Quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp ở huyện Đak Đoa

Quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp ở huyện Đak Đoa

Quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp ở huyện Đak Đoa

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Nói đến quản lý nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn chính là nói đến tính hiệu lực, hiệu quả sự tác động của Nhà nước ta đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của khu vực nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Suốt quá trình thực hiện đổi mới, Nhà nước đã ban hành hàng loạt các nghị định, quy định, văn bản pháp luật nhằm cơ cấu lại ngành nông nghiệp, nông thôn thực hiện chức năng quản lý của mình. Nhờ đó, nền nông nghiệp nước ta đã luôn đạt được sự tăng trưởng, xã hội nông thôn không ngừng biến đổi cả về diện mạo cũng như chất lượng sống của người nông dân. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại cần được giải quyết cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn nhằm nâng cao hơn nữa vai trò quản lý nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn. Một trong những vấn đề đó là Nhà nước tác động đến nông nghiệp, nông thôn như thế nào và theo cách nào để thúc đẩy khu vực này phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá? Làm thế nào để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay. Tính hiệu quả của quản lý nhà nước trong quản lý nền kinh tế ở nước ta nói chung trước hết và quan trọng hơn là phải thể hiện được qua sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn. Sự tác động của Nhà nước ta đối với nông nghiệp, nông thôn từ khi tiến hành đổi mới đến nay ngày càng có hiệu quả rõ rệt. Thông qua nhiều chủ trương, chính sách cơ cấu lại ngành nông nghiệp, nông thôn, Nhà nước ta đã thể hiện được vai trò quản lý nông nghiệp của mình trên cả ba phương diện: định hướng sự phát triển, phân bổ nguồn lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội trong nông nghiệp và điều tiết sự phát triển của nông nghiệp. Nhờ sự tác động này mà có bước chuyển biến mạnh mẽ trong nông nghiệp, nông thôn.

Trong những năm qua dưới sự quan tâm nỗ lực của các cấp, các ngành của huyện Đak Đoa trong công tác quản lý nhà nước (gọi tắt là QLNN) về nông nghiệp đã phát huy được tiềm năng cũng như lợi thế về điều kiện vị trí địa lý, tự nhiên, kinh tế xã hội (gọi tắt KT-XH) đã đưa ngành nông nghiệp đạt được những kết quả tích cực, tốc độ tăng trưởng của ngành nông-lâm-thủy sản năm 2017 đạt 12,1% so với năm 2016 (theo giá so sánh năm 2010), Phát triển ngành nông nghiệp gắn với mục tiêu xây dựng nông thôn mới, chú trọng áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp, phát triển kinh tế hộ và kinh tế trang trại, nhân rộng các mô hình sản xuất thành công, từng bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, góp phần vào phát triển KT-XH của huyện. Tuy nhiên, quản lý nhà nước ở huyện vẫn mang nội dung chủ yếu là định hướng phát triển và phê duyệt những quy hoạch tổng thể; các chính sách đầu tư cơ cấu lại ngành nông nghiệp của Nhà nước với việc qui hoạch vùng chuyên canh sản xuất còn chậm và nhiều hạn chế, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người nông dân chưa thật sự được quan tâm; vai trò của nhà nước trong lĩnh nông nghiệp của huyện Đak Đoa còn mờ nhạt, chưa thực sự được hiệu quả thể hiện qua các điểm sau: Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch, công tác truyền còn hạn chế. Chính vì những lý do trên nên ngoài thành quả đã đạt được thì ngành nông nghiệp ở huyện Đak Đoa vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, như diện tích sản xuất còn rất manh mún, nhỏ lẻ, chủ yếu là sản xuất hộ gia đình, các sản phẩm sản xuất tính cạnh tranh chưa cao, mô hình cánh đồng mẫu lớn chưa chưa thực hiện được, việc áp dụng quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an toàn vẫn chưa được quan tâm đúng mức, hiện tượng được mùa – rớt giá, được giá – mất mùa thường xuyên xảy ra. Chính những lý do nêu trên cho thấy, nội bộ ngành nông nghiệp ở huyện đang bộc lộ nhiều hạn chế. Để nông nghiệp huyện Đak Đoa phát triển, cần thực hiện nhiều biện pháp khác nhau, trong đó cần tăng cường quản lý nhà nước đối với nông nghiệp. Do đó, tác giả chọn vấn đề: “Quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp ở huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình. Nhằm đóng góp một phần những giải pháp có tính khoa học và thực tiễn về cơ cấu lại ngành nông nghiệp ở huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai trong những năm tới.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu chung

Nghiêu cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn để đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp ở Huyện Đak Đoa.

2.2. Mục tiêu cụ thể

– Hệ thống hóa các cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp.

– Làm rõ thực trạng vấn đề quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp ở huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai thời gian qua.

– Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà về nông nghiệp ở huyện Đak Đoa thời gian đến.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Không gian nghiên cứu: địa bàn khảo sát giới hạn ở huyện Đak Đoa.

– Thời gian nghiên cứu: dữ liệu thứ cấp trong thời gian 5 năm: từ năm 2013 đến năm 2017; Dữ liệu sơ cấp được tiến hành điều tra trong khoảng thời gian từ tháng 10/2018 đến tháng 11/2018. Tầm xa của giải pháp đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035.

– Ngành nông nghiệp được đề cập trong luận văn bao gồm các nhóm ngành: Trồng trọt, chăn nuôi

– Nội dung nghiên cứu: Các giải pháp đề xuất ở góc độ cơ quan QLNN cấp huyện, gồm: HĐND và UBND huyện.

Quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp ở huyện Đak Đoa
Quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp ở huyện Đak Đoa

4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

4.1. Cách tiếp cận

+ Để thực hiện những công việc trên, luận văn đã tiếp cận và sử dụng phương pháp sau:

– Cách tiếp cận duy vật lịch sử: bối cảnh nghiên cứu trong điều kiện lịch sử cụ thể của huyện Đak Đoa được sử dụng cho việc định hướng các chính sách trong tương lai.

– Phương pháp duy vật biện chứng: Nghiên cứu về QLNN về nông nghiệp ở huyện Đak Đoa trong mối quan hệ với các yếu tố khác. Từ đó rút ra được các nguyên nhân của những hạn chế trong QLNN về nông nghiệp ở huyện Đak Đoa.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

4.2.1. Phương pháp thu thập dữ liệu:

a. Thu thập dữ liệu thứ cấp: Số liệu được thu thập từ Chi cục Thống kê huyện Đak Đoa, các báo cáo về nông nghiệp của UBND huyện và các phòng chuyên môn của huyện. Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng các kết quả đã được công bố như bài báo, tạp chí, giáo trình, luận văn của các tác giả để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài.

b. Thu thập dữ liệu sơ cấp: để phục vụ cho việc viết luận văn tác giả đã tiến hành điều tra khảo sát thực tế với quy mô mẫu là N = 160 là quy mô mẫu điều tra, trong đó N = (n x5) + 10 = 160, với n là bộ số câu hỏi được tác giả lập ra để đi điều tra khảo sát. Công việc điều tra tiến hành phỏng vấn trực tiếp ngẫu nhiên thuận tiện.

Phân bố mẫu điều tra như sau: 30 mẫu là điều tra các cán bộ, các chuyên viên làm việc trong các lĩnh vực hoạt động liên quan đến quản lý nông nghiệp hoặc cán bộ lãnh đạo xã, thôn bản…; 100 mẫu là điều tra các hộ gia đình sản xuất nông nghiệp (trồng trọt khoảng 65 hộ; chăn nuôi khoảng 20 hộ; lâm nghiệp khoảng 15 hộ); 30 mẫu là điều tra các tổ chức, doanh nghiệp hoặc chủ các trang trại sản xuất, kinh doanh liên quan đến nông, lâm, thủy sản hoặc dịch vụ nông nghiệp (cung ứng giống cây trồng, vật nuôi, thú y, bảo vệ thực vật, dịch vụ tưới tiêu, làm đất…)

4.2.2. Phương pháp phân tích dữ liệu: Các phương pháp phân tích dữ liệu chủ yếu được sử dụng trong luận văn này là

a. Đối với dữ liệu thức cấp sử dụng các công cụ phân tích

– Phương pháp phân tích thống kê: sử dụng để phân tích só liệu thống kê phục vụ xem xét hiện trạng quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp ở huyện Đak Đoa.

– Phương pháp so sánh: sử dụng để phân tích và so sánh thực trạng cơ cấu lại ngành nông nghiệp và thực trạng quản lý nhà nước đối với nông nghiệp huyện Đak Đoa qua các năm.

– Phương pháp tổng hợp dữ liệu từ các nguồn định tính khác nhau.

– Phân tích tỉ lệ; phân tích bình quân; phân tích chỉ số phát triển.

b. Đối với dữ liệu sơ cấp:

– Dữ liệu sau khi điều tra, làm sạch được đưa vào phần mềm chuyên dụng thống kê SPSS xử lý để phân tích dưới dạng thống kê mô tả bao gồm các chỉ số Min, Max, Mode, Mean, Std Deviation.

– Kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, Phép kiểm định này phản ánh mức độ tương quan chặt chẽ giữa các biến quan sát trong cùng 1 nhân tố.

– Kiểm định sự khác biệt thông qua F-test, T-test.

– Phân tích nhân tố khám phá (EFA), hồi quy tương quan…

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

– Góp phần hệ thống hóa các cơ sở lý luận và thực tiễn đóng góp cho lý luận QLNN phù hợp với địa phương;

– Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước trong nông nghiệp ở huyện Đak Đoa trong thời gian qua, làm rõ những mặt đạt được, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng đó từ đó đưa ra các đề xuất giải pháp tăng cường hiệu lực và hiệu quản QLNN về nông nghiệp ở huyện Đak Đoa trong tương lai.

6. Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 chương với tên gọi như sau:

– Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp.

– Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp ở huyện Đak Đoa những năm qua (giai đoạn 2013-2017).

– Chương 3: Các giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp ở huyện Đak Đoa thời gian đến.

7. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận văn

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ

NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP

1.1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CƠ CẤU LẠI NGÀNH NÔNG NGHIỆP

      1. 1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý nhà nước về nông nghiệp trong đó điển hình là tác giả.

Theo Hoàng Sỹ Kim (2007), tác giả cho rằng: Quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp là hoạt động sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra… của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương tới địa phương đối với lĩnh vực nông nghiệp trên cơ sở nhận thức vai trò, vị trí và đặc điểm kinh tế – kỹ thuật, chuyên môn của ngành Nông nghiệp để khai thác và sử dụng các nguồn lực trong và ngoài nước, nhằm đạt được mục tiêu xác định với hiệu quả cao nhất.[9]

Theo nguyễn Thị Thủy Tiên (2018). Quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp là một bộ phận quản lý kinh tế quốc dân, thể hiện sự tác động chi phối, có định hướng bằng quyền lực và thông qua bộ máy nhà nước; thực hiện bằng các biện pháp, công cụ quản lý để nông nghiệp đạt được mục tiêu kinh tế, hiệu quả xã hội, sự vận hành phù hợp với các quy luật khách quan.[11]

Bùi thanh tuấn (2014). Quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp là một bộ phận trong quản lý kinh tế quốc dân, thể hiện sự tác động chi phối, có định hướng bằng quyền lực và thông qua bộ máy nhà nước; thực hiện bằng các biện pháp, công cụ quản lý để nông nghiệp đạt được mục tiêu kinh tế, hiệu quả xã hội, sự vận hành phù hợp với các quy luật khách quan.[1]

Vũ Đình Thắng (2013). Cho rằng quản lý nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp là sự quản lý vĩ mô của nhà nước đối với nông nghiệp thông qua các công cụ kế hoạch, pháp luật và các chính sách để tạo điều kiện và tiền đề, môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất – kinh doanh nông nghiệp hướng tới mục tiêu chung của toàn nền nông nghiệp; xử lý những việc ngoài khả năng tự giải quyết của đơn vị kinh tế trong quá trình hoạt động kinh tế trên tất cả các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp, điều tiết các lợi ích giữa các vùng, cách ngành, sản phẩm nông nghiệp, giữa nông nghiệp với toàn bộ nền kinh tế, thực hiện sự kiểm soát đối với tất cả các hoạt động trong nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn làm ổn định và làm mạnh hóa mọi quan hệ kinh tế và xã hội.[19]

Mặt dù có rất nhiều khái niệm khác nhau nhưng chung quy lại các khái niệm đó đều thừa nhận: Quản lý nhà nước đối với nông nghiệp là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực của Nhà nước đối với nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, tận dụng tối đa các cơ hội để có thể đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế về lâu dài của đất nước. Mục tiêu cuối cùng là thúc đẩy phát triển bền vững nền nông nghiệp quốc gia.

Vì vậy trong nghiên cứu này QLNN về nông nghiệp được hiểu theo nghĩa trên

      1. 1.1.2. Vai trò quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp

Vai trò của Nhà nước là hết sức cần thiết đối với phát triển nông nghiệp nông thôn. Kinh nghiệm thế giới chỉ ra rằng các Nhà nước đã can thiệp mạnh mẽ và tích cực vào quá trình này theo những chiến lược riêng, tùy theo đặc thù về lịch sử, văn hóa, xã hội, chính trị và kinh tế của từng quốc gia. Có những kinh nghiệm thành công, giúp nông thôn chuyển đổi mạnh mẽ từ tình trạng truyền thống, lạc hậu sang hiện đại, cạnh tranh và thực hiện được các chức năng đặc thù của nó.

a. Vai trò điều chỉnh

Quản lý nhà nước có vai trò điều chỉnh các mối quan hệ trong nội bộ nông nghiêp, nông thôn và giữa nông nghiệp, nông thôn với phần còn lại của nền kinh tế. Trong quá trình phát triển sản xuất hàng hoá dựa trên trình độ xã hội hoá sản xuất hàng hoá ngày càng cao, các mối quan hệ kinh tế trong nội bộ nông nghiệp nông thôn cũng như giữa nông nghiệp nông thôn với phần còn lại của nền kinh tế, thậm chí với nền kinh tế khu vực và quốc tế, ngày càng phát triển rộng rãi và đa dạng. Sự hình thành và phát triển các mối quan hệ kinh tế đó có thể là phù hợp với mục tiêu của sự phát triển, lại cũng có thể không phù hợp và thậm chí xa lạ với bản chất kinh tế xã hội tốt đẹp của đất nước. Trong điều kiện như vậy Nhà nước điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế đó phát triển phù hợp bằng các biện pháp khuyến khích, hạn chế hoặc cấm đoán. Các mối quan hệ kinh tế mà Nhà nước cần điều chỉnh có nhiều loại. Có loại liên quan đến quyền sở hữu và sử dụng các tài nguyên và nguồn lực như: Đất đai nguồn lực vốn góp cổ phần… Nhà nước cần điều chỉnh bằng luật sao cho sự phát triển đa dạng hoá sở hữu ở mức độ phù hợp. Có loại quan hệ gắn liền với hoạt động sản xuất như quan hệ hợp tác sản xuất, liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ … dưới những hình thức đa dạng khác nhau, Nhà nước cần điều chỉnh bằng cách giúp đỡ, tạo môi trường thuận lợi để các quan hệ này phát triển một cách tối ưu, hiệu quả.

b. Vai trò tham gia trực tiếp vào sản xuất nông nghiệp

Nhà nước đảm nhận những mặt những khâu hay một số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn bằng thực lực của nền kinh tế Nhà nước. Trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn, những vị trí cần thiết và những hoạt động then chốt thường không nhiều, có thể nằm ở một số lĩnh vực như khai hoang phục hoá, xây dựng hạ tầng nông thôn, trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, cấm rừng, phòng hộ rừng, công nghệ sinh học, công nghệ chế biến xuất khẩu v.v… Việc xác định vị trí nào là cần thiết và hoạt động nào là then chốt Nhà nước cần nắm lại tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, ngoại thương của nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

      1. 1.1.3. Chức năng quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp

a. Định hướng

Nhà nước định hướng chiến lược cho sự cơ cấu lại ngành nông nghiệp cho phù hợp từng giai đoạn phát kinh tế triển đất nước. Nông nghiệp là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân, có vai trò nhiều mặt về kinh tế và xã hội của đất nước. Việc đảm bảo sự phát triển hài hoà cân đối của nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân đòi hỏi phải xác định chiến lược phát triển của ngành phù hợp với chiến lược phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Trên cơ sở xác định chiến lược phát triển, Nhà nước cụ thể hoá thành các chương trình, các kế hoạch định hướng phát triển trung hạn và ngắn hạn hàng năm để hướng dẫn sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn. các chiến lược và kế hoạch phát triển nói trên được xây dựng cụ cho toàn bộ nền nông, lâm, ngư, nghiệp ở từng cấp trong bộ máy quản lý Nhà nước.

b. Tạo lập môi trường

Nhà nước tạo lập môi trường và điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp phát triển. Nhà nước tạo lập môi trường chính trị – xã hội ổn định; thiết lập môi trường pháp lý, tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn, một sân chơi chung, cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế. Nhà nước vận dụng các quy luật kinh tế khách quan và sử dụng những chính sách, cơ chế nhằm mở rộng thị trường, khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

c. Điều tiết

Nhà nước tổ chức và điều tiết sự phát triển của nông nghiệp. Các hoạt động kinh tế chồng chéo không hiệu quả thậm chí triệt tiêu lẫn nhau, tình trạng khai thác bừa bãi đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác, tình trạng phân tán… hậu quả của xu hướng này là phá vỡ cân đối cần thiết trong quá trình phát triển của nông nghiệp và tất yếu nảy sinh các vấn đề xấu về chính trị xã hội ở nông thôn. Để khắc phục những nhược điểm nói trên trong quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp, cần thiết có bộ phận điều hành vi mô bằng việc hoạch định các chương trình, kế hoạch phát triển liên quan đến từng vùng từng địa phương, từng thành phần kinh tế, từng loại hình doanh nghiệp nông nghiệp; điều tiết các mối quan hệ lợi ích trong quá trình phát triển bằng việc ban hành và việc thực hiện các chính sách phù hợp, ban hành và thực hiên các luật lệ để xử phạt những đối tượng vi phạm khi tham gia vào các hoạt động kinh tế ở nông nghiệp và nông thôn v.v… Như vậy, nếu như không có sự quản lý Nhà nước thì không thể khắc phục được những khuyết tật do thị trường tạo ra trong quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp nông thôn nước ta.

d. Kiểm tra: Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra các hoạt động liên quan đến nông nghiệp.

Nhà nước xã hội chủ nghĩa với tư cách là chủ thể quản lý tối cao thông qua các cơ quan chức năng nhằm điều chỉnh thống nhất các quá trình kinh tế vĩ mô. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát nền kinh tế nhằm kịp thời phát hiện và xử lý những sai sót, ách tắc, đổ vỡ, những khó khăn, vướng mắc cũng như những cơ hội phát triển kinh tế nhằm đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả và theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.

1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CƠ CẤU LẠI NGÀNH NÔNG NGHIỆP CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN

      1. 1.2.1. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp

Kế hoạch phát triển nông nghiệp là một bộ phận của kế hoạch phát triển Kinh tế-Xã hội, phải nằm trong kế hoạch tổng thể phát triển KT-XH của cả nước và của địa phương, định hướng phát triển nông nghiệp trong từng thời kỳ (hằng năm và 05 năm); Quy hoạch là việc sắp xếp, phân bố không gian các hoạt động kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh gắn với phát triển kết cấu hạ tầng, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường trên lãnh thổ xác định để sử dụng hiệu quả các nguồn lực của đất nước phục vụ mục tiêu phát triển bền vững cho thời kỳ xác định; Kế hoạch phát triển KT – XH là một công cụ quản lý của nhà nước theo mục tiêu; được thể hiện bằng những mục tiêu định hướng phát triển KT – XH phải đạt được trong một khoảng thời gian nhất định ở một địa phương, đồng thời đưa ra những giải pháp, hoạt động cần thực hiện để đạt được những mục tiêu đó một cách có hiệu quả nhất.

UBND huyện tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch trên địa bàn quản lý căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch của cấp tỉnh, nghị quyết đại hội đảng bộ, nghị quyết của hội đồng nhân dân cấp huyện về định hướng phát triển kinh tế của huyện, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế của huyện; Xét duyệt kế hoạch, quy hoạch do cấp dưới trực tiếp.

a. Nội dung quy hoạch, kế hoạch

– Phân tích đánh giá hiện trạng phát triển của ngành trong giai đoạn ít nhất là 5 năm trước năm quy hoạch kế hoạch, Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội hàm chứa hai nội dung cơ bản: Một là, dự báo phát triển; hai là, định hướng phân bố các đối tượng ngành và lĩnh vực trên lãnh thổ.

– Phải xác định được những vấn đề đang đặt ra và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành; phương án quy hoạch, kế hoạch; Các giải pháp để thực hiện quy hoạch kế hoạch.

b. Quy trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch:

Bước 1. Chuẩn bị

Mục tiêu: Đảm bảo các điều kiện cho quá trình lập kế hoạch.

Các nội dung cần tiến hành:

– Ban hành chủ trương lập kế hoạch: UBND các huyện, thành phố, thị xã tiếp thu chủ trương từ UBND tỉnh/Sở để ban hành văn bản về chủ trương lập kế hoạch. Sau đó, phổ biến rộng rãi chủ trương này tới các ban ngành cấp huyện, các xã/phường/thị trấn, các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức xã hội – nghề nghiệp, các doanh nghiệp trên địa bàn;

– UBND các huyện, thành phố, thị xã ban hành quyết định thành lập ban chỉ đạo lập kế hoạch;

– Xây dựng các kênh thông tin nhằm phổ biến các chủ trương chính sách của Đảng, của Nhà nước, của chính quyền địa phương các cấp; chiến lược phát triển, quy hoạch, kế hoạch phát triển của tỉnh, của huyện; quy hoạch phát triển của các ngành liên quan; các thông tin về các kết quả nghiên cứu liên quan đến các chuỗi giá trị của địa phương;

– Tổ chức tập huấn phương pháp lập kế hoạch và quán triệt chủ trương lập kế hoạch cho các đối tượng liên quan (bao gồm: Các thành viên ban chỉ đạo cấp huyện và các tổ công tác lập kế hoạch cấp xã),

Bước 2. Đánh giá tình hình

Mục tiêu: Đánh giá được tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch của năm hiện tại, chỉ ra được những kết quả, tồn tại hạn chế, nguyên nhân và giải pháp nhằm thay đổi tình hình năm lập kế hoạch.

Nội dung tiến hành:

– Phòng Tài chính – Kế hoạch là đơn vị đầu mối: Chịu trách nhiệm tham mưu các văn bản, hướng dẫn các phòng ban thu thập thông tin, tổng hợp thông tin, dự thảo các bản kế hoạch.

– Thu thập số liệu cơ bản cấp huyện: Phòng Thống kê chủ trì, phối hợp có các phòng/ban cấp huyện;

– Thống kê các nguồn lực đầu tư trên địa bàn: Do Phòng Tài chính – Kế hoạch chủ trì, phối hợp có các phòng/ban cấp huyện.

– Xác định các vấn đề, nguyên nhân và giải pháp: Công việc này sẽ được triển khai từ các ban/ngành cấp huyện (theo lĩnh vực), chủ trì và tổng hợp là Phòng Tài chính – Kế hoạch. Ở giai đoạn này, vấn đề, nguyên nhân và giải pháp được xác định đang ở mức độ đánh giá chung trên từng lĩnh vực phát triển (kinh tế, xã hội, môi trường, …) mà chưa có sự gắn kết với các chuỗi sản phẩm cụ thể.

Bước 3. Xác định cơ hội thị trường cấp huyện trong năm lập kế hoạch

Mục tiêu: Xác định được các cơ hội thị trường cấp huyện thông qua phân tích và đánh giá các chuỗi giá trị tiềm năng, xác định các chuỗi giá trị ưu tiên, phân tích chuỗi giá trị ưu tiên, từ đó đề xuất các hoạt động nhằm thúc đẩy phát triển các chuỗi giá trị ưu tiên (các cơ hội thị trường).

Nội dung tiến hành:

– Bước này sẽ kế thừa các kết quả từ lập kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội cấp xã, đề xuất của các ban/ngành cấp huyện, các thông tin của cấp tỉnh liên quan đến cấp huyện, các thông tin sẽ được phân tích và tổng hợp theo từng lĩnh vực ở các ban ngành cấp huyện, tổng hợp chung bởi Phòng Tài chính – Kế hoạch, được tham vấn bởi ban chỉ đạo lập kế hoạch cấp huyện và được thảo luận để thống nhất tại hội nghị kế hoạch cấp huyện;

Phân tích, tổng hợp từ đề xuất chuỗi giá trị ưu tiên cấp xã và của các ngành cấp huyện, xem xét và bổ sung đề xác định các chuỗi giá trị ưu tiên, cấp huyện;

Bước 4. Xác định mục tiêu phát triển của cấp huyện

Mục tiêu: Xác định được mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể cùng các chỉ tiêu phát triển của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp huyện.

Nội dung tiến hành:

Xác định các mục tiêu cụ thể và các chỉ tiêu phát triển: Nội dung này triển khai ở các phòng, ban, ngành cấp huyện. Trên cơ sở kết quả phân tích và đề xuất từ cấp xã, kết quả đánh giá tình hình của mỗi lĩnh vực, mỗi phòng, ban, ngành cấp huyện xây dựng mục tiêu cụ thể cho mỗi lĩnh vực cùng các chỉ tiêu phát triển tương ứng;

Xác định mục tiêu tổng quát: Ban chỉ đạo lập kế hoạch cấp huyện tổng hợp các mục tiêu cụ thể và mục tiêu tổng quát, thảo luận và thống nhất tại hội nghị cấp huyện để thống nhất.

Bước 5. Xây dựng khung kế hoạch và kế hoạch giám sát đánh giá

Mục tiêu: Xây dựng được dự thảo khung kế hoạch, kế hoạch giám sát và báo cáo tổng hợp kế hoạch năm lập kế hoạch của huyện.

Nội dung tiến hành:

– Lập khung kế hoạch: Nội dung này được tổng hợp từ đề xuất của các xã, kết quả phân tích và tổng hợp theo từng lĩnh vực ở các ban/ngành cấp huyện, tổng hợp chung bởi ban chỉ đạo lập kế hoạch cấp huyện và được thảo luận để thống nhất tại hội nghị kế hoạch cấp huyện;

– Tổng hợp nhu cầu nguồn lực thực hiện kế hoạch: Nội dung này được thực hiện ở ban chỉ đạo lập kế hoạch cấp huyện trên cơ sở tổng hợp từ kế hoạch cấp xã và đề xuất của các ban/ngành cấp huyện. Trên cơ sở kết quả phân tích, đánh giá lựa chọn phương án các hoạt động ưu tiên cùng nhu cầu nguồn lực tương ứng, đối chiếu với nguồn lực đã xác định, ban chỉ đạo lập kế hoạch cấp huyện tổng hợp nhu cầu nguồn lực;

– Dự thảo bản kế hoạch: Nội dung này được thực hiện bởi ban chỉ đạo lập kế hoạch cấp huyện, được thảo luận và thống nhất tại hội nghị kế hoạch cấp huyện;

Bước 6. Tham vấn của các phòng ban, các tổ chức, các doanh nghiệp, tham vấn cấp trên và thông qua Hội đồng nhân dân huyện

Mục tiêu: Bản kế hoạch phù hợp với chiến lược phát triển KT-XH của tỉnh, huyện; phù hợp với quy hoạch ngành cấp tỉnh, cấp huyện; phù hợp với kế hoạch phân bổ ngân sách của tỉnh, phù hợp với kế hoạch trung và dài hạn của huyện và đạt được sự đồng thuận từ cộng đồng, nhận được phê duyệt của Hội đồng nhân dân huyện.

Nội dung tiến hành:

– Tham vấn: Bản thảo kế hoạch được thảo luận ở cấp xã, các phòng ban/ngành cấp huyện, các tổ chức xã hội nghề nghiệp và các doanh nghiệp trên địa bàn;

– Tham vấn của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và PTNT các ban/ngành liên quan: Bản dự thảo kế hoạch được trình lên Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp & PTNT; các sở, ban/ngành liên quan của tỉnh để tham vấn dựa trên chiến lược phát triển KT-XH, quy hoạch ngành của tỉnh, huyện; kế hoạch phân bổ ngân sách của tỉnh;

– Hoàn thiện bản kế hoạch: Trên cơ sở văn bản tham vấn của Sở Kế hoạch và Đầu tư; các sở, ban/ngành cấp tỉnh, ban chỉ đạo lập kế hoạch huyện hoàn thiện bản kế hoạch để trình Hội đồng nhân dân huyện;

– Hội đồng nhân dân cấp huyện xem xét thông qua: Bản thảo kế hoạch được trình lên Hội đồng nhân dân cấp huyện thảo luận và thông qua bằng Nghị quyết.

Bước 7. Tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá

Mục tiêu: Nội dung của bản kế hoạch được các phòng, ban, ngành, các xã, phường, thị trấn và cộng đồng tiếp nhận và chuyển thành những nỗ lực hành động để đạt được những mục tiêu đã đề ra.

Nội dung tiến hành:

– Tổ chức hội nghị triển khai thực hiện kế hoạch cấp huyện;

– Tổ chức hội nghị triển khai thực hiện kế hoạch ở cấp xã;

– Triển khai các hoạt động của kế hoạch;

– Thống nhất bộ chỉ tiêu, chỉ số cho giám sát đánh giá, triển khai việc giám sát đánh giá.

c. Tiêu chí đánh giá

– Mức độ kịp thời và hiệu lực của việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Tiêu chí này được đo lường thông qua chỉ tiêu tỷ lệ ban hành đầy đủ, kịp thời các quy hoạch, kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp/yêu cầu về việc xây dựng và ban hành quy hoạch, kế hoạch; mức độ thực hiện thực tế so với chỉ tiêu quy định trong quy hoạch, kế hoạch…

– Mức độ đánh giá của cộng đồng về chất lượng xây dựng quy hoạch, kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Tiêu chí này được đánh giá thông qua việc đo lường mức độ đánh giá của cộng đồng về các nội dung cụ thể của công tác này qua thang đo mức độ Likert 5.

      1. 1.2.2. Xây dựng ban hành và phổ biến các chính sách, quy định đối các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp cấp huyện

Khoản 1 Điều 23 Dự án Luật Ban hành VBPL cũng quy định: “Chính quyền cấp huyện, cấp xã ban hành VBPL để quy định những vấn đề được cấp trên giao và những vấn đề luật quy định thuộc thẩm quyền tự quản, tự chịu trách nhiệm của mình”. Theo đó, thẩm quyền của chính quyền cấp huyện có thể chia thành hai nhóm: một là, những vấn đề được luật quy định cấp huyện trực tiếp thực hiện và tự chịu trách nhiệm; hai là, những vấn đề được cấp trên giao cho cấp huyện thực hiện.

Đối với cấp huyện theo quy định của pháp luật đối với lĩnh vực thuộc về nông nghiệp có các thủ tục hành chính sau:

– Cấp giấy xác nhận kiến thức về an toàn thực phẩm;

– Cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm,

– Cấp lại giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP ;

– Cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại.

a. Nội dung của một thủ tục hành chính

Theo Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ : Về kiểm soát thủ tục hành chính. Thủ tục hành chính gồm những nội dung sau: Tên thủ tục hành chính; Trình tự thực hiện; Cách thức thực hiện; Hồ sơ; Thời hạn giải quyết; Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính; Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính; Kết quả thực hiện thủ tục hành chính; Trường hợp thủ tục hành chính phải có mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; mẫu kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí thì mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; mẫu kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí là bộ phận tạo thành của thủ tục hành chính.

b. Quy trình xây dựng các quy định thủ tục hành chính

Bước 1: Thành lập ban chỉ đạo, tổ giúp việc xây dựng, rà soát thủ tục hành chính

Bước 2: Tập huấn và hướng dẫn các phòng chuyên môn của huyện các quy định về xây dựng, rà soát thủ tục hành chính

Bước 3: Tổng hợp các thủ tục hành chính được quy định phân cấp cho cấp huyện, do các phòng ban chuyên môn thực hiện soạn thảo

Bước 4: Thẩm định các thủ tục hành chính từ các phòng ban chuyên môn của huyện soạn thảo xây dựng

Bước 5: Phê duyệt và ban hành quyết định công bố thủ tục hành chính

c. Tiêu chí đánh giá

– Mức độ ban hành và phổ biến kịp thời đầy đủ các thủ tục hành chính trong quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Tiêu chí này được đo lường thông qua chỉ tiêu tỷ lệ ban hành kịp thời các văn bản/tổng các yêu cầu phải ban hành văn bản; mức độ chênh lệch giữa thời hạn ban hành văn bản thực tế so với thời hạn yêu cầu; tỷ lệ người dân biết và hiểu về các thủ tục, quy định…

– Mức độ đánh giá của cộng đồng về chất lượng công tác xây dựng ban hành và phổ biến các chính sách, quy định đối các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp. Tiêu chí này được đánh giá thông qua việc đo lường mức độ đánh giá của cộng đồng về các nội dung cụ thể của công tác này qua thang đo mức độ Likert 5.

      1. 1.2.3. Triển khai các quy trình thủ tục, các chính sách trong QLNN trong nông nghiệp trên địa bàn huyện

Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền. Công tác triển khai thực hiện các quy hoạch, kế hoạch, chính sách, quy định ở đây là toàn bộ quá trình chuyển những tuyên bố trên giấy tờ của chính quyền thành những hành động nhất định vào đời sống thực tế theo một trình tự thủ tục chặt chẽ và thống nhất nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.

a. Nội dung triển khai

– Trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch, chính sách, quy định trong nông nghiệp đã được xây dựng chính quyền cấp huyện căn cứ triển khai thực hiện.

– Theo nhiệm vụ phân công cấp huyện nghiên cứu, cụ thể hóa và thực hiện các chính sách chung của Trung ương, Tỉnh cho phù hợp với điều kiện của huyện.

b. Trình tự triển khai thực hiện

– Công bố công khai bằng nhiều hình thức trên thông tin điện tử cấp huyện, hội nghị, họp…

– Niêm yết thủ tục hành chính tại các cơ quan chuyên môn thuộc phạm vi, thẩm quyền phụ trách

– Tuyên truyền về ý thức chấp hành pháp luật, tuân thủ các quy trình thủ tục hành chính cho người dân

– Báo cáo định kỳ 06 tháng, 1 năm về kết quả, tình hình thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính

Thủ tục cấp giấy xác nhận kiến thức về an toàn thực phẩm theo Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT ngày 09 tháng 4 năm 2014 của Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công Thương về hướng dẫn việc phân công, phối hợp trong quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm và xác nhận kiến thức ATTP.

Bước 1: Tổ chức, cá nhân chuẩn bị đầy đủ 01 bộ hồ sơ theo quy định của pháp luật và nộp hồ sơ trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện đến Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả.

Bước 2: Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của huyện tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra tính đầy đủ và hợp pháp theo quy định của pháp luật của các giấy tờ có trong hồ sơ, bộ phận tiếp nhận và trả kết quả chuyển cho phòng Nông nghiệp & PTNT

Bước 3: Trong vòng 10 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ, lập kế hoạch để xác nhận kiến thức về an toàn thực phẩm và gửi thông báo thời gian tiến hành xác nhận kiến thức về an toàn thực phẩm cho tổ chức, cá nhân tham gia. Sau 03 ngày làm việc kể từ ngày tổ chức kiểm tra, đánh giá kiến thức về an toàn thực phẩm, phòng Nông nghiệp và PTNT cấp Giấy xác nhận kiến thức về an toàn thực phẩm cho tổ chức, cá nhân đạt yêu cầu (có số câu trả lời đúng trên 80% số câu hỏi ở mỗi phần câu hỏi kiến thức chung và câu hỏi kiến thức chuyên ngành).

Bước 4: Tổ chức, cá nhân căn cứ vào ngày hẹn trên Phiếu biên nhận hồ sơ đến nhận kết quả giải quyết thủ tục xác nhận kiến thức an toàn thực phẩm tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của huyện hoặc đăng ký dịch vụ nhận kết quả qua đường bưu điện.

Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/4/011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại. Trình tự thực hiện:

– Đối với đối tượng thực hiện TTHC: Cá nhân, hộ gia đình hoặc người đại diện theo ủy quyền nộp bộ hồ sơ theo quy định tại bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thuộc UBND cấp xã nơi trang trại sản xuất.

Đối với cơ sở sản xuất nằm trên địa bàn nhiều xã thì cá nhân, hộ gia đình tự quyết trong việc lựa chọn UBND cấp xã nào nộp hồ sơ cho thuận tiện nhất.

– Đối với cơ quan thực hiện TTHC: Cơ quan tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ.

+ Nếu hồ sơ không hợp lệ, cơ quan hướng dẫn đối tượng bổ sung cho đầy đủ; Nếu hồ sơ hợp lệ, cơ quan cấp giấy biên nhận cho đối tượng thực hiện TTHC. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, UBND cấp xã kiểm tra, xác nhận đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại và chuyển hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại đến UBND cấp huyện. Trường hợp không xác nhận đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại, UBND cấp xã phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do cho người nộp hồ sơ trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

UBND cấp huyện thực hiện cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại theo mẫu quy định cho cá nhân, hộ gia đình trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ từ UBND cấp xã chuyển đến. Giấy chứng nhận kinh tế trang trại sau khi cấp được chuyển đến UBND cấp xã và trả cho chủ trang trại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại. Trường hợp không cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại, Uỷ ban nhân dân cấp huyện phải gửi văn bản cho UBND cấp xã, trong đó nói rõ lý do để thông báo cho người nộp hồ sơ.

c. Tiêu chí đánh giá

– Mức độ hoàn thành các thủ tục hành chính trong quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Tiêu chí này được đo lường thông qua chỉ tiêu tỷ lệ các thủ tục được thông qua/tổng các hồ sơ được yêu cầu; mức độ chênh lệch giữa thời hạn thức hiện văn bản thực tế so với thời hạn yêu cầu; tỷ lệ các hồ sơ phải điều chỉnh/tổng hồ sơ đề nghị…

– Mức độ đánh giá của cộng đồng về chất lượng công tácgiải quyết thủ tục hành chính trong quản lý nhà nước về cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Tiêu chí này được đánh giá thông qua việc đo lường mức độ đánh giá của cộng đồng về các nội dung cụ thể của công tác này qua thang đo mức độ Likert 5.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\LUẬN VĂN THẠC SĨ CÁC ĐẠI HỌC KHÁC\KHO SỐ 1\Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện Đak Đoa\CHUYỂN VÙNG/ IN 200319

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *