Quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu tại thành phố Đà Nẵng

Quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu tại thành phố Đà Nẵng

Quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu tại thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Xuất khẩu và nhập khẩu là các thuật ngữ được dùng để miêu tả hàng hóa và dịch vụ được buôn bán giữa các quốc gia. Xuất nhập khẩu (XNK) là ngành kinh tế quan trọng, góp phần vào việc phát triển của mỗi quốc gia. Nhờ có XNK mà quá trình cung cầu hàng hóa và dịch vụ của thị trường trong và ngoài nước về số lượng, chất lượng và thời gian được cải thiện hơn.

Việt Nam luôn coi hoạt động XNK là một trong những nhiệm vụ chiến lược hàng đầu của đất nước. Với vị trí trung độ của cả nước và là điểm cuối của hành lang kinh tế Đông Tây, Đà Nẵng có nhiều thuận lợi trong chiến lược phát triển kinh tế giao thương với các nước trong khu vực và là nơi tập trung các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu phần mềm lớn nhưng chủ yếu là gia công sản phẩm phần mềm cho thị trường Nhật và Mỹ và năng lực quản lý, nguồn nhân lực chất lượng cao, công nghệ kỹ thuật chưa phát triển.

Thời gian qua, Nhà nước ta cũng đã tăng cường quản lý về hoạt động XNK, song trong bối cảnh hội nhập quốc tế mạnh mẽ thì công tác quản lý nhà nước về hoạt động XNK còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập như bộ máy quản lý còn chồng chéo, phức tạp, các cải cách hành chính trong lĩnh vực thương mại chưa quyết liệt để thay đổi triệt để cái cũ; cách thức và phương pháp quản lý XNK còn thụ động, chưa phát huy hết chức năng của hệ thống các công cụ quản lý;

các chính sách, công cụ quản lý chưa rõ ràng, cứng nhắc, chưa khuyến khích thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tham gia trưc tiếp XNK để nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Vì vậy, việc hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu trong thời gian tới là một yêu cầu cấp thiết nhất là đối với một thành phố năng động và có nhiều điều kiện để phát triển về công nghiệp xuất khẩu như Đà Nẵng. Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu tại thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản của quản lý nhà nước về hoạt động XNK; phân tích đánh giá thực trạng hoạt động XNK và quản lý nhà nước về hoạt động XNK ở thành phố Đà Nẵng thời gian qua; đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về hoạt động XNK tại thành phố Đà Nẵng thời gian tới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là tất cả những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quản lý nhà nước về hoạt động XNK.

Phạm vi nghiên cứu: luận văn chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến chính sách quản lý và công cụ quản lý của Nhà nước về hoạt động XNK tại thành phố Đà Nẵng; các số liệu thu thập để nghiên cứu trong 04 năm từ năm 2012 đến hết năm 2016 và các giải pháp có ý nghĩa trong 10 năm đến.

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp thu thập số liệu; phương pháp tổng hợp so sánh và phân tích thống kê; phương pháp khảo sát chuyên gia; thực hiện khảo sát trực tuyến.

5. Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, các bảng biểu và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của quản lý nhà nước về hoạt động XNK.

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động XNK tại thành phố Đà Nẵng.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về hoạt động XNK tại thành phố Đà Nẵng.

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ

NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU

1.1. TỔNG QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU

1.1.1. Khái niệm hoạt động xuất nhập khẩu

Trong thực tế có rất nhiều khái niệm đề cập đến hoạt động XNK tuy nhiên trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, theo tác giả hoạt động XNK hay còn gọi là ngoại thương là một hoạt động kinh tế phản ánh sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa trong nước và nước ngoài thông qua việc mua, bán hàng hóa và dịch vụ qua biên giới quốc gia. Mục tiêu chính của ngoại thương là tạo ra cầu nối giữa cung, cầu hàng hóa dịch vụ của thị trường trong và ngoài nước. Điều kiện để hoạt động XNK sinh ra, tồn tại và phát triển là có sự tồn tại của quan hệ kinh tế hàng hóa – tiền tệ và sự tồn tại các quốc gia vùng lãnh thổ và khả năng liên kết kinh tế, hội nhập với kinh tế khu vực và quốc tế.

1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu

Quản lý nhà nước về hoạt đông XNK là sự tác động của Nhà nước lên các chủ thể chịu trách nhiệm về hoạt động XNK thông qua quá trình xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách và quy định pháp luật; thiết lập và sử dụng hiệu quả công cụ XNK; tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về XNK; kiểm tra, kiểm soát hoạt động XNK, tạo ra môi trường thuận lợi nhất để hoạt động XNK phát triển đúng định hướng phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, có hiệu quả một cách bền vững trong điều kiện biến động của môi trường trong nước và thương mại quốc tế.

1.1.3. Sự cần thiết quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu

  • Vì mục tiêu hiệu quả kinh tế, mọi quốc gia đều phải tập trung hóa và chuyên môn hóa sản xuất bao gồm nâng quy mô sản xuất, quy mô dịch vụ của đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ, từ đó đòi hỏi các nước phải giao lưu quốc tế về kinh tế để tránh tình trạng sản xuất thừa hay thiếu.
  • Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như ngày nay, nếu không có các chính sách bảo hộ phù hợp thì nền công nghiệp non trẻ của nước ta sẽ không đứng vững được. Vì vậy, để thực hiện các mục tiêu công nghiệp hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia cần hoàn thiện quản lý nhà nước về hoạt động XNK.

1.1.4. Một số lý thuyết cơ bản quản lý nhà nước về xuất nhập khẩu

  1. Quan niệm của các học giả trọng thương (Mercantilism)
  2. Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối (Absolute Advantages)

c. Lý thuyết về lợi thế so sánh (Comparetive Advantages)

d. Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia (National Competitive Advantage)

1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU

1.2.1. Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về XNK

Với vai trò là công cụ hoạch định nên cả chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển đều giống nhau ở chức năng định hướng quá trình phát triển tuy nhiên sự khác biệt ở chỗ việc đảm nhận chức năng định hướng phát triển của mỗi công cụ này ở các vị trí, mức độ, phạm vi khác nhau trong toàn bộ lộ trình thực hiện vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường.

Kết quả của việc xây dựng chiến lược, kế hoạch, quy hoạch được đánh giá qua các tiêu chí:

  • Mức độ ban hành chiến lược, kế hoạch, quy hoạch của thành phố có đầy đủ, đồng bộ, kịp thời, có tầm nhìn xa không?
  • Các chiến lược, kế hoạch, quy hoạch XNK có mang lại hiệu quả và tạo cơ hội cho DN tham gia góp ý không?
  • Các chiến lược, kế hoạch, quy hoạch XNK có phù hợp với các mục tiêu XNK của thành phố đặt ra không?
  • Khả năng tiếp cận thông tin, tài liệu về các chiến lược, kế hoạch, quy hoạch của doanh nghiệp ở mức độ nào?

1.2.2. Xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách và quy định pháp luật về XNK

  1. Quan điểm lãnh đạo của Đảng về hoạt động XNK

b. Ban hành và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về XNK

Nhà nước thống nhất quản lý các hoạt động XNK bằng pháp luật theo nguyên tắc tuân thủ pháp luật Việt Nam, tôn trọng pháp luật thế giới cũng như các thỏa thuận song phương và đa phương đã cam kết nhằm đảm bảo các hoạt động XNK, đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài phải tuân thủ pháp luật đã quy định.

Quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu tại thành phố Đà Nẵng
Quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu tại thành phố Đà Nẵng

c. Xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách XNK

Chính sách quản lý XNK là hệ thống những điều khoản, quan điểm, và phương thức mà Nhà nước sử dụng để ra quyết định nhằm tác động vào các chủ thể XNK và thị trường để giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động XNK nhằm đạt các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ nhất định.

Kết quả xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách và quy định pháp luật về XNK được đánh giá qua một số tiêu chí sau:

– Mức độ tuân thủ của doanh nghiệp khi tham gia hoạt động XNK về các quy định pháp luật về thuế quan, các biện pháp hành chính áp dụng đối với hàng hóa XNK theo quy định pháp luật, các thủ tục khai báo hải quan, quy trình cấp giấy phép DN…

– Mức độ ban hành các quy định pháp luật có kịp thời, đồng bộ; sự can thiệp của Nhà nước là thiếu sự điều tiết hay can thiệp quá mức.

– Hiệu quả của việc ban hành quy định pháp luật có tạo khung pháp lý ổn định lâu dài, ít điều chỉnh và bổ sung, đảm bảo công khai minh bạch thông tin pháp luật không?

– Việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách XNK có hợp lý đối với thời điểm hiện tại không và doanh nghiệp có tiếp cận, hiểu, thực hiện cũng như tham gia góp ý kiến về các quy định, chính sách XNK không?

1.2.3. Thiết lập và sử dụng hiệu quả công cụ quản lý XNK

Các công cụ quản lý nhà nước về XNK là các phương pháp, cách thức tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các đối tượng XNK mà Nhà nước sử dụng nhằm điều tiết đối tượng vận hành theo mục tiêu chiến lược đã hoạch định. Công cụ XNK bao gồm công cụ thuế quan và các công cụ phi thuế quan chủ yếu.

Kết quả của việc thiết lập và sử dụng hiệu quả các công cụ XNK được đánh giá qua các tiêu chí:

  • Công tác kiểm tra thu thuế XNK.
  • Mức độ tuân thủ pháp luật, hiểu và sử dụng các công cụ XNK của các doanh nghiệp hoạt động XNK.
  • Quyền và nghĩa vụ cũng như vướng mắc của doanh nghiệp trong việc kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK.

1.2.4. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động XNK

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động XNK được xây dựng để vừa đảm bảo quản lý chặt chẽ vừa tạo thuận lợi cho các hoạt động XNK. Cơ cấu quản lý XNK được tổ chức có tính hệ thống và quản lý theo mô hình trùng song. Chính phủ vừa trực tiếp chỉ đạo Bộ Công thương điều hành hoạt động XNK hoặc Chính phủ thông qua các Bộ ngành và Ủy ban nhân dân các địa phương điều chỉnh các chủ thể XNK nhằm tuân thủ mục tiêu đã hoạch định. Kết quả của việc tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động XNK được đánh giá qua các tiêu chí:

  • Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động XNK hiện tại có tạo khung pháp lý lâu dài, công khai minh bạch và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia hoạt động XNK không?
  • Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý XNK có phù hợp với phương pháp điều hành chung của Nhà nước hiện nay.
  • Sự phối hợp quản lý điều hành giữa các cơ quan liên quan từ Trung ương đến địa phương.

1.2.5. Tổ chức kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm về hoạt động XNK

Nội dung kiểm tra, kiểm soát xử lý vi phạm về hoạt động XNK bao gồm việc chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản thuộc chức năng của bộ; khắc phục hạn chế của hoạt động tạm nhập, tái xuất đảm bảo yêu cầu quản lý, tránh sự lợi dụng chính sách để có hành vi gian lận thương mại, trốn thuế…; triển khai các giải pháp nâng cao hiệu lực hiệu quả hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; hướng dẫn kiểm tra, giám sát hoạt động của các đại lý làm thủ tục hải quan, các daonh nghiệp kinh doanh địa điểm kho bãi, dịch vụ giao nhận có liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu QLNN về hoạt động XNK; phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về XNK.

Kết quả của việc kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hoạt động XNK được đánh giá qua các tiêu chí:

– Mức độ kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm của cơ quan quản lý XNK tại thành phố là thường xuyên hay buông lỏng.

– Tỷ lệ doanh nghiệp vi phạm về XNK.

– Các quy định kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm về XNK có phù hợp nội dung QLNN về XNK và phương thức thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm.

1.3. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU Ở NƯỚC TA

1.3.1. Các yếu tố thuộc về chủ thể quản lý

  1. Quan điểm đường lối lãnh đạo của Đảng về phát triển kinh tế thương mại
  2. Nhận thức của lãnh đạo các cấp về hoạt động XNK
  3. Đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về hoạt động XNK

1.3.2. Các yếu tố thuộc về đối tượng quản lý

  1. Năng lực của các doanh nghiệp XNK
  2. Tuyển dụng, đào tạo và đãi ngộ nhân lực làm việc trong doanh nghiệp XNK

1.3.3. Các yếu tố về môi trường bên ngoài

  1. Sự phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế
  2. Xã hội
  3. Sự phát triển của khoa học công nghệ

1.4. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG XNK

1.4.1. Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh

1.4.2. Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh

1.4.3. Tổng quan kinh nghiệm của các địa phương

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1. ĐẶC ĐIỂM ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG THỜI GIAN QUA

2.1.1. Đặc điểm vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Nằm ở vào trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc – Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, với vùng biển rộng lớn và đa dạng hệ sinh thái, nơi đây là nguồn thu hải sản phong phú cho việc nhập khẩu hải sản đi nước ngoài của thành phố và khu vực miền Trung, có ưu thế cho phép phát triển cảng biển và dịch vụ hàng hải, khu kinh tế, khu công nghiệp gắn với lợi thế cảng biển. Tuy nhiên bên cạnh thuận lợi, đặc điểm tự nhiên thành phố cũng có những bất lợi khó khăn nhất là thường xuyên chịu ảnh hưởng của các trận bão lớn từ biển Đông và khoáng sản thì rất ít nên phần nào ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu của địa phương.

2.1.2. Đặc điểm kinh tế- xã hội

Đà Nẵng là địa phương được xác định là một trong những trung tâm kinh tế với tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục ở mức cao và khá ổn định. Từ năm 2012-2016, tốc độ tăng trưởng GRDP tại thành phố đều từ 8-9%, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng GDP cả nước.

2.1.3. Đặc điểm ngoại giao

Trong những năm qua, thành phố Đà Nẵng đã tập trung thu hút đầu tư vào thị trường và đối tác trọng điểm như: các tập đoàn đa quốc gia từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, châu Âu (Đức, Anh, Pháp) và các nước ASEAN… Điểm nhấn trong công tác ngoại giao kinh tế của thành phố trong thời gian qua là việc định hướng phát triển đa dạng các hình thức lan tỏa, quảng bá hình ảnh của Đà Nẵng đến với bạn bè trong nước và quốc tế.

2.2. TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 2012-2016

Trong giai đoạn 2012-2016, tình hình hoạt động xuất nhập khẩu tại thành phố Đà Nẵng có nhiều biến động. Số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động XNK luôn tăng, năm sau cao hơn năm trước, số lượng DN tham gia XNK năm 2016 tăng 94,43% so với năm 2012. Trong khi đó kim ngạch XNK năm 2014 tăng cao và giảm mạnh trong 2013 và 2015. Kết quả được nêu trong Bảng 2.3.

Bảng 2.1. Số liệu tình hình hoạt động XNK trên địa bàn TP Đà Nẵng

NămSố lượng DN tham gia hoạt động XNKKim ngạch XNK
Số DNSo với

năm trước (%)

Kim ngạch
(triệu USD)
So với năm trước (%)
20111.1760$4,575.490
20121.2939.9$4,662.961.9
20131.3988.1$2,881.58-38.2
20142.24860.8$4,324.9150.1
20151.810-19.5$3,244.32-25.0
20162.51438.9$3,973.6422.5

(Nguồn: Cục Hải quan TP Đà Nẵng)

Thời kỳ 2012-2016 ghi nhận sự thay đổi cơ cấu ngành hàng xuất khẩu. Thành phố định hướng phát triển ngành hàng theo đó giảm dần tỷ trọng nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản và tăng nhóm hàng công nghiệp chế tạo và chế biến như dệt may, thủy sản, cao su thành phẩm, hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm gỗ và đồ chơi trẻ em.

2.3. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.3.1. Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về XNK

a. Chiến lược

Các chiến lược thông qua các văn bản chỉ đạo, quy định được cơ quan quản lý triển khai tích cực trên địa bàn thành phố. Ngành thuế Đà Nẵng tuyên truyền, vận động người dân và doanh nghiệp thực hiện đúng quy định pháp luật trong lĩnh vực thuế; đẩy mạnh phòng, chống gian lận thương mại, chuyển giá, gian lận giá nhập khẩu, buôn lậu qua biên giới. Thành phố hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu phần mềm thông qua việc hỗ trợ cơ sở hạ tầng thông tin do thành phố xây dựng, đào tạo nhân lực và nâng cao trình độ quản lý, hỗ trợ vay vốn với lãi suất thấp, các ưu đãi thuế hiện hành cho các doanh nghiệp sản xuất phần mềm. Các hoạt động xúc tiến thương mại thông qua hội chợ được đẩy mạnh bằng việc hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các hội chợ xúc tiến thương mại trong nước và quốc tế.

b. Quy hoạch

Công tác quy hoạch hoạt động XNK được thành phố quan tâm triển khai. Thành phố sẽ tập trung phát triển kinh tế hàng hải, phát triển cảng Đà Nẵng trở thành cảng cửa ngõ quốc tế theo 2 khu vực Tiên Sa và Liên Chiểu. Ban hành chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực phục vụ dịch vụ logistics; bố trí nhân lực theo dõi và nghiên cứu thường xuyên nhằm tham mưu chính sách phát triển kinh tế hàng hải. Thành phố cũng xây dựng đề án “Đẩy mạnh thu hút đầu tư vào thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2016-2020” nhằm đánh giá tồn tại trong công tác thu hút đầu tư và đề ra giải pháp mang tính đột phá tăng cường thu hút đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thành phố.

c. Kế hoạch

Thành phố đã triển khai thực hiện các biện pháp đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, ưu tiên phát triển các ngành nghề theo đúng định hướng của thành phố, trọng tâm là các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin, công nghiệp hỗ trợ. Đà Nẵng chủ trương tăng tỷ trọng xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp và thủ công mỹ nghệ từ 73,3% năm 2010 lên 76,3% năm 2015; đạt 80% năm 2020 và 85% năm 2030. Thành phố sẽ duy trì ổn định tỷ trọng xuất khẩu sang từng khu vực thị trường lớn, cụ thể: Châu Á chiếm 40%; châu Âu chiếm 26,7%; châu Mỹ chiếm 32,8% và châu Úc, Phi lần lượt chiếm 0,4%;0,5%.

Quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu tại thành phố Đà Nẵng
Quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu tại thành phố Đà Nẵng

2.3.2. Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách và quy định pháp luật về hoạt động XNK

Một số chính sách XNK được ban hành và đem lại một số kết quả nhất định, tiêu biểu là chính sách ưu tiên XK công nghệ, chính sách NK, chính sách mặt hàng XNK, chính sách ưu đãi thuế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp.

Công tác tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về XNK cũng được chú trọng quan tâm đúng mức. UBND trực tiếp thực hiện chỉ đạo theo văn bản pháp luật của Nhà nước ban hành như Luật thương mại, luật Hàng hải, Pháp lệnh Hải quan,…Các văn bản pháp quy phần lớn đảm bảo được tính thống nhất, sự đồng bộ giữa luật và các văn bản dưới luật, giữa thể chế quản lý và các chế tài liên quan.

Cho đến nay, các chính sách và quy định pháp luật về XNK là khá đầy đủ tuy nhiên việc thực hiện vẫn còn chưa nghiêm, một số quy định chính sách còn chưa rõ ràng, chồng chéo dẫn đến cách hiểu khác nhau làm cho doanh nghiệp gặp khó khăn khi thực hiện mở tờ khai mặt hàng XNK.

Đối với tiêu chí đánh giá mức độ tuân thủ của doanh nghiệp tham gia XNK về các quy định pháp luật, tác giả đã đưa ra câu hỏi khảo sát thời gian mà doanh nghiệp bỏ ra để tìm hiểu và thực hiện các quy định pháp luật về hoạt động XNK (xem Hình 2.2). Có 48/50 doanh nghiệp trả lời cho câu hỏi khảo sát này.

Hình 2.1. Câu hỏi khảo sát thời gian DN tìm hiểu và thực hiện các quy định pháp luật về hoạt động XNK

(Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả)

Qua khảo sát, có 29,2% doanh nghiệp sử dụng từ trên 15 đến 50% trong năm để tìm hiểu quy định pháp luật về hoạt động XNK, 20,8% doanh nghiệp sử dụng từ trên 10 đến 15% trong năm. Đa số doanh nghiệp XNK cũng thực sự tìm hiểu quy định pháp luật XNK để thực hiện hoạt động XNK.

2.3.3. Thiết lập và sử dụng hiệu quả công cụ quản lý XNK

Việc điều tiết các công cụ quản lý XNK như công cụ thuế quan và phi thuế quan, các hàng rào thương mại được UBND và cơ quan quản lý xây dựng và triển khai có hiệu quả để điều tiết XNK hướng vào mục tiêu phát triển kinh tế. Mặc dù theo Biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu, nhiều mặt hàng nhập khẩu được giảm thuế tuy vậy doanh nghiệp cho rằng sự tác động của biểu thuế đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chưa nhiều. Điển hình một mặt hàng mà doanh nghiệp không biết áp vào mức thuế bao nhiêu và có sự khác nhau giữa việc doanh nghiệp áp mã này nhưng cơ quan hải quan lại yêu cầu áp mã khác, thuế suất cao hơn. Khả năng phát huy tác dụng của các FTA đối với hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thành phố Đà Nẵng vẫn còn thấp, chưa đáng kể (TPP, EVFTA, Liên minh Kinh tế Á-Âu vẫn đang trong giai đoạn đợi các nước thành viên phê chuẩn; tác động của ASEAN 2015 chưa rõ rệt, hơn nữa, kim ngạch xuất khẩu của Đà Nẵng với các thị trường trong khối ASEAN chỉ chiếm khoảng 4% tổng kim ngạch xuất khẩu của thành phố).

Bảng 2.2. Trị giá hàng hóa xuất khẩu trên địa bàn phân theo loại hình kinh tế

Đơn vị tính: triệu đô la Mỹ

2012201320142015Sơ bộ 2016
Tổng trị giá9111.0191.1271.1871.237
Doanh nghiệp nhà nước216218271267238
Doanh nghiệp ngoài nhà nước226274337363367
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài469527519557632

(Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Đà Nẵng 2016)

Một trong những rào cản lớn khác với hàng hóa và DN là biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời (bao gồm biện pháp tự vệ, chống bán phá giá, trợ cấp và đối kháng). Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Đà Nẵng được thành lập nhằm mục đích hợp tác, liên kết, hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau phát triển, nâng cao hiệu quả sản xuất, thay mặt DN đứng ra bảo vệ quyền lợi cho DN cũng như mặt hàng xuất khẩu.

2.3.4. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động XNK

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý hoạt động XNK được chia thành 3 nhóm quản lý:

  • Nhóm quản lý theo cấp hành chính: do Chính phủ thông qua UBND tỉnh, thành phố và UBND quận, huyện trực thuộc điều chỉnh các chủ thể XNK.
  • Nhóm quản lý trực tiếp: do Chính phủ trực tiếp điều hành và thông qua Bộ thương mại để điều chỉnh các chủ thể XNK.
  • Nhóm quản lý chuyên ngành: do Chính phủ thông qua các Bộ chuyên ngành và các cơ quan chuyên ngành liên qua để điều chỉnh chủ thể XNK.

Qua khảo sát có 23 DN cho rằng lãnh đạo thành phố có chủ trương, chính sách tốt nhưng không thực hiện đúng ở cấp quận/huyện và 28 DN cho rằng tình trạng nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục cho doanh nghiệp còn khá phổ biến. Đây cũng là cơ sở để cán bộ trong cơ quan quản lý hoạt động XNK xem lại công tác đào tạo cán bộ công chức, bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp và văn hóa giao tiếp công sở (xem Hình 2.8).

Quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu tại thành phố Đà Nẵng
Quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu tại thành phố Đà Nẵng

Hình 2.2. Câu hỏi khảo sát mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với cán bộ làm việc tại cơ quan quản lý

(Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả)

2.3.5. Tổ chức kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm về hoạt động XNK

Hoạt động XNK tại thành phố được đảm bảo dưới sự quản lý của cục Hải quan Đà Nẵng với việc kiểm tra, giám sát, kiểm soát Hải quan theo quy định pháp luật, chống buôn lậu và gian lận thương mại. Khi làm thủ tục hải quan, doanh nghiệp phải nộp/xuất trình cho cơ quan hải quan các chứng từ liên quan như: Giấy phép (đối với hàng hóa XNK phải có giấy phép), giấy tờ về kết quả kiểm tra kiểm dịch (động vật, thực vật, y tế), kiểm tra an toàn thực phẩm, kiểm tra chất lượng, chứng nhận hợp quy… với hàng hóa XNK. Công tác kiểm tra chuyên ngành còn bộc lộ nhiều bất cập như: phương pháp quản lý còn thụ động; chưa áp dụng phương pháp quản lý rủi ro trong hoạt động quản lý và kiểm tra chuyên ngành; chưa phát huy hết chức năng của hệ thống các công cụ quản lý, điều hành; kéo dài tình trạng sử dụng các biện pháp hành chính, biện pháp kiểm tra theo lô hàng làm tăng chi phí; kéo dài thời gian thông quan hàng hóa…

Thời gian qua, Cục Điều tra chống buôn lậu phối hợp cục Hải quan thành phố Đà Nẵng đã phát hiện, bắt giữ nhiều vụ việc liên quan đến hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu, vận chuyển trái phép các loại tiền chất sử dụng trong y tế, công nghiệp. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan có chiều hướng gia tăng với hàng trăm vụ việc bị phát hiện hằng năm. Tình trạng này không chỉ tác động trực tiếp đến hoạt động XNK, XNC, quá cảnh… mà còn tiềm ẩn nguy cơ thất thu thuế cho ngân sách nhà nước.

2.4. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.4.1. Thành tựu

2.4.2. Hạn chế

2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế

  1. Nguyên nhân khách quan

b. Nguyên nhân chủ quan

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

3.1. CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

3.1.1. Dự báo tình hình xuất nhập khẩu thành phố trong những năm tới

3.1.2. Phương hướng quản lý nhà nước đối với hoạt động XNK

3.2. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI ĐÀ NẴNG

3.2.1. Hoàn thiện việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về XNK

  • Nâng cao hiệu quả và đổi mới phương thức xúc tiến thương mại, tập trung vào các hàng hóa có lợi thế xuất khẩu, các thị trường tiềm năng nhằm đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, nhất là thị trường xuất khẩu phần mềm.
  • Tiếp tục hoàn thiện chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội tổng thể cũng như quy hoạch ngành thương mại theo hướng hiện đại với tầm nhìn dài hạn là chủ yếu hướng về xuất khẩu, kết hợp với nhập khẩu có chọn lọc.
  • Tập trung kế hoạch phát triển hạ tầng CNTT hiện đại đạt chuẩn, an toàn, tốc độ cao, chất lượng tốt để thu hút đầu tư trong lĩnh vực CNTT, nhất là xuất khẩu phần mềm.

3.2.2. Hoàn thiện việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách và quy định pháp luật về hoạt động XNK

  • Rà soát, bổ sung các luật có liên quan theo hướng quy định rõ về nguyên tắc, chính sách của Nhà nước, nội dung, công cụ, cơ chế, quy chuẩn kiểm tra, tiêu chí đánh giá, trách nhiệm các ngành liên quan.
  • Quản lý về thu hút đầu tư của địa phương phải tuân thủ những chính sách của Trung ương và phải dựa trên cơ sở các chính sách vĩ mô về kinh tế và cơ chế điều hành XNK của Chính phủ.
  • Ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể về nhiệm vụ, chức năng của các cơ quan ban ngành liên quan nhằm tạo sự liên kết của các đơn vị trong quá trình xây dựng chính sách XNK.

3.2.3. Hoàn thiện việc thiết lập và sử dụng hiệu quả công cụ quản lý XNK

  • Xây dựng cơ chế cảnh báo và dự báo thị trường sớm, phối hợp xử lý rủi ro pháp lý về tranh chấp thương mại quốc tế. Nghiên cứu và xây dựng kế hoạch chủ động phòng ngừa và vượt các rào cản thương mại các nước, đảm bảo hàng hóa liên thông liên tục.
  • Chính sách bảo hộ nội địa phù hợp, chú trọng xây dựng rào cản thương mại đối với mặt hàng cần hạn chế nhập khẩu, triển khai những công cụ quản lý mới theo quy định WTO.
  • Cần có nhiều biện pháp quản lý, giám sát hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất để tạo hành lang pháp lý cho các lực lượng chức năng thực hiện quản lý chặt chẽ.

3.2.4. Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động XNK

  • Các cơ quan quản lý phải tự tổ chức kiểm tra các văn bản theo thẩm quyền, phát hiện xử lý kịp thời hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ đối với các văn bản có nội dung trái pháp luật, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với tình hình XNK hiện tại của thành phố.
  • Hoàn thiện quy chế công tác liên quan đến trách nhiệm của cán bộ, công chức, minh bạch hóa các quy trình nghiệp vụ, quy trình thủ tục trong các cơ quan quản lý XNK.

3.2.5. Hoàn thiện việc kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm về hoạt động XNK

  • Tập trung phát triển kinh tế- xã hội, gắn chống buôn lậu và gian lận thương mại với phát triển kinh tế- xã hội của thành phố, đổi mới phương pháp vận động quần chúng, phù hợp từng vùng, từng đối tượng, từng cá nhân gia đình, tránh triển khai hình thức.
  • Kiểm tra, kiểm soát tình hình thực hiện chương trình kế hoạch XNK của thành phố, việc sử dụng và khai thác các tiềm năng, nguồn lực của thành phố, việc tuân thủ hệ thống pháp luật, các công cụ và chính sách quản lý XNK.
  • Xây dựng và tổ chức quy chế kiểm tra việc thực hiện quy định chuyên môn, kỹ thuật, quy trình nghiệp vụ về QLNN về XNK, thường xuyên thanh tra, kiểm tra đối với các cơ quan trực tiếp quản lý điều hành hoạt động XNK.

3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

  • Trung ương có thể thành lập cho thành phố một trung tâm đánh giá, dự báo, phân tích các thành tựu cũng như kinh nghiệm phát triển chính sách thương mại và điều hành XNK, kinh nghiệm ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại và tranh chấp thương mại quốc tế của các nước bạn để áp dụng vào cho thành phố Đà Nẵng từ đó đệ trình Chính phủ xem xét và phê duyệt.
  • Bộ Tài chính có thể ban hành các văn bản thủ tục được đơn giản hơn giúp thủ tục nộp tờ khai hải quan, thông quan hàng hóa được nhanh hơn. Thực tế nhiều hàng hóa của doanh nghiệp tại cửa khẩu vẫn còn chịu chi phí rất lớn, gây ảnh hưởng đến việc kinh doanh của doanh nghiệp.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu tại thành phố Đà Nẵng
Quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu tại thành phố Đà Nẵng

KẾT LUẬN

Trong khuôn khổ luận văn, tác giả đã tập trung vào các vấn đề chủ yếu sau đây:

  • Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản quản lý nhà nước về hoạt động XNK
  • Phân tích đánh giá những đặc điểm ảnh hưởng đến XNK của thành phố Đà Nẵng, phân tích tình hình XNK trong giai đoạn 2012-2016. Trong đó tập trung đi sâu phân tích thực trạng QLNN về hoạt động XNK tại thành phố từ đó đánh giá thành tựu cũng như khó khăn của công tác QLNN về XNK tại thành phố.
  • Từ căn cứ nêu trên, luận văn đã nêu lên hệ thống quan điểm phương hướng, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về hoạt động XNK trong tương lai. Trong khuôn khổ luận văn, tác giả đã cố gắng góp phần nhỏ bé vào quá trình thực hiện mục tiêu chung của Nhà nước trong việc hoàn thiện công tác QLNN về XNK tại thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên các giải pháp còn mang tính gợi mở đồng thời do điều kiện nghiên cứu còn hạn hẹp về nguồn tài liệu cũng như thời gian nghiên cứu, bản thân tác giả còn thiếu khả năng, tư duy khoa học vì vậy kết quả nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tác giả mong rằng quý Thầy, Cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp quan tâm góp ý nhằm khắc phục thiếu sót của luận văn để tác giả tiếp tục sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hơn công trình nghiên cứu này.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\QUAN LY KINH TE\DONG DIEM THUY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *