Quản lý Nhà nước về viên chức từ thực tiễn huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam
1. Tính cấp thiết của đề tài
Viên chức là người được nhà nước tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc, được hưởng lương từ quỹ lương của tại đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Từ khi đất nước đổi mới, công tác cán bộ, công tác quản lý nhà nước về viên chức đã đạt được những kết quả đáng kể về công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, dự nguồn viên chức đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao. Qua đó đã từng bước xây dựng đội ngũ viên chức đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, năng lực công tác, kỹ năng nghiệp vụ phù hợp với từng vị trí việc làm và nhiệm vụ được phân công của viên, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội tại các địa phương. Tuy nhiên, do quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế, đời sống nhân dân từng bước được nâng cao, xã hội ngày càng phát triển đã ảnh hưởng tích cực và tiêu cực về nhiều mặt đến lực lượng viên chức, tạo sự chuyển biến lớn về tư tưởng, đạo đức lối sống của viên chức chưa thực sự toàn diện, việc nhận xét đánh giá hàng năm các cơ quan, đơn vị thực hiện chưa nghiêm túc, vẫn còn mang tính hình thức, đánh giá chung chung, ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về cán bộ nói chung và viên chức nói riêng tại các địa phương.
Luật viên chức được ban hành năm 2012 và sửa đổi, bổ sung năm 2019. Trong những năm qua, các cấp chính quyền huyện Đông Giang đã tập trung chỉ đạo chặt chẽ trên các mặt công tác quản lý nhà nước về viên chức. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về viên chức được chú trọng thường xuyên thông qua các kênh thông tin trên trang điện tử, các văn bản hướng dẫn, tổ chức hội nghị tập huấn… Các cơ quan quản lý Nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập chủ động phổ biến, quán triệt Luật Viên chức giúp đội ngũ viên chức cập nhật quy định của Nhà nước về quyền và nghĩa vụ của viên chức để chủ động chấp hành. Công tác tuyển dụng hiện đang được tiến hành chủ yếu thông qua hình thức xét tuyển trên cơ sở người dự tuyển đảm bảo điều kiện, tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, được phân cấp với sự hướng dẫn, kiểm tra của Phòng Nội vụ tham mưu cho cơ quan có thẩm quyền tại địa phương. Tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện, công tác Quản lý Nhà nước về viên chức còn nhiều hạn chế, công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước về tuyển dụng, sử dụng viên chức ở một số sở, ngành và UBND cấp huyện còn chưa chặt chẽ. Một số đơn vị còn chỉ tiêu biên chế nhưng không xây dựng kế hoạch tuyển dụng, một số đơn vị thông báo tuyển dụng chưa công khai rộng rãi. Trong khi một số ngành, UBND cấp huyện, các đơn vị sự nghiệp công lập lại ký hợp đồng lao động vượt cả chỉ tiêu biên chế của đơn vị. Việc bố trí viên chức ở một số đơn vị chưa hợp lý…
Trước thực trạng trên ở địa phương với vai trò, nhiệm vụ tham mưu quản lý cho cấp có thẩm quyền tại huyện Đông Giang, tôi chọn đề tài “Quản lý Nhà nước về viên chức từ thực tiễn huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam” để làm Luận văn tốt nghiệp. Hy vọng, luận văn có những đóng góp cho việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với viên chức tại địa phương và là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và cho thực tiễn quản lý nhà nước đối với viên chức ở các địa phương khác.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của Luận văn là trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận Quản lý Nhà nước về viên chức và kết quả phân tích, đánh giá thực trạng Quản lý Nhà nước về viên chức từ thực tiễn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn hiệu quả quản lý nhà nước về viên chức tại địa phương.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Khái quát cơ sở lý luận Quản lý Nhà nước về viên chức;
+ Đánh giá thực trạng những kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân hạn chế trong công tác Quản lý Nhà nước về viên chức;
+ Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về viên chức từ thực tiễn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý Nhà nước về viên chức từ thực tiễn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về viên chức. Đồng thời, đánh giá hiệu quả trong Quản lý Nhà nước đối với viên chức y tế và giáo dục từ thực tiễn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2019.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu những quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm, chủ trương của Đảng ta trong quản lý nhà nước về viên chức tại các địa phương.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thu thập số liệu, xử lý số liệu, tổng hợp số liệu từ các cơ quan liên quan, qua đó phân tích thực trạng và yêu cầu đặt ra trong Quản lý Nhà nước về viên chức trên địa bàn huyện trong giai đoạn hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn Quản lý Nhà nước về viên chức hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu của Luận văn là những tài liệu cơ bản để các cơ quan chuyên môn nghiên cứu, các cấp, các ngành địa phương tham khảo xây dựng cơ chế, chính sách, hoàn thiện pháp luật về viên chức, từng bước nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về viên chức trên địa bàn huyện.
7. Kết cấu của luận văn
Chương 1. Những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về viên chức.
Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về viên chức từ thực tiễn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3. Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về viên chức từ thực tiễn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về viên chức
1.1.1. Khái quát về viên chức
Trong nhiều xã hội, bộ phận lao động thực hiện những công việc về chăm sóc sức khỏe, giáo dục, y tế…. thường nhận được sự quan tâm, tôn trọng đặc biệt của cộng đồng. Cùng với sự phát triển của xã hội, lực lượng lao động này ngày càng chiếm số lượng lớn, chất lượng ngày càng được nâng cao và mang tính chất chuyên nghiệp, nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích của nhân dân và đáp ứng các các quy luật của nền kinh tế. Để gọi tên lực lượng lao động này, ở nhiều nước có những thuật ngữ khác nhau, như “công chức”, “công chức bình thường”, “công chức sự nghiệp” “viên chức”, song họ đều được xác định là những người hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ công, đơn vị sự nghiệp công lập.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950, trong đó quy định công chức là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ…. [Điều 1 Sắc lệnh số 76/SL]. Vào đầu thập kỷ 60 đến đầu thập kỉ 80 thế kỷ XX, ở nước ta thường sử dụng thuật ngữ “cán bộ, công nhân viên chức nhà nước” để chỉ tất cả mọi người làm việc trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị – xã hội, trong các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp, mà không sử dụng thuật ngữ “công chức, viên chức”.
Từ khi Hiến pháp năm 1980 được ban hành khi đó pháp luật đã quy định khái niệm cán bộ, viên chức nhà nước được tuyển dụng trong các cơ quan nhà nước. Năm 1982, Chính phủ ban hành Bảng danh mục viên chức số 1, trong đó liệt kê các chức danh viên chức nhà nước. Đến Hiến pháp 2013 được ban hành pháp luật quy định và phân biệt rõ khái niệm cán bộ, công chức, viên chức. Như vậy, Hiến pháp bắt đầu có sự phân biệt rõ ràng giữa các đối tượng: cán bộ, công chức và viên chức. Việc phân biệt các đối tượng này dựa trên cơ sở khoa học về tính chất, vai trò, nhiệm vụ, chức trách của từng đối tượng trong cơ quan, tổ chức nhà nước, đồng thời là sự phát huy những điều chỉnh của pháp luật Việt Nam kể từ khi có Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998.
Năm 2003, viên chức được quản lý trong phạm vi cán bộ, công chức; viên chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức … [điểm d, khoản 1, điều 1 của Pháp lệnh cán bộ, công chức].
Năm 2008, Luật Cán bộ, công chức được ban hành chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội liên quan tới đối tượng mà luật gọi là “cán bộ, công chức”, không đề cập tới những đối tượng mà trước đây được gọi là “viên chức”. Năm 2010, pháp luật quy định viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập… [Điều 2, Luật Viên chức năm 2010]. Từ quy định này, viên chức có những đặc điểm phân biệt với cán bộ, công chức qua lao động của họ như sau:
Thứ nhất, viên chức thực hiện nhiệm vụ mang tính nghề nghiệp trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi con người trong xã hội.
Thứ hai, lao động của viên chức được thực hiện thông qua hoạt động của các tổ chức, đơn vi ̣sự nghiệp công lập chuyên ngành và theo các tiêu chuẩn chuyên môn thống nhất.
Thứ ba, lao động của viên chức nhằm cung cấp cho người dân sản phẩm phi hiện vật, được thực hiện bởi những đơn vị sự nghiệp công lập , thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong quá trình cung cấp các nhu cầu cơ bản, thiết yếu cho đại đa số người dân …
Thứ tư, lao động của viên chức không mang tính quyền lực nhà nước. Công việc của viên chức là hoạt động nghề nghiệp được pháp luật ghi nhận.
Thứ năm, hoạt động nghề nghiệp của viên chức mang tính nghề nghiệp và chuyên môn cao, đòi hỏi tính trách nhiệm, sự tận tụy, cần tuân thủ các quy định của đạo đức nghề nghiệp và pháp luật. Trong đơn vị sự nghiệp, viên chức được phân loại khác nhau. Theo quy định của pháp luật bao gồm viên chức quản lý và viên chức không giữ chức vụ quản lý; chức danh nghề nghiệp bao gồm hạng I; hạng II, hạng III và hạng IV theo từng vị trí việc làm cụ thể của từng viên chức.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức số 52/2019/QH14 ngày 25/11/2019 được kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIV thông qua, cũng ảnh hưởng không nhỏ đến viên chức. Một trong số đó là quy định về 02 loại hợp đồng làm việc.
Đối với hợp đồng không xác định thời hạn hay còn gọi là “chế độ biên chế suốt đời” của viên chức sẽ không còn được áp dụng với các đối tượng mới được tuyển dụng từ ngày 01/7/2020. Như vậy, căn cứ khoản 2 Điều 2 sửa đổi, bổ sung Điều 25 Luật Viên chức hiện hành, việc thực hiện hợp đồng loại không xác định thời hạn chỉ còn được áp dụng với 03 trường hợp: Viên chức được tuyển dụng trước ngày 01/7/2020; Cán bộ, công chức chuyển thành viên chức; Người được tuyển dụng làm viên chức làm việc tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.
Đồng thời, đối với những viên chức mới trúng tuyển từ ngày 01/7/2020 thì đều phải ký hợp đồng làm việc xác định thời hạn với khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 60 tháng.
Như vậy, việc sửa đổi, bổ sung quy định này hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 26-NQ/TW về công tác cán bộ. Tại Nghị quyết này, Bộ Chính trị nhấn mạnh sẽ tiến tới xóa bỏ hoàn toàn chế độ biên chế suốt đời với viên chức.
Theo pháp luật hiện hành, viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập … [Điều 2 Luật viên chức 2010]
Từ định nghĩa trên,viên chức bao gồm những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, phải là công dân Việt Nam.
Thứ hai, viên chức được được tuyển dụng theo vị trí việc làm, được hưởng lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo chức danh nghề nghiệp được pháp luật quy định.
Thứ ba, viên chức được làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ hoàn toàn và đơn vị chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về tài chính, quản lý nhà nước về viên chức.
Thứ tư, thời gian làm việc của viên chức được Bộ luật lao động quy định tính từ thời điểm tuyển dụng đến khi nghỉ hưu.
Thứ năm, viên chức được hưởng lương của đơn vị sự nghiệp công lập, phân công vị trí công tác, nhiệm vụ được giao theo hợp đồng làm việc đã ký kết, phê duyệt. Hợp đồng làm việc là cơ sở pháp lý để xác định quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động là viên chức. [58]
Từ những phân tích trên có thể xác định các đặc điểm cơ bản của viên chức theo quan niệm của pháp luật Việt Nam là: được tuyển dụng theo vị trí việc làm; làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập; làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập. Viên chức bao gồm đội ngũ bác sĩ trong các bệnh viện; đội ngũ giáo viên tại các trường học, cơ sở giáo dục…
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước về viên chức
1.1.2.1. Khái niệm
Quản lý là nhiệm vụ được thực hiện trong quá trình điều hành trong cơ quan nhà nước theo yêu cầu đặt ra. Quản lý được thực hiện để điều hành mang tính quyền lực nhà về các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của công dân thì đó là nhiệm vụ quản lý nhà nước. Thuật ngữ QLNN được sử dụng với nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Khái niệm QLNN theo nghĩa rộng là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp hành pháp và tư pháp.
Như vậy, quản lý nhà nước là một hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để đều hành các quan hệ xã hội.
Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa.
Theo nghĩa hẹp, QLNN là việc điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người, thực hiện mệnh lệnh hành chính đối với các đối tượng thuộc phạm vi quản lý, đáp ứng được yêu cầu đặt ra trong hoạt động tổ chức bộ máy theo pháp luật quy định. Ví dụ như ban hành quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật CBCC, ban hành quy chế làm việc nội bộ [34].
Từ những phân tích trên, theo nghĩa hẹp, QLNN về viên chức được hiểu là quá trình tổ chức, điều hành của các cơ quan nhà nước đối với viên chức nhằm đạt được mục đích của quản lý nhà nước. Trong đó, quản lý chủ yếu là hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật về tuyển dụng, sử dụng, đánh giá.., tiến hành các hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm…nhằm nâng cao chất lượng viên chức theo luật định.
1.1.2.2. Đặc điểm QLNN về viên chức
– Đối tượng của quản lý nhà nước là viên chức được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc theo chế độ hợp đồng; hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập như bác sĩ, giáo viên…
– Quản lý nhà nước về viên chức mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao và tính mệnh lệnh đơn phương của cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước đối với viên chức nói riêng, được bắt nguồn từ cơ chế, chính sách, cơ cấu bộ máy nhà nước theo quy định của pháp luật.
– Quản lý nhà nước về viên chức được thực hiện trên cơ sở xác định mục tiêu, chiến lược, chương trình kế hoạch để thực hiện mục tiêu với các chương trình, kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn tại các địa phương thuộc thẩm quyền của cấp huyện.
– Quản lý nhà nước về viên chức được triển khai mang tính chủ động, sáng tạo, liên tục và chuyên môn hóa nghề nghiệp cao, linh hoạt trong việc điều hành, phối hợp, huy động mọi lực lượng để đạt được mục tiêu, kế thừa và phát huy năng lực và kỹ năng quản lý viên chức phù hợp với từng địa phương và từng giai đoạn cụ thể.
– Quản lý nhà nước về viên chức không phân biệt quyền lực, thức bậc, có những cơ chế rõ ràng giữa người quản lý và viên chức thực hiện công tác chuyên môn vì mục tiêu chung trong quản lý, điều hành và triển khai thực hiện nhằm phục vụ cộng đồng, phục vụ nhân dân, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của viên chức trong giai đoạn hiện nay.
1.1.2.3. Các nguyên tắc của quản lý nhà nước về viên chức
Thứ nhất, phải bảm đảm sự lãnh đạo của Đảng và sự thống nhất quản lý của Nhà nước đối với đội ngũ viên chức cấp huyện.
Thứ hai, bảo đảm tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu trong đơn vị.
Thứ ba, Thực hiện công tác tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đánh giá viên chức theo chức danh nghề nghiệp của luật định, xác định vị trí việc làm, phân công nhiệm vụ trên cơ sở hợp đồng làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập.
Thứ tư, thực hiện cơ chế, chính sách ưu tiên đối với viên chức nữ, viên chức có năng lực, có chính sách đặc thù đối với viên chức là người dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng, viên chức công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn tại các địa phương.
1.1.3. Vai trò quản lý nhà nước về viên chức
Một trong những nhiệm vụ của công tác QLNN, trong tổng thể các yếu tố cần thiết cho sự phát triển KT – XH của quốc gia nói chung và từng địa phương nói riêng thì nhân tố con người luôn được xác định là yếu tố cơ bản, quan trọng, có tính chất quyết định và giữ vai trò chi phối đối với các yếu tố khác. Để thực hiện quản lý nhà nước về viên chức đạt hiệu quả thì nhân tố con người sẽ quyết định tất cả trong việc xây dựng cơ chế, chính sách, quản lý, triển khai thực hiện trong thực tiễn.
Thứ nhất, thông qua quản lý nhà nước về viên chức tạo điều kiện cho hoạt động và nhiệm vụ của đội ngũ viên chức được thực hiện hiệu quả, góp phần tạo ra định hướng phát triển, dẫn dắt các quá trình xã hội và hành vi, hoạt động của công dân, tổ chức. Kết quả sự thể hiện ý chí của các nhà lãnh đạo, quản lý hay nói cách khác là những quyết định lãnh đạo, quản lý được ban hành bởi các cơ quan Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương các cấp. Viên chức với vai trò là đội ngũ tham mưu trong hoạch định các chính sách và ban hành các quyết định lãnh đạo, quản lý. Do đó, những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quyết định của chính quyền địa phương có phản ánh đúng đòi hỏi khách quan của thực tiễn quản lý và đời sống xã hội hay không là phụ thuộc rất lớn ở chất lượng hoạt động của đội ngũ viên chức ở từng vị trí khác nhau trong nền công vụ trong các đơn vị sự nghiệp.
Thứ hai, hoạt động của viên chức góp phần thúc đẩy nhanh quá trình hiện thực hóa các mục tiêu phát triển KT – XH quốc gia và địa phương, được gắn liền với chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm khác nhau. Trong lĩnh lực quản lý nhà nước mà trực tiếp là hoạt động quản lý hành chính sự nghiệp, viên chức chính là lực lượng chính yếu, nòng cốt trong xây dựng các chương trình, kế hoạch và tổ chức thực thi nhằm hiện thực hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quyết định của cơ quan nhà nước cấp trên, cơ quan quyền lực cùng cấp và ngay chính những quyết định do cơ quan hành chính nhà nước ban hành; đây cũng là lực lượng thường xuyên tiếp nhận yêu cầu, kiến nghị, thực hiện các giao dịch, thủ tục hành chính và giải quyết công việc hàng ngày cho tổ chức, công dân. Chí vì vậy đòi hỏi viên chức phải được thường xuyên quan tâm đào tạo, dự nguồn, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, rèn luyện đạo đức lối sống, đáp ứng được yêu cầu và nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân.
Thứ ba, chất lượng hoạt động và kỹ năng nghề nghiệp của viên chức quyết định đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và hiệu quả việc sử dụng các nguồn lực của địa phương. Cơ quan nhà nước là tổ chức công quyền đại diện cho cho toàn xã hội khai thác và sử dụng các nguồn lực của quốc gia, địa phương cho các mục tiêu khác nhau của từng thời kỳ phát triển, đồng thời là chủ thể trực tiếp thực hiện sự tác động mang tính chất toàn diện, bao trùm trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, các cơ quan nhà nước này lại được vận hành thông qua những con người cụ thể là đội ngũ viên chức của Nhà nước. Do đó, khi viên chức hoạt động có hiệu quả là chính là động lực trực tiếp làm cho hoạt động của các cơ quan nhà nước được tăng cường về tính hiệu lực, hiệu quả, đồng nghĩa với việc các nguồn lực của quốc gia, địa phương sẽ được khai thác hợp lý, tiết kiệm cho các mục tiêu phát triển.
Thứ tư, trong mối quan hệ với dân, hoạt động làm việc và vị trí việc làm của viên chức sẽ góp phần tạo lập và tăng cường mối quan hệ giữa dân với Đảng, Nhà nước. Trong quan hệ giải quyết công việc liên quan với cơ quan, tổ chức, công dân, chất lượng hoạt động cũng như từng thái độ, hành vi của viên chức đều trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến cách nhìn và đánh giá của người dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý, phục vụ của Nhà nước, nhất là giai đoạn tăng cường phát huy dân chủ như hiện nay. Chính vì vậy, niềm tin và mối quan hệ giữa dân với Đảng, Nhà nước phụ thuộc rất lớn vào năng lực, trách nhiệm của đội ngũ viên chức.
Tóm lại, QLNN về viên chức có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định đến sự thành công hay thất bại của quá trình phát triển KT – XH, sự nghiệp CNH, HĐH, nâng cao hiệu quả trong các đơn vị sự nghiệp công lập và công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Vì vậy, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng để nâng cao hơn nữa bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực chuyên môn và khả năng hoạt động thực tiễn cho đội ngũ viên chức là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp, các ngành, địa phương trong việc nâng cao hiệu quả QLNN về viên chức trong giai đoạn hiện nay.
1.2. Nội dung và phương pháp quản lý nhà nước về viên chức
1.2.1. Nội dung quản lý nhà nước về viên chức
1.2.1.1. Xây dựng và ban hành văn bản pháp luật
Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong hoạt động quản lý nhà nước về viên chức đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chú trọng, đóng vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý của các cơ quan đơn vị sự nghiệp. Các văn bản pháp luật về quản lý về viên chức bao gồm các quy định chủ yếu sau:
– Quy định về tổ chức bộ máy và nhân sự quản lý nhà nước về viên chức, Đối với cấp huyện có các quy định riêng.
– Quy định về các hoạt động quản lý nhà nước về viên chức
– Quy định về các biện pháp có tổ chức bảo vệ pháp luật bổ trợ quản lý nhà nước về viên chức: thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại…
Trong quá trình quản lý nhà nước về viên chức, sản phẩm của các cơ quan quản lý nhà nước là các quyết định quản lý, hướng dẫn triển khai thực hiện, đó là các văn bản được ban hành, lưu giữ văn thư. Văn bản có một vai trò to lớn trong quá trình quản lý, vì văn bản đảm bảo thông tin cho hoạt động quản lý, truyền đạt các quyết định quản lý, kiểm tra theo dõi các hoạt động của bộ máy lãnh đạo, là công cụ để xây dựng hệ thống pháp luật về viên chức.
Thông qua xây dựng và ban hành văn bản pháp luật trong QLNN về viên chức để quy định những quy tắc xử sự chung, đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, theo luật định. Đồng thời các văn bản hướng dẫn và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp được ban hành góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và tăng cường phát triển kinh tế – xã hội, cũng cố an ninh – quốc phòng tại các địa phương.
Công tác xây dựng và ban hành văn bản pháp luật đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc quản lý và triển khai thực hiện, nếu việc xây và ban hành văn bản mang tính khả thi, phù hợp với từng địa phương sẽ góp phần quản lý nhà nước về viên chức đạt hiệu quả trong thực tiễn.
1.2.1.2. Tổ chức thực hiện pháp luật
Trên cơ sở các quy định pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật bao gồm các hoạt động về:
a) Tổ chức trên thực tế bộ máy và nhân sự quản lý
UBND các địa phương quy định về phân cấp quản lý tổ chức bộ máy, công chức, viên chức, lao động hợp đồng trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân.
Quản lý tổ chức bộ máy của UBND cấp huyện
Quản lý tổ chức bộ máy của UBND cấp huyện với những nhiệm vụ như trình cấp có thẩm quyền quyết định thành lập, sáp nhập, hợp nhất, giải thể đơn vị sự nghiệp cấp huyện theo quy định của pháp luật; quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy của đơn vị sự nghiệp cấp huyện; quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp trực thuộc sở, đơn vị sự nghiệp của huyện, đơn vị sự nghiệp trực thuộc đơn vị sự nghiệp cấp huyện…
Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quyết định xếp hạng, phân loại và giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập thuộc thẩm quyền quản lý Ủy ban nhân dân.
Phòng nội vụ huyện, có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan xây dựng đề án thành lập, tổ chức lại đơn vị sự nghiệp cấp huyện báo cáo Ủy ban nhân dân huyện trình cấp có thẩm quyền quyết định. Hướng dẫn các đơn vị sự nghiệp xây dựng quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy; phối hợp với cơ quan, ban ngành có liên quan kiểm tra, thẩm định hồ sơ xếp hạng, phân loại và giao quyền tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế viên chức và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện quyết định.
Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp cấp huyện phối hợp với Phòng Nội vụ và thủ trưởng cơ quan, ban ngành có liên quan xây dựng đề án sáp nhập, hợp nhất, giải thể đơn vị, báo cáo Ủy ban nhân dân huyện xem xét, trình cấp có thẩm quyền quyết định; xây dựng quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy, xin ý kiến của các cơ quan, đơn vị có liên quan (nếu có), trình Ủy ban nhân dân huyện quyết định; xây dựng và ban hành quy chế làm việc hoặc quy chế tổ chức và hoạt động của đơn vị theo quy định của pháp luật…
Quản lý vị trí việc làm, biên chế viên chức, lao động hợp đồng, tiền lương, tiền công
Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo, tổ chức triển khai xây dựng đề án vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc thẩm quyền; trên cơ sở đề án vị trí việc làm, chỉ đạo cơ quan ban ngành, Ủy ban nhân dân huyện, đơn vị sự nghiệp cấp huyện lập kế hoạch biên chế viên chức hàng năm, báo cáo cấp có thẩm quyền giao biên chế viên chức; căn cứ quyết định giao biên chế viên chức của cấp có thẩm quyền, trình Hội đồng nhân dân quyết định giao biên chế viên chức và phân bổ biên chế viên chức, số lượng lao động hợp đồng cho cơ quan, ban ngành, đơn vị sự nghiệp cấp huyện; quản lý, thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng biên chế viên chức, số lượng lao động hợp đồng của cơ quan ban ngành, Ủy ban nhân dân, đơn vị sự nghiệp cấp huyện.
Phòng Nội vụ, thực hiện thẩm định, tổng hợp, xây dựng đề án vị trí việc làm hoặc đề án điều chỉnh vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc thẩm quyền trình Ủy ban nhân dân huyện xem xét, quyết định; hướng dẫn, thẩm định, tổng hợp biên chế viên chức, số lượng lao động hợp đồng của các đơn vị sự nghiệp công lập báo cáo Ủy ban nhân dân huyện; thông báo chỉ tiêu biên chế viên chức và số lượng lao động hợp đồng cho sở, Ủy ban nhân dân huyện, đơn vị sự nghiệp cấp huyện…
Phòng Tài chính, thực hiện chủ trì, phối hợp với Phòng Nội vụ và các cơ quan, đơn vị có liên quan xây dựng quỹ tiền lương, tiền công, cơ chế tự chủ về tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập; tổ chức thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng tiền lương, tiền công các đơn vị sự nghiệp theo luật định.
Đơn vị sự nghiệp trực thuộc cơ quan ban ngành, đơn vị sự nghiệp của huyện, đơn vị sự nghiệp trực thuộc chi cục, ….trên cơ sở đề án vị trí việc làm, xây dựng kế hoạch sử dụng biên chế viên chức, số lượng lao động hợp đồng, quỹ tiền lương, tiền công của đơn vị, trình cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp thẩm định, tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân huyện theo quy định; hàng tháng lập danh sách viên chức, lao động hợp đồng hưởng tiền lương, tiền công (nếu có) của đơn vị gửi Kho bạc nhà nước chuyển Ngân hàng chi trả cho người lao động.
b) Tổ chức việc thực hiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với viên chức trên các mặt:
Công tác chỉ đạo điều hành của UBND huyện với các cơ quan chuyên môn quản lý
Trên cơ sở Nghị quyết số 18-NQ/TW một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và Hướng dẫn số 28-HD/BTCTW, ngày 28/02/2020 Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn về thực hiện sắp xếp tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức cơ quan đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội ở những địa phương.
UBND huyện chỉ đạo Phòng Nội vụ phối hợp với các cơ quan ban ngành liên quan thực hiện việc sắp xếp tổ chức bộ máy, đánh giá, phân loại, bố trí đội ngũ cán bộ, viên chức tại các cơ quan, đơn vị sự nghiệp; xây dựng và hoàn thiện danh mục, số lượng vị trí việc làm, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, viên chức tại cơ quan, đơn vị thuộc thẩm quyền cấp huyện; Xây dựng kế hoạch, lộ trình và thực hiện sắp xếp giảm số lượng lãnh đạo, quản lý; số lượng cán bộ, viên chức dôi dư gắn với thực hiện tinh giản biên chế tại cơ quan, đơn vị sự nghiệp, bảo đảm phù hợp với thực tế tại các địa phương.
Phòng Y tế: Tham mưu Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước khám bệnh, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn.
Phòng Giáo dục và Đào tạo: Tham mưu Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về viên chức giáo dục, đảm bảo cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và chất lượng giáo dục và đào tạo tại các cấp học tại địa phương.
Phòng Văn hoá và Thông tin: Tham mưu Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa, thể dục, thể thao, du lịch, thông tin phát thanh, truyền hình.
Phòng Nội vụ tham mưu Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về tổ chức bộ máy; vị trí việc làm, biên chế, tiền lương, thi đua khen thưởng, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng thời Phòng Nội vụ thường xuyên phối hợp với các cơ quan liên quan và Phòng giáo dục đào tạo, Phòng Y tế, y tế cơ sở và các ngành liên quan trong việc thực hiện cơ chế, chính sách về viên chức và quản lý nhà nước về viên chức tại địa phương.
Thực trạng và định hướng xây dựng đội ngũ viên chức
Các cấp chính quyền địa phương xác định tinh giản biên chế trong cả hệ thống chính trị đến năm 2021 phải đạt 10%; đồng thời thực hiện cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, viên chức, trong đó đối với viên chức phải đạt tối thiểu 65% làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 11\SAU BAO VE\DOT 4/ HO TAN QUY


