Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại Tỉnh Salavan
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
An toàn thực phẩm (ATTP) là một trong những vấn đề được quan tâm ngày càng sâu sắc trên phạm vi mỗi quốc gia và quốc tế bởi sự liên quan trực tiếp của nó đến sức khỏe và tính mạng con người, ảnh hưởng đến sự duy trì, nòi giống, cũng như quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. Cùng với xu hướng phát triển của xã hội và toàn cầu hóa, bệnh truyền qua thực phẩm và ngộ độc thực phẩm đang đứng trước nhiều thách thức mới, diễn biến mới về cả tính chất, mức độ và phạm vi ảnh hưởng. An toàn thực phẩm không chỉ ảnh hưởng trực tiếp, thường xuyên đến sức khỏe, mà còn liên quan chặt chẽ đến sự phát triển kinh tế, thương mại, du lịch và an sinh xã hội. Đảm bảo ATTP sẽ tăng cường nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế và góp phần đẩy nhanh công cuộc xóa đói giảm nghèo. An toàn thực phẩm không chỉ ảnh hưởng trực tiếp, thường xuyên đến sức khỏe, mà còn liên quan chặt chẽ đến sự phát triển kinh tế, thương mại, du lịch và an sinh xã hội. Đảm bảo ATTP sẽ tăng cường nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế và góp phần đẩy nhanh công cuộc xóa đói giảm nghèo.
Những năm gần đây, công tác bảo đảm chất lượng ATTP, phòng chống NĐTP và các bệnh truyền qua thực phẩm ngày càng được các tầng lớp trong xã hội quan tâm. Sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan quản lý, các ngành chức năng và ý thức, trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng đã khiến cho công tác này đạt được những tiến bộ rõ rệt. Tuy nhiên thực tế hiện nay, mặc dù vấn đề ATTP liên tục được cập nhật trong các tin tức thời sự trong ngày, nhưng tình trạng thực phẩm “bẩn” vẫn không ngừng gia tăng trong cả nước.
Theo báo cáo của Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, trong gia đoạn 2015 – 2019, cả nước đã ghi nhận 960 vụ ngộ độc thực phẩm với 10.321 mắc và 96 người chết. Salavan là một tỉnh nam Lào, trong những năm qua Tỉnh đã có những phát triển mạnh mẽ về công nghiệp, dịch vụ du lịch. Là một tỉnh có đường biên giới tiếp giáp với Thái Lan ở phía Đông, tiếp giáp với Việt Nam ở phía Nam, là trung tâm giữa các tỉnh Savannakhet, Se Kông, Champasak việc quản lý ATTP đang là một thách thức đối với các cơ quan ban ngành của Tỉnh. Trong giai đoạn từ năm 2015 đến 6 tháng đầu năm 2020, tỉnh Salavan đã ghi nhận 67 ca ngộ độc thực phẩm. Trung bình 1 năm là 13 vụ và 335 người/năm (Theo thống kê của Ban QLNN về ATTP). Bên cạnh những mặt làm được trong công tác quản lý nhà nước về ATTP tại Tỉnh Salavan, hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều bất cập như chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan QLNN về ATTP; những yếu kém trong công tác quản lý, thực thi, thi hành và các tồn tại trong công tác tuyên truyền, giáo dục về ATTP. Vì vậy, quản lý nhà nước về ATTP được xem là vấn đề nổi cộm cần giải quyết hiện nay. Với những lý do nêu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại Tỉnh Salavan” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là dựa trên cơ sở lý thuyết chung về quản lý nhà nước về ATTP để phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về ATTP trên địa bàn tỉnh Salavan, làm rõ ưu điểm, hạn chế của quản lý nhà nước đối với ATTP trên địa bàn tỉnh Salavan. Trên cơ sở đó đề xuất phương hướng, các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về ATTP của tỉnh để nâng cao hiệu quả quản lý về ATTP trong giai đoạn tới.
2.2 Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu cụ thể của luận văn là:
– Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với ATTP.
– Phân tích đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về ATTP trên địa bàn tỉnh Salavan giai đoạn 2016-2020; chỉ ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân.
– Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với ATTP tại tỉnh Salavan, nước CHDCND Lào từ nay đến 2025.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với ATTP trên địa bàn tỉnh Salavan.
– Phạm vi nghiên cứu: luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước đối với ATTP trên địa bàn tỉnh Salavan. Nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về ATTP trên địa bàn tỉnh Salavan giai đoạn 2016 – 2020. Các giải pháp được đề xuất đến năm 2025. Thời gian thực hiện khảo sát và lấy ý kiến chuyên gia là tháng 10,11 năm 2020.
– Phương pháp phân tích, tổng hợp thông tin thứ cấp
Luận văn sử dụng thông tin số liệu thứ cấp bao gồm:
+ Thu thập từ các nguồn các sách giáo trình, sách tham khảo, chuyên khảo, tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước, các bài viết đăng trên báo hoặc các tạp chí khoa học chuyên ngành có liên quan đến nội dung của đề tài.
+ Số liệu thứ cấp được thu thập từ các tài liệu, số liệu từ niên giám thống kê của tỉnh và của nước CHDCND Lào.
+ Số liệu từ các tài liệu, các báo cáo tổng hợp tình hình về ATTP và quản lý nhà nước về ATTP của tỉnh Salavan – CHDCND Lào trong các năm từ 2016 – 2020.
+ Các nguồn thông tin khác có liên quan được thu thập từ các văn bản pháp quy, báo chí và tạp chí nghiên cứu khoa học.
– Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh các dữ liệu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của luận văn, tác giả sẽ sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh. Trong đó, luận văn sử dụng phương pháp phân tích số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, đánh giá mức độ thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về ATTP. So sánh diễn biến và sự biến đổi của đối tượng cần nghiên cứu theo thời gian. Trên cơ sở đó tổng hợp các kết quả nghiên cứu để rút ra các đánh giá, nhận xét về những ưu điểm, hạn chế, tạo cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp có tính khả thi theo mục tiêu đã xác định của luận văn.
– Phương pháp khảo sát điều tra
Luận văn còn sử dụng các dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn, điều tra trực tiếp cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về ATTP trên địa bản tỉnh nhằm cung cấp thêm thông tin và cơ sở để đánh giá toàn diện hơn vấn đề nghiên cứu.
Đối tượng phỏng vấn là những cán bộ quản lý, công chức liên quan đến công tác quản lý nhà nước về ATTP tại tỉnh Salavan và các đơn vị kinh doanh thực phẩm, nhà hàng quán ăn trên địa bàn tỉnh. Luận văn chọn đối tượng này là vì những người này là người triển khai, thực thi các chính sách quản lý nhà nước về ATTP.
Số lượng đối tượng phỏng vấn tác giả lựa chọn cho đề tài này bao gồm 60 cán bộ làm việc tại Cục thú y, kiểm nghiệm thực phẩm, Ban quan lý ANTP tỉnh Salavan. Số lượng cán bộ dự kiến phỏng vấn là 40 người. Dữ liệu khảo sát điều tra được xử lý trên phần mềm SPSS. Đây là phần mềm chuyên sử dụng hỗ trợ phân tích dữ liệu từ các cuộc khảo sát điều tra xã hội học như của luận văn. Các dữ liệu được mã hóa, nhập liệu và sử dụng các phương pháp phân tích mô tả như tần suất, phần trăm, giá trị trung bình để phân tích.

5. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
Đề tài được bố cục gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về ATTP tại tỉnh Salavan, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về ATTP tại tỉnh Salavan, nước CHDCND Lào.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
1.1. KHÁT NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
Khái niệm thực phẩm
Theo tiêu chuẩn Codex stan 1-1985, tại điều 2 về giải thích thuật ngữ “Thực phẩm là những chất, được chế biến hay chế biến một phần hoặc ở dạng nguyên liệu thô chủ định dùng để ăn uống cho con người, bao gồm đồ uống, kẹo cao su, những chất sử dụng trong quá trình sản xuất, chế biến hoặc bổ sung vào thực phẩm, không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất được sử dụng như thuốc”.
Luật An toàn thực phẩm tại Lào phiên bản năm 2018 giải thích “Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản. Thực phẩm là không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm”. Với cách giải thích này tuy đã được rút gọn hơn so với khái niệm của Codex stan 1985 nhưng cơ bản vẫn liệt kê đầy đủ được các thành phần cấu thành thực phẩm theo giải thích thuật ngữ của quốc tế.
Khái niệm an toàn thực phẩm
Trên thế giới hiện nay, khi đề cập về vấn đề ATTP có rất nhiều cách giải thích khác nhau. Theo Liên minh Châu Âu, ATTP là những biện pháp và điều kiện cần thiết để kiểm soát các mối nguy và để đảm bảo sự phù hợp của thực phẩm có ý định dùng làm thực phẩm cho con người. Với khái niệm này cho thấy một khi thực phẩm bị coi là không an toàn nếu nó gây tổn hại đến người tiêu dùng hoặc không phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của con người dựa trên các phân tích nguy cơ ATTP. Trên thực tế, Liên minh Châu Âu có một hệ thống pháp luật rất chặt chẽ về ATTP, họ tập trung mạnh vào việc phân tích các mối nguy có thể ảnh hưởng đến ATTP, trên cơ sở đó đưa ra các chính sách, cảnh báo phù hợp.
Tại Việt Nam, “vệ sinh an toàn thực phẩm” cũng được sử dụng trong Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003 qua đó, “vệ sinh an toàn thực phẩm là các điều kiện và biện pháp cần thiết để đảo bảo thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng con người”. Đến năm 2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật An toàn thực phẩm năm 2010, đã sữa đổi “Vệ sinh an toàn thực phẩm” thành “An toàn thực phẩm” và được giải thích “ATTP là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người”.
Tại Lào, Theo Điều 2 Luật ATTP thì “ATTP là bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người” [54].
Theo tác giả thì ATTP được hiểu là khả năng không gây ngộ độc của thực phẩm đổi với con người; ATTP là khái niệm có nội dung rộng hơn do nguyên nhân gây ra ngộ độc thực phẩm không chỉ hạn chế ở vi sinh vật.
Qua các khái niệm trên có thể khái quát nội dung của ATTP không chỉ nêu lên các điều kiện vệ sinh của thực phẩm, các dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm mà còn là các biện pháp cần thiết để bảo đảm thực phẩm không xảy ra các vấn đề do vi khuẩn, hóa chất, tình trạng vật lý hay các nguy cơ nhiễm bệnh gây ra trong suốt quá trình sản xuất, chế biến, bảo quản và sử dụng thực phẩm nhằm bảo đảm sức khỏe, tính mạng con người.
b. Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
* Quản lý nhà nước (QLNN)
QLNN là sự chỉ huy, điều hành xã hội để thực thi quyền lực nhà nước; là tổng thể về thể chế, về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nước có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của nhà nước, do các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) có tư cách pháp nhân công pháp (công quyền) tiến hành bằng văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà nước đã giao trong việc tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân.
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội thực thi quyền lực nhà nước; dạng quản lý này được thể hiện trong các cơ quan nhà nước. Theo định nghĩa của Liên hợp quốc, QLNN tương đồng với khái niệm quản lý quốc gia (Governmance), nghĩa là: Quản lý nhà nước một cách hợp lý, có hiệu quả, công khai, minh bạch và có sự tham gia của chủ thể liên quan.
Từ những phân tích trên, theo tác giả: Quản lý nhà nước là một dạng quản lý đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, do các cơ quan nhà nước thực hiện, trong đó chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước (CQHCNN), nhằm đáp ứng nhu cầu chính đáng của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
* Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
Quản lý nhà nước về ATTP được hình thành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện theo Hiến pháp, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, mục đích bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của con người, giữa người sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng, chăm sóc sức khỏe và môi trường cho cộng đồng, đảm bảo sự công bằng trong xã hội. và nó gắn liền với hoạt động kinh tế – xã hội và đời sống nhân dân. Để từng bước thực hiện được mục đích nêu trên thì bất cứ nước nào cũng phải chăm lo xây dựng hệ thống QLNN về ATTP đủ năng lực để phục vụ nhu cầu của kinh tế – xã hội. Do vậy, tăng cường hoạt động quản lý Nhà nước về ATTP là hết sức cần thiết.
Quản lý nhà nước về ATTP là hoạt động có tổ chức của nhà nước thông qua các văn bản pháp quy, các công cụ, chính sách của nhà nước tác động đến tình hình thực hiện ATTP của đơn vị sản xuất, chế biến, kinh doanh trên cả nước nhằm định hướng, dẫn dắt các chủ thể này thực hiện tốt các vấn đề về ATTP.
Quản lý nhà nước đối với ATTP là sự tác động có tổ chức và bằng pháp luật lên các đối tượng sản xuất, chế biến, kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm để bảo đảm ATTP, phục vụ tốt nhất đời sống dân cư.
Quản lý nhà nước về ATTP là việc nhà nước thực hiện quyền lực của mình để điều chỉnh, hướng dẫn các hoạt động liên quan đến ATTP thực hiện theo đúng pháp luật. Các hoạt động chủ yếu QLNN đối với ATTP bao gồm: Hoạch định và ban hành các chính sách, văn bản, chiến lược, kế hoạch có liên quan đến vấn đề ATTP; công tác tổ chức tuyên truyền, giáo dục, công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm, công tác phối hợp liên ngành trong quản lý và nghiên cứu khoa học…
Quản lý nhà nước về ATTP là cơ quan quản lý có thẩm quyền thực hiện ban hành các VBQPPL, các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, các biện pháp, các chế tài xử lý. Tổ chức triển khai các hoạt động nhằm bảo đảm các hoạt động sản xuất, chế biến kinh doanh thực phẩm theo đúng những quy định hướng dẫn. Áp dụng những biện pháp khoa học và phong tục tập quán nhằm hướng dẫn tổ chức thực hiện để các đối tượng trong phạm vi quản lý thực hiện đầy đủ những quy định đã ban hành, hạn chế tối đa việc không bảo đảm ATTP.
Từ nội dung phân tích trên, theo tác giả: Quản lý nhà nước về ATTP là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước (chủ yếu là các cơ quan thuộc hệ thống hành pháp), mang tính quyền lực nhà nước; là hoạt động của cơ quan quản lý có thẩm quyền thực hiện ban hành các VBQPPL, các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, các biện pháp, các chế tài xử lý để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên lĩnh vực ATTP nhằm thoả mãn những nhu cầu của con người, bảo đảm sức khoẻ cho nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội về sức khoẻ con người.
1.1.2 Đặc điểm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
Thứ nhất, chủ thể quản lý: QLNN về ATTP được thực hiện bởi chủ thể là các CQNN, cá nhân có thẩm quyền, chủ yếu là các cơ quan quản lý hành chính của nhà nước thực hiện.
Thứ hai, đối tượng quản lý: Các cơ quan, tổ chức, cá nhân tại Lào; tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Lào tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm; tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến ATTP tại Lào.
Thứ ba, nội dung quản lý: Xây dựng, ban hành, tuyên truyền, triển khai hệ thống văn bản đối với các cơ sở chế biến thực phẩm; CQNN có thẩm quyền kiểm tra, xử lý đối với tập thể, cá nhân vi phạm pháp luật.
1.1.3 Vai trò quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
Trong những năm gần đây các tổ chức, cá nhân vi phạm về ATTP đang diễn ra ngày càng trầm trọng, nhiều vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra liên tiếp, gây thiệt hại nhiều đến tính mạng con người và tiền của. Trước những diễn biến đó thì nhà nước có vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn, quản lý và kiểm tra, giám sát.
Trước hết, nhà nước hoạch định và ban hành các văn bản pháp luật có liên quan đến ATTP để hướng dẫn các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm có định hướng để sản xuất thực phẩm sạch, đảm bảo ATTP.
Để đảm bảo thực phẩm có chất lượng, không ảnh hưởng đến sức khỏe người dân, nhà nước kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện về sản xuất, chế biến cũng như tiêu dùng của các mặt hàng thực phẩm. Bằng các công cụ pháp luật cũng như đội ngũ thanh tra các cấp để quản lý vấn đề ATTP. Các bộ phận này có trách nhiệm riêng biệt để thanh tra, kiểm tra lập lại trật tự sản xuất, kinh doanh theo đúng yêu cầu, tiêu chuẩn kỹ thuật của nhà nước. Các Bộ, ngành có liên quan phối hợp với Bộ Y tế để cùng quản lý các vấn đề liên quan đến ATTP.
Các cơ quan nhà nước, công chức quản lý về lĩnh vực này có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục về ATTP cho nhân dân để nâng cao ý thức và hiểu biết vấn đề này. Chỉ đạo tổ chức tháng hành động vì chất lượng ATTP, đẩy mạnh công tác phòng chống, công tác tuyên truyền, giáo dục đạt hiệu quả.
Mặt khác, các cơ quan QLNN định hướng, nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng sản phẩm thực phẩm đáp ứng các mục tiêu kinh tế, xã hội trong từng thời kỳ. Công tác quản lý chất lượng thực phẩm tác động đến các lĩnh vực, từ sản xuất kinh doanh, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ cho đến việc bảo vệ môi trường, an toàn sức khoẻ con người, đảm bảo công bằng và lợi ích quốc gia.
Trong nền kinh tế phát triển sôi động như hiện nay thì vai trò quản lý của nhà nước ngày càng trở lên quan trọng trong việc cải cách thủ tục hành chính. Nhà nước có vai trò kích thích hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và cá nhân. Trước hết thể hiện nhà nước định hướng và đảm bảo cho hoạt động có tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế mang tính dẫn dắt. Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển kinh tế phải dựa vào đẩy mạnh xuất khẩu, muốn đẩy mạnh xuất khẩu phải dựa vào tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ. Nhà nước định hướng cho các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh về ATTP đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Làm tốt công tác này sẽ giúp sản phầm thực phẩm của Việt Nam đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế.
Với trách nhiệm của mình, nhà nước xây quy hoạch, kế hoạch tổng thể, đáp ứng những cân đối lớn của toàn bộ nền kinh tế, tránh hiện tượng đầu tư dàn trải, không hiệu quả, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển trong lĩnh vực ATTP.
Nhà nước là cầu nối, tạo niềm tin đối với người tiêu dùng giúp cho người tiêu dùng cảm thấy yên tâm hơn khi sử dụng sản phẩm dịch vụ trên thị trường.
Trong quá trình hội nhập và phát triển, nhà nước đảm bảo các thực phẩm đủ tiêu chuẩn chất lượng quốc tế trong việc xuất nhập khẩu trên thị trường nước ngoài.
1.1.4 Nguyên tắc quản lý về An toàn thực phẩm
Theo quy định của Luật ATTP, nguyên tắc quản lý ATTP được thực hiện theo 6 nguyên tắc sau :
Thứ nhất, đảm bảo ATTP là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Theo quy định trong các giấy phép sản xuất, kinh doanh thực phẩm, mọi tổ chức, cá nhân khi đủ các tiêu chí sản xuất kinh doanh thì được cấp giấy phép hoạt động.
Thứ hai, sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện; tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm có quyền thì các tổ chức đó có các nghĩa vụ như: phải tuân thủ các điều kiện đảm bảo ATTP do mình sản xuất; báo cáo ngay với cơ quan có thẩm quyền và khắc phục ngay hậu quả khi phát hiện ngộ độc thực phẩm hoặc bệnh truyền qua thực phẩm do mình kinh doanh gây ra; cần tuân thủ quy định của pháp luật, quyết định về thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật khi thực phẩm mất an toàn do mình kinh doanh gây ra.
Thứ ba, quản lý ATTP phải trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, quy định do cơ quan quản lý nhà nước quy chuẩn kỹ thuật có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng. Quy chuẩn kỹ thuật tương ứng do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành đó là những Quy chuẩn kỹ thuật (QCVN) được phép lưu thông trên thị trường.
Thứ tư, quản lý ATTP phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích nguy cơ đối với ATTP. Để các thực phẩm an toàn, đòi hỏi quản lý của các CQQLNN là một quá trình liên tiếp, từ khâu sản xuất cho đến khi khách hàng sử dụng.
Thứ năm, quản lý ATTP phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ ràng và phối hợp liên ngành.
Thứ sáu, quản lý ATTP phải phù hợp và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.
1.2.1 Xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm
Thứ nhất, xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển
Xây dựng và ban hành chính sách, chương trình về ATTP là một trong những công đoạn quan trọng nhất và khó khăn nhất trong quy trình ATTP. Trên quan điểm bảo đảm ATTP chính là bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng và sức khỏe nhân dân, là một nhiệm vụ thường xuyên cần tập trung chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, là trách nhiệm và quyền lợi của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm và của mỗi người dân; tổ chức thực hiện đồng bộ các quy định pháp luật về ATTP, chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, đẩy mạnh việc áp dụng các biện pháp tiên tiến trong quản lý ATTP.
Thứ hai, xây dựng, ban hành hệ thống quy định pháp luật về ATTP
Để đảm bảo sức khỏe cho người dân, các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền trong lĩnh vực y tế ban hành hệ thống các văn bản điều chỉnh như: Thông tư của Bộ trưởng các Bộ: Bộ y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương; các văn bản dưới luật do các cơ quan chuyên môn thuộc các Bộ ban hành nhằm quản lý ATTP có hiệu lực, hiệu quả. Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả để cập đến việc xây dựng và ban hành văn bản của Bộ Y tế trong lĩnh vực ATTP
Nhận rõ tính cấp bách của tình hình ATTP, Nước CHDCND Lào đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về ATTP: như Luật ATTP, quy định liên quan đến quản lý chất lượng ATTP đã được ban hành trong nhiều văn bản QPPL khác nhau như: Luật Thủy sản; Luật Thanh tra,.. Thiết lập khuôn khổ pháp lý và tổ chức thực hiện lộ trình bắt buộc áp dụng hệ thống thực hành sản xuất tốt (GMP), thực hành nông nghiệp tốt (GAP), thực hành vệ sinh tốt (GHP), phân tích nguy cơ và kiểm soát điểm tới hạn (HACCP) và các hệ thống quản lý ATTP tiên tiến khác trong quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
Thực hiện theo Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, các Bộ đã khẩn trương xây dựng các quy chuẩn kỹ thuật về ATTP thuộc phạm vi quản lý của ngành. Tuy nhiên, các văn bản pháp quy, các quy định về ATTP của nước ta còn chưa thật đầy đủ, thiếu đồng bộ, chưa theo kịp sự phát triển của đất nước, vì thế, để đảm bảo yêu cầu quản lý và triển khai Luật ATTP.
1.2.2 Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm
Một là, xây dựng bộ máy quản lý và đội ngũ CBCC thực hiện chức năng quản lý về ATTP.
Mục tiêu tổ chức và thiết lập bộ máy hành chính quản lý ATTP trong ngành y tế thống nhất, đủ năng lực thực hiện chức năng QLNN về ATTP trong phạm vi cả nước.
Bộ máy hành chính quản lý về ATTP có chức năng: Ban hành các văn bản quy phạm trong quyền hạn, tổ chức thực hiện các quy định trong hệ thống văn bản quy phạm liên quan; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn đã ban hành của các nhóm đối tượng trong chuỗi cung cấp thực phẩm cho xã hội; kiểm nghiệm ATTP trong chuỗi cung cấp thực phẩm phục vụ công tác Quản lý nhà nước về ATTP.
Trong Luật an toàn thực phẩm năm 2018 do Quốc Hội Lào quy định trách nhiệm của UBND cấp tỉnh là “Chịu trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm trên địa bàn; quản lý điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, thức ăn đường phố, cơ sở kinh doanh, dịch vụ ăn uống, an toàn thực phẩm tại các chợ trên địa bàn và các đối tượng theo phân cấp quản lý”. Với quy định này trong công tác quản lý ATTP, Sở Y tế các tỉnh, thành phố tham mưu giúp UBND tổ chức triển khai, cụ thể hóa các chính sách, quy định của pháp luật trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý.
Bộ máy QLNN về ATTP có nhiệm vụ như: Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan về ATTP; các quy chuẩn, tiêu chuẩn về ATTP; Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phòng ngừa, khắc phục ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm; Xây dựng chiến lược, tổ chức hoạt động thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức và pháp luật về ATTP; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về ATTP; Quản lý hệ thống kiểm nghiệm, thử nghiệm ATTP; Quản lý, cấp chứng về ATTP; kiểm tra, thừa nhận, chứng nhận về các quy trình quản lý ATTP: HACCP, GMP, GLP; Tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực ATTP; Hợp tác quốc tế về ATTP và Thanh tra chuyên ngành, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm pháp luật về ATTP.
Để bộ máy QLNN về ATTP có hiệu lực, hiệu quả thì cần có đội ngũ CBCC có năng lực trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan.
Hai là, xây dựng, nâng cao chất lượng, trách nhiệm đội ngũ CBCC quản lý trong cơ quan hành chính nhà nước đối với ATTP.
Để quản lý được ATTP trên phạm vi cả nước là một thử thách đối với các cán bộ làm công tác ATTP vì hiện nay về nhân lực rất thiếu, nhưng lại không thể thu hút được nhân lực vì không có chế độ ưu đãi nghề (cán bộ Chi Cục ATTP không được hưởng phụ cấp nghề vì là cơ quan quản lý nhưng nhiệm vụ thì không khác gì nhiệm vụ của các Trung tâm y tế). Chính vì điều này mà những cán bộ hiện đang làm công tác ATTP là những người thực sự tâm huyết và dám hy sinh vì nghề. Đề cao trách nhiệm, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, tạo bước chuyển biến tích cực trong công tác quản lý, bảo đảm an toàn thực phẩm.
Ba là, tổ chức và tạo lập các điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Nước CHDCND Lào tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm; tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến an toàn thực phẩm tạ Lào thực hiện các quyền và trách nhiệm theo pháp luật.
Xây dựng môi trường chính sách nhằm làm cho vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của cấp quản lý là cơ sở quản lý đối với ATTP đáp ứng nhu cầu sức khỏe cho người dân.
Xây dựng và ban hành chính sách, chương trình về ATTP là một trong những công đoạn quan trọng nhất và khó khăn nhất trong quy trình ATTP. Trên quan điểm bảo đảm ATTP chính là bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng và sức khỏe nhân dân, là một nhiệm vụ thường xuyên cần tập trung chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, là trách nhiệm và quyền lợi của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm và của mỗi người dân; tổ chức thực hiện đồng bộ các quy định pháp luật về ATTP, chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, đẩy mạnh việc áp dụng các biện pháp tiên tiến trong quản lý ATTP.
Bốn là, tổ chức thực hiện pháp luật về ATTP
Tổ chức thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quy định của pháp luật trở thành hành vi xử sự của chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Thực hiện pháp luật về ATTP được tiến hành thông qua các quá trình tổ chức thực hiện sau: tuân thủ pháp luật; chấp hành pháp luật; sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật.
Quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về ATTP được tiến hành bởi các cơ quan về QLNN về ATTP, các doanh nghiệp, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. Bên cạnh đó, các cơ quan QLNN về ATTP cũng là tư cách là chủ thể quản lý, có thẩm quyền áp dụng các quy phạm pháp luật ATTP. Đây là dạng hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được tiến hành theo các thủ tục của pháp luật quy định, bên thuộc đối tượng quản lý, có nghĩa vụ phải tuân thủ, thi hành, chấp hành các quy định của pháp luật, đồng thời có quyền sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nước, cộng đồng, gia đình, cá nhân.
Để tăng cường tính xã hội trong quản lý ATTP, quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về ATTP không nên chỉ đơn thuần theo mệnh lệnh hành chính (một bên đơn phương quyết định và bên kia phải có nghĩa vụ chấp hành) mà cần chú trọng các quan hệ dân sự, thương mại, kinh tế. Chẳng hạn như khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, đơn vị kinh tế, cộng đồng dân cư tham gia hoạt động ATTP.
Trong khâu tổ chức thực hiện pháp luật về ATTP cần quan tâm đến việc phân công rõ trách nhiệm, quyền hạn của từng cơ quan, tổ chức để tránh tình trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ. Nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, nhất là sự am hiểu về pháp luật; đề cao vai trò trách nhiệm và phẩm chất đạo đức của đội ngũ CBCC trong hệ thống cơ quan QLNN và ATTP nhằm làm cho quá trình tổ chức thực hiện pháp luật ATTP được đúng đắn, khách quan và đảm bảo công bằng xã hội.
Nội dung thực hiện pháp luật về ATTP, bao gồm các hoạt động sau:
Thứ nhất, cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP. Luật ATTP năm 2010 quy định các tổ chức, cá nhân khi sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải bảo đảm đủ các điều kiện về cơ sở sản xuất, kinh doanh, trang thiết bị, dụng cụ và điều kiện về con người trên cơ sở đó sẽ được cơ quan nhà nước cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP.
Thứ hai, xác nhận nội dung quảng cáo thực phẩm. Với sự phát triển của xã hội, để tiếp cận với người tiêu dùng nhà sản xuất, kinh doanh thực phẩm thường sử dụng các phương tiện thông tin nhằm quảng cáo sản phẩm thực phẩm của mình. Việc quản lý nội dung quảng cáo thực phẩm của các cơ quan quản lý nhằm bảo đảm cho người tiêu dùng được tiếp cận những nội dung, thông tin về thực phẩm một cách trung thực, đúng bản chất của sản phẩm, từ đó người tiêu dùng có đủ thông tin để lựa chọn những sản phẩm thực phẩm chất lượng và phù hợp với nhu cầu. Theo quy định của pháp luật, nhà sản xuất, kinh doanh thực phẩm muốn thực hiện quảng cáo phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra và xác nhận nội dung quảng cáo về thực phẩm trước khi thực hiện quảng cáo.
Thứ ba, tiếp nhận và cấp giấy xác nhận công bố sản phẩm thực phẩm. Sản phẩm thực phẩm trước khi đưa vào lưu thông trên thị trường để bảo đảm chất lượng, Cơ quan quản lý buộc người sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải công bố chất lượng sản phẩm. Đây là bản cam kết về chất lượng thực phẩm của nhà sản xuất, kinh doanh đối với nhà quản lý và với người tiêu dùng. Trên cơ sở đó, nhà sản xuất, kinh doanh sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật những cam kết về chất lượng sản phẩm của mình đồng thời, nhà nước có trách nhiệm tổ chức tiếp nhận và xác nhận nội dung công bố sản phẩm thực phẩm. Theo quy định hiện hành cơ quan QLNN về ATTP sẽ tiếp nhận và cấp Giấy xác nhận công bố phù hợp quy định ATTP đối với sản phẩm chưa có quy chuẩn kỹ thuật tương ứng và Giấy tiếp nhận công bố hợp quy đối với sản phẩm thực phẩm có quy chuẩn kỹ thuật.
Thứ tư, một quy định mới trong Luật An toàn thực phẩm năm 2010 là nhằm mục đích bảo đảm các điều kiện trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm, cơ quan QLNN trong quá trình triển khai nhiệm vụ cần thực hiện kiểm nghiệm thực phẩm, phân tích nguy cơ, ngăn chặn, khắc phục sự cố về ATTP và truy nguyên nguồn gốc thực phẩm không bảo đảm an toàn.
Thứ năm, UBND các cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn sự cố về ATTP, đồng thời khắc phục các sự cố về ATTP trong phạm vi địa phương trong đó, Ngành y tế chịu trách nhiệm chính, kịp thời phát hiện, điều tra, xác định nguyên nhân, cấp cứu và điều trị cho người bị NĐTP và bệnh truyền qua thực phẩm.
Năm là, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về ATTP
Theo Điều 56 Luật ATTP thì mục đích, yêu cầu của thông tin, giáo dục, truyền thông về ATTP là: 1) Thông tin, giáo dục, truyền thông về ATTP nhằm nâng cao nhận thức về ATTP, thay đổi hành vi, phong tục, tập quán sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt, ăn uống lạc hậu, gây mất ATTP, góp phần bảo vệ sức khỏe, tính mạng con người; đạo đức kinh doanh, ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh với sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng thực phẩm. 2) Việc cung cấp thông tin, giáo dục, truyền thông về ATTP phải bảo đảm các yêu cầu sau: chính xác, kịp thời, rõ ràng, đơn giản, thiết thực; phù hợp với truyền thống, văn hoá, bản sắc dân tộc, tôn giáo, đạo đức xã hội, tín ngưỡng và phong tục tập quán; phù hợp với từng loại đối tượng được tuyên truyền.
Nhiệm vụ QLNN về ATTP là các cơ quan nhà nước tuyên truyền cho người sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng hiểu tác hại của thực phẩm bị nhiễm độc; hậu quả của các thực phẩm bị ô nhiễm đối với sức khoẻ và đời sống con người. Công tác tuyên truyền pháp luật về ATTP nhằm hình thành cho các tổ chức, cá nhân liên quan đến sản xuất, kinh doanh thực phẩm có ý thức về đảm bảo ATTP. Tuyên truyền về ATTP là tư tưởng trực tiếp nhất cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật. Việc tuyên truyền bảo đảm ATTP phải được tiến hành tại các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh, các trường đại học, hộ gia đình…. Hình thức tuyên truyền phải đa dạng, phong phú, phù hợp với từng nhóm đối tượng, cán bộ quản lý ATTP phải có kiến thức về quản lý hành chính và hiểu biết pháp luật về ATTP. Cán bộ quản lý sử dụng nhiều hình thức và biện pháp để giáo dục, nâng cao ý thức về ATTP và làm tư vấn pháp luật về ATTP cho nhân dân.
Các cơ quan tuyên truyền trên hệ thống truyền thông cơ sở và Cổng Giao tiếp điện tử của tỉnh, thành phố. Những hoạt động về thực hiện đảm bảo ATTP như: Tháng hành động vì chất lượng ATTP; tuyên truyền Luật ATTP và các văn bản pháp quy của Chính phủ và thành phố về ATTP; tuyên truyền trách nhiệm của các cá nhân đặc biệt là của người sản xuất, kinh doanh trong việc đảm bảo ATTP cho mọi người; tuyên truyền cho người dân các phương pháp tự bảo vệ bản thân khi sử dụng thực phẩm; giới thiệu rộng rãi các cơ sở cung cấp thực phẩm sạch; kinh nghiệm một số địa phương làm tốt công tác ATTP.
Việc tuyên truyền thường xuyên, liên tục về ATTP có tác động mạnh đến nhận biết và hành động của những người sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng. Công tác tuyên truyền hiệu quả sẽ giảm tối thiểu vi phạm ATTP, nâng cao hiệu quả QLNN về ATTP và đảm bảo sức khoẻ cho người dân.
Thứ nhất, thanh tra, kiểm tra các cơ sở vi phạm ATTP
Thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ, chấp hành các quy định của pháp luật về ATTP và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về ATTP là một trong những chức năng quan trọng của QLNN bằng pháp luật về ATTP.
Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các cơ sở vi phạm ATTP là hoạt động nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về ATTP, góp phần quan trọng bảo đảm pháp luật về ATTP đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả thực tế.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ, chấp hành các quy định của pháp luật về ATTP và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về ATTP là một trong những chức năng, nhiệm vụ quan trọng của QLNN bằng pháp luật về ATTP. Nếu xem nhẹ công tác này thì hoạt động QLNN bằng pháp luật về ATTP sẽ bị buông lỏng, kém hiệu quả.
Bên cạnh đó, thanh tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn gồm thanh tra của Cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản chủ trì, phối hợp với các Cục có liên quan của Bộ thanh tra các thực phẩm liên quan đến thủy hải sản, kiểm tra ATTP hàng hóa có nguồn gốc thực vật nhập khẩu…
Để thực hiện có hiệu quả nội dung này, các cơ quan hành chính nhà nước phải xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra chặt chẽ, hợp lý và hợp pháp, ngăn ngừa những biểu hiện nhũng nhiễu gây phiền hà, cản trở hoạt động hợp pháp của các đối tượng quản lý. Tổ chức giám sát hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật của cơ quan QLNN cấp dưới và ngay trong nội bộ cơ quan mình. Khi phát hiện có dấu hiệu của hành vi vi phạm pháp luật, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm phải ngăn chặn kịp thời, tuỳ theo mức độ vi phạm để xử lý trách nhiệm theo đúng quy định của pháp luật.
Thứ hai, thanh tra, kiểm tra thi hành pháp luật tại các cơ sở chế biến thực phẩm
Kiểm tra thi hành pháp luật tại các cơ sở chế biến thực phẩm có vai trò quan trọng trong việc thực hiện có hiệu quả ATTP. Kiểm tra, thanh tra nhằm phát hiện thấy các vi phạm về điều kiện ATTP, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, hàng quá hạn sử dụng, hàng hoá không rõ nguồn gốc xuất xứ; vận chuyển, buôn bán gia súc, gia cầm bị bệnh hoặc không rõ nguồn gốc; Vi phạm về nhãn mác hàng hóa, đặc biệt là tình trạng làm giả nhãn mác hàng hóa của các doanh nghiệp có thương hiệu mạnh gây ảnh hưởng đến uy tín, doanh thu của doanh nghiệp và thiệt hại cho người tiêu dùng.
Thứ ba, thanh tra sản xuất và chế biến của các cơ sở chế biến thực phẩm
Thanh tra có nhiệm vụ xử lý vi phạm về ATTP theo đúng quy định của pháp luật. Việc xử lý phải theo quy định và mức xử phạt theo quy định chung. Yêu cầu khi xử phạt đảm bảo tính chính xác, khách quan và công bằng. Trong thời gian qua, với sự nỗ lực của cán bộ thanh tra, kiểm tra, công tác kiểm tra và xử lý đã đạt được kết quả nhất định. Đây là cơ sở để quản lý ATTP đạt hiệu quả.
Thứ tư, giải quyết khiếu nại, tố cáo về ATTP
Trong quá trình QLNN về ATTP, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo: a) Tổ chức việc tiếp nhận và giải quyết tố cáo theo đúng quy định của pháp luật; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm an toàn cho người tố cáo; xử lý nghiêm minh người có hành vi vi phạm pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình; b) Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo khi chưa có kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo; c) không tiếp nhận, không giải quyết tố cáo theo đúng quy định của pháp luật, thiếu trách nhiệm trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo hoặc giải quyết tố cáo trái pháp luật thì phải bị xử lý nghiêm minh; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm phối hợp với người giải quyết tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung tố cáo theo quy định của pháp luật; áp dụng các biện pháp bảo vệ người tố cáo theo thẩm quyền; xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật theo kết luận nội dung tố cáo; xử lý cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về tố cáo.
1.2.4 Xử phạt hành vi vi phạm pháp luật của các cá nhân, cơ sở chế biến thực phẩm
Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.
Biện pháp xử lí hành chính là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) trong lĩnh vực ATTP gồm có nhiều hoạt động vi phạm hành chính về ATTP như: vi phạm quy định về an toàn đối với sản phẩm thực phẩm; vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm ATTP trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm; vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm ATTP đối với thực phẩm nhập khẩu, thực phẩm xuất khẩu; vi phạm quy định về thông tin, giáo dục, truyền thông về ATTP; kiểm nghiệm thực phẩm; phân tích nguy cơ, phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về ATTP; truy xuất nguồn gốc, thu hồi và xử lý đối với thực phẩm không an toàn.
Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực ATTP là thuật ngữ pháp lý tuy rộng, nhưng cũng được dùng để chỉ việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực ATTP và các biện pháp khắc phục hậu quả. Theo tác giả: XLVPHC trong lĩnh vực ATTP là việc người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đổi với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực ATTP theo quy định của pháp luật.
Việc áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực ATTP do nhiều cơ quan, nhiều cá nhân có thẩm quyền thực hiện (ví dụ như: Chủ tịch UBND; Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành về ATTP và các lĩnh vực liên quan đến ATTP thuộc các ngành y tế, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công thương đang thi hành công vụ; Chánh thanh tra Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Công thương; Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp bộ thuộc các Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Công thương; Chánh Thanh tra Bộ Y tế, Chánh Thanh tra Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chánh Thanh tra Bộ Công thương, Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về ATTP…).
Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính bao gồm: Cảnh cáo; phạt tiền; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính (sau đây gọi chung là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính); trục xuất.
Xử lý hình sự được áp dụng đối với các đơn vị, tổ chức, cá nhân cố ý thực hiện các hành vi xâm phạm có danh mục chất cấm, thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trong chăn nuôi; Sử dụng chất cấm trong sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản thực phẩm hoặc bán, cung cấp thực phẩm mà biết rõ là thực phẩm có sử dụng chất cấm; Sử dụng các loại hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, chất xử lý cải tạo môi trường ngoài danh mục được phép sử dụng hoặc không rõ nguồn gốc xuất xứ hoặc không đúng quy định trong sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản thực phẩm trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, làm muối tạo ra dư lượng vượt ngưỡng cho phép trong sản phẩm; chế biến, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết rõ là thực phẩm không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm; sử dụng hóa chất, phụ gia, chất hỗ trợ chế biến ngoài danh mục được phép sử dụng hoặc không rõ nguồn gốc xuất xứ trong sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản thực phẩm.
1.2.5 Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an toàn thực phẩm
Vấn đề bảo đảm ATTP ngày nay không chỉ còn là vấn đề của mỗi quốc gia mà cần có sự phối hợp quốc tế, khu vực theo chiến lược thống nhất để triển khai các biện pháp nhằm mục tiêu giảm gánh nặng xã hội và y tế đối với ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm. Các biện pháp ATTP phải được các quốc gia cùng cam kết xây dựng và cùng phối hợp thực hiện thông qua các hoạt động hợp tác như: cảnh báo các nguy cơ; phân tích các mối nguy trong suốt chuỗi sản xuất thực phẩm… mới có thể đáp ứng có hiệu quả các thách thức toàn cầu của vấn đề ATTP.
Hiện nay WHO (Tổ chức Y tế thế giới) đã xây dựng các chiến lược ATTP đối với khu vực Tây Thái Bình Dương nhằm mục tiêu giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do ngộ độc thực phẩm gồm 10 nội dung đó là: Chính sách ATTP; Luật thực phẩm; thanh tra thực phẩm; phân tích ATTP; xây dựng hệ thống dịch tễ học; thiết lập mối quan hệ giữa công nghiệp thực phẩm và thương mại; thiết lập mối quan hệ giữa nhà cung cấp dịch vụ thực phẩm và người bán lẻ; thiết lập mối quan hệ với người tiêu dùng; giáo dục, truyền thông về ATTP; nghiên cứu về ATTP. Đến nay, Lào đã hợp tác lĩnh vực ATTP với FAO (thanh tra ATTP), xây dựng mô hình QL chất lượng, an toàn TP..hợp tác với Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, Canada….
Việc trở thành thành viên WTO sẽ đẩy mạnh thương mại và các quan hệ của Lào với các thành viên trong WTO. Việc gia nhập WTO sẽ cho phép Lào cải thiện vị trí của mình trong các cuộc đàm phán thương mại, có điều kiện tiếp cận tới các quy tắc công bằng và hiệu quả hơn cho việc giải quyết các tranh chấp thương mại. Bên cạnh những lợi ích và cơ hội thì Lào phải tuân theo các nguyên tắc bắt buộc của WTO. Liên quan đến lĩnh vực toàn thực phẩm có hai Hiệp định tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và giao lưu thương mại là Hiệp định về ATTP và kiểm dịch động thực vật (The WTO Agreement on the Application of Sanitary and Phytosanitary Measures) gọi tắt là Hiệp định SPS và Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (Technical Barier to Trade) gọi tắt là Hiệp định TBT.
Muốn thực hiện được các nội dung toàn cầu hoá như trên phải có tổ chức bộ máy hành chính quản lý chuyên ngành về ATTP.

Hình 1.1. Nội dung QLNN về ATTP
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
1.3.1 Cơ chế chính sách của nhà nước
Cơ chế chính sách của nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình thúc đẩy cải cách, nâng cao hiệu quả công việc của mỗi CBCC nói riêng và các cơ quan nói chung. Việc ban hành các hệ thống chính sách, chỉ tiêu chất lượng sản phẩm, các quy định về sản phẩm đạt chất lượng, xử lý nghiêm việc sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng, không bảo đảm an toàn vệ sinh, các chính sách ưu đãi cho đầu tư đổi mới công nghệ là những nhân tố hết sức quan trọng.
Các cơ quan, tổ chức không thể tồn tại một cách biệt lập mà luôn có mối quan hệ chặt chẽ và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, đặc biệt phải kể đến là cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước. Cơ chế quản lý vừa là môi trường, vừa là điều kiện cần thiết tác động đến phương hướng, tốc độ cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Trong quá trình quản lý, quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, nhà nước đặt ra những quy định (từ quy phạm pháp luật, chính sách, kế hoạch, chương trình đến những quy định cụ thể về tiêu chuẩn, điều kiện kỹ thuật…) để làm cơ sở, công cụ quản lý, vừa dựa vào đó để điều hành, quản lý xã hội, xử lý những vi phạm. Tất cả những quy định đó được gọi là thể chế QLNN.
Hệ thống pháp luật về ATTP là những quy định do các cơ quan QLNN liên quan đến lĩnh vực ATTP-lĩnh vực chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân đề ra để từ đó thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý trong lĩnh vực ATTP nhằm định hướng, điều chỉnh hành vi hoạt động của tổ chức, cá nhân và công dân vì sự ổn định và phát triển xã hội.
Song qua thực tiễn quản lý và qua sự biến đổi, phát triển của xã hội các cơ quan nhà nước lại đặt ra những quy định mới để làm cơ sở cho quản lý của các cơ quan nhà nước. Do vậy, thể chế QLNN trong lĩnh vực y tế nói chung, lĩnh vực ATTP nói riêng ngày càng được bổ sung về số lượng và chất lượng cùng với quá trình biến đổi và phát triển của xã hội và yêu cầu quản lý xã hội của nhà nước nhằm ổn định và phát triển xã hội vì lợi ích của nhà nước và lợi ích của nhân dân.
Thể chế QLNN trong lĩnh vực ATTP là hệ thống những quy định do nhà nước đặt ra gắn với nội dung QLNN về y tế (xét theo quy trình quản lý, theo lĩnh vực hoạt động ATTP..) liên quan đến cả chủ thể QLNN (các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước), chủ thể hoạt động trong lĩnh vực ATTP (tổ chức, cá nhân) và công dân (những người sản xuất, kinh doanh, chế biến và tiêu dùng). Ngoài ra, thể chế QLNN trong lĩnh vực ATTP còn bao gồm cả những quy định về chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ…liên quan đến hoạt động trong lĩnh vực ATTP như: quy định về điều kiện sản xuất, chế biến, kinh doanh, hệ thống kiểm nghiệm ATTP. Do vậy, thể chế QLNN trong lĩnh vực ATTP có nội dung rất rộng và được tiếp cận theo những góc độ khác nhau (theo nội dung QLNN về ATTP; theo chủ thể, khách thể, đối tượng quản lý.).
Mức độ hoàn thiện thể chế (hệ thống pháp luật) về lĩnh vực ATTP ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý đảm bảo ATTP. Nếu các quy định của nhà nước phù hợp thì công tác quản lý ATTP mang lại hiệu quả. Còn ngược sẽ không phát huy được tác dụng, gây thiệt hại cho nền kinh tế và ảnh hưởng đến đời sống nhân dân.
Các văn bản pháp luật đầy đủ, rõ ràng, minh bạch sẽ góp phần nâng cao hiệu lực QLNN về ATTP. Ngược lại, nếu hệ thống văn bản không đầy đủ, rõ ràng, không minh bạch sẽ gây khó khăn, làm giảm hiệu lực QLNN về ATTP.
1.3.2 Đội ngũ quản lý về an toàn thực phẩm
Thứ nhất, đội ngũ công chức quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
Con người luôn đóng vai trò then chốt, quyết định trong mọi hoạt động. Trong QLNN về ATTP cũng vậy, muốn thực hiện được hoạt động quản lý phải có nhân lực, để công tác QLNN về ATTP có hiệu quả thì nguồn nhân lực có đủ phẩm chất, chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng lãnh đạo, quản lý, công chức có năng lực…Năng lực của đội ngũ CBCC là một trong những điều kiện tiên quyết đảm bảo cho hoạt động QLNN diễn ra đạt kết quả tốt giúp vận hành và hoàn thành chức năng của mình.
Công chức làm công tác QLNN về ATTP là toàn bộ những người được phân công làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước về ATTP và trực tiếp theo dõi, chịu trách nhiệm đối với các hoạt động liên quan đến ATTP.
Trình độ của công chức làm công tác QLNN về ATTP được thể hiện thông qua bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn mà họ được đào tạo. Việc phân công nhiệm vụ phù hợp hay không phù hợp với chuyên môn được đào tạo cũng ảnh hưởng đến kết quả công việc được giao.
Ngoài ra ý thức trách nhiệm đối với công việc của người làm công tác QLNN về ATTP đóng vai trò quan trọng. Ngoài việc có chuyên môn thì ý thức trách nhiệm quyết định chính trong việc hoàn thành nhiệm vụ hay không và hoàn thành nhiệm vụ ở mức độ nào.
Một số chỉ tiêu thể hiện trình độ cán bộ làm công tác QLNN về ATTP: số lượng cán bộ; trình độ chuyên môn được đào tạo; kết quả công tác của mỗi cán bộ.
Bên cạnh đó, cơ sở vật chất, trang thiết bị chính là phương tiện để người thực thi hoạt động và đảm bảo hay không đảm bảo cho người thực thi nhiệm vụ QLNN về ATTP hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Khác với các lĩnh vực khác, quản lý về ATTP muốn có hiệu quả đòi hỏi CBCC phải có kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ sâu nếu không sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý.
Như vậy, đội ngũ CBCC làm nhiệm vụ QLNN về ATTP là một yếu tố ảnh hưởng lớn đến lĩnh vực quản lý. Khi sử dụng yếu tố con người hợp lý với năng lực, sở trường với chuyên môn của họ thì mới đạt được mục đích và nâng cao kết quả trong công việc nói chung và trong QLNN về ATTP nói riêng.
Thứ hai, đối tượng quản lỷ
Một yếu tố quan trọng khác là đối tượng quản lý và hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm của doanh nghiệp. Hiện nay, bên cạnh đối tượng sản xuất, kinh doanh thực phẩm chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật thì vẫn còn những đối tượng vì nhiều lý do khác nhau đã đưa ra sản phẩm thực phẩm kém chất lượng, không an toàn. Để bảo đảm ATTP, trách nhiệm của doanh nghiệp là phải thực sự quan tâm đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Để thực hiện điều này, đòi hỏi doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược, mục tiêu kinh doanh, đạo đức kinh doanh rõ ràng và xác định văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó lập kế hoạch triển khai các hoạt động nhằm hướng đến mục tiêu cuối cùng là đưa đến tay người dân sản phẩm thực phẩm an toàn.
1.3.3 Yếu tố dân số, văn hóa – xã hội
Sự bùng nổ dân số cùng với đô thị hóa nhanh dẫn đến thay đổi thói quen ăn uống của nhân dân, thúc đẩy phát triển dịch vụ ăn uống sẵn tràn lan, khó có thể đảm bảo được ATTP. Thực phẩm chế biến ngày càng nhiều, hàng quán bán thức ăn sẵn ngày càng gia tăng.là nguy cơ dẫn đến hàng loạt vụ ngộ độc thực phẩm. Gia tăng dân số kết hợp với ý thức, trình độ của người dân. Nếu người dân có trình độ học vấn cao, nhận thức cao, triển khai thực thi pháp luật dễ thành công và như vậy công tác QLNN về ATTP sẽ đạt kết quả cao. Nếu dân số gia tăng với tỷ lệ ý thức về bảo đảm ATTP trong cộng đồng kém là trở ngại lớn cho các CQQLNN trong việc bảo đảm ATTP.
Bên cạnh đó, mức độ ủng hộ của xã hội có tác động đến hiệu quả QLNN đối với ATTP, sự ủng hộ, đồng lòng của người dân giúp các cơ quan QLNN về ATTP làm việc hiệu quả hơn. Yếu tố văn hóa trong việc chấp hành pháp luật, Tham gia xây dựng pháp luật, tính thượng tôn chấp hành pháp luật của người dân ảnh hưởng, tác động không nhỏ hoạt động QLNN của các cơ quan QLNN về ATTP.
Văn hóa – xã hội là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng đến vấn đề bảo đảm ATTP. Truyền thống sản xuất, kinh doanh, sử dụng thực phẩm từ quá khứ cũng ảnh hưởng ít nhiều đến công tác quản lý về ATTP như việc kinh doanh hàng rong nhỏ lẻ, các chợ truyền thống, sản xuất theo kinh nghiệm truyền từ ông bà…. Các loại hình sản xuất, kinh doanh kể trên trong thời đại phát triển ngày nay một số vẫn còn mang những nét đặc trưng, góp phần vào sự đa dạng nền văn hóa tuy nhiên với góc độ ATTP và bảo đảm sức khỏe của người dân hiện nay thì một số đã trở thành thách thức cho nhà quản lý.
Ngoài ra, một yếu tố khác là do việc nhận thức của xã hội về ATTP chưa cao. Người tiêu dùng không thấy được mức độ nguy hiểm của các loại thực phẩm không đủ tiêu chuẩn và vẫn sử dụng các loại thực phẩm này do giá rẻ, thuận tiện do đó đã tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất thực phẩm kém chất lượng, sử dụng nhiều chất bảo quản, phụ gia điều này gây ra các mối nguy ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Văn hóa xã hội có thể được thay đổi theo thời gian, ngày càng được làm giàu thêm và mang lại cho xã hội một bản sắc riêng. Vì vậy, trách nhiệm của các nhà quản lý ATTP là phải xây dựng, duy trì, phát triển nền văn hóa xã hội theo hướng có lợi cho người dân và xã hội.
Để quản lý hiệu quả công tác ATTP các nhà quản lý cần phải nắm được tình hình, thực trạng vấn đề thực phẩm chính xác kịp thời muốn vậy phải có thông tin từ tất cả các nguồn như xã hội, đối tượng quản lý và từ quốc tế. Nhà quản lý về ATTP đưa ra thông tin điều khiển dưới các quyết định quản lý như: mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định. kèm theo đó là bảo đảm vật chất để đối tượng quản lý có thể thực hiện. Đối tượng sản xuất, kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng muốn định hướng các hoạt động của mình trong việc bảo đảm ATTP phải tiếp nhận thông tin điều khiển, định hướng của nhà quản lý cùng với bảo đảm vật chất để chọn cách xử sự và điều chỉnh bản thân nhằm thực hiện chính xác mệnh lệnh quản lý. Do đó thông tin là yếu tố luôn gắn liền với hoạt động quản lý và là cầu nối giữa nhà quản lý với đối tượng quản lý.
- Sự phối hợp của cơ quan quản lý nhà nước
Liên kết, phối kết hợp là cùng nhau làm việc theo một kế hoạch chung để đạt mục đích chung. Đó là một trong những kỹ năng quan trọng của nhà quản lý. Bởi lẽ mỗi người, mỗi đơn vị chỉ có thời gian, năng lực để làm một lĩnh vực nào đó, không thể bao quát tất cả các lĩnh vực. Cơ quan y tế trong lĩnh vực ATTP là cơ quan thường trực, đầu mối của Ban chỉ đạo liên ngành về ATTP. Vì vậy giữa cơ quan QLNN về ATTP với các cơ quan liên quan cần có sự phối hợp với nhau để việc đảm bảo ATTP đạt được kết quả tốt, thông qua các cuộc thanh tra liên ngành được tổ chức thường xuyên, liên tục vào các dịp cao điểm trong năm như: Tết Nguyên đán, tháng hành động vì chất lượng vệ sinh ATTP, tết Trung thu hay thanh tra theo chuyên đề. Phối kết hợp trong các hoạt động thanh tra, kiểm tra, tuyên truyền, đào tạo, nghiên cứu khoa học hay trong hoạt động kiểm nghiệm. Thường xuyên duy trì phối hợp với các cơ quan thông tin như: Đài, báo, truyền hình đưa tin các hoạt động của cơ quan QLNN về ATTP, qua đó tuyên truyền, hướng dẫn việc thực hiện các quy định của pháp luật.
1.3.6 Hợp tác quốc tế
Vấn đề tự do hoá thương mại trong hội nhập kinh tế quốc tế là một nhu cầu thiết yếu đối với các quốc gia. Trong quá trình hội nhập kinh tế, quốc tế, lương thực, thực phẩm là một trong những mặt hàng thiết yếu để xuất khẩu. Để các mặt hàng thực phẩm của Việt Nam có mặt trên thị trường quốc tế và góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần xây dựng và tổ chức thực hiện các quy định, tiêu chuẩn về ATTP phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Hiện nay khối lượng thực phẩm nhập khẩu tăng lên, chủng loại thực phẩm đa dạng hơn nên việc QLNN đối với ATTP là vấn đề phức tạp. Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan nhà nước thường xuyên tăng cường việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm; có hình thức xử lý đơn vị, cá nhân vi phạm ATTP.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Quản lý nhà nước về ATTP là một hình thức hoạt động của Nhà nước, do các chủ thể có thẩm quyền (trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền) thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật trong lĩnh vực ATTP, góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các công dân, cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực ATTP.
Chương này, tác giả đã đưa ra khái niệm về ATTP, QLNN, QLNN về ATTP; nghiên cứu đặc điểm, vai trò; nguyên tắc QLNN về ATTP. Quản lý nhà nước về ATTP có đặc thù khác với các dạng QLNN khác ở chỗ: Các cơ quan quản lý dựa trên các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật để ban hành các quyết định quản lý cho phù hợp. Trong quá trình quản lý, các CQQLNN thực hiện QLNN về ATTP với các nội dung sau: Xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật; tổ chức thực hiện pháp luật về ATTP; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các cơ sở vi phạm; Xử phạt hành vi vi phạm pháp luật của các cá nhân, tổ chức vi phạm.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM TẠI TỈNH SALAVAN, NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
2.1 ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA TỈNH SALAVAN
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Salavan
Salavan là một tỉnh nằm ở vùng Đông Nam của nước CHDCND Lào, có diện tích 10.6891 km2 , nằm trên kinh tuyến 1030C-1050C. Phía Đông Nam tỉnh Salavan giáp với tỉnh Sekong (Lào) và tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế (Việt Nam), với tổng chiều dài biên giới là 200km. Phía Tây giáp với tỉnh Ubôn, Vương quốc Thái Lan, với chiều dài biên giới là 90km. Phía Nam giáp với tỉnh Chăm Pa Săc (Lào) với chiều dài ranh giới là 175km. Phía Bắc, giáp tỉnh Sa Văn Na khệt (Lào) với chiều dài ranh giới là 275 km.
Về địa lý và địa hình, tỉnh Salavan có thể được chia thành 3 vùng như sau:
+ Vùng miền núi, gồm 2 huyện (Tạ Ổi, Sa Muội), chiếm tới 40% diện tích toàn tỉnh. Vùng này thích hợp với việc trồng cây công nghiệp và chăn nuôi gia súc.
+ Vùng cao nguyên (cao nguyên Bo La Vên) thuộc huyện Lao Ngam và một phần của các huyện lân cận (Salavan, Va Pi và Khong Se Đon), chiếm tới 20% diện tích cả tỉnh, diện tích vùng này tương đối bằng và thích hợp với sản xuất nông nghiệp.
+ Vùng đồng bằng gồm 5 huyện (Salavan, Va Pi, La Khon Pheng, Không Xe Đôn và Tum Lan), chiếm tới 40% diện tích cả tỉnh, vùng này nằm dọc bờ sông Xe Đon, thích hợp với việc sản xuất lúa, trồng cây lương thực.
+ Về tài nguyền đất đai
Tỉnh Salavan, có tổng diện tích đất tự nhiên năm (2013) là 1.069.100ha. Trong đó, diện tích đất lâm nghiệp là 878.140ha, đất nông nghiệp là 155.751ha, đất đồng cỏ là 10.892 ha, đất thổ cư là 3.194 ha, mặt nước là 1.220ha và các loại đất khác là 18.800ha. Trong đó, đất nông nghiệp là chủ yếu và được chia thành 5 đất loại: Đất trồng lúa nước chiếm diện tích là 67.800ha, đất trồng lúa nương là 4.500ha, đất trồng cây công nghiệp gồm: đất trồng cà phê là 17.126ha, trồng sa nhân là 1.524ha, đất trồng cây lương thực khác là 58.209ha. Năm 2012, bình quân đất nông nghiệp tính cho 1 hộ nông nghiệp là 3,8ha, 1 nhân khẩu nông nghiệp là 0,65ha.
+ Về tài nguyên rừng
Rừng là tiềm năng, thế mạnh kinh tế của tỉnh Salavan. Diện tích rừng già 707.400ha chiếm 66%. Tổng diện tích của tỉnh diện tích rừng non là 256.300ha, chiếm 24%, diện tích rừng hỗn hợp là 4.900ha, chiếm 0,46% của tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh. Ngoài rừng tự nhiên, tỉnh còn có là 5.573ha rừng trồng và được giao quyền quản lý bảo tồn rừng quốc gia. Cụ thể, rừng bảo tồn Xê Sặp có diện tích là 59.785ha, diện tích rừng Xê Bằng Nuôn là 18.740ha, rừng Phu Xiêng Thong là 71.844ha và rừng Xê Xết có diện tích là 15.500ha . Ngoài ra, còn có rừng bảo tồn của tỉnh, rừng bảo vệ nguồn nước và các loại thảm thực vật phong phú, chiếm 30% diện tích tài nguyên rừng. Trong thời gian qua, nhiều loại tài nguyên rừng đã trở thành hàng hoá và tạo ra nguồn thu rất quan trọng cho tỉnh.
+ Về tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản của tỉnh Salavan là yếu tố quan trọng, có thể khai thác phục vụ phát triển công nghiệp trong tương lai, tạo sự thu hút các nhà doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vốn phát triển sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá. Trên địa bàn của tỉnh có nhiều khoáng sản quy như mỏ đất cao lanh, núi đá, mỏ than, mỏ sắt, kính đá đen, khí ga tự nhiên và các loại mỏ khác, chưa được khảo sát xác định trữ lượng. Những loại khoáng sản trên nếu được khai thác sử dụng tốt sẽ tạo ra thế mạnh to lớn cho việc phát triển kinh tế tỉnh.
+ Về tài nguyên nước
Tỉnh Salavan có 30 con sông lớn và 130 suối to, nhỏ, có vị trí rất quan trọng đối với tỉnh. Phần lớn, các con sông và khe suối này đều bắt nguồn từ khu vực cao nguyên và miền núi, có độ dốc cao, đổ xuống đồng bằng, qua sông Xê Đôn và đổ về sông Me Kông. Ngoài ra, tỉnh còn có nhiều ao, hồ, đầm và mạch nước ngầm. Nước bề mặt rất phong phú, chưa bị ô nhiễm chất độc hại do canh tác và sự tàn phá của chiến tranh thời xưa để lại. Vì vậy,nguồn tài nguyên nước rất thích hợp cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn như thuỷ lợi, đập giữ nước, đập tràn, thả cá, công trình thuỷ điện…
+ Về tiềm năng du lịch
Tỉnh Salavan có nhiều tiềm năng lợi thế về cảnh quan tự nhiên tươi đẹp và phong phú, có nhiều thác, sông, suối, đã trở thành khu vực du lịch nổi tiếng chẳng hạn, Thác Tạt Lọ, thác Tạt Hăng, thác Keng Ku, thác Tạt Keng Khong… Ngoài ra, Salavan còn có khu di tích lịch sử, văn hoá cổ truyền và chứng tích chiến tranh như tượng Ka Đau Thực, hang động Chín Cửa, núi Phơi Lúa, núi Tương Tinh, đường mòn lịch sử của 3 nước Đông Dương (đường mòn Hồ Chí Minh). Những tài nguyên này cùng phong tục tập quán lành mạnh của các bộ tộc Lào… là điều kiện thuận lợi để phát triển thành khu du lịch thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, tạo thêm nguồn thu nhập cho tỉnh và bảo vệ môi trường bền vững.
2.1.2 Điều kiện kinh tế của tỉnh Salavan
Cơ cấu kinh tế của tỉnh trong thời gian vừa qua cũng thay đổi nhiều. Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông – lâm nghiệp, còn các lĩnh vực khác chỉ mới phát triển bước đầu.
Sau nhiều năm phấn đấu thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ X (2016 – 2020) và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Nhịp độ tăng GDP bình quân giai đoạn 2016 – 2020 đạt 7,84%/năm.
Bảng 2.1: Nhịp độ tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2016 – 2020
| Chỉ tiêu | 2016 | 2017 | 2018 | 2019 | 2020 |
| Mức tăng trưởng hàng năm (%) | 9,4 | 8,5 | 7,6 | 7,5 | 6,2 |
| GDP bình quân đầu người (USD/người) | 910 | 935 | 1010 | 1019 | 1063 |
(Nguồn: Niêm giám thống kê tỉnh Salavan từ năm 2016 – 2020)
Bảng 2.1 cho thấy GDP quân đầu người trong năm 2016 đạt 910 USD/người/năm, đến năm 2020 đạt tới 1063USD/1người/năm. Điều đó cho thấy mức sống của người dân trong tỉnh được cải thiện. Kinh tế của Tỉnh có nhiều phát triển vượt bậc.
Bảng 2.2: Cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Salavan giai đoạn 2016 – 2020
Đơn vị: %
| Ngành, lĩnh vực | 2016 | 2017 | 2018 | 2019 | 2020 |
| Nông – Lâm nghiệp | 51,8 | 49,4 | 47,1 | 43,8 | 41,3 |
| Công nghiệp | 29,4 | 31,4 | 33,6 | 35,8 | 36,8 |
| Dịch vụ | 18,9 | 19,2 | 19,3 | 20,5 | 21,9 |
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Salavan
Nông – Lâm nghiệp vẫn là ngành kinh tế chính của Tỉnh. Tuy nhiên, trong những năm gần đây cơ cấu ngành Công nghiệp và dịch vụ cũng tăng trưởng qua các năm.
2.1.3 Điều kiện xã hội của tỉnh Salavan
Dân số của tỉnh năm 2015 là 350.000 người (nữ 220.000 người). Tỷ lệ tăng dân số bình quân 3%/ năm, tăng so với năm 2010 là 12,88%. Số dân được phân bố sinh sống ở 8 huyện và 606 làng. Có 2 dân tộc lớn Lào Lùm và Lào Thâng, có 10 dân tộc nhỏ: là Lào, Catang, Xuòi, Pacô, Lạvên, Taổi, Phuthai, Cađô, Nghệ, Alắc. Trong đó, chiếm tỷ lệ nhiều nhất là bộ tộc Laolùm (67%). Các bộ tộc trên có phong tục tập quán và tiếng nói khác nhau, phần lớn là theo Đạo phật và Balamôn.
Về văn hoá, tỉnh Salavan đã phát huy, bảo tồn các di sản văn hoá truyền thống của nhân dân các bộ tộc, như tổ chức các hoạt động văn hoá nghệ thuật trong những ngày lễ lớn. Những nét đặc sắc văn hoá truyền thống của địa phương đã được phát huy và càng tiến bộ hơn như: Lăm SaLaVan, LămPhuthai và LămKaTang. Tỉnh Salavan là một trong những địa phương có văn hoá truyền thống phong phú.
Về giáo dục, trong thời gian qua việc giáo dục đã có nhiều thay đổi, hệ thống giáo dục đã phát triển đến vùng sâu, vùng xa. Hiện nay, toàn tỉnh có 150 trường mầm non, tổng số giáo viên 320 người, có số học sinh học là 6.760 người, nữ 3.800 người, tỷ lệ vào học 35%, toàn tỉnh có 850 trường tiểu học, tổng số giáo viên 1.960 người, tổng số học sinh 90.760 người, nữ 53.000 người, tỷ lệ vào học 90%. Toàn tỉnh có 80 trường phổ thông cơ sở, tổng số giáo viên 1.890 người, tổng số học sinh 35.670 người, nữ 18.400 người, tỷ lệ vào học 95%.
2.1.4 Thực trạng an toàn thực phẩm tại Tỉnh Salavan
Salavan đang là tỉnh có tốc độ tăng trưởng nhanh, các hoạt động giao thương kinh tế diễn ra nhộn nhịp, nhu cầu về thực phẩm rất lớn. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến thực phẩm tỉnh tỉnh Salavan không ngừng tăng lên. Theo báo cáo của Chi cục an tòa vệ sinh thực phẩm tỉnh Salavan, trong năm 2020 toàn tỉnh có 12.043 cơ sở sản xuất, chế biến kinh doanh thực phẩm. An toàn thực phẩn là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội tại tỉnh Salavan. Theo thống kê, mỗi ngày nhu cầu thịt lợn của người dân là 500-700 tấn thịt các loại (heo, bò, gia cầm,..). Ngoài ra thực phẩm đông lạnh nhập khẩu khoảng 56.000 tấn/năm, nhu cầu tiêu thụ rau là 500.000 tấn/năm, thủy sản là 60.000 tấn/năm.
Tỉnh Salavan hiện đang có 98 chợ truyền thống chuyên kinh doanh thực phẩm ăn uống. Hiện thực phẩm sản xuất tại tỉnh chỉ đáp ứng khoảng 60% – 65% nhu cầu, còn lại phải nhập từ nhiều nguồn trong và ngoài nước, vì vậy việc quản lý và truy xuất nguồn gốc thực phẩm đang gặp nhiều khó khăn. Việc sử dụng hóa chất, phụ gia trong thực phẩm vẫn còn tồn tại. Trong năm 2020, theo báo cáo kết quả kiểm tra của Ban chỉ đạo liên ngành ATTP Tỉnh Salavan đã kiểm tra 296 cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ăn uống trong các dịp lễ, tết, tháng hành động vì VSATTP, Bếp ăn tập thể phát hiện 77 cơ sở vi phạm các quy định về VSATTP, lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính đối với 46 cơ sở, với số tiền 70 triệu kịp. Trong 5 năm từ 2016 đến 2020 trên địa bàn Tỉnh Salavan xảy ra 3 vụ ngộ độc từ các cơ sở ăn uống và bếp ăn tập thể.
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ATTP
Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại Tỉnh Salavan Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại Tỉnh Salavan Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại Tỉnh Salavan Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại Tỉnh Salavan Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại Tỉnh Salavan Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại Tỉnh Salavan Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại Tỉnh Salavan Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại Tỉnh Salavan


