Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng huyện Sa Thầy – Kon Tum
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng huyện Sa Thầy – Kon Tum. Rừng là nguồn tài nguyên sinh vật quý giá, có vai trò quan trọng đối với đời sống và sinh kế của một bộ phận lớn người dân các tỉnh Tây Nguyên, trong đó có tỉnh Kon Tum.
Là một huyện miền núi biên giới tỉnh Kon Tum, với gần 70% diện tích là rừng và đất lâm nghiệp, Sa Thầy có điều kiện tự nhiên thuận lợi và tài nguyên rừng phong phú để phát triển lâm nghiệp cũng như các ngành công nghiệp liên quan (như gỗ, bột giấy). Sa Thầy cũng là một trong số ít các huyện trong tỉnh còn giữ được diện tích rừng tự nhiên lớn. Vườn Quốc gia (VQG) Chư Mom Rây đóng chân trên địa bàn hai huyện Sa Thầy và Ngọc Hồi với phần lớn diện tích trên địa bàn huyện Sa Thầy– được công nhận là di sản Đông Nam Á về đa dạng sinh học, nơi bảo tồn các giống gen quý. Bên cạnh đó, huyện còn là nơi sinh sống của 6 dân tộc với 57% người dân là người dân tộc thiểu số (Gia-rai, Xê-đăng, Rơ-mâm, Bana,…) vốn sống phụ thuộc vào rừng. Rừng không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với sinh kế của người dân mà còn gắn liền với các luật tục, văn hoá, tín ngưỡng của cộng đồng các dân tộc bản địa.
Tuy nhiên, rừng Sa Thầy đang dần dần mất đi, cùng với đó là sự biến mất của các giống loài bản địa, và sự mất đi các khu vực tâm linh truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số. Trong nhiều năm, đây là một trong các điểm nóng trong về tình trạng phá rừng, mua bán và vận chuyển lâm sản trái phép cùng với các hành vi vi phạm pháp luật (VPPL) khác.
Với thực trạng nêu trên, đề tài “Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng, huyện Sa Thầy – Kon Tum” được thực hiện nhằm phân tích thực trạng hoạt động Quản lý nhà nước (QLNN) trong bảo vệ rừng (BVR) trên địa bàn huyện Sa Thầy – Tỉnh Kon Tum. Dựa trên khảo sát các đối tượng có liên quan, xác định các vấn đề trong hoạt động quản lý và bảo vệ rừng của địa phương, tác giả sẽ đề xuất các giải pháp mà các cơ quan nhà nước có thể thực hiện nhằm tác động và nâng cao hiệu quả quản lý rừng tại huyện Sa Thầy – Kon Tum.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận về hoạt động QLNN trong BVR, đánh giá thực trạng hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR tại địa phương, từ đó, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác QLNN trong lĩnh vực BVR tại huyện Sa Thầy.
2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Hệ thống hoá các lý luận về BVR, QLNN trong công tác BVR
- Xác định các khó khăn hạn chế trong QLNN trong BVR của huyện Sa Thầy qua đánh giá thực trạng QLNN trong bảo vệ rừng của địa phương.
- Đánh giá, phân tích và chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trong QLNN về BVR tại Sa Thầy.
- Đề xuất các giải pháp tăng cường hoạt động QLNN trong BVR trên địa bàn huyện Sa Thầy.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn sẽ giúp trả lời các câu hỏi:
- Thực trạng công tác QLNN trong BVR hiện nay như thế nào?
- Những nguyên nhân nào đang gây cản trở hiệu quả của hoạt động BVR tại Sa Thầy?
- Cần có những biện pháp tác động nào để nâng cao hiệu quả của công tác QLNN trong BVR tại huyện Sa Thầy – tỉnh Kon Tum?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động QLNN trong BVR.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: Huyện Sa Thầy – Tỉnh Kon Tum
- Thời gian nghiên cứu: Các số liệu về thực trạng hoạt động QLNN về BVR trên địa bàn huyện Sa Thầy, từ năm 2015 – 2017. Một số dữ liệu tham chiếu khác được lấy trong năm 2007 – 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
Các dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các cơ quan quản lý nhà nước của huyện có liên quan như: Hạt Kiểm lâm huyện, Chi cục kiểm lâm tỉnh, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNN), Uỷ ban nhân dân (UBND), Hội đồng nhân dân (HĐND), Chi cục Thống kê tỉnh. Một số dữ liệu được thu thập như sau:
- Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội trên địa bàn huyện trong giai đoạn 2015 – 2017.
- Số liệu về QLBVR trên địa bàn huyện giai đoạn 2015 – 2017
- Một số dữ liệu tham chiếu, so sánh được lấy từ năm 2007 – 2015
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Căn cứ vào số liệu thu thập, sử dụng phương pháp luận kết hợp với phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh và phân tích để đưa ra nhận định.
6. Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Về lý luận, đề tài giúp hệ thống lại cơ sở lý thuyết về QLNN trong BVR.
- Về thực tiễn, các nghiên cứu, khảo sát của đề tài là cơ sở thực tiễn để chính quyền địa phương, và các cơ quan có liên quan hoàn thiện các cơ chế chính sách và văn bản pháp luật liên quan đến rừng, BV&PTR, nhằm hướng đến mục tiêu BV&PTR bền vững. Đồng thời, đây cũng là căn cứ để các bên liên quan đánh giá và hoàn thiện các mô hình quản lý rừng hiện nay. Nghiên cứu đưa ra một hệ thống các giải pháp có giá trị tham khảo cho địa phương và là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu về các lĩnh vực QLNN, lâm nghiệp, luật học.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm các nội dung chủ yếu sau thể hiện ở ba chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về QLNN trong BVR
Chương 2: Thực trạng QLNN về BVR trên địa bàn huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum
Chương 3: Giải pháp tăng cường hoạt động QLNN trong BVR trên địa bàn huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum.
8. Sơ lược tài liệu nghiên cứu chính sử dụng trong nghiên cứu
1.3. CÁC HÌNH THỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG BẢO VỆ RỪNG
1.3.1. Các cơ quan Nhà nước tham gia bảo vệ rừng
1.3.2. Giao rừng cho cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân quản lý, bảo vệ
1.3.3. Cho thuê rừng cho tổ chức, cá nhân BV&PTR
1.4. TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG BẢO VỆ RỪNG
1.4.1. Tiêu chí về quản lý rừng:
Diện tích rừng và đất lâm nghiệp; Tỷ lệ che phủ rừng; Cơ cấu sử dụng đất lâm nghiệp của các thành phần kinh tế
1.4.2. Tiêu chí về BVR&PCCCR
Diện tích thiệt hại (ha) do cháy rừng; Diện tích thiệt hại do các VPPL về BVR (ha) ; Khối lượng vi phạm (m3): khối lượng gỗ tịch thu khi xử lý các VPPL về BVR; Tỷ lệ tăng/ giảm các vụ vi phạm; Số vụ VPPL đã xử lý/ còn tồn đọng
1.5. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG BẢO VỆ RỪNG
1.5.1. Điều kiện tự nhiên
1.5.2. Điều kiện kinh tế xã hội
1.5.3. Khuôn khổ chính sách pháp luật
1.5.4. Năng lực của địa phương
1.5.5. Sự tham gia của cộng đồng địa phương
1.6. MỘT SỐ KINH NGHIỆM THAM KHẢO
1.6.1. Kinh nghiệm quốc tế
1.6.2. Kinh nghiệm trong nước
1.6.3. Bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Sa Thầy
Một là, QLBVR phải đáp ứng nguyên tắc phát triển bền vững.
Hai là, QLBVR phải có sự tham gia của người dân và cộng đồng dân cư
Ba là, để giảm tình trạng phá rừng, cần giảm sự phụ thuộc của người dân vào rừng.
Bốn là, cần có nguồn tài chính ổn định cho hoạt động bảo vệ và phát triển rừng.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Thứ nhất, khái quát hoá các khái niệm về BVR, QLNN trong BVR trên cách tiếp cận của các tổ chức quốc tế cũng như các giáo trình và nghiên cứu trong nước; Xác định các nội dung của QLNN trong BVR theo Luật BV&PTR 2004.
Thứ hai, tại nước ta hiện nay có nhiều mô hình quản lý rừng khác nhau như: mô hình do nhà nước quản lý, mô hình có sự tham gia của cộng đồng và mô hình cho thuê rừng để kinh doanh.
Thứ ba, các yếu tố tác động đến hoạt động BVR và QLNN trong BVR bao gồm các yếu tố về chính sách thể chế, sự tham gia của cộng đồng, nguồn lực tài chính, con người và các yếu tố thuộc đặc trưng của cộng đồng.
Thứ tư, xác định các tiêu chí đánh giá hoạt động QLNN trong BVR, trong đó bao gồm các tiêu chí về diện tích rừng và đất lâm nghiệp, độ che phủ rừng, cơ cấu sử dụng đất lâm nghiệp và một số tiêu chí về BVR và PCCCR.
Thứ năm, nghiên cứu cũng đã tổng hợp một số kinh nghiệm trong và ngoài nước nhằm làm bài học tham khảo cho huyện Sa Thầy.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ RỪNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SA THẦY
2.1. ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI ĐẾN BẢO VỆ RỪNG.
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý; Địa hình, địa mạo; Khí hậu; Thuỷ văn; Đất đai; Tài nguyên rừng
2.1.2. Kinh tế – xã hội
Tăng trưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế; Cơ sở hạ tầng; Dân số và lao động; Văn hoá, truyền thống
2.1.3. Ảnh hưởng đến công tác QLBVR
2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO VỆ RỪNG TẠI HUYỆN SA THẦY
2.2.1. Hiện trạng rừng trên địa bàn huyện Sa Thầy
Trong giai đoạn từ năm 2015 – 2017, diện tích rừng giảm 157.25ha. Tuy nhiên, diện tích rừng giảm xuống là do quá trình khai thác rừng trồng (khai thác trắng gần 123.39 ha rừng vào năm 2016, và 32.34 ha vào năm 2017). Độ che phủ rừng ổn định ở mức từ 60.9 – 61.9%.
Bảng 2.2: Diện tích và độ che phủ rừng giai đoạn 2015 – 2017
| 2015 | 2016 | 2017 | |||
|---|---|---|---|---|---|
| Diện tích | Diện tích | Thay đổi | Diện tích | Thay đổi | |
| Tổng diện tích có rừng (ha) | 88,900.99 | 88,776.60 | -124.39 | 88,743.74 | -32.86 |
| Diện tích rừng tự nhiên (ha) | 80,161.40 | 80,161.40 | – | 80,160.88 | -0.52 |
| Rừng nguyên sinh (ha) | 18,170.67 | 18,170.67 | – | 18,166.85 | -3.82 |
| Rừng thứ sinh (ha) | 61,990.73 | 61,990.73 | – | 61,994.03 | 3.3 |
| Diện tích rừng trồng (ha) | 8,739.59 | 8,615.20 | -124.39 | 8,582.86 | -32.34 |
| Độ che phủ rừng (%) | 61.94% | 61.86% | 61.83% | ||
Nguồn: Hạt Kiểm lâm Sa Thầy (2015 – 2017)
2.2.2. Tình hình VPPL về BVR và PCCCR
Từ năm 2015 – 2017, đã có 207 vụ vi phạm được phát hiện với tổng khối lượng vi phạm là 953.03 m3 và diện tích thiệt hại là 42.9ha. Qua 3 năm, số vụ vi phạm đã giảm đáng kể, nhưng vẫn còn ở mức cao. Nhìn chung, các vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng tập trung vào các hoạt động phá rừng, khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép.
Từ năm 2015 đến nay, trên địa bàn huyện chỉ xảy ra 3 vụ cháy rừng gây thiệt hại 38.2 ha rừng. Tuy nhiên, vẫn có nhiều vụ cháy nhỏ nhưng đã được kịp thời phát hiện và dập tắt, không gây thiệt hại về diện tích rừng. Các vụ cháy rừng (bao gồm các vụ cháy lớn, nhỏ) là do người dân trong quá trình phát nương, làm rẫy hoặc khai thác mật ong gây ra.
2.3. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ RỪNG
2.3.1. Công tác ban hành văn bản QPPL
a. Công tác ban hành văn bản QPPL
Việc xây dựng một hệ thống các văn bản quan trọng thống nhất từ trung ương đến địa phương là tiền đề cho việc triển khai các hoạt động BVR và QLNN trong BVR. Tuy nhiên, có nhiều văn bản khác nhau được ban hành để điều chỉnh 1 đối tượng duy nhất là rừng. Các văn bản này được ban hành ở những thời điểm khác nhau, cơ quan chủ trì xây dựng khác nhau nên đã dẫn đến sự chồng chéo, có điểm chưa thống nhất, làm cho các cơ quan quản lý khó khăn.
Hệ thống QLNN về BVR của huyện Sa Thầy bao gồm: UBND huyện với các cơ quan giúp việc chính là phòng NN&PTNT, phòng TNMT, hạt Kiểm lâm huyện, ở cấp xã là UBND xã với các bộ phận chuyên môn chính là ban Lâm nghiệp xã, ban Địa chính xã. Bộ máy QLNN về BVR trên địa bàn huyện Sa Thầy tương đối phức tạp hơn so với các huyện khác do sự tồn tại song song Hạt kiểm lâm huyện và Hạt kiểm lâm VQG.
Lực lượng kiểm lâm: gồm 12 người làm công tác Kiểm lâm địa bàn phụ trách 11 xã, thị trấn, 07 người ở bộ phận văn phòng (bao gồm cả lãnh đạo, nghiệp vụ). Hạt Kiểm lâm thuộc VQG Chư Mom Ray có 68 cán bộ kiểm lâm địa bàn. Lực lượng kiểm lâm trên địa bàn huyện khá mỏng, chỉ đáp ứng được 62.5% quy định của chính phủ.
Tổ đội quần chúng BVR: Cho đến nay, đã có 76 tổ đội quần chúng BVR ở các thôn với 447 thành viên cùng tham gia với kiểm lâm địa bàn trong quản lý, BVR và PCCC.
2.3.2. Công tác lập quy hoạch, kế hoạch BVR
Kon Tum chỉ xây dựng quy hoạch, kế hoạch rừng cho cấp tỉnh mà không xây dựng cho hai cấp địa phương còn lại. Thay vào đó, các nội dung quy hoạch rừng được gắn với các Quy hoạch về nông nghiêp, KT – XH, hoặc quy hoạch đất của địa phương.
Theo quy hoạch, diện tích đất quy hoạch cho sản xuất lâm nghiệp là 105,182.35 ha, chiếm 73,47% diện tích tự nhiên toàn huyện, trong đó diện tích đất quy hoạch cho rừng phòng hộ là 15,274.50ha, rừng đặc dụng là 44,138.47ha và rừng sản xuất là 45,769.38ha. Mức quy hoạch này thấp hơn 8,492.45 ha so với diện tích đất lâm nghiệp thực tế theo công bố hiện trạng rừng năm 2016 được phê duyệt tại Quyết định số 310/QĐ-UBND, ngày 17/4/2017 của UBND tỉnh Kon Tum.
Hạn chế, khó khăn: (1) Công tác xác định ranh giới rừng còn chậm và gặp nhiều khó khăn. Điều kiện tự nhiên không thuận lợi ảnh hưởng đến tiến độ cũng như hiệu quả của công tác quy hoạch; (2) công tác quy hoạch 3 loại rừng còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với tình hình thực tế; (3) Không có quy hoạch kế hoạch rừng cấp huyện, xã gây khó khăn cho công tác giao rừng, thu hút vốn đầu tư cũng như giám sát hiệu quả sử dụng rừng của các chủ rừng; (4) Sự mâu thuẫn, chồng chéo trong chính sách khiến cho hoạt động lập Quy hoạch kế hoạch trở nên khó khăn hơn.
2.3.3. Công tác xã hội hoá hoạt động BVR
Về GĐGR: Theo báo cáo của Hạt kiểm lâm huyện Sa Thầy, năm 2017, các lực lượng tham gia vào quản lý rừng và đất lâm nghiệp bao gồm: Công ty lâm nghiệp (22,393.0 ha), doanh nghiệp ngoài quốc doanh (3,816.5 ha); doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (508.1 ha), UBND các xã, thị trấn (32,709.95 ha), các BQL rừng đặc dụng (44,915.6 ha), đơn vị vũ trang (2,804.9 ha), các tổ chức khác (233,8 ha), các hộ gia đình (6,207.3 ha), Cộng đồng dân cư (86.17 ha). Có thể thấy, phần lớn diện tích rừng do các cơ quan lâm nghiệp nhà nước quản lý; diện tích rừng do các hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng quản lý chiếm tỷ lệ rất thấp; tỷ lệ rừng chưa được giao do các UBND xã quản lý cũng chiếm một tỷ lệ cao.
Về phát triển mô hình lâm nghiệp cộng đồng: Cho đến nay, huyện mới chỉ thí điểm giao quản lý rừng cho 4 cộng đồng là cộng đồng làng Ka Bay (dân tộc Ja Rai), làng Đăk Wơk, Đăk Do, Cờ Tu (dân tộc Rơ Ngao/Ba Na) với diện tích rừng được giao là 86.17ha, do 836 hộ quản lý.
Về các chính sách hỗ trợ: Áp dụng tối đa chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư QLBVR và phát triển lâm nghiệp theo quy định tại Nghị định số 75/2015/NĐ-CP; Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg. Bên cạnh đó, huyện còn áp dụng các chính sách riêng của tỉnh Kon Tum.
Các hạn chế, khó khăn: (1) Diện tích rừng và đất rừng cho thuê còn rất hạn chế so với tổng quỹ đất hiện có; (2) Rừng Sa Thầy vẫn do các cơ quan lâm nghiệp nhà nước quản lý là chủ yếu; tỷ lệ GĐGR cho các chủ thể tư nhân, hộ gia đình và cộng đồng còn khá khiêm tốn; (3) Chưa có các động lực kinh tế thích hợp để khuyến khích người dân tham gia bảo vệ và kinh doanh rừng; (4) Người dân gặp khó khăn trong bảo vệ diện tích rừng được giao.
2.3.4. Công tác bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng
Hàng năm có 17 phương án PCCCR được duyệt, trong đó có 1 phương án cấp huyện, 11 phương án cấp xã và 5 phương án của các chủ rừng.
Về xây dựng, sửa chữa các công trình, trang bị PCCCR: Các chủ rừng đã tổ chức sửa chữa, nâng cấp các công trình và mua sắm thêm trang bị phương tiện, dụng cụ PCCC rừng. Mặc dù vậy, hầu hết các dụng cụ phương tiện PCCCR là các công cụ thô sơ, một số đã hư hỏng hoặc khấu hao hết. Các phương tiện không đủ để đáp ứng hoạt động PCCCR.
Về tuần tra, phát hiện các hành vi vi phạm: Công tác xác định và xử lý các điểm nóng vi phạm Luật BV&PTR trên địa bàn được thực hiện quyết liệt bằng nhiều biện pháp. Nhờ vậy đã giảm thiểu và hạn chế được nhiều điểm nóng vi phạm trong lĩnh vực quản lý BVR.
Công tác tuần tra truy quét: Mỗi năm có hơn 900 đợt truy quét với hơn 2,000 lượt người tham gia, tập trung ở Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia, nơi có các điểm nóng như tiểu khu: 693, 696, 697, 688, 689 thuộc xã Mô Rai – thuộc vùng đệm của vườn quốc gia Chư Mom Ray và có chung đường biên giới với Campuchia. Các đợt truy quét cấp huyện và cấp xã ít và không thu hút được nhiều người dân tham gia. Số đợt truy quét ở Vườn Quốc gia tuy cao nhưng lực lượng khá mỏng.
Hạn chế: Lực lượng Kiểm lâm còn mỏng và thiếu; Phương tiện và trang thiết bị không đầy đủ, và thiếu hiện đại. Cơ sở vật chất còn nghèo nàn, đời sống tinh thần, vật chất của cán bộ công chức Kiểm lâm, nhất là ở vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh còn rất nhiều khó khăn, gian khổ; Lực lượng bảo vệ rừng của các chủ rừng mỏng, không đủ năng lực và nguồn lực cho bảo vệ rừng; Các tổ đội BVR-PCCCR ở các thôn, làng ít hoạt động hoặc hiệu quả hoạt động chưa cao, do chưa có kinh phí hoạt động cho các thành viên trong tổ; Cơ sở vật chất cho công tác bảo vệ rừng rất hạn chế.
2.3.6. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ rừng
Về xử lý các VPPL về BVR và PCCCR: Đa số các vi phạm là vi phạm hành chính. Các vi phạm đều được lập hồ sơ và chuyển cho các cơ quan có thẩm quyền để kịp thời xử lý. Số vụ tồn đọng chưa xử lý giảm qua các năm. Các tang vật tịch thu (gỗ và các loại phương tiện như xe máy, xe ô tô, cưa…) được thu hồi và đấu giá để góp vào ngân sách của địa phương. Từ năm 2015 đến nay, tổng số tiền xử lý vi phạm là 2,362.5 triệu đồng, tổng số tiền từ bán tang vật và phương tiện tịch thu là 2,688.5 triệu đồng.
Hạn chế: (1) Việc xử lý các vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng thiếu nghiêm minh, kéo dài, chưa có tác dung răn đe, tác dụng giáo dục, phòng ngừa không cao, dẫn tới một số kẻ phá rừng có biểu hiện coi thường pháp luật, thách thức cơ quan công quyền và tiếp tục chống người thi hành công vụ; (2) Vị thế pháp lý của Kiểm lâm hạn chế, chưa xác lập quyền hạn pháp lý đủ mạnh của cơ quan thừa hành pháp luật về rừng để thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả, trong khi tình hình vi phạm pháp luật về rừng vẫn ở mức độ nghiêm trọng.
2.3.6. Công tác nguồn nhân lực
a. Lực lượng kiểm lâm
Với địa bàn quản lý rộng, diện tích rừng rộng, kéo dài, địa hình phức tạp, trong khi lực lượng kiểm lâm mỏng, phương tiện hỗ trợ thô sơ, hầu hết kiểm lâm viên phụ trách địa bàn đang phải kiêm nhiệm nhiều công tác khác trong hoạt động kiểm tra, thanh tra, đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm Luật BV&PTR, gây ảnh hưởng đến hoạt động QLBVR.

b. Tổ đội quần chúng BVR
Lực lượng thường xuyên tuần tra, giám sát. Tuy nhiên, việc duy trì hoạt động của các tổ quần chúng BVR còn gặp nhiều khó khăn do không có kinh phí hoạt động, mức chi trả cho người dân tham gia công tác BVR&PCCCR thấp, chủ yếu dựa trên sự tự nguyện. Các tổ quần chúng không có chức năng xử lý khi xảy ra các vi phạm về BVR.
2.3.7. Công tác tuyên truyền về BVR
Số cuộc tuyên truyền hàng năm và số lượt người tham gia tăng lên hàng năm. Công tác tuyên truyền được tổ chức dưới nhiều hình thức đa dạng. Hoạt động tuyên truyền đã góp phần nâng cao ý thức của người dân, giảm tình trạng người dân tiếp tay cho lâm tặc để phá rừng. Mặc dù vậy, công tác tuyên truyền vẫn gặp nhiều khó khăn do đội ngũ tuyên truyền ít, người dân phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số có nhận thức kém về lợi ích của BV&PTR. Công tác tuyên truyền còn mang tính hình thức và chưa đi sâu vào đời sống của người dân. Hình thức tuyên truyền chưa thực sự phù hợp với đặc trưng của địa phương nơi có nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số. Vai trò của các già làng, trưởng bản chưa được phát huy tối đa. Đội ngũ tuyên truyền chủ yếu là các cán bộ kiểm lâm địa bàn lại mỏng, thiếu và kiêm nhiệm nhiều công tác khác nhau.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Một số kết luận rút ra như sau:
Về thuận lợi: (1) Huyện Sa Thầy có điều kiện tự nhiên thuận lợi và có tiềm năng lớn về phát triển nông – lâm nghiệp, đặc biệt là phát triển nghề rừng; (2) Nhận được các ưu tiên của tỉnh cũng như nhà nước trong hoạt động BV&PTR cũng như bảo tồn đa dạng sinh học.
Về hạn chế, khó khăn: (1) Điều kiện tự nhiên tuy thuận lợi cho việc phát triển lâm nghiệp nhưng cũng tạo ra không ít khó khăn cho hoạt động QLNN trong BVR, nhất là công tác tuần tra BVR, và PCCCR; (2) Điều kiện kinh tế và cơ sở vật chất còn khó khăn, người dân đa số là người dân tộc thiểu số, trình độ thấp và sống phụ thuộc vào rừng, ảnh hưởng đến công tác BVR và vận động người dân tham gia BVR; (3) hệ thống các văn bản còn chồng chéo, chưa hoàn thiện. Một số văn bản không được ban hành theo quy định như không ban hành Quy hoạch, kế hoạch BVR, gây khó khăn cho công tác quy hoạch, kiểm tra, giám sát hiệu quả BVR; (4) Cơ sở vật chất cho hoạt động BVR&PCCCR còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế; (5) Thiếu nguồn vốn cho công tác BVR; (6) Nguồn nhân lực cho công tác BVR còn thiếu và yếu.
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG BẢO VỆ RỪNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SA THẦY
3.1. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU VỀ BẢO VỆ RỪNG
3.1.1. Quan điểm về QLNN trong lĩnh vực BVR của huyện Sa Thầy
- BVR là trách nhiệm của toàn xã hội
- Khuyến khích các thành phần kinh tế khác nhau tham gia vào hoạt động BVR.
- BV&PTR phải gắn với phát triển bền vững
- Xây dựng các chính sách về BVR gắn với các đặc trưng riêng của địa phương
3.1.2. Mục tiêu về BVR của huyện Sa Thầy
Quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng hiệu quả, bền vững diện tích rừng và đất lâm nghiệp hiện có theo mục tiêu quy hoạch và quy chế quản lý của từng loại rừng; Nâng cao năng suất, chất lượng và phát huy giá trị của từng loại rừng; nâng độ che phủ lên 63% (chưa bao gồm cây đa mục tiêu), đáp ứng các yêu cầu về giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu, điều hoà nguồn nước, bảo tồn nguồn gen và đa dạng sinh học, góp phần ổn định dân cư, phát triển KT – XH, QP – AN và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện.
- Thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững diện tích rừng hiện có, trọng tâm là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng gắn với du lịch sinh thái, phấn đấu đến năm 2020 duy trì và nâng độ che phủ rừng đạt 63% (chưa bao gồm cây đa mục tiêu).
- Phấn đấu toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp được giao và cho thuê đối với tổ chức, hộ gia đình cá nhân và cộng đồng dân cư hướng đến cải thiện sinh kế, nâng cao thu nhập và làm giàu từ rừng.
- Xây dựng từ 01 – 02 làng nghề sản xuất các sản phẩm có nguồn gốc từ lâm sản ngoài gỗ (tre, nữa, lồ ô, bông đót) tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ gắn với công tác quản lý bảo vệ rừng, sử dụng hiệu quả, bền vững lâm sản ngoài gỗ vào bảo vệ môi trường sinh thái.
3.1.3. Định hướng về BVR của huyện Sa Thầy
- Phát huy lợi thế về rừng để phát triển mạnh kinh tế rừng; đẩy mạnh trồng rừng, tăng diện tích, nâng cao chất lượng và độ che phủ rừng; chú trọng làm tốt công tác quản lý bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn; phòng chống cháy rừng và ngăn chặn phá rừng trên địa bàn.
- Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu diện tích một số cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như cà phê, cao su, các cây ăn quả; đồng thời phát triển mô hình trồng một số loại cây dược liệu dưới tán rừng;
- Đa dạng hoá các sản phẩm phục vụ du lịch và phát triển kinh doanh du lịch gắn với bảo vệ môi trường;
- Tiếp tục thực hiện lồng ghép có hiệu quả các chương trình BVR với chương trình xoá đói giảm nghèo; cải thiện đời sống của hộ nghèo nhằm thu hẹp khoảng cách về mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bào các dân tộc.
- Giải quyết tốt đất ở, đất sản xuất, nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số, phù hợp với cơ chế chính sách, phong tục tập quán của từng dân tộc;
- Thực hiện đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn về BVMT.
- Kết hợp chặt chẽ giữa BV&PTR với phát triển kinh tế xã hội, củng cố tăng cường ANQP.
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ RỪNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SA THẦY
3.2.1. Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ rừng
Các văn bản QPPL là yếu tố cơ sở cho hoạt động QLNN trong BVR, là căn cứ pháp lý nhằm tổ chức thực hiện các công tác QLNN về BVR và xử lý các vi phạm về BVR. Do đó, để nâng cao chất lượng của hoạt động QLNN trong BVR, bước ban đầu cần phải hoàn thiện hệ thống các văn bản QPPL về BVR.
3.2.2. Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập quy hoạch, kế hoạch BVR
a. Giải pháp đối với huyện Sa Thầy
- Vì quy hoạch rừng có vai trò quan trọng trong hầu hết các chính sách về BVR, địa phương cần tập trung các nguồn lực nhằm nhanh chóng hoàn thiện công tác quy hoạch rừng và đất lâm nghiệp, trong đó bao gồm các công tác về đo đạc, cắm mốc ranh giới rừng.
- Trong quá trình xây dựng Quy hoạch BVR, cần có sự phối hợp liên ngành trong việc xây dựng chiến lược phát triển lâm nghiệp, quy hoạch và triển khai kế hoạch BVR. Cụ thể là sự phối hợp của hai ngành TNMT và NN&PTNT.
- Đồng thời, trên kinh nghiệm của quốc gia khác, việc xây dựng quy hoạch về BVR cần có sự tham gia xây dựng, góp ý và thực hiện bởi người dân, cộng đồng dân cư và các chủ rừng, để đảm bảo chính sách quy hoạch là khách quan và phù hợp với địa phương.
b. Khuyến nghị đối với nhà nước
- Hoàn thiện các văn bản QPPL quy định và hướng dẫn về xây dựng và thực hiện Quy hoạch, kế hoạch về BVR.
- Giải quyết vấn đề mâu thuẫn về khái niệm “đất lâm nghiệp“ trong quy định, hướng dẫn của Bộ TNMT và Bộ NN&PTNT và đưa ra khái niệm thống nhất về đất lâm nghiệp.
3.2.3. Giải pháp thúc đẩy xã hội hóa bảo vệ và phát triển rừng ở Sa Thầy
Thông qua phân tích về công tác XHH hoạt động BVR ở chương 2, có thể nhận thấy các hạn chế của công tác XHH BVR tập trung ở các nhóm vấn đề: (1) Diện tích rừng chưa có chủ còn lớn; (2) Các thành phần kinh tế tham gia BVR khá đa dạng nhưng tỷ lệ phân bố không đồng đều, tập trung vào nhóm các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước; (3) Chưa tạo ra được các động cơ khuyến kích người dân tham gia BVR; (4) Nguồn vốn đầu tư cho BVR còn thấp và phụ thuộc vào ngân sách nhà nước; (5) Mô hình quản lý rừng cộng đồng còn khá hạn chế, chưa hiệu quả.Trên cơ sở các phân tích đó, nhóm giải pháp nhằm hỗ trợ, khuyến khích và thúc đẩy XHH hoạt động BVR tập trung vào 3 vấn đề: (1) Các giải pháp đẩy nhanh công tác GĐGR; (2) Các giải pháp thu hút đầu tư vào BVR; (3) xây dựng mô hình lâm nghiệp cộng đồng.
3.2.4. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra, giám sát quản lý nhà nước về bảo vệ rừng
- Tổ chức kiểm tra định kỳ kế hoạch BV&PTR của các chủ rừng tổ chức, kết hợp kiểm tra đột xuất về tình hình thực hiện kế hoạch BV&PTR của các chủ rừng tổ chức;
- Cán bộ kiểm lâm địa bàn và các cơ quan chức năng có liên quan phối hợp kiểm tra hướng dẫn về QLBVR đối với các hộ gia đình, cộng đồng nhận GĐGR để kịp thời phát hiện các sai phạm và có biện pháp chấn chỉnh kịp thời; Hướng dẫn các chủ rừng cá nhân và hộ gia đình xây dựng các kế hoạch đơn giản về BVR hàng năm, giúp người dân định hướng về các hoạt động BVR trên phạm vi diện tích được giao; Phối hợp với các chủ rừng là cá nhân, hộ gia đình trong công tác tuần tra, BVR.
- Tăng cường thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật liên quan đến GĐGR, cho thuê rừng; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BV&PTR theo thẩm quyền; vi phạm các tiêu chuẩn, định mức, quy chế, quy trình, quy phạm kỹ thuật về GĐGR; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BV&PTR và GĐGR theo thẩm quyền; Thực hiện xử lý nghiêm các VPPL về BV&PTR nhằm răn đe các đối tượng khác; Kiên quyết xử lý các trường hợp cán bộ có dấu hiệu thoái hoá về đạo đức, buông lỏng quản lý, tiếp tay cho các đối tượng thực hiện các hành vi VPPL về BV&PTR.
3.2.5. Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực
a. Đối với lực lượng kiểm lâm
- Có chiến lược về quy hoạch, đào tạo cán bộ, đặc biệt các các cán bộ kiểm lâm:Từng bước đảm bảo biên chế cho lực lượng kiểm lâm, đảm bảo mỗi xã có ít nhất 1 kiểm lâm, bình quân 1,000 ha rừng có 1 kiểm lâm và 500 ha rừng đặc dụng thì có 1 kiểm lâm phụ trách về BV&PTR.
- Cần chú trọng đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại chỗ, đặc biệt là con em của đồng bào dân tộc thiểu số; có những chính sách khuyến khích và giữ chân nguồn nhân lực có trình độ, chuyên môn.
b. Đối với các lực lượng BVR khác: Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện tổ chức hoạt động của các tổ đội BVR&PCCCR; Xây dựng các cơ chế, chính sách, nguồn quỹ để hỗ trợ cho hoạt động của các tổ đội BVR&PCCCR; Xây dựng các cơ chế khuyến khích người dân tham gia; Tăng cường tập huấn về nghiệp vụ BVR&PCCCR.
Với đặc điểm kinh tế – xã hội của địa phương, để có thể BV&PTR bền vững, cần giải quyết tốt bài toán về sinh kế của người dân. Một khi người dân đã ổn định được sinh kế, sẽ giảm tình trạng xâm canh, xâm lấn, gây ảnh hưởng đến tài nguyên rừng. Có hai hướng giải pháp được đưa ra: (1) Phát triển sinh kế bền vững không phụ thuộc vào rừng và (2) Nâng cao giá trị sản xuất của nghề rừng, để người dân có thể thực sự sống nhờ vào rừng
Trong chương này, tác giả đã làm rõ các quan điểm, mục tiêu và định hướng của huyện Sa Thầy trong QLNN về BVR. Trên cơ sở đó, cùng với các phân tích thực trạng ở chương 2, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác QLNN trong BVR trên địa bàn huyện Sa Thầy. Để nâng cao hiệu quả của hoạt động QLNN về BVR của địa phương, luận văn đề xuất 3 nhóm giải pháp về: Hoàn thiện các cơ chế chính sách về BVR; Hoàn thiện tổ chức và thực hiện các chính sách về BVR; Nâng cao hiệu quả về thanh tra, kiểm tra, giám sát. Ngoài ra, luận văn còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao sinh kế của cộng đồng địa phương, nhằm làm giảm ảnh hưởng của các vấn đề sinh kế đến BVR.
KẾT LUẬN
Trong những năm qua công tác QLBVR của tỉnh Kon Tum chung và huyện Sa Thầy nói riêng chịu nhiều sức ép do quá trình phát triển KT-XH, việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang xây dựng các công trình thuỷ điện, đường giao thông, khu đô thị, công tác quy hoạch, kế hoạch BVR và khai thác sử dụng TNR chưa hợp lý, chuyển đổi sang đất nông nghiệp. Không những vậy, sự thiếu đồng bộ dẫn đến khó quản lý, nghèo đói chưa được giải quyết triệt để, các hoạt động như phá rừng, khai thác rừng trái phép…cũng tạo ra những sức ép đáng kể lên TNR. Tuy nhiên, dưới sự quản lý chặt chẽ của các cấp, các ngành nên giai đoạn 2015 – 2017 diện tích rừng của tỉnh được giữ vững và có bước cải thiện đáng kể so với giai đoạn trước đó.. Nhận thức chung về BVR của người dân từng bước được nâng cao, người dân đã tự nguyện và tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ rừng tại cộng đồng dân cư, dần từ bỏ thói quen khai thác, sử dụng tài nguyên rừng trái phép. Đặc biệt trong việc thực hiện Luật BV&PTR, việc triển khai các Nghị quyết, Quyết định, Chị thị, các chính sách về BVR của Đảng, Chính phủ đã được các cấp chính quyền địa phương chú trọng. Về cơ chế QLBVR và tổ chức bộ máy quản lý đã có những thay đổi rõ rệt. Công tác đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, công chức QLBVR, công tác quy hoạch, kế hoạch BVR, công tác giao rừng, đất rừng và thực thi các chính sách BVR được chú trọng.
Tuy nhiên, công tác QLNN về BVR của huyện Sa Thầy vẫn còn một số hạn chế như công tác tổ chức bộ máy QLNN trong lĩnh vực BVR thiếu thống nhất, chưa hợp lý dẫn đến hiệu quả quản lý không cao; việc thu hút và huy động các nguồn lực đầu tư vào lĩnh vực BVR chưa đạt hiệu quả cao; rừng, đất rừng đã được giao cho các hộ gia đình, cá nhân quản lý nhưng chưa quy định rõ quyền, trách nhiệm và thiếu các chính sách đầu tư, hỗ trợ cho người dân phát triển sản xuất thông qua việc trồng rừng, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng rừng, đất rừng chậm, thiếu thống nhất giữa các ban ngành gây khó khăn cho công tác quản lý; công tác thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng chậm gây ảnh hưởng tới việc huy động các chủ rừng và người dân tham gia vào công tác QLBVR; việc đầu tư công nghệ hiện đại phục vụ cho công tác quy hoạch rừng chưa được quan tâm đúng mức, sự phối hợp giữa các ngành trong điều tra, quy hoạch không chặt chẽ dẫn đến độ chính xác trong các số liệu điều tra, quy hoạch không cao gây khó khăn cho việc xây dựng kế hoạch QLBVR; nhiều văn bản hướng dẫn của Trung ương còn chồng chéo, các quy định, chính sách ở địa phương chưa ban hành kịp thời với yêu cầu thực tiễn, thiếu các cơ chế, chính sách khuyến khích, huy động các nguồn lực bên ngoài như nguồn vốn ODA và hỗ trợ kỹ thuật của cộng đồng quốc tế cho công tác BVR…
Từ những phân tích tình hình thực tế, làm rõ những nguyên nhân yếu kém, giảm hiệu lực, hiệu quả QLNN; dựa vào định hướng và chiến lược phát triển KT- XH, tác giả đã đưa ra một số giải pháp cho công tác QLBVR cụ thể là: giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách và thể chế, giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức và thực hiện các chính sách BVR, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra, giám sát QLNN về BVR
Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng huyện Sa Thầy – Kon Tum, Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng huyện Sa Thầy – Kon Tum
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\QUAN LY KINH TE\NGUYEN VAN MANH\SAU BAO VE


