Quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn
“Trong nền kinh tế thị trường, thuế là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước để quản lý vĩ mô nền kinh tế. Qua công cụ thuế, Nhà nước không chỉ tăng thu cho ngân sách, qua đó đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước mà còn sử dụng nó để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế nhanh, bền vững, tiến kịp các nước trong khu vực và trên thế giới. Hơn nữa, thuế còn giúp thực hiện mục tiêu bình đẳng và bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn cho xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường của đất nước.
Nguồn thu thuế chủ yếu đến từ các doanh nghiệp, trong đó có hộ kinh doanh cá thể. Trên địa bàn quận Sơn Trà, tỷ lệ thuế thu từ các hộ kinh doanh cá thể còn khá khiêm tốn, chỉ chiếm 28,5% năm 2019 [3]. Trong những năm gần đây, với sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, thực hiện đa dạng các thành phần kinh tế nên hộ kinh doanh cá thể phát triển mạnh, đóng góp nhiều vào sự phát triển của quận Sơn Trà. Hộ kinh doanh cá thể có nhiều ưu thế nhưng cũng có nhiều hạn chế, khó khăn trong phát triển sản xuất kinh doanh. Do là một đơn vị kinh tế có nhiều đặc thù, số lượng lớn và phạm vi hoạt động rộng nên công tác quản lý nhà nước, trong đó có quản lý thuế đối với thành phần kinh tế này cũng có nhiều khó khăn, phức tạp.
Mặc dù thời gian qua, công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Sơn Trà có nhiều chuyển biến tích cực như đã nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của các hộ kinh doanh, hạn chế thất thu, tăng thu cho ngân sách quận Sơn Trà,… nhưng nguồn thu thuế từ các hộ kinh doanh cá thể có thể khai thác để đạt được mức cao hơn nữa. Tình trạng thất thu tuy có giảm nhưng vẫn còn tình trạng quản lý không hết hộ kinh doanh, doanh thu tính thuế không sát thực, dây dưa nợ đọng còn nhiều,… Do đó, vấn đề cấp thiết đặt ra cho ngành thuế quận Sơn Trà là tìm ra được các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể.”
Vì những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
– Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể.
– Đánh giá thực trạng quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng chỉ ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân của những thành công, hạn chế đó.
– Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa công tác quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu là công tác quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
b. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Công tác quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Về không gian: Quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2017 – 2019. Các giải pháp được đề xuất có ý nghĩa trong 3-5 năm tới.
“- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Đây là các số liệu từ các công trình nghiên cứu đã được công bố trên các nguồn như tạp chí, sách báo, Internet, … Các dữ liệu này được sử dụng để phân tích, giải thích rõ cho nội dung nghiên cứu. Các loại tài liệu này được tác giả hệ thống trong phần Tài liệu tham khảo. Nguồn tài liệu này gồm:
+ Các sách, báo, tạp chí, các văn kiện Nghị quyết, các chương trình nghiên cứu đã được xuất bản, các kết quả nghiên cứu đã được công bố của cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học trong và ngoài nước, các tài liệu trên Internet,…
+ Tài liệu, số liệu đã được công bố về tình hình kinh tế xã hội, kinh tế của ngành, báo cáo tài chính, báo cáo thường niên… số liệu thu nhập từ Phòng Kế hoạch nghiệp vụ, Phòng Kế toán Ngân quỹ, Phòng Hành chính tổ chức… Trên cơ sở đó để tiến hành tổng hợp các thông tin cần thiết cần phục vụ cho công tác nghiên cứu.
+ Từ các thông tư, chỉ thị, quyết định của Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước; những số liệu đã công bố của các cơ quan thống kê Trung ương, các viện nghiên cứu, các trường đại học, các tạp chí, báo chí chuyên ngành và những báo cáo khoa học đã được công bố; các nghiên cứu ở trong và ngoài nước, các tài liệu do các cơ quan của Chi cục thuế quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, các tài liệu xuất bản liên quan đến công tác thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
– Phương pháp xử lý và tổng hợp số liệu: Các dữ liệu sau khi được thu thập, tác giả sẽ tiến hành tổng hợp, chọn lọc ra các dữ liệu hợp lệ (có đầy đủ câu trả lời và nội dung phù hợp với nghiên cứu). Sau đó, các dữ liệu này sẽ được xử lý trên phần mềm Excel. Thông qua các thông số tuyệt đối, tương đối, số trung bình được thể hiện qua các bảng biểu, sơ đồ, đồ thị, tác giả có thể đánh giá được công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.”
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có cấu trúc 03 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể.
Chương 2: Thực trạng quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ
1.1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ
a. Hộ kinh doanh cá thể
Xét về mặt pháp lý, hộ kinh doanh cá thể được định nghĩa cụ thể trong Nghị định số 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh “do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”.
“Trên thực tế HKD hoạt động đa dạng, đôi khi không hoàn toàn là cá nhân kinh doanh mà con co sự hùn vốn giữa các cá nhân; do đăc thù ngành nghề nhiều HKD sử dụng hơn 10 lao động như kinh doanh ăn uống, sản xuất thủ công mỹ nghệ thu hút rất nhiều lao động… nhưng thực chất đăc điểm và quy mô kinh doanh vẫn mang tính chất của HKD; các HKD buôn chuyến, kinh doanh thời vụ không có địa điểm kinh doanh cố định.
Như vậy, theo định nghĩa trên, định nghĩa hộ kinh doanh cá thể được chia thành ba loại, dựa vào chủ tạo lập ra nó, đó là:
1) Hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ;
2) Hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ; và
3) Hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ.
Mỗi người góp vốn trong hộ kinh doanh đều có mã số thuế thu nhập cá nhân, mã số của người đại diện hộ kinh doanh được sử dụng khai, nộp thuế GTGT, tiêu thụ đặc biệt, thuế môn bài,… chung cho hộ kinh doanh và khai thuế thu nhập cá nhân cho bản thân người đại diện.
Pháp luật Việt Nam hiện nay đang quy định hộ kinh doanh cá thể và các hình thức công ty không khác gì nhau về hình thức kết cấu mà chỉ khác nhau về quy mô kinh doanh. Nếu hộ kinh doanh có sử dụng thường xuyên hơn mười lao động phải chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức doanh nghiệp.
Như vậy, trong nghiên cứu này, khái niệm hộ kinh doanh cá thể được hiểu là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá 10 lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.
Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh sự ra đời của thuế là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước. Để tồn tại và phát triển, Nhà nước cần có những nguồn tài chính để chi tiêu, chi cho việc duy trì và củng cố bộ máy cai trị từ Trung ương đến địa phương thuộc phạm vi lãnh thổ mà Nhà nước đó đang cai quản [14].”
Theo Joseph E. Stiglitz (một trong những nhà kinh tế xuất sắc nhất thế giới) trong cuốn “tài chính công” cho rằng: “Thuế là 1 khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp cho công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi phí của Nhà nước”([10].
Theo Lê Quang Cường và Nguyễn Kim Quyến (2011), “Thuế là 1 khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp cho công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi phí của Nhà nước” [5, tr.23].
Thuế là một thực thể pháp lý nhân định nhưng sự ra đời và tồn tại của nó không chỉ phụ thuộc vào ý chí con người mà còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế – xã hội của từng thời kỳ lịch sử nhất định.
Thuế là hình thức động viên bắt buộc của nhà nước theo luật định nhằm tập trung một bộ phận thu nhập của các cá thể nhân và pháp nhân vào Ngân sách nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cơ bản của nhà nước và phục vụ lợi ích cộng đồng [12].
Như vậy, có thể hiểu thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội.
c. Quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể
Theo Khổng Đức, Long Cương, Đạt Sĩ (2005), quản lý là “sự trông nom, coi sóc, quản thúc, bó buộc ai đó theo một khuôn mẫu, quy định, nguyên tắc, luật pháp đã đề ra” [7, tr. 19].
Theo Vũ Duy Hào và Nguyễn Thị Bất (2002, quản lý “là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và được biết một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [9, tr.20].
Theo Nguyễn Thị Bích Ngọc (2017), quản lý “là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu như lập kế hoạch, tổ chức, phân công điều khiển và kiểm soát nỗ lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng hiệu quả các nguồn lực vật chất của tổ chức để đạt được mục tiêu để ra” [11, tr.11].
“Quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể là việc cơ quan thuế dùng các công cụ hành chính của mình tuyên truyền, phổ biến, tác động đến các hộ để theo dõi việc việc nộp thuế của các đối tượng nằm trong diện nộp thuế thuộc các hộ kinh doanh theo các Luật quy định hiện hành để tạo nguồn thu cho NSNN.
Quản lý thu thuế giúp ngân sách nhà nước ngày càng giàu mạnh, đảm bảo hiệu quả quản lý của nhà nước với các hộ kinh doanh cá thể, thúc đẩy các hộ kinh doanh ngày càng tuân thủ, chấp hành pháp luật và ý thức được rằng mình phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật về thuế.
1.1.2. Đặc điểm của quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể
Theo Lê Xuân Trường (2010), quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể gồm những đặc điểm sau [19]:
– Quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể có tính phức tạp cao
Các hộ này có quy mô, kinh doanh ngành nghề khác nhau, diễn ra trên mọi địa bàn, rải rác, không tập trung một nơi và luôn có sự biến động giữa các hộ kinh doanh cá thể, phát sinh từ cung cấp các điều kiện sản xuất, thị trường bán sản phẩm khiến công tác quản lý của nhà nước với các hộ này ngày càng phức tạp.
Bên cạnh đó, sự không đồng đều về trình độ phát triển sản xuất, quản lý cùng các điều kiện về vật chất kỹ thuật và đa dạng hóa của các vùng làm tăng cao mức độ phức tạp của công tác quản lý.
– Quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể khó khăn hơn các ngành khác
Đặc điểm kinh doanh của các hộ dựa trên sở hữu tư nhân và hoạt động nhỏ lẻ, chủ yếu là vốn và mức lao động của một hoặc một nhóm người. Nhiều hộ kinh doanh, quy mô không đồng đều, đối tượng, hình thức, ngành nghề đa dạng, hoạt động trên phạm vi, địa bàn khác nhau, thời gian cũng khác nhau. Do đó, việc quản lý các hộ này của nhà nước khá bất cập do khó kiểm soát.
Hơn nữa, trình độ nhận thức cón hạn chế và hạn chế trong tuân thủ pháp luật do các hộ này dễ dàng thành lập, cơ sở pháp lý ràng buộc ít hơn doanh nghiệp (có hóa đơn chứng từ rõ ràng, có con dấu…) do vậy tình trạng trì hoãn nộp thuế, lách thuế, trốn thuế vẫn còn xảy ra khiến cho công tác quản lý gặp khó khăn.
– Cần có sự phối hợp của nhiều ngành, nhiều cấp
Do các hộ càng có nhiều biện pháp tinh vi để mong không phải nộp thuế và làm giả giấy tờ, chứng từ nên cần sự phối hợp của nhiều ngành như chi cục thuế, lực lượng công an,… để có thể quản lý được các hộ kinh doanh cá thể một cách toàn diện và hiệu quả nhất. (Giáo trình nghiệp vụ thuế, Học viện Tài chính (2005).”
1.1.3. Vai trò của quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể
“Số hộ kinh doanh ngày càng phát triển và đóng góp ngày càng nhiều cho xã hội, tạo lập nguồn thu cho ngân sách. Do đó, quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh có vai trò như sau:
– Giúp tăng doanh thu cho NSNN. Hiện nay số tiền thuế hàng năm chiếm phần lớn tổng thu ngân sách nhà nước. Tuy hộ kinh doanh cá thể đóng góp một phần doanh thu nhỏ nhưng lại là thành phần kinh tế khá phổ biến, không đơn giản, không dễ quản lý. Do đó, nếu quản lý được tăng cường, thì sẽ có có tác dụng tạo lập sự công bằng cho xã hội và tăng thu cho NSNN.
– Giúp cải thiện ý thức chấp hành pháp luật cho các hộ: do đa số các hộ kinh doanh theo hình thức tự phát, dễ dàng thành lập nên lợi dụng sơ hở này, các hộ trốn thuế. Do đó, quản lý sẽ giúp các hộ tự giác nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, tuân thủ quyền và nghĩa vụ nộp thuế của từng hộ.
– Giúp nhà nước thực hiện vai trò quản lý với khu vực kinh tế này. Vai trò của nhà nước không mang tính khách quan mà thể hiện các ảnh hưởng của con người. Những ảnh hưởng này được thể hiện qua nội dung, công việc cụ thể của công tác quản lý thuế.
Để đạt được các vai trò trên, việc quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cần phải tuyên truyền để tận thu tối đa các nguồn thu cho NSNN.
Cần đẩy mạnh tuyên truyền cho người nộp thuế các luật thuế để nâng cao ý thức tuân thủ. Mặt khác, cần thu tối đa các nguồn thu như:
+ Thu toàn bộ số thuế ghi thu, hạn chế nợ đọng.
+ Quản lý tổng số đối tượng tham gia, số hộ tạm nghỉ, số hộ nghỉ hẳn kinh doanh…
+ Quản lý sát sao doanh thu thực tế của các hộ bằng cách kiểm tra thường xuyên các loại chứng từ, hóa đơn, sổ sách, so sánh doanh thu, mức thuế với hộ KD cùng nghành nghề, quy mô kinh doanh).
1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ THU THUẾ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ
1.2.1. Lập dự toán thu thuế hộ kinh doanh cá thể
Dự toán thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể là bảng tổng hợp số liệu dự kiến về thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trong một thời kỳ nhất định. Dự toán thu NSNN là chỉ tiêu pháp lệnh được Bộ Tài chính, UBND tỉnh, HĐND, UBND huyện/quận giao hàng năm, là cơ sở để phân bổ nguồn lực tài chính cho hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước các cấp trong kỳ kế hoạch.
Lập dự toán thu thuế là hoạt động cơ bản nhất của cơ quan thuế. Dự toán thu thuế nhằm xác định mục tiêu thu thuế bằng những con số cụ thể ở từng nguồn thu, từng lĩnh vực. Dự toán thu thuế là động lực cho việc huy động các nguồn lực của cơ quan thuế để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao, là một trong những cơ sở để đánh giá kết quả quản lý thuế.”
“Lập dự toán thu là quá trình dự báo, tính toán mức độ và các biện pháp thực hiện nhằm huy động các nguồn thuế đối với hộ kinh doanh cá thể từ mọi đối tượng tham gia [13]. Tùy theo tiêu thức và yêu cầu, có thể lập dự toán dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Trong đó, dự toán dài và trung hạn thường mang tính chất dự báo gắn với một kỳ ổn định NSNN và dự toán ngắn hạn là dự toán có hiệu lực từ một năm trở xuống Dự toán ngắn hạn gồm:
+ Dự toán năm: gắn với dự toán ngân sách, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hàng năm của một địa phương [13]. Dự toán này mang tính pháp lệnh nên tất cả các cơ quan thuế các cấp đều phải lập dự toán này. Muốn lập dự toán này, cơ quan thuế phải lập các dự toán theo quý, tháng để điều hành thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể.
+ Dự toán quý được phân bổ từ dự toán năm sao cho phù hợp với tính chất vận động nguồn thu trong từng quý [13].
+ Dự toán tháng: Dự toán tháng được lập đảm bảo số thu hàng tháng được cập nhật kịp thời vào quỹ thuế, tránh tình trạng dồn thu vào cuối năm. Dự toán tháng giúp cơ quan bảo hiểm quản lý tốt hơn những khoản thu [13].
Việc lập dự toán phải đảm bảo khách quan, trung thực, tiên tiến, tích cực, chủ động, phù hợp với tăng trưởng kinh tế trên địa bàn và của cả nước.
Tiêu chí đánh giá: tính sát thực, khả thi so với tổ chức thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể; độ kịp thời, tính chính xác và đẩy đủ của dự toán.
Quá trình xây dựng kế hoạch thu thuế và dự toán thu thuế là hết sức cần thiết, là cơ sở để thực hiện các chương trình phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy, cần làm rõ chính xác nguồn thu có thể huy động được bằng thuế để bố trí, sử dụng, góp phần giải quyết cân đối ngân sách.
Quản lý thu thuế phải thông qua hệ thống các bộ máy như KBNN, Ngân hàng, hệ thống chính quyền các cấp. Do đó, kế hoạch thu thuế được duyệt làm mục tiêu phấn đấu và cơ sở pháp lý mang tính pháp lệnh cho các ngành, các cấp thực hiện [15]. Vì vậy, việc lập kế hoạch thu thuế cần thận trọng, có căn cứ khoa học và thực tiễn, đảm bảo vừa mang tính tiên tiến để khai thác nguồn thu, tăng thu cho NSNN, vừa mang tính hiện thực phù hợp với khả năng của nền kinh tế và sức đóng góp của các thành phần kinh tế.
Việc xây dựng kế hoạch thu thuế và dự toán dựa trên số lượng, kích cỡ, lĩnh vực kinh doanh của NNT, tốc độ phát triển kinh tế của từng vùng cũng như cả nước. Trên cơ sở đó mà hình thành kế hoạch thu thuế và dự toán thu thuế hàng năm và chia nhỏ cho hàng tháng, quý.
Tiêu chí đánh giá: tính kịp thời của dự toán; căn cứ lập dự toán; số liệu dự toán sát với số thực hiện.
1.2.2. Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế
Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế là một nội dung quan trọng trong quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể gồm việc xác định cơ cấu tổ chức bộ máy cơ quan thuế các cấp và phân bổ đội ngũ cán bộ công chức một cách hợp lý đảm bảo tính thống nhất, thực hiện đầy đủ, có hiệu quả các chức năng quản lý thuế. Việc tổ chức bộ máy quản lý thu thuế không chỉ ảnh hưởng tới việc thực thi chức năng, nhiệm vụ quản lý thuế, mà còn tác động lớn tới chi phí quản lý thuế, năng lực của bộ máy và những vấn đề khác [17].”
“Bộ máy quản lý thuế và thu thuế có thể được tổ chức theo nhiều cách khác nhau: theo NNT, theo sắc thuế, theo chức năng quản lý thuế và kết hợp giữa các hình thức đó.
Mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế theo phương thức kết hợp, trong đó đặc biệt chú trọng các chức năng được hình thành theo Quyết định 115/2009/QĐ-TTg. Theo đó, tổ chức bộ máy được xây dựng theo mô hình quản lý chủ yếu theo chức năng và có thêm bộ phận quản lý thuế TNCN nhằm phục vụ cho công tác chỉ đạo nghiệp vụ Luật Thuế TNCN có hiệu lực từ tháng 01 năm 2009. Để phù hợp với Luật quản lý thuế, tại Tổng cục thuế, các Ban quản lý thuế theo NNT đã bị xoá bỏ, thay vào đó là các Vụ mới gồm: Vụ Tuyên truyền hỗ trợ NNT, Vụ Kê khai và kế toán thuế, Vụ Kiểm tra nội bộ, Vụ Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế.
Cùng với tổ chức bộ máy khoa học, phương pháp làm việc tiến tiến, cần phát triển nguồn nhân lực thu thuế và quản lý thu thuế có trình độ chuyên môn, nắm vững các quy định pháp luật về thuế, có phẩm chất đạo đức tốt, kết hợp với các trang thiết bị phương tiện làm việc hiện đại sẽ cho kết quả quản lý thuế có hiệu quả cao.
Tiêu chí đánh giá: Số lượng cán bộ thuế; bố trí số lượng cán bộ thuế tại cơ quan thuế; trình độ học vấn của cán bộ thuế.
1.2.3. Tuyên truyền, hỗ trợ về thuế
Tuyên truyền, hỗ trợ về thuế là các hoạt động của cơ quan thuế nhằm triển khai, phổ biến chính sách thuế, thông tin, hướng dẫn để HKD hiểu biết đầy đủ các quy định về chính sách thuế và các thủ tục hành chính thuế; tác động vào những hành vi tâm lý xã hội của HKD nhằm nâng cao nhận thức, đạo đức kinh doanh, khuyến khích HKD chấp hành tốt chính sách thuế, giảm sai sót do thiếu hiểu biết từ đó giảm chi phí hành chính thuế, chi phí thanh tra, cưỡng chế thuế.
– Hoạt động tuyên truyền gồm các nội dung:
+ Phát triển các chương trình tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế qua các phương tiện thông tin đại chúng. Các hình thức cổ động trực quan nâng cao nhận thức về nghĩa vụ thuế, cải cách thủ tục hành chính thuế, phong cách phục vụ, cải thiện hình ảnh của cơ quan thuế, tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa cơ quan thuế và HKD.
+ Tôn vinh, khen thưởng HKD chấp hành tốt nghĩa vụ thuế qua đó nâng cao ý thức tự giác chấp hành nghĩa vụ thuế, tạo tác động lan toả với các HKD khác.
+ Thu thập thông tin từ HKD về nhu cầu hỗ trợ về thuế, vướng mắc trong thực hiện chính sách thuế tạo điều kiện cải thiện ý thức chấp hành.
– Hoạt động hỗ trợ gồm các nội dung:
+ Cung cấp đầy đủ các thông tin về chính sách thuế, thủ tục hành chính thuế và các quy trình tuân thủ thuế.
+ Hướng dẫn, tư vấn cho HKD thực hiện các thủ tục đăng ký thuế, khai thuế, thực hiện đúng các quy định về sổ sách kế toán, các báo cáo thuế, các thủ tục miễn, giảm, hoàn thuế.
+ Giải đáp các thắc mắc của HKD trong quá trình thực hiện các chính sách thuế.
Tuyên truyền hỗ trợ về thuế là hoạt động có vị trí hết sức quan trọng trong toàn bộ quá trình QLT. Khâu này làm tốt, hiệu quả sẽ giảm đáng kể khối lượng công việc và chi phí QLT. Cơ quan thuế kết hợp nhiều hình thức tuyên truyền hỗ trợ về thuế như trao đổi trực tiếp tại trụ sở cơ quan thuế, giải đáp vướng mắc qua điện thoại, trả lời bằng văn bản, tuyên truyền hỗ trợ gián tiếp qua các ấn phẩm, qua hệ thống mạng thông tin thuế, tổ chức các Hội nghị tuyên dương khen thưởng, Hội nghị đối thoại…
Tiêu chí đánh giá: Tính đa dạng của hình thức, nội dung tuyên truyền; số bài viết tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng; số cuộc gặp gỡ, nói chuyện với hộ kinh doanh cá thể; số lượng hội thảo, chuyên đề; tính thường xuyên, kịp thời của các buổi tuyên truyền; hiệu quả của tuyên truyền.”
1.2.4. Tổ chức quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
a. Quản lý các thủ tục hành chính về thuế
“Quản lý các thủ tục hành chính thuế là hoạt động của cơ quan thuế nhằm tạo điều kiện cho người nộp thuế đăng ký thuế, kê khai thuế và thực hiện nộp theo đúng qui định. Các thủ tục hành chính thuế gồm: Đăng ký thuế, kê khai thuế, ấn định thuế, nộp thuế, giải quyết hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế và xóa nợ thuế, xử phạt về thuế.
(1) Đăng ký thuế: Là việc HKD thực hiện khai báo nghĩa vụ phải nộp thuế của mình với cơ quan thuế. Cơ quan thuế sẽ quản lý đăng ký thuế thông qua việc cấp mã số thuế cho HKD. Quản lý đăng ký thuế, bao gồm việc tiếp nhận và xử lý hồ sơ đăng ký thuế của HKD mới, cấp mã số thuế; tiếp nhận hồ sơ và xử lý thông tin về thay đổi địa điểm kinh doanh, loại hình, vốn, ngành nghề kinh doanh và xử lý vi phạm về đăng ký thuế.
(2) Kê khai thuế, ấn định thuế
– Kê khai thuế: Được thực hiện trên cơ sở các cơ chế quản lý thu thuế và phương thức kê khai thuế. Đây là cơ chế quản lý thuế trong đó NNT tự xác định nghĩa vụ thuế theo quy định tại các luật thuế, tự kê khai thuế và tự nộp đầy đủ, đúng hạn số thuế phát sinh vào NSNN. Cơ quan thuế chủ yếu tập trung vào công tác tuyên truyền, hỗ trợ hướng dẫn NNT nhằm tạo điều kiện cho NNT hiểu và thực hiện đúng nghĩa vụ thuế của mình, đồng thời tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra và cưỡng chế thuế có hiệu quả hơn đối với các trường hợp có khả năng rủi ro cao về thực hiện nghĩa vụ thuế (khả năng gian lận thuế lớn). Cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế thường gắn với mô hình tổ chức theo chức năng. Hình thức khai thuế với NNT là hộ kinh doanh được thực hiện kê khai thuế trên giấy; đây là phương thức kê khai trong đó NNT kê khai thuế vào các mẫu tờ khai bằng giấy (viết tay hoặc đánh trên máy tính và in lên giấy) và gửi đến cơ quan thuế trực tiếp hoặc qua đường bưu điện.
– Ấn định thuế: Nếu người nộp thuế là hộ cá thể nộp thuế theo phương pháp kê khai nhưng không đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau mười ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế; không khai thuế, không nộp bổ sung hồ sơ thuế theo yêu cầu của cơ quan thuế hoặc khai thuế không chính xác, trung thực, đầy đủ về căn cứ tính thuế; không phản ánh hoặc phản ánh không đầy đủ, trung thực, chính xác số liệu trên sổ kế toán để xác định nghĩa vụ thuế; không xuất trình sổ kế toán, hoá đơn, chứng từ và các tài liệu cần thiết liên quan đến việc xác định số thuế phải nộp trong thời hạn quy định; mua, bán, trao đổi và hạch toán giá trị hàng hoá, dịch vụ không theo giá trị giao dịch thông thường trên thị trường; có dấu hiệu bỏ trốn hoặc phát tán tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thuế [29, tr. 17].
Cơ quan Thuế căn cứ vào cơ sở dữ liệu của cơ quan Thuế; so sánh số thuế phải nộp của cơ sở kinh doanh cùng mặt hàng, ngành nghề, quy mô; tài liệu và kết quả kiểm tra, thanh tra còn hiệu lực để ấn định thuế.
(3) Thu, nộp thuế: Thu, nộp thuế là khâu quan trọng trong công tác QLT và được quy định tại các Luật thuế, Luật QLT.
Đối với NNT nói chung và hộ kinh doanh cá thể nói riêng, việc nộp thuế được thực hiện từ ngày 20 của tháng sau tháng phát sinh nghĩa vụ thuế. Trường hợp NNT tự khai, tự nộp thuế thì thời hạn nộp thuế là thời hạn cuối cùng nộp tờ khai thuế hàng tháng (ngày 20 tháng sau). Đối với hộ kinh doanh ổn định thuế thì thời hạn nộp thuế là thời hạn ghi trên thông báo thuế của cơ quan thuế.
Thông qua công tác thu, nộp thuế đánh giá mức độ hoàn thành công tác QLT của cơ quan thuế; đồng thời đánh giá ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế của NNT.
+ Đối với cơ quan thuế: Việc thu đủ tiền thuế trong thời hạn quy định, nộp tiền thuế kịp thời vào NSNN, nhập chứng từ nộp thuế, hạch toán số thuế đã nộp của NNT, theo dõi thanh toán thuế, thanh toán nợ, không những đánh giá hiệu quả QLT mà còn đảm bảo tính đúng số nợ thuế của NNT theo từng khoản thuế.
+ Đối với NNT: Việc nộp thuế đầy đủ, đúng thời hạn thể hiện ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế của NNT với NSNN. NNT thể hiện tính tuân thủ pháp luật thuế và công tác QLT giảm thiểu được rủi ro.
(4) Giải quyết miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, xóa nợ thuế, xử phạt thuế: Đó là các hoạt động tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra thủ tục và giải quyết hồ sơ theo quy định; theo dõi số thuế được miễn, giảm, hoàn thuế, xóa nợ. Trường hợp xóa nợ tiền thuế, tiền phạt đối với HKD cá thể trong trường hợp: Cá nhân được pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà không có tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt còn nợ.
b. Giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế
(1) Quản lý thông tin về đối tượng nộp thuế
– Quản lý ĐTNT: Là nhiệm vụ hết sức quan trọng của cơ quan thuế trong việc quản lý thu thuế. Quản lý ĐTNT thể hiện việc quản lý số lượng doanh nghiệp, hộ kinh doanh đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, được cấp mã số thuế. Đó là quá trình cơ quan thuế thực hiện các bước công việc từ khâu quản lý đăng ký thuế, nhập và xử lý dữ liệu khai ban đầu của NNT, thông tin về NNT phục vụ cho công tác quản lý thu thuế theo quy định của Luật thuế, trên cơ sở đó cung cấp các thông tin về NNT cho các bộ phận chức năng khai thác và quản lý kê khai nộp thuế.
Cơ quan thuế muốn thu đúng, thu đủ tiền thuế trước hết phải quản lý hết ĐTNT tại địa bàn, nắm bắt đầy đủ thông tin về NNT để tạo cơ sở cho việc xác định ngành nghề kinh doanh, quy mô kinh doanh làm căn cứ xác định doanh thu tính thuế và số thuế phải nộp. Quản lý ĐTNT không đầy đủ về số lượng, cập nhập không chính xác các thông tin khai ban đầu và khai bổ sung của NNT sẽ làm giảm tính pháp lý trong QLT và thất thu thuế, gây bất bình đẳng giữa NNT với nhau.”
“Quản lý ĐTNT mang ý nghĩa quản lý nguồn thu, chống sót hộ và tạo công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT. Quản lý ĐTNT là khâu đầu tiên và quan trọng trong quá trình quản lý thu thuế.
– Quản lý doanh thu tính thuế: Xác định doanh thu tính thuế của hộ kinh doanh sát với doanh thu thực tế kinh doanh của hộ có ý nghĩa quan trong cho việc tính đầy đủ số thuế phải nộp, chống thất thu thuế, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong kinh doanh, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Doanh thu tính thuế là cơ sở quan trọng để xác định số thuế phải nộp của mọi tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động SXKD. Yêu cầu xác định đúng doanh thu tính thuế vừa đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT, vừa tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động SXKD, tạo sự đồng thuận, nâng cao ý thức tuân thủ Luật thuế của cộng đồng xã hội.
(2) Kiểm tra thuế
Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế nhằm đo lường, phát hiện những sai sót, tìm ra nguyên nhân và biện pháp điều chỉnh kịp thời hoạt động của NNT nhằm đảm bảo thực hiện đúng quy định của Luật thuế.
Kiểm tra thuế là một trong những nội dung quan trọng của quản lý thuế hiện đại, đặc biệt trong điều kiện thực hiện cơ chế NNT tự tính thuế, tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ thuế, thì kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan QLT đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện các thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của NNT, đảm bảo pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống.
Kiểm tra thuế cần được tiến hành thường xuyên, linh hoạt và theo kế hoạch dưới hai hình thức sau:
+ Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan QLT: Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế được thực hiện thường xuyên đối với các hồ sơ thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế. Khi kiểm tra hồ sơ thuế, công chức quản lý thuế thực hiện việc đối chiếu, so sánh nội dung trong hồ sơ thuế với các thông tin, tài liệu có liên quan, các quy định của pháp luật về thuế, kết quả kiểm tra thực tế hàng hoá trong trường hợp cần thiết đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
+ Kiểm tra thuế tại trụ sở NNT: Trường hợp hết thời hạn theo thông báo của cơ quan quản lý thuế mà người nộp thuế không giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu hoặc không khai bổ sung hồ sơ thuế hoặc giải trình, khai bổ sung hồ sơ thuế không đúng thì thủ trưởng cơ quan quản lý thuế quản lý trực tiếp ấn định số tiền thuế phải nộp hoặc ra quyết định kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế.
Các trường hợp kiểm tra sau thông quan, bao gồm kiểm tra theo kế hoạch, kiểm tra chọn mẫu để đánh giá việc tuân thủ pháp luật về thuế và kiểm tra đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế [28, tr. 30, 31, 32].
Khả năng bị phát hiện trốn thuế, bị cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ thuế và mức xử phạt đối với các vi phạm về thuế là những yếu tố tác động mạnh đến ý thức tuân thủ thuế của NNT nhất là hộ kinh doanh.”
Tiêu chí đánh giá: Số lượng hộ đăng ký thuế hàng năm; tính tăng/giảm của các hộ hoạt động/ngừng hoạt động/ kê khai thuế/ ấn định thuế; số lượng hộ tạm nghỉ kinh doanh hàng tháng; số tiền thuế được xóa; số lượng hộ kinh doanh cá thể đã hoàn thành nộp thuế các loại; số lượt hộ được kiểm tra; hình thức kiểm tra; tính kịp thời của kiểm tra.
“Nội dung của công tác quản lý nợ thuế bao gồm:
– Theo dõi, phân tích số thuế nợ của NNT theo từng loại thuế, mức nợ, tuổi nợ. Phân theo nhóm nợ: (1) Nợ khó thu: là các khoản tiền nợ thuế của NNT gặp khó khăn, không có khả năng thực hiện nghĩa vụ với NSNN. (2) Nợ chờ xử lý: là các khoản nợ thuế của người nộp thuế phải nộp NSNN nhưng đã có văn bản gửi đến cơ quan thuế đề nghị xử lý miễn, giảm, xoá nợ, gia hạn nộp thuế, xử lý bù trừ các khoản nộp NSNN. (3) Nợ có khả năng thu: là số tiền nợ thuế của người nợ thuế được xác định phải nộp vào Ngân sách Nhà nước nhưng đã hết hạn nộp theo quy định của pháp luật về thuế mà chưa nộp vào Ngân sách Nhà nước và không thuộc các trường hợp nợ thuộc hai nhóm nợ khó thu, nợ chờ xử lý nêu trên.
– Kết hợp phân tích nợ với phân tích thông tin về SXKD, tình hình tài chính của NNT để xây dựng kế hoạch, biện pháp tổ chức thu nợ, áp dụng các biện pháp cưỡng chế nợ thuế phù hợp.
– Giám sát chặt chẽ việc thực hiện nghĩa vụ nộp tiền nợ thuế của NNT, có biện pháp kịp thời để đôn đốc, xử phạt nợ thuế theo quy định của luật thuế.
– Cưỡng chế nợ thuế: Việc cưỡng chế nợ thuế xuất phát từ việc NNT có nợ thuế thuộc diện phải cưỡng chế thuế nhưng chưa nộp tiền thuế vào NSNN. NNT nợ thuế trên 90 ngày, cơ quan thuế đã phát hành thông báo nợ thuế, lập các thủ tục về quản lý nợ thuế nhưng nợ thuế trên 90 chưa được nộp vào NSNN, cơ quan thuế ban hành Quyết định cưỡng chế nợ thuế theo quy định của Luật QLT làm cơ sở tổ chức cưỡng chế nợ thuế.
Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế (Điều 93) gồm:
+ Trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế tại Kho bạc Nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; yêu cầu phong toả tài khoản;
+ Khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập;
+ Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định của pháp luật để thu đủ tiền thuế, tiền phạt;
+ Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ;
+ Dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu;
+ Thu hồi mã số thuế; đình chỉ việc sử dụng hóa đơn;
+ Thu hồi giấy chứng nhận kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề.
Tiêu chí đánh giá: Tính tăng/giảm của số lượng hộ nợ đọng; tính tăng/giảm của số tiền thuế nợ đọng.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ THU THUẾ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ
1.3.1. Hệ thống chính sách, pháp luật về thuế
Yếu tố đầu tiên là hệ thống chính sách, pháp luật thuế của nước ta hiện nay. Có thể nói, bất kỳ một chính sách nào khi được ban hành và muốn thực hiện thành công thì trước hết các đối tượng điều chỉnh của chính sách đó phải hiểu được chính sách đó. Trước hết, các đối tượng phải tự tính ra con số tiền thuế mình phải nộp xem nó có nằm trong khả năng chi trả của mình không, qua đó NNT sẽ tự giác và chủ động với khoản tiền thuế hơn. Do đó, luật thuế phải đảm bảo nội dung đơn giản, khả thi, xác thực, rõ ràng, dễ hiểu sao cho mọi đối tượng nộp thuế và cán bộ quản lý phải tự tìm hiểu và tính toán được. Muốn vậy, các mức thuế phải được xây dựng trên cơ sở khoa học toàn diện để đáp ứng nhu cầu đóng góp vào ngân sách nhà nước và tăng tính chủ động, tự giác của NNT, qua đó góp phần giúp công tác quản lý thu thuế dễ dàng và hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, qua việc quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể, ngoài ưu điểm đã đạt được về cơ chế, chính sách còn các hạn chế như: Trong bộ máy quản lý thuế đã chuyển đổi sang mô hình quản lý theo chức năng thì ở khu vực NNT, công tác quản lý thu thuế vẫn mang tính chất quản lý theo đối tượng. Quy trình quản lý thu thuế còn mang tính chủ quan chưa đi vào thực chất hoạt động của các hộ. Đa số tính thuế là ấn định.
Các quy định về thuế còn rườm rà, phức tạp. Việc xử lý vi phạm thuế của NNT chưa được cụ thể hóa bằng luật, hiệu lực pháp lý chưa cao, bất lợi cho cơ quan thuế.”
1.3.2. Sự phát triển của nền kinh tế
“Yếu tố này tác động trực tiếp và nhiều đến đến quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể. Khi nền kinh tế phát triển mạnh, ổn định, đồng nghĩa với việc các hộ phát triển ổn định, có môi trường phát triển và kinh doanh lành mạnh, ổn định; nhờ đó họ sẽ có doanh thu và việc quản lý thu thuế đối với các hộ này này sẽ trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn. Tuy nhiên, nếu nền kinh tế có nhiều biến động, không phát triển, các hộ kinh doanh cá thể không có điều kiện kinh doanh, ổn định cũng như không phát triển, họ không có doanh thu, công việc làm ăn không thuận tiện khiến cho việc nộp thuế và thu thuế đối với đối tượng này cũng khó khăn.
1.3.3. Quy mô, mức độ tập trung của hộ kinh doanh cá thể
Do các hộ có quy mô SXKD thường nhỏ, tính chất hộ gia đình, phân án, rải rác, nhỏ lẻ. Do đó, đòi hỏi tổ chức cán bộ thu thuế của cơ quan thuế phải hợp lý, linh động thực hiện thu đúng, thu đủ. Hơn nữa, do quy mô nhỏ lẻ và mức độ tập trung rải rác tại nhiều địa phương khác nhau nên cơ quan quản lý phải có biện pháp quản lý hữu hiệu, cần phải sử dụng đa dạng công cụ quản lý thích hợp và đầu tư nhiều nguồn lực. Việc quản lý thu thuế các hộ nhỏ, lẻ, phân bố rải rác cũng khó khăn và phức tạp hơn.
1.3.4. Sự hiểu biết pháp luật thuế, ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế của hộ kinh doanh cá thể
Hộ kinh doanh phát triển nhanh, tự phát, phần lớn dựa vào kinh nghiệm cá nhân theo phương thức “cha truyền con nối” hoặc tự học, tự trau dồi kinh nghiệm nên còn hạn chế về hiểu biết pháp luật, quy định, chính sách về thuế.
Hơn nữa, công tác quản lý thu thuế nhằm huy động tất cả, kịp thời mọi nguồn thu đóng góp vào ngân sách nhà nước trên mục tiêu tiếp tục phát triển nguồn thu. Do đó, để đạt được mục tiêu này, rất cần sự chủ động, tự giác chấp hành các quy định, luật thuế của NNT. Như vậy, ý thức chấp hành chính sách pháp luật thuế của các ĐTNT là rất quan trọng với công tác quản lý thu thuế.
1.3.5. Sự phối hợp giữa cơ quan thu thuế, UBND các cấp, hội đồng tư vấn thuế và cán bộ ủy nhiệm thu thuế cấp địa phương
Phối hợp là sự chung tay góp sức của các cơ quan, tổ chức để giúp cho các đơn vị này thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao một cách đầy đủ, hiệu quả, góp phần nhanh chóng đạt được lợi ích chung. Tất cả các giai đoạn quản lý đều cần phối hợp từ hoạch định chính sách, xây dựng thể chế, đến thực hiện.
Trong lĩnh vực quản lý thu thuế, dù lĩnh vực nào, việc phối hợp giữa các cơ quan quản lý các cấp cũng giữ vai trò tiên quyết để việc quản lý có hiệu quả, ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp và là mục tiêu quản lý, cụ thể: i) Thứ nhất, việc phối hợp tạo cơ sở cho việc thi hành luật cũng như các văn bản quy phạm pháp luật trong thực tế. ii) Thứ hai, việc phối góp phần nâng cao ý thức pháp luật, tôn trọng pháp luật, qua đó góp phần phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm các quyền của địa phương. iii) Thứ ba, việc phối hợp phát huy được các nguồn lực để tập trung và xử lý có hiệu quả những vấn đề khó khăn, phức tạp trong quản lý các địa phương mà đối với một người, một cơ quan, tổ chức không thể giải quyết được.
1.3.6. Trình độ, năng lực, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ quản lý thu thuế
Một yếu tố quyết định nữa đến hiệu quả quản lý thu thuế đó là trình độ, ý thức với công việc của các cán bộ thu thuế. Do đó, sự am hiểu của cán bộ quản lý về thu thuế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng nắm bắt tình hình của họ về lĩnh vực đó và sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới việc cán bộ quản lý đó có phân tích và đưa ra những kết luận đúng đắn hay không, có dự thảo ra được những chính sách quản lý đúng đắn hay không. Hơn nữa, phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý thu thuế sẽ quyết định việc họ có thực hiện quản lý đúng theo lương tâm trách nhiệm hay không.
Ngoài ra, năng lực của cán bộ các cấp đảm nhiệm công tác thu thuế đóng vai trò vô cùng quan trọng. Thu thuế là công tác có tác động đến nhiều đối tượng khác nhau, nên nếu cán bộ có năng lực, đạo đức, công việc sẽ được thực hiện đúng, đủ, mang lại sự công bằng cho các đối tượng nộp thuế cũng như lợi nhuận như mục tiêu Nhà nước đã đề ra. Do đó, việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ thuế cần phải được quan tâm.”
Chương 1 đã trình bày một số vấn đề lý luận về quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể. Nội dung chính của Chương 1 gồm 03 nội dung chính, đó là tổng quan về quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể; nội dung quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế với hộ kinh doanh cá thể.
Nội dung chính của quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể gồm 05 nội dung, đó là Lập dự toán thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể; Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế; Tuyên truyền, hỗ trợ về thuế; Tổ chức quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể và Quản lý nợ thuế.
Đây là cơ sở để tác giả phân tích thực trạng quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ,
2.1. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của quận Sơn Trà
a. Đặc điểm tự nhiên
“Sơn Trà là một quận nội thành thuộc thành phố Đà Nẵng, Việt Nam. Quận Sơn Trà nằm ở phía đông bắc thành phố Đà Nẵng, có vị trí địa lý:
– Phía đông và phía bắc giáp biển Đông
– Phía tây giáp quận Hải Châu với ranh giới là sông Hàn
– Phía nam giáp quận Ngũ Hành Sơn với ranh giới là đường Nguyễn Văn Thoại.
Sơn Trà có đường nội quận nối với quốc lộ 14B đi Tây Nguyên – Lào, có cảng nước sâu Tiên Sa nối với đường hàng hải quốc tế, là một trong các cửa ngõ quốc tế về đường biển của thành phố Đà Nẵng. Nhờ có cả 3 mặt giáp sông, biển, có nhiều bãi tắm đẹp tạo cho Sơn Trà một lợi thế so sánh rất lớn về phát triển kinh tế biển cũng như phát triển các loại hình du lịch biển trong chiến lược phát triển kinh tế biển và tổng thể phát triển du lịch của của thành phố Đà Nẵng, vùng miền Trung và của cả nước.
Sơn Trà là một quận vừa có vị trí thuận lợi về phát triển kinh tế, có đường nội quận nối với quốc lộ 14B nối Tây Nguyên – Lào, vừa là địa bàn quan trọng về quốc phòng – an ninh, có cảng nước sâu Tiên Sa là cửa khẩu quan hệ kinh tế quốc tế không chỉ của thành phố Đà Nẵng mà của cả khu vực, có bờ biển đẹp, là khu vực tập trung các cơ sở quốc phòng, có vị trí quan trọng trong chiến lược an ninh khu vực và quốc gia.
b. Đặc điểm kinh tế
Cơ cấu kinh tế của quận chuyển dịch nhanh, tăng tỷ trọng ngành dịch vụ, theo đúng định hướng cơ cấu Dịch vụ – Công nghiệp – Nông nghiệp. Hoạt động thương mại, dịch vụ du lịch phát triển nhanh và mạnh. Cơ cấu tàu thuyền, nghề khai thác chuyển dịch tích cực theo hướng vươn khơi, thúc đẩy tái cơ cấu ngành nông nghiệp.
Tổng giá trị sản xuất trong năm 2019 ước thực hiện 7.194.000 triệu đồng, đạt 102,39% so với kế hoạch quận, tăng 14,78% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó:
– Sản xuất công nghiệp – TTCN: Hoạt động sản xuất công nghiệp duy trì mức tăng trưởng khá. Giá trị sản xuất công nghiệp -TTCN trong năm ước đạt 6.110.000 triệu đồng, đạt 102,21% so với kế hoạch thành phố và quận, tăng 15,91% so với cùng kỳ năm 2018.
– Sản xuất nông, lâm, thủy sản: Trong năm thời tiết tương đối thuận lợi cho hoạt động khai thác hải sản, hầu hết tàu cá đều ra khơi khai thác. Năng lực khai thác hải sản xa bờ được nâng cao, Đội tàu cá đánh bắt xa bờ tiếp tục tăng, nâng số lượng lên 514 chiếc, góp phần tăng sản lượng khai thác chung toàn quận. Triển khai, khuyến khích ngư dân tham gia các chính sách hỗ trợ phát triển thủy sản theo Nghị định số 67/NĐCP của Chính phủ, Quyết định số 47/QĐ-UBND, Quyết định số 48/QĐ-UBND của UBND thành phố. Tổ chức tuyên truyền Luật Thủy sản 2017 và các chính sách liên quan đến hoạt động khai thác hải sản xa bờ. Xây dựng và thực hiện Kế hoạch Kiểm tra thuyền thúng gắn máy có công suất nhỏ hơn 20cv. Triển khai công tác khuyến ngư năm 2019. Triển khai thực hiện Nghị quyết số 255/2019/NQ-HĐND ngày 11/7/2019 Quy định chính sách hỗ trợ phát triển khai thác hải sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2019 – 2025. Thông báo, hướng dẫn các chủ tàu cá có công suất từ 90cv trở lên và có chiều dài lớn nhất từ 12 mét đến dưới 15 mét về việc đăng ký cải hoán kích thước vỏ tàu. Kiểm tra, xử lý các hộ nuôi trồng thủy sản tại Vịnh Mân Quang. Xây dựng và ban hành kế hoạch Phát triển số lượng và nâng cao chất lượng hoạt động của Tổ đoàn kết sản xuất trên biển năm 2019. Hướng dẫn các Tổ củng cố hoạt động của Tổ, vận động chủ phương tiện công suất từ 90CV trở lên tham gia sinh hoạt Tổ. Hoạt động dịch vụ du lịch trên địa bàn phát triển mạnh, nổi bật nhất vẫn là dịch vụ lưu trú, ăn uống. UBND quận đã tập trung triển khai thực hiện Đề án nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, xây dựng môi trường du lịch an toàn, thân thiện quận Sơn Trà giai đoạn 2016-2020 và những năm tiếp theo, ban hành Đề án xây dựng hình ảnh người dân Sơn Trà thân thiện mến khách hướng đến Mỗi người dân là một hướng dẫn viên du lịch đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Tập trung thực hiện quản lý nhà nước về du lịch theo Quyết định số 2360/QĐ-UBND ngày 11/6/2018 về việc phê duyệt Đề án phân cấp, ủy quyền quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; phối hợp các ngành thành phố tổ chức nhiều sự kiện quảng bá du lịch như: Lễ hội pháo hoa Quốc tế Đà Nẵng, Chương trình khai trương mùa du lịch biển, Vũ hội đường phố, … thu hút một lượng lớn du khách đến địa bàn quận để tham quan, nghỉ dưỡng, tắm biển và mua sắm.
Tổng lượt khách du lịch đến lưu trú là 2.927.991 lượt, tăng 22,3% so với cùng kỳ năm 2018. Với vị trí thuận lợi, việc tổ chức Chợ đêm kết hợp phố đi bộ tạo ra sản phẩm dịch vụ du lịch, đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí, mua sắm, ẩm thực về đêm, tiếp tục thu hút du khách đến sử dụng dịch vụ, góp phần vào phát triển dịch vụ du lịch trên địa bàn quận. Triển khai Kế hoạch kiểm soát việc chấp hành về văn minh thương mại, giá, vệ sinh an toàn thực phẩm. Tổ chức tuyên truyền về văn minh thương mại, văn minh du lịch, bồi dưỡng nghiệp vụ nhà hàng, bồi dưỡng ngoại ngữ cho các cơ sở kinh doanh. Tiếp tục quan tâm triển khai công tác đầu tư xây mới, nâng cấp, sắp xếp kinh doanh tại các chợ. Thực hiện công tác đăng ký kinh doanh đúng tiến độ và đáp ứng kịp thời nhu cầu của các hộ kinh doanh.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trong năm đạt 18.242 tỷ đồng, đạt 124,21% so với kế hoạch thành phố, đạt 89,86% so với kế hoạch quận, tăng 14% so với cùng kỳ năm 2018.”
c. Đặc điểm xã hội
“Năm 2018, dân số toàn quận là 173.455 người. Về vấn đề giáo dục đào tạo, quận phát triển mạng lưới trường, lớp trên địa bàn quận theo cơ cấu hợp lí giữa các bậc học, cấp học phù hợp với quy hoạch tổng thể của ngành, thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục. Số lượng học sinh ngày càng tăng, tỉ lệ học sinh đạt giải thành phố và quốc gia ngày càng cao; không có học sinh bỏ học. Đầu tư nâng cấp trường tiểu học để đảm bảo 100% học sinh được học 2 buổi/ ngày, xây dựng phòng học bộ môn đạt chuẩn, kiên cố hóa trường và trang bị thiết bị trường học đáp ứng nhu cầu dạy và học từ nguồn ngân sách của quận và thành phố. Triển khai hiệu quả chương trình Bơi an toàn hè miễn phí cho hơn 4.000 học sinh lớp 4 và lớp 5.
Về y tế, dân số – kế hoạch hóa gia đình, quận duy trì thực hiện các chương trình y tế quốc gia, phục vụ tốt nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trên địa bàn; tăng cường các hoạt động kiểm tra, giám sát dịch bệnh trên địa bàn. Tiếp tục triển khai các chỉ tiêu về dân số – kế hoạch hóa gia đình, tỷ suất sinh thô trong năm là 12,93% (giảm 0,1%o so với cùng kỳ năm 2018), trong đó tỷ lệ sinh 3+ là 5,2% (giảm 0,15 % so với cùng kỳ).
Như vậy, quận Sơn Trà có nhiều đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội thuận lợi, ngày càng phát triển theo đúng chủ trương, định hướng của UBND quận Sơn Trà và của UBND thành phố Đà Nẵng.
2.1.2. Tình hình hoạt động của các hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Sơn Trà
Trong các loại hình sản xuất, kinh doanh trên địa bàn quận Sơn Trà, các hộ cá thể là đối tượng kinh doanh chủ yếu. Hiện nay, trên địa bàn quận có tất cả 5.500 hộ cá thể phân bố rải rác trên khắp các phường, chợ. Trong số 7 phường, phường Thọ Quang có số hộ kinh doanh cao nhất, 435 hộ, thấp nhất là phường An Hải Đông với 150 hộ. Trong số 04 chợ lớn của quận Sơn Trà, chợ An Hải Bắc, chợ An Hải Đông, chợ Mai Thọ Quang, Chợ Sơn Trà, chợ Sơn Trà và Mai Thọ Quang có số lượng tư thương cao nhất với 431 hộ. Các hộ kinh doanh hoạt động chủ yếu trong các ngành nghề thương mại, dịch vụ, ăn uống, tiểu thủ công nghiệp vì đây là các ngành, lĩnh vực có thị trường lớn, đòi hỏi vốn đầu tư không nhiều, phù hợp với nguồn vốn còn hạn hẹp của phần đông các hộ, khả năng quay vòng vốn nhanh, hạn chế được rủi ro, tỷ suất lợi nhuận cao (trong khi lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác thì cạnh tranh lớn, rủi ro cao, thị trường hẹp …), phù hợp với triết lý khá phổ biến của các hộ” “vốn ít, lãi nhiều, quay vòng nhanh, rủi ro thấp”.
“Sự tập trung của các hộ kinh doanh vào các lĩnh vực thương mại – dịch vụ đã góp phần đáp ứng được nhiều nhu cầu về đời sống vật chất, văn hoá của nhân dân, có tác dụng thúc đẩy trở lại đối với sản xuất. Với sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng lẫn quy mô, các hộ kinh doanh đã đóng góp một phần đáng kể vào tổng thu Ngân sách Nhà trước trên địa bàn quận. Hàng năm, số thu từ hộ kinh doanh thường chiếm khoảng trên 50% trong tổng thu Ngân sách Nhà nước và ngày một tăng qua các năm. Tuy nhiên, với một số lượng lớn hộ kinh doanh đó đã khiến cho công tác quản lý thu thuế trở nên vô cùng phức tạp và bộc lộ nhiều hạn chế.
2.2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ QUẢN LÝ THU THUẾ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.2.1. Lập dự toán thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Hàng năm, vào cuối quý III, đầu quý IV, Chi cục thuế quận Sơn Trà đều tiến hành rà soát các đối tượng nộp thuế trên địa bàn quản lý, rà soát toàn bộ thuế của năm trước, đồng thời căn cứ vào khung hướng dẫn của Tổng Cục thuế và Cục thuế thành phố để tiến hành lập dự toán thu ngân sách trên địa bàn quận để báo cáo về Cục thuế và Sở Tài chính thành phố. Căn cứ vào quyết định giao dự toán của UBND thành phố, Chi cục thuế phối hợp với Phòng Tài chính – Kế hoạch tham mưu cho UBND quận phân khai dự toán và trình HĐND quận xem xét, phê chuẩn. Căn cứ Nghị quyết HĐND quận, Phòng Tài chính – Kế hoạch và Chi cục thuế phối hợp tham mưu UBND quận tham mưu UBND quận ban hành quyết định giao dự toán thu – chi ngân sách cho các cơ quan, ban ngành, đoàn thể và UBND các phường trên địa bàn quận.
Khi nhận được văn bản giao dự toán, các phường và các đơn vị khác thực hiện lập dự toán đảm bảo đạt và vượt chỉ tiêu dự toán ngân sách được giao. Hàng tháng, quỹ, phải báo cáo kết quả về UBND quận.
Dự toán thu thuế năm mang tính pháp lệnh, được xây dựng trên cơ sở dự báo mức độ hoàn thành dự toán của năm hiện hành, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của quận Sơn Trà năm kế tiếp, đánh giá các nguồn thu tiềm năng, đánh giá các nguồn thu tiềm năng, số hộ kinh doanh trong năm sau, loại trừ các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thu của năm tiếp theo như chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế; các nguồn thu vãng lai của năm nay (thu ngoài địa bàn) để công tác lập dự toán có cơ sở pháp lý cao.
Hàng năm, Cục thuế thành phố Đà Nẵng và UBND thành phố Đà Nẵng đều xác định kế hoạch thu dựa vào tình hình dự toán của năm trước và dự toán độ tăng trưởng kinh tế cho năm sau. Nguồn thu này chủ yếu từ:
+ Các DNNQD gồm: Công ty cổ phần, công ty TNHH, DNTN, HTX, cơ sở kinh doanh khác;
+ Các hộ kinh doanh và các chủ thể kinh doanh khác;
+ Các sắc thuế như thuế TNCN, thuế tài nguyên, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, lệ phí trước bạ …;
+ Các khoản thu khác…”
Bảng 2.1. Tổng hợp dự toán thu ngân sách đối với các hộ kinh doanh
cá thể giai đoạn 2017-2019 của quận Sơn Trà
Đơn vị tính: Triệu đồng
| Chỉ tiêu | Năm 2017 | Năm 2018 | Năm 2019 | So sánh (%) | |||
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 18/17 | 19/18 | Bình quân | |||||
| Thu NS từ các hộ KDCT | 1.806 | 2.051 | 2.631 | 113,57 | 128,28 | 120,92 | |
| 1 | Thuế môn bài | 1.092 | 1.209 | 1.480 | 110,71 | 122,42 | 116,56 |
| 2 | Thuế GTGT | 453 | 502 | 650 | 110,82 | 129,48 | 120,15 |
| 3 | Thuế TNCN | 261 | 340 | 501 | 130,27 | 147,35 | 138,81 |
Nguồn: Tổng hợp báo cáo dự toán ngân sách Chi cục thuế quận Sơn Trà
Nhìn bảng 2.1, giai đoạn 2017-2019, dự toán thu ngân sách trên địa bàn quận Sơn Trà năm sau luôn cao hơn năm trước. Đây là tín hiệu đáng mừng thể hiện sự phát triển kinh tế của địa phương và cũng cho thấy sự có gắng của ngành thuế quận trong khai thác nguồn thu. Tuy nhiên, dự toán của chi cục thuế giao tăng đột ngột vào năm 2018, 2019 (năm 2019, dự toán là 3.029 triệu đồng). Sau khi phân tích tình hình kinh tế – xã hội tác động đến nguồn thu của quận và các nguồn thu đột biến, dự toán được điều chỉnh lại. Điều này thể hiện ý chí chủ quan của địa phương vì không đánh giá các yếu tố làm tăng, giảm nguồn thu để loại trừ.
“Sau khi kế hoạch được xác lập, Chi cục thuế tổ chức thực hiện kế hoạch dựa trên chức năng, nhiệm vụ của từng đội thuế. Dựa vào kế hoạch thu thuế mà Chi cục giao, các đội thuế tiến hành giao chỉ tiêu cụ thể cho từng cán bộ quản lý khu vực.
Tuy nhiên, thực trạng công tác lập dự toán năm của Chi cục thuế vẫn nảy sinh nhiều bất cập như:
Thứ nhất, do nhu cầu chi hàng năm tăng, Bộ Tài chính hướng dẫn lập dự toán thuế với mức tăng bình quân hàng năm từ 15% đến 25% tương ứng với từng khoản thu cụ thể và tùy vào tình hình kinh tế-xã hội của mỗi năm. Trong khi đó chính sách thuế nói chung thường được sửa đổi, bổ sung có lợi cho NNT nhiều hơn (giản thuế suất, giảm tỷ lệ thu; mở rộng đối tượng được miễn, giảm thuế; không truy thu, truy hoàn các khoản thuế liên quan đến đất đai có lợi cho cá nhân không kinh doanh; gia hạn số thuế phải nộp…) làm cho việc lập dự toán chưa đảm bảo tính khách quan. Ở mỗi địa phương, căn cứ DTPL Bộ Tài chính giao, HĐND các cấp tùy vào tình hình NSNN địa phương được phép giao dự toán phấn đấu cho Chi cục thuế, làm cho dự toán phấn đấu tăng cao so với số thực hiện của năm liền kề.
Thứ hai, DTPL thường căn cứ vào kết quả thu của năm liền kề trước đó. nhưng một số khoản thu năm liền kề không thuộc nguồn thu tại chỗ, bền vững mà thuộc nguồn thu vãng lai, ít được loại trừ khi giao DTPL.
Thứ ba, về mặt tâm lý, các địa phương thường dự báo mức tăng trưởng của năm sau luôn cao hơn năm liền kề mà không đánh giá một cách khách quan, mang tính chắc chắn mức tăng trưởng để xây dựng dự toán thuế.
Thứ tư, chính sách thuế thường xuyên thay đổi, sửa đổi, bổ sung theo lộ trình cải cách phụ thuộc vào thời gian cam kết hoặc phụ thuộc vào tình hình kinh tế-xã hội thuận lợi hay khó khăn. Trong khi đó dự toán thuế ổn định và hàng năm không được điều chỉnh giảm (chỉ có tăng). Do đó, quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn, bất cập.
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ QUẢN LÝ THU THUẾ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ


