giao.

Mặt khác, ngành TAND đã triển khai thực hiện nghiêm túc việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần nghị quyết Trung ương 4 khóa XI.

Luôn coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, kiểm tra việc giải quyết án hình sự của cấp sơ thẩm; giám đốc thẩm, tái thẩm đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án cấp quận, huyện bị kháng nghị và những bản án có ai sót.

Tổng kết kinh nghiệm trong giải quyết án hình sự thực chất là tổng kết việc áp dụng pháp luật trong hệ thống cơ quan Toà án theo những chủ đề nhất định và trong một thời gian nhất định.

Ngoài ra, để nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án thì phải thường xuyên nâng cao trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức cho Thẩm phán, vì đây chính là lực lượng chủ yếu của hoạt động áp dụng pháp luật. Xây dựng và phát triển đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng, đồng thời tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Thư ký, Thẩm tra viên, Chuyên viên pháp lý nhằm bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực để đảm bảo công tác xét xử.

Toà án các cấp cần tạo điều kiện thuận lợi cho Hội thẩm nhân dân thực hiện nhiệm vụ.

3.3.3. Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm

Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong toàn ngành Tòa án thì cần phải thực hiện tốt các giải pháp sau đây:

– Thứ nhất , cần tập trung chỉ đạo, giao trách nhiệm cho các đơn vị chức năng và Chánh án TAND cấp tỉnh lập kế hoạch và phối hợp với các cơ quan, cơ sở đào tạo trong và ngoài ngành tổ chức thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước, ngoại ngữ, tin học cho cán bộ, công chức trong toàn ngành tòa án.

– Thứ hai là nâng cao năng lực vai trò của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử.

– Thứ ba, nâng cao ý thức pháp luật, chuyên môn nghiệp vụ cũng như tư tưởng, đạo đức, bản lĩnh chính trị cán bộ ngành Tòa án, đặc biệt đối với đội ngũ Thẩm phán.

3.3.4. Tăng cường quan hệ phối hợp công tác giữa các cơ quan tư pháp

Hoạt động tố tụng có ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền của con người, ảnh hưởng đến việc bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và các lợi ích khác của Nhà nước, của các tổ chức, cá nhân. Xuất phát từ sự nhạy cảm và tính chất quan trọng như vậy, nên pháp luật không giao thẩm quyền cho một cơ quan thực hiện toàn bộ quá trình chứng minh và xử lý tội phạm, mà phân ra thành nhiều giai đoạn: Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Mỗi giai đoạn tố tụng tương ứng với thẩm quyền của một cơ quan. Mặc dù có chức năng khác nhau, nhưng trong hoạt động tố tụng, các cơ quan đều có chung nhiệm vụ là đấu tranh, phòng chống tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và cùng có trách nhiệm bảo đảm mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội, tôn trọng quyền và lợi ích của công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Chính từ mục đích chung đó và trên cơ sở nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước, đã hình thành nên mối quan hệ phối hợp trong hoạt động tố tụng giữa Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và Toà án, là một trong những lĩnh vực phối hợp thực hiện quyền lực Nhà nước có tính nguyên tắc, tất yếu. Nếu phối hợp thực hiện không tốt sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả hoạt động tố tụng. 

Trên cơ sở quy chế phối hợp, các cơ quan trong khối đã thực hiện việc cung cấp thông tin, gửi các báo cáo định kỳ cho Ban Nội chính Trung ương về công tác nội chính, công tác phòng, chống tham nhũng và các nội dung có liên quan khác khi Ban Nội chính yêu cầu. Báo cáo kịp thời những vụ án phức tạp, có những quan điểm khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng về xử lý vụ án, những vụ án dư luận xã hội quan tâm.

Có thể khẳng định, hoạt động phối hợp giữa các cơ quan nội chính là hết sức cần thiết và phải được duy trì thường xuyên, nền nếp. Thời gian tới cần nâng cao chất lượng phối hợp giữa các cơ quan trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, giải quyết vụ án. Duy trì thường xuyên các cuộc họp liên ngành, tổ chức các phiên họp đột xuất giữa các ngành làm án để bàn biện pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao.

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu cho thấy về mặt lý luận, thực tiễn quy định tổng hợp hình phạt là đề tài chưa được nghiên cứu một cách độc lập trong khoa học pháp lý mà là một phần của của nhiều công trình khoa học nghiên cứu về hình phạt và quyết định hình phạt. Trong hoàn cảnh đó, luận văn đã đạt được những kết quả nghiên cứu có tính mới về khoa học và có giá trị thực tiễn như sau:

1. Luận văn đã xây dựng khái niệm: Quyết định hình phạt là việc Tòa án xác định hình phạt chung cho người phạm tội bị kết án. Hình phạt chung là sự đánh giá đầy đủ và toàn diện nhất của Nhà nước đối với tất cả các tội mà bị cáo đã thực hiện.

2. Luận văn cũng xây dựng được khái niệm: Các nguyên tắc tổng hợp hình phạt là những tư tưởng chỉ đạo trong quá trình xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự để Tòa án tổng hợp hình phạt chính xác đối với người phạm tội.

Các nguyên tắc tổng hợp hình phạt có quan hệ chặt chẽ với các nguyên tắc quyết định hình phạt và có quan hệ biện chứng với các nguyên tắc chung của luật hình sự. Các nguyên tắc tổng hợp hình phạt bao gồm: Nguyên tắc cộng hình phạt, nguyên tắc thu hút, nguyên tắc cùng tồn tại. Các nguyên tắc này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung, hỗ trợ nhau tạo thành một thể thống nhất trong chính sách, pháp luật của Nhà nước.

3. Luận văn đã khái quát hóa được lịch sử hình thành và phát triển của quy định về Tổng hợp hình phạt từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay. Lần đầu tiên, các quy định này được pháp điển hóa tại BLHS đầu tiên năm 1985, tuy nhiên BLHS năm 1985 lại chưa kế thừa được một số quy định hợp lý trong các văn bản thời kỳ trước đó dẫn đến một số vướng mắc khi áp dụng. Điều này cũng là nguyên nhân đòi hỏi cần sửa đổi bổ sung trong BLHS mới đó là BLHS năm 1999. Có thể nói, qua các lần sửa đổi bổ sung BLHS 1985, BLHS 1999 đến BLHS năm 2015 thì các quy định về tổng hợp hình phạt đã được hoàn thiện hơn, phù hợp hơn.

4. Luận văn đã tổng hợp, phân tích các trường hợp quyết định hình phạt trong BLHS. Đó là các trường hợp: Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội (điều 50), Quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án (điều 51), Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội (điều 75) và Quyết định hình phạt trong các trường hợp liên quan đến án treo (khoản 5 điều 60). Các trường hợp này được phân tích dưới hai góc độ lý luận và áp dụng các quy định trong quá trình xét xử trên địa bàn TP Đà Nẵng. Trong quá trình phân tích nội dung của quy định về tổng hợp hình phạt, tác giả đã tổng hợp các quan điểm của các nhà khoa học để đưa ra cách nhìn đa chiều về các vấn đề còn có nhiều ý kiến nhằm đánh giá một cách khách quan, khoa học các quy định pháp luật của quy định này. Bên cạnh đó, tác giả tham khảo BLHS một số nước như Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Thụy Điển quy định về tổng hợp hình phạt, qua đó thấy được các nét tương đồng và khác biệt trong quy định giữa BLHS Việt Nam với một số nước trên thế giới.

5. Trong quá trình vận dụng quy định về quyết định hình phạt và các quan điểm chỉ đạo của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về cải cách tư pháp trong đấu tranh phòng, chống tội phạm cho thấy phải cần thiết hoàn thiện các quy định pháp luật về chế định tổng hợp hình phạt. Đó là các quy định: Việc khấu trừ thời gian tạm giam, tạm giữ trong trường hợp quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án; trường hợp một người phạm nhiều tội và bị xét xử bằng nhiều bản án, trong đó tội xảy ra trước thì xét xử sau, tội xảy ra sau thì xét xử trước và trường hợp một người đang có bản án chưa có hiệu lực pháp luật thì lại phạm tội mới; trường hợp người được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách lại bị đưa ra xét xử về tội phạm đã thực hiện trước khi có bản án cho hưởng án treo; trường hợp nếu tất cả các tội được thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại điều 74 bộ luật này.

6. Để nâng cao hiệu quả áp dụng quy định Tổng hợp hình phạt thì yếu tố con người được đặt với vai trò trung tâm. Nhiệm vụ xây dựng đội ngũ Thẩm phán là những chuyên gia đầu ngành về pháp luật, có kinh nghiệm trong ngành được chú trọng. Điều đó vừa có ý nghĩa quan trọng trên cả phương diện lý thuyết và thực tiễn để nhằm mục đích đấu tranh và phòng ngừa hiệu quả với các hành vi phạm tội thuộc trường hợp áp dụng quy định tổng hợp hình phạt.

Qua nghiên cứu về lý luận và thực tiễn áp dụng chế định Tổng hợp hình phạt trên địa bàn TP Đà Nẵng, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn và nội dung đề tài còn nhiều vấn đề phức tạp, với khả năng còn hạn chế nhưng tác giả mong muốn được đóng góp kiến thức vào hệ thống lý luận chung của Luật hình sự về quy định này. Từ đó, tác giả mong muốn góp phần nhỏ, nhằm nâng cao hiệu quả trong thực tiễn áp dụng quy định tổng hợp hình phạt nói riêng cũng như nhiệm vụ cải cách tư pháp hiện nay nói chung.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 6\LUAT HINH SU VA TO TUNG HINH SU\PHAN THI HUE\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *