Quản lý nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai trên địa bàn Xã Quang Trung
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá, là nhân tố ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia nói chung và của từng địa phương nói riêng. Trong hoạt động kinh tế, đất đai cũng được xem là nguồn lực, một yếu tố đầu vào không thể thiếu của mỗi quốc gia, mỗi địa phương. Việc quản lý và sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác Nhà nước (QLNN) về kinh tế – xã hội – môi trường. Công tác quản lý nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai có ảnh hưởng quyết định sự phát triển bền vững của nền kinh tế, đảm bảo mục tiêu ổn định chính trị – xă hội. Các Mác đã khẳng định: “Lao động là cha, đất đai là mẹ sinh ra của cải vật chất”
Xã hội càng phát triển, dân số ngày càng tăng, tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và biến đổi khí hậu ngày một phức tạp theo chiều hướng xấu do đó đòi hỏi công tác quản lý và sử dụng đất càng phải có hiệu quả, tiết kiệm, đúng mục đích và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên không thể tái tạo này. Quản lý nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai ngày càng trở nên cần thiết và là nhiệm vụ quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về kinh tế – xã hội – môi trường.
Nhận thấy được tầm quan trọng đó, ngay từ những ngày đầu thời kỳ đổi mới, Nhà nước đã ban hành Luật đất đai và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn nhằm giúp cho hoạt động quản lý đất đai phù hợp với tình hình đất nước. Luật đất đai năm 2013 đã xác định rõ: đất đai thuộc sở hữu của toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, thông qua đó Nhà nước thực hiện quyền định đoạt như: quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định, xem duyệt quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất; quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất; quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, định giá đất.
Xã Quang Trung là nằm phía Nam của , được thành lập năm 1983 trên cơ sở tách Tam Kỳ, thành thị xã Tam Kỳ và xã Quang Trung. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, xã Quang Trung cũng chuyển mình phát triển do đó nhu cầu sử dụng đất để phát triển kinh tế, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, mở rộng đô thị ngày càng lớn đồng thời với sự phát triển của khoa học công nghệ đòi hỏi công tác QLNN về thu thập dữ liệu đất đai trên địa bàn phải theo kịp và làm động lực cho sự phát triển của kinh tế xã hội của xã. Từ khi Luật Đất đai được ban hành, công tác quản lý Nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai đã được cải thiện, xã Quang Trung đã có những chính sách nhằm khai thác hiệu quả nguồn lực này như: triển khai thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp theo từng năm và từng giai đoạn; chỉ đạo các xã triển khai thực hiện tốt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Xây dựng Nghị quyết HĐND về kế hoạch thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất hàng năm; Đặc biệt, trong năm 2020, Chính phủ đã phê duyệt Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 09/5/2020 về việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất xã Quang Trung tạo cơ sở để thực hiện công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, đáp ứng kịp thời nhu cầu và thu hút các dự án đầu tư của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài xã, cơ cấu sử dụng đất bước đầu đã được chuyển đổi phù hợp, đáp ứng được mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế – xă hội của ; đóng góp thu ngân sách từ đất đai hàng năm ổn định trong tổng thu ngân sách của toàn .
Tuy nhiên, trên thực tế công tác quản lý đất đai vẫn bộc lộ những hạn chế trong khi thực hiện như: công tác quy hoạch chưa đồng bộ, sử dụng đất chưa đúng mục đích, công tác phát triển quỹ đất tuy đã được đẩy mạnh nhưng một số dự án triển khai còn chậm; công tác xác định giá đất cụ thể đến từng thửa đất mặc dù đã được phân cấp cho cấp nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu do thiếu cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ và đặc biệt là kinh phí thực hiện; công tác giải phóng mặt bằng một số công trình, dự án vẫn còn gặp khó khăn, vướng mắc, tiến độ chậm do người dân khiếu kiện ảnh hưởng đến tiến độ thi công của một số công trình, các dự án được Nhà nước giao đất, cho thuê đất chậm tiến độ, các dự án nợ tiền thuê đất, không thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước còn rất nhiều. Ngoài ra, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn còn chậm; công tác cập nhật biến động đất đai chưa kịp thời, đồng bộ. Tình trạng vi phạm pháp luật đất đai như lấn chiếm đất đai, sử dụng đất sai mục đích vẫn còn xảy ra; khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai vẫn diễn ra ở một số xã. Đứng trước thực trạng đó, Nhà nước phải có biện pháp để quản lý và sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, giảm bớt những khó khăn trong quá trình thực hiện.
Nhằm mục tiêu hoàn thiện công tác QLNN về thu thập dữ liệu đất đai, góp phần vào công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai trên địa bàn Xã Quang Trung, ”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của luận văn là đánh giá thực trạng QLNN về thu thập dữ liệu đất đai trên địa bàn Xã Quang Trung, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai tại địa bàn Xã Quang Trung, .
2.2. Mục tiêu cụ thể
– Hệ thống hóa các cơ sở lý luận quản lý Nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai.
– Phân tích Thực trạng công tác quản lý nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai tại xã Quang Trung, Kiến Xương, Thái Bình..
– Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai trên địa bàn địa bàn Xã Quang Trung, .

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động quản lý Nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai trên địa bàn Xã Quang Trung, .
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Quản lý Nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai có nội dung rất rộng, theo quy định tại Điều 22, Luật Đất đai 2013 có 15 nội dung về quản lý và sử dụng đất. Tuy nhiên, luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu về các hoạt động quản lý cụ thể là: Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản; Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Triển khai công tác kỹ thuật và nghiệp vụ địa chính; Công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, tiến hành việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất; Công tác tài chính về thu thập dữ liệu đất đai và giá đất; Giám sát, thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về thu thập dữ liệu đất đai
+ Về thời gian: Số liệu đánh giá thực trạng từ năm 2019 đến năm 2023. Các giải pháp đề xuất có ý nghĩa trong những năm đến
+ Về không gian: Công tác quản lý Nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai trên địa bàn
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
+ Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Nguồn dữ liệu thứ cấp sẽ được thu thập trong 5 năm gần đây từ các báo cáo hàng năm, báo cáo tại Hội nghị của Sở Tài nguyên và Môi trường . Ngoài ra, còn khai thác và sử dụng các số liệu của Cục thống kê, Sở Tài nguyên và Môi trường , Phòng Tài nguyên và Môi trường xã Quang Trung về Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất; đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn xã Quang Trung.
Tìm hiểu các văn bản pháp luật như: các văn bản pháp luật, thông tư, nghị quyết về quản lý và sử dụng đất đai do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; Các báo cáo tổng hợp về thu thập dữ liệu đất đai của Phòng Tài Nguyên – Môi trường xã Quang Trung từ năm 2019 đến năm 2023. Niên giám thống kê của Xã Quang Trung qua các năm, từ năm 2019 đến năm 2023
+ Phương pháp xử lý số liệu: Từ các nguồn tài liệu thứ cấp, luận văn chọn lọc những số liệu cần thiết và trích dẫn nguồn các số liệu đó. Sử dụng phần mềm Excel để tiến hành thống kê và phân tích số liệu
4.2. Phương pháp phân tích
– Phương pháp thống kê mô tả: Được dùng để mô tả thực trạng tình hình quản lý đất đai trên địa bàn Xã Quang Trung, thể hiện qua hệ thống số liệu đã được thống kê và phân tích như phân tích chỉ số, phân tích tỷ lệ, phân tích số trung bình; phương pháp so sánh giữa các năm và giữa các địa phương, các xã trong toàn Xã. Từ đó thấy được sự biến động tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn và đề xuất giải pháp.
– Phương pháp so sánh: Đối chiếu các chỉ tiêu (tốc độ phát triển bình quân, tốc độ phát triển liên hoàn) có cùng nội dung, tính chất để xác định xu hướng biến động của tình hình quản lý và sử dụng đất đai, qua đó đánh giá việc thực hiện có hiệu quả hay không hiệu quả để tìm ra giải pháp cho mỗi vấn đề. Trong công tác quản lý đất đai các cơ quan quản lý sử dụng phương pháp so sánh để nắm được tình hình số lượng đất đai, việc nắm bắt đầy đủ các thông tin về thu thập dữ liệu đất đai cho phép các cơ quan có kế hoạch đúng đắn về quản lý đất đai.
+ Phương pháp kế thừa: Ngoài những phương pháp nêu trên, tác giả còn kế thừa, tham khảo những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản lý Nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai.
5. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo thì nội dung chính của đề tài được trình bày trong 3 chương, cụ thể như sau:
– Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai
– Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai trên địa bàn Xã Quang Trung,
– Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai trên địa bàn Xã Quang Trung, .
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THU THẬP DỮ LIỆU ĐẤT ĐAI
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG QUẢN LÝ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THU THẬP DỮ LIỆU ĐẤT ĐAI
1.1.1. Một số khái niệm
a. Khái niệm quản lý
Xuất phát từ những giác độ tiếp cận nghiên cứu khác nhau, nhiều tác giả đã đưa ra những quan điểm khác nhau về quản lý. Theo tác giả Fayel: “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”. Để hình thành nên hoạt động quản lý cần có 3 yếu tố: Chủ thể quản lý, Đối tượng bị quản lý, mục tiêu quản lý. Có được 3 yếu tố trên nghĩa là có được điều kiện cơ bản để hình thành nên hoạt động quản lý. Quản lý bao giờ cũng gắn liền trong một môi trường nhất định.
Từ đó có thể đưa ra một khái niệm có tính chất tổng quát về quản lý như sau: “Quản lý là sự tác động của chủ thể lên đối tượng nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong một điều kiện nhất định của môi trường”.
b. Khái niệm quản lý nhà nước: QLNN xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, gắn chức năng, vai trò của nhà nước trong xã hội có giai cấp. QLNN là một dạng quản lý đặc biệt, là hoạt động tổ chức, điều hành của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp, tư pháp.
QLNN ở Việt Nam có các đặc điểm cơ bản sau: thứ nhất, QLNN mang tính quyền lực đặc biệt, có tính tổ chức rất cao. Thứ hai, QLNN có mục tiêu chiến lược, chương trình kế hoạch để thực hiện mục tiêu. Thứ ba, QLNN theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Thứ tư, QLNN không có sự tách biệt tuyệt đối giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Thứ năm, QLNN đảm bảo tính liên tục và ổn định trong tổ chức.
Vậy “Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước”[6].
b. Khái niệm đất đai
“Theo quan điểm kinh tế học thì đất đai không chỉ bao gồm mặt đất còn bao gồm cả tài nguyên dưới đất và tất cả mọi thứ sinh sôi trên mặt đất và dưới đất không do lao động và con người làm ra, tức là bao gồm nước mặt đất và nước ngầm, thổ nhưỡng, thực vật và động vật. Với nghĩa chung nhất, đó là lớp bề mặt của trái đất, bao gồm đồng ruộng, đồng cỏ, bãi chăn thả, cây rừng, bãi hoang, mặt nước, đầm lầy và bãi đá… Với nghĩa hẹp thì đất đai biểu hiện khối lượng và tính chất của quyền lợi hoặc tài sản mà một người có thể chiếm đối với đất”[6].
Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư số 14/2012/TT-BTNMT ngày 26 tháng 11 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường: “Đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chu kỳ, có thể dự đoán được, có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế – xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người”.
Về mặt đời sống – xã hội, đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất không gì thay thế được của ngành sản xuất nông – lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá và an ninh quốc phòng. Nhưng đất đai là tài nguyên thiên nhiên có hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian. Ngày nay, dưới sự tác động của con người, xét ở góc độ kinh tế thị trường, đất đai đã trở thành hàng hóa đặc biệt. Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội như là một tư liệu sản xuất đặc biệt. Trong nông nghiệp, đất đai là chỗ tựa, chỗ đứng, là nguồn cung cấp thức ăn cho cây trồng. Trong công nghiệp, đất đai là nền tảng, làm cơ sở, làm địa điểm để tiến hành những thao tác, những hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật.”[7, tr. 11]
“Đất đai là một trong những của cải quý nhất của loài người, nó tạo điều kiện cho sự sống của động vật, thực vật và con người trên trái đất”. Đất là một tài sản của tự nhiên ban tặng loài người. Bằng sự sáng tạo và trí thông minh của mình, con người đã biết đón nhận đất đai và khai thác nguồn lợi mà thiên nhiên đã ban tặng để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống ngày càng tăng của con người.
Như vậy, “đất đai là tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đấ”[12].
Đất đai ở nước ta bao gồm nhiều loại. Điều 10 luật đất đai năm 2013 quy định: “Căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại như sau: Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng; Đất nuôi trồng thủy sản; Đất làm muối; Đất nông nghiệp khác…Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; Đất xây dựng trụ sở cơ quan; Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; Đất xây dựng công trình sự nghiệp gồm đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác; … Nhóm đất chưa sử dụng gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng” [8]
c. Quản lý Nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai
Khi nghiên cứu về quan hệ đất đai, ta thấy có các quyền sử dụng đất đai, quyền định đoạt đất đai. “Các quyền năng này được Nhà nước thực hiện trực tiếp bằng việc xác lập các chế độ pháp lý về quản lý và sử dụng đất đai. Nhà nước không trực tiếp thực hiện các quyền năng này mà thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước do Nhà nước thành lập ra và thông qua các tổ chức, cá nhân sử dụng đất theo những quy định và theo sự giám sát của Nhà nước. Quản lý Nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai trở thành vấn đề sống còn của mỗi dân tộc. Quản lý Nhà nước đối với đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu Nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai; đó là các hoạt động trong việc nắm chắc tình hình sử dụng đất; trong việc phân phối và phân phối lại vốn đất đai theo quy hoạch; trong việc kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đất”[1].
Quản lý nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai là hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền trong việc sử dụng các phương pháp, các công cụ quản lý thích hợp tác động đến hành vi, hoạt động của người sử dụng đất nhằm đạt mục tiêu sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ môi trường trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương.
1.1.2. Đặc điểm quản lý nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai
Nhà nước thống nhất QLNN về thu thập dữ liệu đất đai từ trung ương đến địa phương đảm bảo đất đai sử dụng đúng pháp luật, quy hoạch sử dụng đất nhằm khai thác và sử dụng đất ổn định, lâu dài thông qua các cơ quan QLNN về thu thập dữ liệu đất đai.
Trong Điều 18 của Hiến pháp cũng đã xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất đai: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật”
Quản lý nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai của chính quyền nhằm thực hiện việc nhà nước giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức, cơ quan, đơn vị kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài. Nhà nước tạo điều kiện cho người sử dụng đất có thể phát huy tối đa các quyền đối với đất đai. Có như vậy người sử dụng đất mới yên tâm, chủ động đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn vào việc bảo vệ, cải tạo cho đất; khai hoang, phục hóa, đưa diện tích đất trống, đồi trọc, đất có mặt nước hoang hóa vào sử dụng; đồng thời phát triển hạ tầng để làm tăng giá trị đất.
“Nhà nước đóng vai trò chính trong việc hình thành chính sách đất đai và các nguyên tắc của hệ thống QLNN về thu thập dữ liệu đất đai, bao gồm pháp luật đất đai và pháp luật liên quan đến đất đai. Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân. Chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp cho toàn dân là Nhà nước mới có toàn quyền trong việc quyết định tình trạng pháp lý của đất đai. Qua đó, thể hiện sự tập trung quyền lực và thống nhất của Nhà nước trong quản lý nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng”[7]. Ở Việt Nam, bản chất Nhà nước của chúng ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Vì vậy, Điều 17, Hiến pháp năm 1992 đã xác định “Ðất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân
Điều 53 Hiến pháp 2013 quy định như sau: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.
Điều 4 Luật đất đai 2013 về sở hữu đất đai có quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Nên nhà nước có đầy đủ quyền năng về sử dụng đất. Để hình thành quan hệ pháp luật đất đai, Nhà nước cho phép các tổ chức và cá nhân sử dụng đất đai.
Nhà nước quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước: Chính phủ, Hội đồng nhân dân, UBND các cấp trong QLNN về thu thập dữ liệu đất đai trên phạm vi cả nước, cũng như tại địa phương.
1.1.3. Vai trò của quản lý Nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai
Đất đai là được xem là một tư liệu sản xuất đặc biệt, là cơ sở để phát triển sản xuất, có ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế xã hội. Chính vì vậy, vai trò của nhà nước trong quản lý đất đai là một yêu cầu cần thiết để điều hoà các mối quan hệ giữa chủ thể quản lý là nhà nước và người sử dụng đất, đảm bảo quyền lợi và đúng quy định của pháp luật. Vai trò quản lý của nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai như sau:
– Đất đai vốn là nguồn tài nguyên hữu hạn, chính vì vậy, việc quản lý và sử dụng đất đai đòi hỏi phải có sự cân nhắc hợp lý, đảm bảo yêu cầu và tiết kiệm nguồn tài nguyên, đảm bảo việc sử dụng đất đai tiết kiệm, hợp lý và hiệu quả. Đất được sử dụng để phục vụ hoạt động sống của con người, tuy hạn chế về mặt diện tích nhưng sẽ trở thành năng lực sản xuất vô hạn nếu biết sử dụng hợp lý. Pháp luật đóng vai trò rất quan trọng đối với đời sống xã hội, bất kì một lĩnh vực, một hoạt động kinh doanh nào cũng đều phải tuân theo quy định của pháp luật, lĩnh vực đất đai cũng không nằm ngoài ngoại lệ. Việc ban hành và triển khai thực hiện Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn có liên quan giúp hoạt động quản lý được ổn định, có nề nếp, vừa tạo sự công bằng, đảm bảo lợi ích chính đáng cho bên sử dụng đất đai. “Thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật đất đai, nhà nước tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cá nhân trong quan hệ về thu thập dữ liệu đất đai. Bằng hệ thống pháp luật và các văn bản pháp quy, nhà nước xác định địa vị pháp lý cho các đối tượng sử dụng. Trên cơ sở đó nhà nước điều chỉnh hành vi của các đối tượng sử dụng đất, hành vi nào là hợp pháp, hành vi nào là không hợp pháp”
Việc ban hành các chính sách, các quy định về thu thập dữ liệu đất đai tạo ra một hành lang pháp lý cho việc sử dụng, đảm bảo lợi ích chính đáng cho người sử dụng và lợi ích của nhà nước trong việc quản lý đất đai. Nhà nước thông qua chiến lược, chủ trương đã được ban hành xây dựng kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất nhằm điều tiết các hoạt động liên quan đến việc quản lý và sử dụng tài nguyên này đúng mục đích, hợp lý và hiệu quả. Để đạt được điều đó, đòi hòi việc xây dựng, lập và ban hành các hoạch định chiến lược, các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, phân bổ chỉ tiêu đất đai phải đáp ứng được nhu cầu đời sống xã hội, điều kiện kinh tế của từng địa phương. Quy hoạch sử dụng đất hiệu quả sẽ là cơ sở để thực hiện tốt quản lý Nhà nước về quy hoạch, là cơ sở để thực hiện giao đất, cho thuê đất, đầu tư phát triển kinh tế, đồng thời là giải pháp hạn chế được tình trạng xâm lấn, sử dụng đất tự phát không theo quy hoạch, gây lãng phí nguồn tài nguyên
– Thông qua việc ban hành và thực hiện hệ thống chính sách về thu thập dữ liệu đất đai như chính sách giá cả, chính sách thuế, đầu tư… nhà nước kích thích các chủ thể kinh tế, các cá nhân sử dụng đầy đủ hợp lý đất đai, tiết kiệm đất nhằm nâng cao khả năng sinh lời cuả đất, để góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế xã họi của cả nước và để bảo vệ môi trường. Các chính sách đất đai là những công cụ để nhà nước thực hiện vai trò quản lý trong từng giai đoạn nhất định. Nhà nước tạo môi trường thông thoáng, cải cách các thủ tục đầu tư, điều chỉnh các công cụ quản lý đó để tăng đầu tư vào đất
– Thông qua công tác thống kê, kiểm kê đất đai hàng năm giúp nhà nước đánh giá được hiện trạng sử dụng đất và là căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho kỳ tiếp theo, giúp nhà nước nắm được quỹ đất hiện có, biến động hiện trạng sử dụng đất qua từng năm, để từ đó xác định chất lượng đất, mức độ thích nghi, hiệu quả kinh tế xã hội, tiềm năng đất đai. Thông qua việc đánh giá, phân loại, phân hạng đất mà nhà nước nắm được cơ cấu từng loại đất và quỹ đất tổng thể. Trên cơ sở đó để đề ra các biện pháp cụ thể nhằm sử dụng đất có hiệu quả.
Thông qua việc kiểm tra, giám sát, nhà nước có thể nắm bắt được tình hình biến động trong việc sử dụng từng loại đất, phát hiện những mặt tích cực trong công tác quản lý làm cơ sở điều chỉnh và giải quyết kịp thời các sai phạm xảy ra. Nhờ việc kiểm tra, giám sát quản lý và sử dụng đất, nhà nước kịp thời nắm bắt tình hình về sử dụng đất đai, phát hiện những vi phạm tại địa phương và giải quyết nhũng vi phạm đó.
Bên cạnh đó, công tác quản lý Nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai là nhân tố vô cùng quan trọng giúp Nhà nước ban hành các chính sách, quy định, thể chế, bổ sung và điều chỉnh những chính sách mà hiện tại còn chưa phù hợp, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống thực tiễn.
1.1.3. Nguyên tắc quản lý Nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai
Trong quản lý Nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai cần chú ý các nguyên tắc sau:
a. Công khai minh bạch
Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân. Vì vậy, không thể có bất kỳ một cá nhân hay một nhóm người nào chiếm đoạt tài sản chung thành tài sản riêng của mình được. Chỉ có Nhà nước – chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp cho toàn dân mới có toàn quyền trong việc quyết định số phận pháp lý của đất đai, thể hiện sự tập trung quyền lực và thống nhất của Nhà nước trong quản lý nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng. Vấn đề này được quy định tại Điều 54, Hiến pháp 2013 “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” và được cụ thể hơn tại Điều 4, Luật Đất đai 2013 “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này” Tuy nhiên, sự tập trung và thống nhất quản lý nhà nước về thu thập dữ liệu đất đai cũng phải đảm bảo tính công khai minh bạch bằng việc công khai thông tin đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên cổng thông tin điện tử của các cơ quan có thẩm quyền quản lý.
b. Đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai, giữa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người sử dụng
Đất đai phản ánh mối quan hệ về lợi ích giữa cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội. Việc đảm bảo hài hòa giũa các lợi ích được thực hiện thông qua công tác quy hoạch hoặc các quy định tài chính về thu thập dữ liệu đất đai. Cùng các chính sách về quyền, nghĩa vụ của nhà nước và người sử dụng đất.
Điều 4 Luật Đất đai 2013 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này.”Như vậy, chỉ có Nhà nước mới có quyền sở hữu đất đai và Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu. Đồng thời, Nhà nước thu thuế, thu tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ… từ những chủ thể trực tiếp sử dụng đất đai. Để phát huy vai trò của đất đai “Nhà nước phải giao đất cho các chủ thể trực tiếp sử dụng và phải quy định một hành lang pháp lý cho phù hợp để vừa đảm bảo lợi ích cho người trực tiếp sử dụng, vừa đảm bảo lợi ích của Nhà nước.”
Để sử dụng đất đai có hiệu quả Nhà nước phải giao đất cho các chủ thể trực tiếp sử dụng và phải quy định một hành lang pháp lý cho phù hợp để vừa đảm bảo lợi ích cho người trực tiếp sử dụng, vừa đảm bảo lợi ích của Nhà nước. Nhà nước với tư cách đại diện chủ sỡ hữu và thống nhất quản lý sẽ trao quyền sử dụng đất cho các chủ thể sử dụng đất (người sử dụng đất) dưới các hình thức Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai năm 2013. Muốn đảm bảo kết tốt quyền sở hữu toàn dân và quyền từng người sử dụng phải có cơ chế kết hợp, trong đó, quyền và trách nhiệm của các bên (Nhà nước và người sử dụng) phải được công nhận và thể chế hóa bằng các văn bản pháp luật.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\BÀI ĐẠI HỌC\KHO SỐ 2\XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH PHỤC VỤ CÔNG TÁC QLNN XÃ QUANG TRUNG HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH\THAM KHẢO/ Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn Huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam


