Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Khu kinh tế mở Chu Lai
Bối cảnh nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tài chính của Việt Nam nói chung và thị trường tài chính ngân hàng cũng có nhiều khởi sắc, đánh dấu một bước phát triển cả về lượng lẫn chất của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Hội nhập quốc tế là động lực thúc đẩy hệ thống ngân hàng Việt Nam từng bước cải cách nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới. Một hệ thống ngân hàng hữu hiệu trở thành kênh dẫn vốn quan trọng đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vốn, cung ứng sản phẩm dịch vụ cho nền kinh tế để đạt đến thành công của công nghiệp hoá và hiện đại hóa đất nước. Việc gia nhập WTO đã mở ra những cơ hội phát triển mới cho thị trường tài chính Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh đó, đầu tư trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng cũng đặt ra nhiều thách thức và rủi ro đối với các ngân hàng thương mại của Việt Nam. Trong thời gian qua, hoạt động của ngân hàng có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên trong nền kinh tế nhiều biến động thì rủi ro là điều không thể tránh khỏi đối với tất cả các thành phần kinh tế. Do đó, kinh doanh ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro như: rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro ngoại hối… Trong tất cả các loại rủi ro kể trên thì rủi ro tín dụng là loại rủi ro chiếm tỷ trọng lớn và phức tạp nhất. Rủi ro tín dụng xảy ra không chỉ gây nên những tổn thất về tài chính mà còn gây nên những thiệt hại to lớn về uy tín ngân hàng làm giảm sút niềm tin của công chúng đối với cả hệ thống ngân hàng. Do tính chất lây lan của nó, rủi ro tín dụng có thể là đầu mối của những cuộc khủng hoảng tài chính hoặc khủng hoảng kinh tế – xã hội.
Theo lộ trình hội nhập quốc tế về cơ bản Việt Nam đã hội nhập thị trường dịch vụ ngân hàng. Các ngân hàng trong nước đang phải đối mặt với sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt trong môi trường kinh doanh toàn cầu biến động khó lường như hiện nay. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro, đặc biệt là quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam đang là vấn đề bức xúc trên cả mặt lý luận và thực tiễn. Từ khi thành lập Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thông Khu Kinh tế mở Chu Lai – Quảng Nam đã góp phần quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Nam nói riêng và của cả nước nói chung. Cùng với mục tiêu hướng tới xây dựng mô hình một ngân hàng đạt tiêu chuẩn quốc tế, hiện đại và vững mạnh, Agribank Khu Kinh tế mở Chu Lai trong quá trình chuyển đổi luôn quan tâm và đặt lên hàng đầu đối với vấn đề quản trị, kiểm soát tốt các loại rủi ro, trong đó đặc biệt là quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay. Do đó, tôi quyết định chọn đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Khu kinh tế mở Chu Lai – Quảng Nam” làm luận văn tốt nghiệp cao học.
- Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận trong quản trị RRTD trong cho vay DN của NHTM
- Phân tích thực trạng hoạt động quản trị RRTD tại Agribank Khu kinh tế mở Chu Lai, Quảng Nam
- Đề xuất những giải pháp, đồng thời kiến nghị liên quan nhằm hoàn thiện công tác quản trị RRTD tại Agribank Khu kinh tế mở Chu Lai.
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề quản trị rủi ro tín dụng doanh nghiệp trong các ngân hàng thương mại.
- Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung: Luận văn chỉ nghiên cứu hoạt động quản trị RRTD doanh nghiệp, không bao gồm các loại rủi ro khác trong hoạt động kinh doanh ngân hàng tại Agribank Khu Kinh tế mở Chu Lai
+ Về không gian: Đề tài được thực hiện nghiên cứu tại Agribank Khu Kinh tế mở Chu Lai
+ Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu và phân tích trong 3 năm 2011-2013
– Sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, … Các kết luận và giải pháp đề xuất được đúc kết từ quá trình thu thập, tổng hợp thông tin, tư liệu trong thực tế. Qua đó, đối chiếu với cơ sở lý luận để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu. Quá trình nghiên cứu đảm bảo tính khách quan, toàn diện, có hệ thống và tổng hợp.
Ngoài phần mở đầu gồm: ý nghĩa, mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, tổng quan tài liệu nghiên cứ và kết luận, đề tài nghiên cứu được trình bày gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại
- Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khu kinh tế mở Chu Lai – Quảng Nam
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn khu kinh tế mở Chu Lai – Quảng Nam
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Xu hướng tự do hóa và toàn cầu hóa nên kinh tế khiến hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngày càng trở nên phức tạp và luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro tín như: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro kinh doanh
Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Khu kinh tế mở Chu Lai . Rủi ro là khả năng xảy ra các biến cố không lường trước , khi xảy ra sẽ làm cho kết quả thực tế khác kết quả kỳ vọng theo kế hoạch. Rủi ro luôn xuất hiện bất ngờ và đe dọa sự sống còn của DN, tuy nhiên muốn có lợi nhuận thì phải chấp nhận nó, không được né tránh nó. Vì vậy, để tồn tại và phát triển, để đứng vững trong cạnh tranh các DN không còn con đường nào khác là phải đương đầu với rủi ro có thể xảy ra bằng cách tiên liệu, phán đoán các rủi ro có thể xảy ra để tìm biện pháp ngăn ngừa, hạn chế nhằm giảm thiểu thiệt hại do rủi ro gây ra.
Rủi ro NHTM là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. Trong hoạt động kinh doanh NH, tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Các thống kê và nghiên cứu cho thấy, RRTD chiếm đến 70% trong tổng rủi ro hoạt động ngân hàng. Mặc dù hiện nay đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng, theo đó thu nhập từ hoạt động tín dụng có xu hướng giảm xuống và thu dịch vụ có xu hướng tăng lên nhưng thu nhập từ tín dụng vẫn chiếm từ 1/2 đến 2/3 thu nhập ngân hàng (Peter Rose, Quản trị ngân hàng thương mại). Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất của ngân hàng, P.Volker, cựu Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã nói: “ Nếu ngân hàng không có những khoản vay tồi thì đó không phải là hoạt động kinh doanh”. RRTD là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng. Có nhiều định nghĩa khác nhau về RRTD.
Trong tài liệu Financial Institutions Management – A Modern Perspective, A Saunders và H. Lange định nghĩa RRTD là khoản lỗ tiềm tang khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khản cho vay của ngân hàng không thể thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn.
Hay theo Timothy W.Kock: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn – có nghĩa khách hàng không thanh toán vốn gốc và lại theo thỏa thuận. RRTD là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn (Bank Management, Univesrity of South Carolina, The Dryden Press, 1995, page 107).
Cũng có định nghĩa khác cho rằng RRTD xảy ra khi xuất hiện các biến cố không thể lường trước khiến khách hàng không thực hiện được cam kết đã thỏa thuận với khách hàng.Từ các định nghĩa trên có thể tóm lược định nghĩa về RRTD như sau: Rủi ro tín dụng là rủi ro về sự tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ việc người đi vay không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Điều này có nghĩa là các khoản thanh toán (bao gồm cả phần gốc và lãi) như cam kết có thể bị trì hoãn hoặc thậm chí là không được hoàn trả và hậu quả là sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng cho sự luân chuyển tiền tệ và sự bền vững của hoạt động ngân hàng.
- Đặc điểm của rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
- Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng. RRTD xảy ra khi khách hàng vay gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn. Nói cách khác, những rủi ro trong HĐKD của khách hàng vay đã gián tiếp gây ra RRTD cho ngân hàng.
- Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: Đặc điểm này biểu hiện ở dự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân tức là RRTD xảy ra ở rất nhiều dạng và phụ thuộc vào nguyên nhân đã gây ra RRTD, hình thức và hậu quả của RRTD của khoản vay.
- Rủi ro tín dụng có tính tất yếu: Tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng. Kinh doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức độ phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng.
- Phân loại RRTD trong NHTM
Theo tính chất rủi ro thì rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau đây:
Rủi ro
tín dụng
Rủi ro
Nghiệp vụ
Rủi ro
Bảo đảm
Rủi ro
Lựa chọn
Rủi ro
Danh mục
Rủi ro
Giao dịch
Rủi ro
Tập trung
Rủi ro
Nội tại
- Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm:
+ Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng.
+ Rủi ro bảo đảm: Là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo…
+ Rủi ro nghiệp vụ: Là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật các các khoản vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục: là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành hai loại:
+ Rủi ro nội tại: Xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế.
+ Rủi ro tập trung: Rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Ngoài ra còn có nhiều hình thức phân loại khách nhau như phân loại theo cơ cấu các loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo đối tượng sử dụng vốn vay…
- Nhân tố gây ra rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại
- Thông tin không cân xứng, chọn lựa đối nghịch và rủi ro đạo đức trên thị trường tài chính là các nguyên nhân cơ bản gây nên các rủi ro cho ngân hàng nói chung và RRTD nói riêng.
Thông tin không cân xứng (thông tin không đầy đủ, không chính xác) dẫn đến sự lựa chọn đối nghịch: Rủi ro này do thông tin không cân xứng, không đầy đủ tạo ra và diễn ra trước khi thực hiện giao dịch tài chính. Nếu có đủ thông tin cần thiết về các đối tượng cần vay tiền, ngân hàng sẽ rất dễ dàng quyết định cho vay hay không cho vay. Nhưng trên thị trường luôn tồn tại thông tin không cân xứng về người đi vay. Thông tin trên thị trường thường bị nhiễu loạn với người đi vay, người đi vay không có khả năng trả được nợ là người tích cực vay nhất, họ cố tạo ra bình phong đầy đủ nhất để vay được tiền vay của ngân hàng và kết quả là người đầu tiên được lựa chọn. Sự lựa chọn này được gọi là sự lựa chọn đối nghịch, những người rất kém tín nhiệm (những nguời có thể rất dễ dàng không hoàn trả được món vay) lại là những người có nhiều khả năng được lựa chọn nhất của ngân hàng. Nếu ngân hàng cho họ vay, ngân hàng sẽ đứng trước nguy cơ rủi ro không thu lại được nợ vay. Ngược lại, cũng do lựa chọn đối nghịch, ngân hàng sẽ bỏ mất cơ hội kiếm lợi nhuận. Như vậy, muốn mở rộng tín dụng và hạn chế được rủi ro, ngân hàng cần phải vượt qua được thông tin không cân xứng để có sự lựa chọn đúng đắn. Vì vậy, vấn đề thông tin được xem là vấn đề quan trọng nhất để phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong cho vay ngân hàng.
Thông tin không cân xứng dẫn đến rủi ro đạo đức: Rủi ro này cũng do thông tin không cân xứng, không đầy đủ tạo ra và diễn ra sau khi thực hiện giao dịch tài chính. Trên thị trường có rất nhiều người vay tiền có ý muốn thực hiện những hoạt động không đạo đức (xét trên quan điểm người cho vay), một khi những người này vay được tiền, họ có thể đầu tư vào những dự án có rủi ro cao hoặc sử dụng vốn không đúng với cam kết ban đầu hoặc có ý định chiếm đoạt vốn của ngân hàng. Những người đi vay này có thể ngay từ ban đầu đã có hành vi thiếu đạo đức, nhưng cũng có thể xuất hiện trong quá trình sử dụng vốn vay, tức là do trình độ quản lý, khả năng cạnh tranh cũng như năng lực kinh doanh yếu kém dẫn đến thất bại trong kinh doanh mà nảy sinh hành vi thiếu đạo đức. Ngân hàng lúc đó sẽ đặt vào tình cảnh nguy cơ gặp phải rủi ro. Nếu ngân hàng không thận trọng trong việc thẩm định cho vay và kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng thì nguy cơ rủi ro cho vay rất lớn. Song cùng với nó, nếu ngân hàng quá thận trọng trong việc cho vay, không cho vay hoặc đột ngột cắt đứt hợp đồng tín dụng thì lại bị thiệt hại về lợi nhuận vì nguồn vốn huy động phải trả lãi và lớn hơn là mất uy tín với khách hàng. Vì vậy, giải quyết tốt vấn đề đánh giá, chọn lọc khách hàng và kiểm soát quá trình cho vay sẽ giúp ngân hàng mở rộng hoạt động tín dụng, đồng thời sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu tới mức thấp nhất RRTD.
Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Khu kinh tế mở Chu Lai . Tóm lại, để thoát khỏi nguy cơ bị vỡ nợ và thoát khỏi một cuộc hoảng loạn ngân hàng, để tăng thu và trụ vững trên thương trường, buộc lòng các ngân hàng phải vượt qua vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Vì vậy, vấn đề thông tin tín dụng, chọn lọc khách hàng và kiểm soát trong quá trình cho vay là những vấn đề có vai trò hết sức quan trọng trong việc ngăn ngừa và hạn chế RRTD của NHTM.
- Sự tác động của các quy luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường đối với ngân hàng và khách hàng là nguyên nhân gây ra RRTD của ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trương, sự quản lý của Nhà nước chỉ mang tính định hướng. Mọi hoạt động kinh tế hoàn toàn chịu sự chi phối và điều khiển của các quy luật kinh tế như quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá trị và mục tiêu hướng tới lợi nhuận của các hoạt động kinh tế. Như vậy, mỗi sự biến động của môi trường xung quanh đều ảnh hưởng tốt hay xấu đến hoạt động kinh doanh nên rủi ro trong kinh doanh rất lớn. Với chức năng là một trung gian tài chính, ngân hàng vừa đóng vai trò là chủ nợ vừa đóng vai trò là con nợ. Nếu vì một lý do nào đó người vay gặp phải rủi ro, không trả được nợ thì rõ ràng ngân hàng gặp rủi ro. Vì vậy, RRTD của ngân hàng không chỉ do sự tác đống của các quy luật kinh tế thị trường đến chính ngân hàng mà còn tác động đến khách hàng vay vốn ngân hàng, cụ thể như sau:
Thứ nhất: Sự tác động của các quy luật kinh tế đối với khách hàng vay vốn ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trường, với sự tồn tại khách quan của các quy luật kinh tế thì những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có những ưu thế so với các đối thủ khác về trình độ kỹ thuật và công nghệ, về năng lực quản lý, về sản phẩm,… thì mới có thể tồn tại và phát triển, khi đó, việc cho vay của ngân hàng sẽ thuận lợi, ngân hàng sẽ thu được nợ và có điều kiện để mở rộng hoạt động tín dụng. Ngược lại, những doanh nghiệp nào không có những lợi thế, hoạt động kém hiệu quả thì sẽ bị loại khỏi thương trường và thậm chí sẽ bị thua lỗ, phá sản. Khi hiệu quả kinh doanh thấp kém, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng, thậm chí không trả được nợ ngay cả khi còn hoạt động. Như vậy, bên cạnh những mặt tích cực, cạnh tranh cũng đã dẫn đến những kết quả xấu trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng. Do vậy, RRTD luôn gắn liền với hoạt động tín dụng.
Thứ hai: Sự tác động của các quy luật kinh tế đối với ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng cũng như mọi doanh nghiệp khác, muốn tồn tại và phát triển thì tất yếu phải giải quyết các mâu thuẫn trong quá trình kinh doanh, giữa người bán và người mua, giữa tìm kiếm lợi nhuận với rủi ro, giữa thế mạnh của mình so với các ngân hàng khác, giữa việc mở rộng phạm vi hoạt động với việc tăng chi phí. Trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng giải quyết các mâu thuẫn bằng cách mở rộng lĩnh vực cho vay, thâm nhập vào lĩnh vực cho vay mới, nới lỏng các điều kiện tín dụng, dễ dàng chấp nhận các yêu cầu vay vốn của khách hàng,… Điều này dẫn đến, nhiều đề nghị vay vốn có khả năng trả nợ kém vẫn được ngân hàng chấp nhận nên nguy cơ RRTD của ngân hàng sẽ gia tăng. Do vậy, RRTD luôn gắn liền với việc mở rộng và gia tăng quy mô hoạt động tín dụng.
- Sự bất ổn của môi trường kinh tế là nguyên nhân gây ra RRTD
Bất kỳ một lĩnh vực kinh doanh nào cũng đều chịu sự chi phối của môi trường xung quanh. Mỗi sự biến động dù lớn hay nhỏ của môi trường cũng ảnh hưởng tốt hay xấu đến hoạt động kinh doanh. Môi trường kinh tế luôn ảnh hưởng đến sức mạnh tài chính của người vay, vì vậy cũng ảnh hưởng đến khả năng thu nợ của NHTM. Trong giai đoạn kinh tế hưng thịnh, các doanh nghiệp thường kinh doanh thuận lợi, lợi nhuận tăng trưởng nhanh. Trái lại, trong giai đoạn khủng hoảng, sức mua giảm, luân chuyển vốn chậm dẫn đến khả năng hoàn trả của người vay giảm sút. Tùy theo mức độ nghiêm trọng của khủng hoảng và thời gian ảnh hưởng của nó đến doanh nghiệp mà tạo ra khả năng thanh toán các khoản nợ ở mức khác nhau.
Ngày nay, nền kinh tế của các nước trên thế giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau. Vì vậy, khi biến động về kinh tế, chính trị của một quốc gia nào, một khu vực nào đó cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến các yếu tố đầu vào, đầu ra và ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng trả nợ vay cho ngân hàng.
- Sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước là nguyên nhân dấn đến RRTD
Nhà nước thường sử dụng các chính sách kinh tế tác động vào tổng sản phẩm quốc dân, công ăn, việc làm, tiền lương, lãi suất,.. Tùy thuộc vào từng thời kỳ mà Nhà Nước sẽ tác động đến các cá nhân, tổ chức, làm thay đổi dự kiến ban đầu của hỏ, nên có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của họ cho ngân hàng.
- Những sự kiện bất khả kháng cũng là nguyên nhân gây ra RRTD
Những sự kiện này ngân hàng rất khó dự báo, lường trước được như hiện tượng thiên nhiên bất thường, hỏa hoạn hay các hành vi trộm cắp… gây thiệt hại cho khách hàng vay vốn và hậu quả là ngân hàng phải gánh chịu. Đối với các nguyên nhân này, biện pháp phòng ngừa là mua bảo hiểm, tăng cường bảo vệ trực tiếp, giáo dục ý thức trách nhiệm cho nhân viên ngân hàng
Tóm lại, hoạt động tín dụng ngân hàng luôn chứa đựng tiềm ẩn những rủi ro, nguyên nhân phát sinh do nhiều yếu tố khác nhau, cả khách quan lẫn chủ quan… Tất cả những nguyên nhân trên có thể phòng ngừa ngay từ ban đầu, từ lúc đặt mối quan hệ với khách hàng thông qua sàn lọc, lựa chọn những khách hàng có chất lượng, loại bỏ những khách hàng kém chất lượng, từ đó triệt tiêu dần những mầm mống gây nên rủi ro tín dụng, hoặc có thể theo dõi, kiểm tra, kiểm soát để có biện pháp ứng xử kịp thời.

- Ảnh hưởng của RRTD đến hoạt động kinh doanh của NH và nền kinh tế
- Hậu quả đối với ngân hàng
Trong kinh doanh ngân hàng, rủi ro thường có xu hướng tập trung vào khoản mục tín dụng. Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động tín dụng. Khi một khoản cấp tín dụng ra mà ngân hàng không thu lại được đầy đủ và đúng hạn sẽ làm cho khoản mục chi phí của ngân hàng tăng lên (chi phí đòi nợ, chi phí bù đắp rủi ro, chi phí vốn, … ) nên lợi nhuần ngân hàng giảm xuống, uy tín của ngân hàng đối với khách hàng bị giảm sút, thậm chí có thể dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh và làm giảm khả năng chi trả của ngân hàng. Lúc đó lòng tin của khách hàng vào ngân hàng giảm, ảnh hưởng lớn các yếu tố của quá trình kinh doanh như rò rỉ chất xám, mối liên kết kinh doanh với các ngân hàng khác bị thu hẹp, đảo lộn thành quả hoạt động nhiều năm của một ngân hàng. Nếu rủi ro ở mức độ trầm trọng ngân hàng sẽ mất khả năng chi trả hoàn toàn và có nguy cơ bị phá sản. Do đó, RRTD là vấn đề sống còn của các NHTM.
- Hậu quả đối với khách hàng
Khi một khoản tín dụng cấp ra mà ngân hàng không thu lại được đầy đủ và đúng hạn sẽ ảnh hưởng đến khả năng chi trả của ngân hàng. Vì vậy, quyền lợi của những khách hàng gởi tiền bị ảnh hưởng, khách hàng đến rút tiền sẽ không đáp ứng kịp thời, đầy đủ. Thậm chí có nguy cơ, khách hàng sẽ bị mất khoản tiền đã gởi. Đối với những khách hàng vay, RRTD của ngân hàng buộc ngân hàng phải áp dụng chính sách tín dụng thắt chặt, thu hẹp quy mô tín dụng của mình. Điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiếp cận vốn ngân hàng của khách hàng nên việc mở rộng kinh doanh, phát triển doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, RRTD ngân hàng sẽ ảnh hưởng sâu rộng đến mọi doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực cũng như mọi tầng lớp dân cư trong xã hội.
- Hậu quả đối với nền kinh tế
Hoạt động ngân hàng là hoạt động mang tính xã hội cao, vì vậy, khi một ngân hàng suy yếu do hậu quả của RRTD, sẽ dễ dàng tạo ra phản ứng dây chuyền đối với các ngân hàng, các định chế tài chính khác, dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng, kìm hãm sự phát triển hay dẫn đến sự suy thoái kinh tế.
Tóm lại, nguy cơ và mức độ thiệt hại do RRTD của ngân hàng gây ra thật to lớn. Không những vậy, RRTD của ngân hàng lại mang tín hệ thống. Do đó, việc phòng ngừa và hạn chế RRTD của ngân hàng, đảo bảo cho hoạt động kinh doanh tín dụng của ngân hàng an toàn là vấn đề vô cùng trọng đại, không chỉ là công việc thường xuyên và quan trọng của mội một ngân hàng riêng lẻ mà còn là vấn đề của toàn hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.
Tỷ lệ này được quy định dưới 5% là có thể chấp nhận được. Mức giảm tỷ lệ nợ xấu được tính bằng cách lấy tỷ lệ nợ quá hạn năm sau trừ tỷ lệ nợ xấu năm trước
- Khái niệm quản trị RRTD
Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, đo lường, kiểm soát, tài trợ và tối thiểu hóa những tác động bất lợi của rủi ro.
- Ý nghĩa của việc quản trị RRTD
- Rủi ro tín dụng là loại rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề nên việc đánh giá rủi ro là trách nhiệm của hầu hết các NHTM.
- Quản trị rủi ro tín dụng giúp NHTM hạn chế những khoản nợ xấu, khoản nợ khó thu hồi, tránh nguy cơ phá sản ngân hàng;
- Quản trị tín dụng hiệu quả giúp ngân hàng không gặp khó khăn trong khâu thanh toán, có tác dụng làm tăng uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính tiền tệ;
- Năng lực quản tị rủi ro tín dụng càng được mở rộng thì lợi nhuận của ngân hàng càng tăng cao;
- Quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả góp phần ổn định và phát triển kinh tế – xã hội.
- Đặc điểm của khách hàng doanh nghiệp trong công tác quản trị RRTD
Theo định nghĩa của Luật doanh nghiệp, ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trị sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Căn cứ vào quy mô vốn và số lao động thì doanh nghiệp sẽ được phân loại thành các doanh nghiệp vừa và nhỏ (viết tắt là SMEs), doanh nghiệp quy mô lớn. Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009: DNNVV là cơ sở đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) [11]
Những năm gần đây, hoạt động doanh nghiệp đã có bước phát triển cao, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo… Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế khuc vực, quốc tế, thì doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn nhiều yếu kém bất cập. Phần lớn các doanh nghiệp hiện nay đều biểu hiện một số đặc điểm sau:
Phát triển mang tính phân tán và thiếu quy hoạch định hướng: Doanh nghiệp trong những năm qua mà trung tâm là doanh nghiệp ngoài quốc doanh ra đời thiếu tính ổn định, bền vững nặng tính hình thức, chạy theo số lượng, chưa quan tâm đến chất lượng và bề sâu.
Số lượng doanh nghiệp nhiều, nhưng quy mô nhỏ phân tán đi kèm với công nghệ lạc hậu: Do doanh nghiệp Việt Nam phổ biến là quy mô nhỏ, vốn sản xuất kinh doanh lại thấp, nên khả năng trang bị kỹ thuật công nghệ tiên tiến là rất hạn chế.
Khả năng quản lý kinh doanh chưa cao: Doanh nghiệp không đánh giá hết được những rủi ro khi sử dụng đồng vốn, đánh giá chi phí vốn cũng như khả năng sinh lợi của đồng vốn. Đa phần các doanh nghiệp khi dùng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh thường đầu tư vào mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư vào cơ sở vật chất mà chưa chú trọng đầu tư vào vấn đề quan trọng nhất là đầu tư phát triển kỹ năng của lực lượng nhân lực của công ty. Khi doanh nghiệp mở rộng quy mô mà tư duy quản lý không thay đổi, trình độ đội ngũ quản lý không được đảm bảo thì doanh nghiệp tất yếu phải đối mặt với những rủi ro về khả năng quản lý sản xuất, dẫn đến nhiều sai lầm trong quá trình ra quyết định quản lý kinh doanh.
Khả năng tài chính hạn chế: Nguồn vốn tín dụng trong nền kinh tế còn hạn chế, phần lớn dành cho doanh nghiệp nhà nước, còn lại ưu thế thuộc về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh ngiệp ngoài quốc doanh chịu khó khăn nhiều hơn khi tiếp cận với nguồn vốn tín dụng và luôn phải kinh doanh trong tình trạng thiếu vốn.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không cao: một số ít ngành nghề như: dệt, may, giầy da, sản xuất đồ gỗ, gốm sứ mý nghệ… thể hiện được năng lực cạnh tranh. Còn phần lớn sản phẩm hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa dịch vị chưa đạt được sức cạnh tranh thắng thế ngay cả trên thị trường trong nước. Đây chính là hậu quả của phát triển tràn lan, thiếu tính quy hoạch và không chú ý tới yếu tố kỹ thuật công nghệ và lợi thế kinh doanh.
Khả năng lập dự án, thuyết minh phương án kinh doanh chưa tốt: Doanh nghiệp hiện nay rất lúng túng trong việc tìm kiếm các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật công nghệ, dịch vụ cung cấp thông tin về thị trường, giá cả, môi trường đầu tư, nhưng khó khăn nhất vẫn là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp nhà nước.
Báo cáo tài chính thiếu minh bạch, rõ ràng: Độ tin cậy của số liệu trên báo cáo tài chính không cao, kể cả các báo cáo tài chính đã qua kiểm toán nên kết quả phân tích và đánh giá tình hình tài chính công ty thông qua phân tích báo cáo tài chính thường chỉ có giá trị tham khảo hơn là phản ánh thực trạng.
Đây là những hạn chế lớn của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, từ đó chi phối đến đặc điểm rủi ro tín dụng doanh nghiệp như:
Do các doanh nghiệp phát triển mang tính phân tán và thiếu quy hoạch định huống, chưa quan tâm đến chất lượng và bề sâu nên cạnh tranh không lại các đối thủ đi trước dẫn đến dễ bị mất vốn và không có khả năng trả nợ ngân hàng.
Khả năng nguồn vốn thấp, doanh nghiệp có quy mô nhỏ và phân tán đi kèm với công nghệ lạc hậu điều này ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Công nghệ lạc hậu dẫn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Công nghệ lạc hậu dẫn đến năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm kém, mẫu mã không hấp dẫn đối với người tiêu dùng. Từ đó tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường thấp, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm nên nguy cơ vốn bị ứ đọng cao. Do vậy, doanh nghiệp thực hiện việc trả vốn lãi cho ngân hàng sẽ khó, đây cũng chính là rủi ro tín dụng doanh nghiệp mà các NHTM hay gặp phải.
Các ngành nghề của doanh nghiệp đi vay rất đa dạng. Đa phần các cán bộ tín dụng Ngân hàng không thể có đầy đủ thông tin cũng như hiểu biết về các ngành nghề lĩnh vực mà doanh nghiệp đang đầu tư kinh doanh. Nên việc thẩm định các dự án đầu từ của cán bộ thực hiện chưa chính xác khả năng thanh toán nợ vay của khách hàng, cũng như mức độ khả thi của dự án.
Hiện nay, tại các doanh nghiệp công tác kế toán chi phí chưa được thực hiện chuyên nghiệp, ghi chép liên tục rõ ràng, báo cáo tài chính thiếu minh bạch. Vì thế, khi cán bộ ngân hàng sử dụng báo cáo tài chính do doanh nghiệp cung cấp để phân tích trong công tác thẩm định sẽ đưa ra cái nhìn lệch lạc thiếu chuẩn xác. Cán bộ ngân hàng cũng rất khó thẩm định được số liệu tài chính do các doanh nghiệp cung cấp có thực và chính xác tuyệt đối hay không. Như vậy, điều này sẽ dẫn đến sai lầm trong việc đưa ra quyết định tín dụng của các ngân hàng.
Chính vì rất khó khăn trong việc đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, nên ngân hàng thường có xu hướng ưu tiên các hồ sơ vay vốn có tài sản thế chấp, đảm bảo. Tuy nhiên, khi dẫn đễn việc xử lý thu hồi nợ cũng rất khó khăn. Theo các văn bản hướng dẫn cưỡng chế thu hồi nợ đều ghi rõ trong trường hợp doanh nghiệp không đảm bảo khả năng thanh toán, ngân hàng có quyền xử lý tài sản nợ vay. Trên thực tế, ngân hàng là một tổ chức kinh tế, không phải là một cơ quan quyền lực Nhà nước, không có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Hơn nữa các thủ tục pháp lý kiện ra tòa án để thực hiện xử lý tài sản thế chấp cũng rất rườm rà, gây mất chi phí đối với ngân hàng.
Nếu quyết định cho vay đúng nhưng thiếu kiểm tra, kiểm soát sau khi cho vay dẫn đến khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích mà ngân hàng vẫn không phát hiện để ngăn chặn kịp thời thì ngân hàng vẫn sẽ gặp rủi ro tín dụng.
Các khoản vay cho doanh nghiệp thường có thời hạn dài vì vậy nếu tính hình kinh tế xã hội không ổn định thì khả năng doanh nghiệp không thể trả nợ cho ngân hàng rất cao. Đặc biệt, trong những năm gần đây, tình hình sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, chính vì vậy làm cho rủi ro tín dụng doanh nghiệp tăng lên.
Vai trò của doanh nghiệp không chỉ quyết định sự phát triển bền vững về mặt kinh tế mà còn quyết định đến sự ổn định và lành mạnh hóa các vấn đề xã hội. Trong những năm gần đây, do sự thông thoáng của Luật Doanh nghiệp nên có rất nhiều doanh nghiệp được thành lập. Hơn nữa, trước xu hướng mở cửa hội nhập nền kinh tế trong nước với nền kinh tế khu vực và trên thế giới, các doanh nghiệp không ngừng mở rộng phát triển về quy mô lẫn chất lượng. Do đó, nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp luôn tăng cao. Đây cũng là hoạt động kinh doanh mang lại nguồn thu nhập chủ yếu của ngân hàng. Chính vì vậy, việc hạn chế rủi ro tín dụng doanh nghiệp là điều rất cần thiết đối với các NHTM nói chung và Agribank Khu Kinh tế mở Chu Lai nói riêng.
Công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại các NHTM được thực hiện theo 04 bước sau:
Nhận dạng rủi ro tín dụng bao gồm các công việc: theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động tín dụng và toàn bộ hoạt động tín dụng của ngân hàng, nhằm thống kê được tất cả các rủi ro, không chỉ là những loại rủi ro đã và đang xảy ra, mà còn dự báo được nhựng dạng rủi ro mới có thể xuất hiện đối với ngân hàng, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp đo lường, kiểm soát và tài trợ rủi ro tín dụng phù hợp.
Nhận dạng RRTD DN là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro bất định của một tổ chức. Tất cả các rủi ro trọng yếu (gồm cả rủi ro đang có, rủi ro chưa được phát hiện và rủi ro mới) ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của ngân hàng phải được ngân hàng nhận ra và hiểu được. Các hoạt động nhận diện nhằm phát triển thông tin về nguồn rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm họa, và nguy cơ rủi ro. Yêu cầu chính của nội dung này là thực hiện công việc dự báo các rủi ro có thể có, xác định nó xuất hiện từ nguồn nào trên cơ sở những thông tin được cung cấp và tự thu thập về các vấn đề có liên quan đến quyết định kinh doanh. Đối với một TCTD, yêu cầu nhận diện RRTD phải được thực hiện đối với thực trạng toàn bộ hoạt động tín dụng (để phục vụ cho công tác quản trị điều hành kinh doanh tín dụng) và cả với từng khoản cấp tín dụng/khách hàng cụ thể (để phục vụ cho việc ra quyết định tín dụng).
Có các phương pháp nhận diện rủi ro sau: Phương pháp bảng liệt kê (phương pháp check – list) là phương pháp thông qua các câu hỏi về những vấn đề có thể xảy ra để từ đó nhận dạng và đánh giá mức độ tác động của từng loại rủi ro; Phương pháp phân tích tài chính là phương pháp đánh giá tình hình tài chính hiện đại của DN thông qua các báo cáo chính để từ đó đưa ra đánh giá có căn cứ về tính hình tài chính tương lai của DN và đưa ra ước tính tổn thất về khả năng kinh tế trong tương lai; Phương pháp lưu đồ là phương pháp liệt kê trình tự các bước đối với một quy trình cho vay, từ đó xác định rủi ro để có những biện pháp khắc phục nhất định. Ngoài ra, trong thực tế còn sử dụng phương pháp giao tiếp với chuyên gia, phương pháp nghiên cứu các số liệu tổn thất trong quá khứ, phương pháp nghiên cứu các số liệu tổn thất trong quá khứ, phương pháp đánh giá hiểm họa RRTD, phương pháp giao tiếp với nội bộ tổ chức và phương pháp phân tích hợp đồng trong phân tích, nhận diện RRTD. Mỗi phương pháp có những điểm mạnh và điểm yếu riêng, do vậy trên thực tế có thể phối hợp các phương pháp trên để tối ưu hóa công tác nhận diện RRTD.
Việc nhận biết RRTD là rất phức tạp, các tình huống đẫn đến rủi ro luôn đa dạng. Các NHTM đã cố gắng xây dựng một số dấu hiệu nhận biết RRTD điển hình để hổ trợ cho hoạt động quản trị RRTD cụ thể như sau:
+ Các dấu hiệu từ người vay
- Doanh nghiệp khó khăn trong thanh toán lương, gia tăng các khoản nợ thương mại và các khoản vay ngân hàng một cách bất thường
- Đề nghị các khoản vay vượt quá nhu cầu cần thiết, thường xuyên yêu cầu ngân hàng đáo hạn và cơ cấu lại thời hạn trả nợ.
- Sử dụng nhiều khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động phát triển dài hạn, các hệ số tài chính biến động xấu.
- Doanh nghiệp nợ tiền thuế nhà nước dây dưa, bị cơ quan thuế nhắc nhở nhiều lần.
- Doanh nghiệp vay vốn trì hoãn cung cấp các báo cáo tài chính cho ngân hàng: Báo cáo tài chính là tài liệu quan trọng để ngân hàng thẩm định cho vay, là cơ sở để đánh giá tình hình vay vốn và sử dụng vốn. Việc chậm trễ trong xây dựng hoặc gửi báo cáo tài chính định kỳ nói lên tình hình tài chính của doanh nghiệp có vấn đề, có thể người vay gặp khó khăn hoặc gian dối về tài chính. Ngân hàng cần tiến hành kiểm tra, phân tích và kết luận cụ thể để có biện pháp xử lý kịp thời.
- Mối quan hệ không bình thường giữa ngân hàng và người vay: Sự chậm trễ, thất hẹn hoặc trốn tránh các giao tiếp bình thường với ngân hàng cũng là dấu hiệu cho thấy khách hàng không bình thường, có thể khó khăn trong sản xuất kinh doanh, tài chính suy giảm. Ngân hàng cần tăng cường cảnh giác, tìm hiểu thực chất vấn đề để đối phó kịp thời.
- Dự trữ vật tư hàng hóa tăng cao, ứ đọng lâu ngày, khả năng quay vòng thấp.
- Chất lượng hàng hóa, dịch vụ giảm sút, DN bị rắc rối trong tranh chấp và kiện tụng về chất lượng hàng hóa, dịch vụ.
- Khách hàng vay vốn giảm bất thường về giá bán hàng hóa: việc giảm giá bất thường có thể do DN khó khăn về tài chính.
- Sự thay đổi bất thường về tổ chức: việc thay đổi người quản lý (cách chức, từ chức, chuyển công tác…) hoặc người lao động thiếu việc làm, giảm nhân công, bán tài sản, … đây là những dấu hiệu rõ nét cho thấy những khó khăn của DN có thể ảnh hưởng đến việc trả nợ ngân hàng gặp khó khăn.
- Đối tác của người vay gặp khó khăn (phá sản hoặc bị truy tố): Nếu đối tác của người vay gặp rủi ro thì nguy cơ rủi ro dây chuyền có thể xảy ra và ảnh hưởng đến các món nợ của ngân hàng.
- Khách hàng hoàn trả nợ không đúng hạn: Các trường hợp trả nợ vay ngân hàng chậm trễ đều được coi là dấu hiệu cơ bản của RRTD. Mục đích cuối cùng và cơ bản nhất trong hoạt động tín dụng là thu hồi nợ đầy đủ và đúng hạn. Việc khách hàng không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng đồng nghĩa với RRTD.
- Xuất hiện tình trạng vay vốn ở nhiều ngân hàng: Thường các DN chỉ quan hệ tín dụng với một ngân hàng quen thuộc và thuận tiện. Tuy nhiên, trong trường hợp khó khăn, không trả được nợ ngân hàng đầy đủ và đúng hạn nên khách hàng tìm cách vay nhiều ngân hàng để đáo nợ và tránh sự kiểm soát của NH.
+ Các dấu hiệu từ phía ngân hàng
- Quy trình cho vay không được thực hiện đúng quy định: Thông thường các ngân hàng chấp hành quy trình cho vay một cách chặt chẽ, kiểm soát việc cấp tín dụng có hiệu quả, nâng cao chất lượng tín dụng. Tuy nhiên, quá trình cho vay không phải lúc nào cũng được thực hiện nghiêm túc và đầy đủ. Trong bối cảnh cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt và mạnh mẽ, các ngân hàng có xu hướng nới lỏng các điều kiện vay vốn, bỏ qua một số quy định để thu hút hoặc giữ chân khách hàng do đó RRTD sẽ tăng lên.
- Giải ngân khoản vay trước khi hoàn thành bộ hồ sơ vay vốn: Điều này thể hiện sự bất ổn, vội vã của ngân hàng trong việc tăng trưởng tín dụng, dẫn đến không kiểm soát được chất lượng tín dụng. Khách hàng sau khi đã nhận được khoản vay thường thiếu thiện chí bổ sung các thủ tục còn thiếu. Những khoản vay như vậy thường có độ rủi ro cao so với các khoản vay bình thường.
- Ngân hàng cho khách hàng vay đảo nợ: Khi một khoản vay không được hình thành đầy đủ, đúng hạn, thay vì phải đàm phán với khách hàng để xử lý, nhưng ngân hàng giải quyết tình trạng quá hạn trước mắt bằng cách cho vay đảo nợ mới để thu hồi nợ cũ. Biện pháp này không kiểm soát được các khó khăn của khách hàng phải đối mặt mà làm tích tụ thêm rủi ro cho khoản vay. Đến một lúc nào đó, tài chính của DN bộ lộ rõ ràng, không cứu vãn được nữa, RRTD là rất cao.
Một khi các rủi ro đã được xác định, chúng ta phải đánh giá được về mức độ thua lỗ và xác xuất nảy sinh. Trong quản trị RRTD DN, đo lường rủi ro được thực hiện bằng thẩm định rủi ro khoản vay, xếp hạng tín dụng khách hàng.
Điều này có thể được thực hiện bằng cách sử dụng các kỹ thuật khác nhau, từ các công cụ và mô hình đơn giản đến các công cụ và mô hình phức tạp
Có nhiều mô hình khác nhau để đánh giá RRTD. Các mô hình này rất đa dạng, bao gồm cả mô hình phản ánh về mặt lượng (định lượng) và mô hình phản ánh về mặt chất lượng tín dụng (định tính). Dù mô hình nào đi chăng nữa thì chúng không loại trừ nhau, mà có thể bổ sung nhau hoặc dùng để đánh giá RRTD dưới nhiều góc độ khác nhau.
+ Mô hình định tính: Để sử dụng phương pháp định tính trong đo lường RRTD, ngân hàng cần phải thu thập các thông tin về khách hàng vay bằng cách điều tra tìm hiểu về thông tin khách hàng, kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay, năng lực quản lý và năng lực tài chính của khách hàng, khai thác thông tin từ trung tâm tín dụng của NHNN, … Các nội dung phân tích thường được các ngân hàng gộp thành từng nhóm nhằm thẩm định từng mặt, khía cạnh khác nhau. Các ngân hàng thường sử dụng tiêu chuẩn CAMPARI: Character (tư cách của người vay), Abolity (năng lực người vay), Margin (lãi vay), Purpose (mục đích vay), Amount (số tiền vay), Repayment (sự hoàn trả), Insurance (bảo đảm). Hoặc tiêu chuẩn 5C: Character (tư cách của người vay), Capital (vốn), Capacity (năng lực), Collateral (bảo đảm), Conditions (điều kiện). Trong đó, tiêu chuẩn 5C được sử dụng phổ biến hơn trong công tác phân tích và đo lường RRTD, đặc biệt là đối với các ngân hàng ở Việt Nam.
- Mô hình 5C: Trước khi cho vay, ngân hàng cần phải đánh giá uy tín, năng lực khách hàng để quyết cấp tín dụng hay không, cụ thể: (1) Tư cách của người vay: Có thể được xem là điều kiện quan trọng nhất cũng là phẩm chất khó nhất khi đánh giá. Tư cách là tổng hợp những tính cách của một con người trung thực, đạo đức… là tổng hợp những phẩm chất riêng biệt của một con người, để phân biệt người này với người khác. (2) Vốn: Chủ yếu đề cập đến việc xây dựng cấu trúc vốn mà người đi vay quyết định vay trong tổng số dự án của mình. Một số dự án đầu tư thường được hỗ trợ về tài chính bởi khoản vay ngân hàng và một phần vốn góp của chủ sở hữu. Những dự án như vậy sẽ có khả năng thành công rất cao, vì thế ngân hàng cũng tin tưởng vào dự án. Các định chế tài chính thường xác lập một mức đóng góp tối thiểu vào dự án để đảm bảo an toàn cho việc cấp tín dụng đối với khách hàng. (3) Năng lực: năng lực là khả năng hoàn trả vốn vay cùng với lãi suất theo một lịch trình cụ thể. Nó phụ thuộc vào hai yếu tố: năng lực tài chính của khách hàng và khả năng tạo ra lợi nhuận ròng phục vụ cho việc hoàn trả tín dụng. Để đánh giá khả năng tài chính của khách hàng, TCTD thường tìm kiếm các dữ liệu tài chính của khách hàng. Ngân hàng thường xuyên yêu cầu cáo báo cáo tài chính được kiểm toán và dòng tiền của dự án để xác định khả năng vay nợ của khách hàng. Ngân hàng sẽ xem xét hiệu quả cũng như những rủi ro sẽ gặp phải của dự án để đưa ra quyết định hợp lý. Đánh giá nguồn cơ bản để hoàn trả khoản vay là rất quan trọng đối với công tác cấp tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng. (4) Bảo đảm: bảo đảm được biết đến như là nguồi trả nợ thứ hai. Khi mà khoản vay không được hoàn trả bởi nguồn trả nợ thứ nhất, ngân hàng sẽ lấy quyền sở hữu của các khoản thế chấp, chuyển nhượng nó và sử dụng phần tiền thu được để trừ vào khoản nợ chưa trả. Khoản vay ngày càng được đảm bảo bằng tài sản khi khả năng thu hồi cao, nếu khách hàng làm ăn không thuận lợi. Nhưng cần nhấn mạnh rằng tài sản đảm bảo tiền vay nhằm mục đích nâng cao ý thức, trách nhiệm trả nợ của khách hàng để hạn chế RRTD là chính hơn nhằm mục đích thu hồi vốn. (5) Điều kiện kinh tế môi trường: Việc đánh giá RRTD trên cơ sở điều kiện kinh tế môi trường hoạt động của người vay được dựa vào việc phân tích các nhân tố bên trong và bên ngoài.
- Phân tích tài chính và phi tài chính của doanh nghiệp
- Phân tích tài chính: Là phân tích hiện trạng tài chính và các dự báo về tài chính trong tương lai của khách hàng nhằm tìm kiếm và tiên lượng những trường hợp xấu có thể xảy ra, làm giảm khả năng trả nợ của khách hàng. Phân tích tài chính bao gồm đánh giá khái quát về quản trị vốn và các hoạt động kinh doanh, phân tích hệ số tài chình, phân tích lưu chuyển tiền tệ, phân tích các dự báo tài chính. Qua phân tích tài chính, ngân hàng cần xác định nhu cầu vay vốn hợp lý của khách hàng, thời gian vay hợp lý, kỳ hạn trả nợ. Ngoài ra qua phân tích tài chính cũng tiên lượng những rủi ro xảy ra đối với khoản tín dụng sẽ cấp.
- Phân tích phi tài chính: Là phân tích các yếu tố ít hoặc không liên quan đến vấn đề tài chính của khách hàng một cách trực tiếp. Đó là phân tích, kiểm tra tính pháp lý của khách hàng; phân tích tình hình quản trị DN, khả năng và uy tín của Hội đồng quản trị, ban điều hành, phân tích triển vọng của khách hàng, vị thế của khách hàng trên thị trường, xu hướng phát triển của ngành, sản phẩm và chiến lược phát triển trong tương lai của khách hàng đồng thời phân tích các chính sách có liên quan đến khách hàng.

Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Khu kinh tế mở Chu Lai
+ Mô hình định lượng
- Mô hình điểm số Z ( Z- credit scoring model): Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại RRTD đối với người vay, phụ thuộc vào chỉ số tài chính của người vay, tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vợ nợ trong quá khứ.
Z = 1.2X1 + 1.4X2 + 3.3X3 + 0.6X4 + 1.0X5
X1 là hệ số vốn lưu động/tổng tài sản
X2 là hệ số lợi nhuận chưa phân phối/tổng tài sản
X3 là hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi/tổng tài sản
X4 là hệ số giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu/ giá trị hạch toán của tổng nợ.
X5 là hệ số doanh thu/tổng tài sản
Điểm số Z càng cao thì xác suất vỡ nợ càng thấp, nếu Z thấp hoặc là một số âm là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm nguy cơ rủi ro vỡ nợ cao.
Z<1.8: Khách hàng có khả năng rủi ro cao
1.8<Z<3: Không xác định được
Z>3: Khách hàng không có khả năng vỡ nợ
Bất kỳ DN nào có Z<1.81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ RRTD cao.
Phương pháp này đơn giản song mô hình này chỉ cho phép phân loại khách hàng vay có rủi ro và không có rủi ro. Trong thực tế mức độ RRTD tiềm năng của mỗi khách hàng khác nhau từ mức thấp như chậm trả lãi, không được trả lãi cho đến mất hoàn toàn vả vốn gốc và lãi vay. Ngoài ra không tính đến các yếu tố khó định lượng như điều kiện kinh doanh, thị trường thay đổi, danh tiếng khách hàng, mối quan hệ gắn bó lâu dài với khách hàng, sự biến động của chu kỳ kinh tế.
Đánh giá rủi ro khoản vay: Phương pháp ước tính tổn thất tín dụng dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu đánh giá nội bộ IRB (Internal Ratings Based)
EL = EAD x PD x LGD
Trong đó: EL (Expected loss) là tổn thất tín dụng dự kiến; EAD (Exposure at Default) là tổng dư nợ khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ; PD (Probaltiy o Default) là xác suất khách hàng không trả được nợ; LGD (Loss given default) là tỷ trọng tổn thất ước tính.
EAD = Dư nợ bình quân + LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân
Trong đó, LEQ – Loan Equivalent Exposure là tỷ trọng phần vốn chưa sử dụng có nhiều khả năng sẽ được khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ. “LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân” chính là phần dư nợ khách hàng rút thêm tại thời điểm không được nợ ngoài mức dư nợ bình quân.
PD – xác suất không trả được nợ
Cơ sở của xác suất này là các số liệu về các khoản nợ trong quá khứ của khách hàng, gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được. Theo yêu cầu của Basel II, để tính toán được nợ trong vòng một năm của khách hàng, ngân hàng phải căn cứ vào số liệu dư nợ của khách hàng trong vòng ít nhất là 5 năm trước đó.
LGD – tỷ trọng tổn thất ước tính
Đây là tỷ trọng phần vốn bị tổn thất trên tổng dư nợ tại thời điểm khách hàng không trả được nợ. LGD không chỉ bao gồm tổn thất về khoản vay mà còn bao gồm các tổn thaatr khác phát sinh khi khách hàng không trả được nợ
Như vậy, thông qua các biến số LGD, PD và EAD, ngân hàng sẽ xác định được EL – tổn thất ước tính của các khoản vay. Nếu ngân hàng tính chính xác được tổn thất ước tính của khoản cho vay thì sẽ mang lại cho ngân hàng rất nhiều ứng dụng chứ không chỉ đơn thuần giúp ngân hàng xác định chính xác hơn hệ số an toàn vốn tối thiểu trong mối quan hệ giữa vốn tự có với RRTD.
- Đánh giá rủi ro danh mục: Phương pháp xác định giá trị rủi ro VAR
Var của danh mục được định nghĩa là khoản lỗ tối đa trong một thời gian nhất định nếu loại trừ những trường hợp xấu nhất hiếm khi xảy ra. Đây là phương pháp đánh giá rủi ro theo hai tiêu chuẩn: giá trị danh mục cho vay và khả năng chịu đựng RRTD của ngân hàng.
Var có thể hiểu như sau nếu không tồn tại sự kiện đặc biệt thì tổn thất tối đa trong X% các trường hợp sẽ không vượt quá V đồng trong vòng N ngày”. V là giá trị rủi ro phụ thuộc vào độ tin cậy, thời gian đo lường VAR và sự phân bổ lời/lỗ trong khoảng thời gian này (độ lệch chuẩn).
Hiệu quả của quá trình đo lường RRTD của ngân hàng phụ thuộc nhiều vào chất lượng của hệ thống thông tin quản lý. Các thông tin được tạo ra từ hệ thống cho phép Ban Lãnh đạo và các cấp quản lý hoàn thành vai trò giám sát của mình, bao gồm cả việc xác định mức vốn tự có của ngân hàng cần có. Vì vậy chất lượng, mức độ chi tiết và sự kịp thời của thông tin có vai trò rất quan trọng, đặc biệt, thông tin về thành phần và chất lượng của danh mục tín dụng cho phép cấp quản lý đánh giá một cách nhanh chóng và chính xác mức độ rủi ro của ngân hàng hiện tại.
Ngân hàng phải có hệ thống thông tin tại chỗ cho phép quản lý xác định mức độ rủi ro các danh mục tín dụng. Phạm vi của thông tin nên được xem xét định kỳ bởi các nhà quản lý kinh doanh, quản lý cấp cao và Hội đồng quản trị.
- Hệ thống xếp hạng tín dụng
Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ là tổ hợp các quy trình phân loại khách hàng theo ngành nghề, quy mô, tính chất sở hữu, bộ chỉ tiêu tài chính và bộ phi tài chính để chấm điểm khách hàng. Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ là một công cụ quan trọng trong việc quản lý và giám sát chất lượng đối với từng khách hàng cũng như toàn bộ danh mục tín dụng. Mục đích của xếp hạng tín dụng.
- Ra quyết định cấp tín dụng: xác định hạn mức tín dụng, thời hạn, mức lãi suất, biện pháp bảo đảm tiền vay, phê duyệt hay không phê duyệt;
- Giám sát và đánh giá khách hàng tín dụng khi khoản tín dụng đang còn dư nợ; hạng khách hàng cho phép ngân hàng lường trước những dấu hiệu cho thấy khoản vay đang có chất lượng xấu đi và có những biện pháp đối phó kịp thời;
- Quản lý, giám sát chất lượng của danh mục tín dụng và xu hướng của nó
- Ước lượng mức vốn đã cho vay sẽ không thu hồi được để trích lập dự phòng tổn thất tín dụng.
Ngân hàng cần xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ cho riêng mình và đảm bảo các quy định về xếp hạng tín dụng nội bộ cho NHNN đưa ra.
Bảng 1.1. Thứ tự xếp hạng RRTD của doanh nghiệp theo Moody’s và S&P
| STT | Xếp hạng rủi ro tín dụng | Moody’s | S&P | Tổng điểm |
| 1 | Chất lượng tốt nhất, rủi ro thấp nhất | Aaa | AAA | >92,4 |
| 2 | Chất lượng cao | Aa | Â | 84,8-92,3 |
| 3 | Chất lượng khá | A | A | 77,2-84,7 |
| 4 | Chất lượng trung bình | Bbb | BBB | 69,6-77,1 |
| 5 | Chất lượng trung bình mang yếu tố đầu | Ba | BB | 62,0-69,5 |
| 6 | Chất lượng dưới mức trung bình | B | B | 54,4-61,9 |
| 7 | Chất lượng kém | Caa | CCC | 46,8-54,9 |
| 8 | Mang tính đầu cơ, có thể vỡ nợ | Ca | CC | 39,2-46,7 |
| 9 | Chất lượng thấp nhất, triển vọng xấu | C | C | 31,6-39,1 |
| 10 | Các công ty phá sản | Không xếp | D | <31,6 |
(Nguồn: Quản trị rủi ro ngân hàng thương mại – Pertet. Rose (2011))
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\LUAN VAN (Nguyen Ho Thuy Tien)


