Quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước địa phương trên địa bàn tỉnh Savannakhet
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hạ tầng giao thông là yếu tố cơ bản để phát triển kinh tế. Hệ thống giao thông vận tải được ví như mạch máu trong cơ thể nền kinh tế của mỗi quốc gia muốn phát triển ổn định thì vấn đề phát triển mạng lưới giao thông vận tải có ý nghĩa quan trọng. Những năm qua, mạng lưới giao thông vận tải tại nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào đã có sự phát triển vượt bậc, sân bay, đường tàu cao tốc,.. là những yếu tố căn bản giúp Lào từ quốc gia không có đường biên giới trên biển có thể kết nối giao thương chặt chẽ với các nước trong khu vực và thế giới.
Tỉnh Savannakhet là một trong những trung tâm kinh tế lớn nằm ở miền Trung nước CHDCND Lào, có vị trí quan trọng trên tuyến giao thương Hành lang kinh tế Đông Tây. Chính quyền tỉnh Savannakhet qua các nhiệm kỳ đều coi phát triển hạ tầng giao thông đường bộ là nhiệm vụ quan trọng song hành với phát triển kinh tế – xã hội. Trong những năm qua, hạ tầng giao thông đường bộ tỉnh Savannakhet đã có sự phát triển đáng kể, hệ thống giao thông không ngừng được xây dựng, nâng cấp, mở rộng đã kéo các tỉnh thành trong khu vực xích lại gần nhau hơn. Tăng cường kết nối giao thương với các nước Việt Nam, Thái Lan, Myanma. Là trung tâm logistic, vận chuyển hàng hóa của Lào. Kết quả đạt được về phát triển hạ tầng giao thông đường bộ (GTĐB) những năm qua ở Savannakhet đã hình thành mạng lưới giao thông gắn kết giữa giao thông quốc gia và giao thông địa phương.

Hình 1 Bản đồ tỉnh Savannakhet
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng GTĐB từ ngân sách địa phương tại tỉnh Savannakhet còn những bất cập. Một mặt, về phía vĩ mô hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách còn chồng chéo, thiếu đồng bộ. Mặt khác, ở cấp tỉnh tuy được phân cấp mạnh về quản lý đối với đầu tư xây dựng (ĐTXD) hạ tầng GTĐB từ ngân sách địa phương. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện đang bộc lộ những bất cập về cơ chế phối hợp trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch, quản lý, giám sát, phân bổ nguồn lực… dẫn đến những sai sót, lãng phí, thất thoát, kể cả lợi dụng bất cập trong quản lý để trục lợi cá nhân… làm suy giảm chất lượng các công trình, dự án, làm giảm hiệu lực và hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về hạ tầng GTĐB từ ngân sách địa phương. Từ thực tế đó, vấn đề “Quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước địa phương trên địa bàn tỉnh Savannakhet, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” được học viên lựa chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ ngành Quản lý kinh tế.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Luận văn tập trung nghiên cứu những cơ sở lý luận, thực trạng và đề xuất giải pháp góp phần nâng cao công tác quản lý về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ bằng ngân sách nhà nước địa phương trên địa bàn tỉnh Savannakhet, nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào.
2.2 Mục tiêu cụ thể
– Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ bằng ngân sách nhà nước.
– Phân tích thực trạng Quản lý về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ bằng ngân sách nhà nước địa phương trên địa bàn tỉnh Savannakhet.
– Đề xuất giải pháp góp phần nâng cao công tác quản lý về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ bằng ngân sách nhà nước địa phương trên địa bàn tỉnh Savannakhet, nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác quản lý về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ bằng ngân sách nhà nước địa phương trên địa bàn tỉnh Savannakhet, nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
– Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ bằng nguồn vốn địa phương (nguồn ngân sách nhà nước cấp tỉnh).
– Về thời gian: Các dữ liệu đánh giá thực trạng sử dụng từ năm 2017 – 2021. Giải pháp đề xuất tới năm 2025.
– Về không gian: Luận văn nghiên cứu các nội dung trên trong phạm vi tỉnh Savannakhet.
4. Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp thông tin thứ cấp
Luận văn sử dụng thông tin số liệu thứ cấp bao gồm:
– Thu thập từ các nguồn các sách giáo trình, sách tham khảo, chuyên khảo, tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước, các bài viết đăng trên báo hoặc các tạp chí khoa học chuyên ngành có liên quan đến nội dung của đề tài.
– Số liệu thứ cấp được thu thập từ các tài liệu, số liệu từ niên giám thống kê của tỉnh và của nước CHDCND Lào.
– Số liệu từ các tài liệu, các báo cáo tổng hợp tình hình về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ nguồn ngân sách địa phương và quản lý nhà nước về công tác này trên địa bàn tỉnh Savannakhet – CHDCND Lào trong các năm từ 2017 – 2021.
– Các nguồn thông tin khác có liên quan được thu thập từ các văn bản pháp quy, báo chí và tạp chí nghiên cứu khoa học.
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh các dữ liệu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của luận văn, tác giả sẽ sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh. Trong đó, luận văn sử dụng phương pháp phân tích số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, đánh giá mức độ thực hiện các nội dung quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ. So sánh diễn biến và sự biến đổi của đối tượng cần nghiên cứu theo thời gian. Trên cơ sở đó tổng hợp các kết quả nghiên cứu để rút ra các đánh giá, nhận xét về những ưu điểm, hạn chế, tạo cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp có tính khả thi theo mục tiêu đã xác định của luận văn.
+ Phương pháp khảo sát điều tra
Luận văn còn sử dụng các dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn, điều tra trực tiếp cán bộ làm công tác quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ nguồn ngân sách địa phương trên địa bản tỉnh nhằm cung cấp thêm thông tin và cơ sở để đánh giá toàn diện hơn vấn đề nghiên cứu.
Đối tượng phỏng vấn là những cán bộ quản lý, công chức liên quan đến công tác quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ nguồn ngân sách địa phương tại tỉnh Savannakhet.
5. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu

6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn trình bày trong ba chương:
– Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước.
– Chương 2: Thực trạng Quản lý về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước địa phương trên địa bàn tỉnh Savannakhet.
– Chương 3: Hoàn thiện công tác quản lý về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước địa phương trên địa bàn tỉnh Savannakhet, nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 KHÁT QUÁT VỀ QUẢN LÝ TƯ XÂY DỰNG HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ BẰNG NGUỒN VỐN NSNN
1.1.1 Các khái niệm
a. Đầu tư
Hiện nay, có nhiều khái niệm về đầu tư tùy theo góc độ và cách tiếp cận khác nhau. Đầu tư, theo nghĩa chung nhất, có thể hiểu là việc chi phí các nguồn lực của nhà đầu tư nhằm thu được kết quả lớn hơn các chi phí về nguồn lực bỏ ra. [10]
Khái niệm thường dùng: đầu tư là quá trình sử dụng vốn hoặc các nguồn lực khác nhau nhằm đạt được mục tiêu hoặc kết quả nhất định. Còn đứng trên góc độ tài sản, đầu tư là quá trình bỏ vốn để tạo ra tiềm lực sản xuất kinh doanh dưới hình thức các tài sản kinh doanh. Hoặc đứng trên góc độ xây dựng, đầu tư xây dựng là quá trình bỏ vốn nhằm tạo ra các tài sản vật chất dưới dạng các công trình xây dựng. [10]
Các tác giả của cuốn “Giáo trình Kinh tế đầu tư” của Trường Đại học Kinh tế quốc dân đã đưa ra một khái niệm tương đối khái quát về đầu tư: “Đầu tư là quá trình sử dụng phối hợp các nguồn lực trong một khoảng thời gian xác định nhằm đạt được kết quả hoặc tập hợp các mục tiêu xác định trong điều kiện kinh tế – xã hội nhất định” [12].
Bùi Việt Hưng (2019) “Đầu tư là nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản nhằm tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật pháp về đầu tư với mục đích thu được kết quả lớn hơn các chi phí đã bỏ ra hoặc phát triển lợi ích công cộng”. [4]
b. Đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ bằng nguồn vốn NSNN
Đường bộ: là đường đi trên đất liền (cho người và xe cộ). Hệ thống giao thông đường bộ là tập hợp các con đường trên đất liền có chức năng đảm bảo cho người và các phương tiện giao thông – vận tải thực hiện việc di chuyển người, hàng hoá, đồ vật từ nơi này đến nơi khác.
Hệ thống GTĐB của một địa phương, của một nước luôn là một hệ thống mở (nối liền với các hệ thống khác) và được hoàn thiện, phát triển không ngừng. Như vậy, thực chất phát triển hệ thống GTĐB là phát triển hệ thống đường đi trên đất liền của mỗi quốc gia. Cũng như nhiều lĩnh vực khác, GTĐB là một bộ phận cấu thành hữu cơ, một phân hệ của hệ thống giao thông nói chung – tức là nó mang tính hệ thống rõ rệt.
Các công trình hạ tầng giao thông đường bộ là một bộ phận của kết cấu hạ tầng kinh tế. Do đó, đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ là một bộ phận trong đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế nhằm tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế – xã nội. Vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ là những chi phí xây dựng mới, mở rộng, nâng cấp, duy tu bảo dưỡng hạ tầng giao thông đường bộ. Nguồn vốn đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ bao gồm nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài.
Nguồn vốn trong nước bao gồm vốn nhà nước, vốn của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, vốn trên thị trường vốn. Vốn bên ngoài bao gồm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay thương mại nước ngoài, và vốn trên thị trường vốn quốc tế. Như vậy, vốn đầu tư của nhà nước chỉ là một bộ phận trong tổng số vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ. Tuy nhiên, nó là bộ phận chủ yếu, có vai trò đặc biệt quan trọng trong xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ tại nước CHDCND Lào.
Ngân sách nhà nước (NSNN) là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ bằng vốn NSNN là quá trình Nhà nước bỏ vốn từ ngân sách (toàn bộ hoặc một phần giá trị đầu tư) để tiến hành các hoạt động xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ nhằm tạo điều kiện cần thiết cho phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH).
Căn cứ theo phân cấp quản lý NSNN, vốn đầu tư từ NSNN cho phát triển hạ tầng giao thông đường bộ được phân thành: vốn đầu tư từ ngân sách Trung ương và vốn đầu tư từ ngân sách địa phương. Vốn đầu tư từ ngân sách Trung ương, được đầu tư vào các dự án đáp ứng yêu cầu phát triển của toàn bộ nền kinh tế, của xã hội, nói chung là phục vụ lợi ích quốc gia. Vốn đầu tư từ ngân sách địa phương được hình thành từ các khoản thu của ngân sách địa phương, được đầu tư cho các dự án thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương theo phân cấp và phục vụ lợi ích của địa phương.
c. Khái niệm quản lý về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ nguồn vốn NSNN
Quản lý theo nghĩa chung nhất, là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý để điều khiển đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích đề ra.
“Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước về kinh tế được hiểu như là hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (chính phủ).” [8]
Theo các tác giả của cuốn “Quản lý nhà nước về kinh tế” (Giáo trình sau đại học) của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, “Quản lý nhà nước về kinh tế được hiểu như là hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (chính phủ). Theo nghĩa này quản lý nhà nước về kinh tế được gọi là quản lý hành chính – kinh tế” [11].
“Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng GTĐB từ NSNN là việc Nhà nước sử dụng các công cụ chính sách tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng vào các chủ thể, đối tượng tham gia trong quá trình tạo ra sản phẩm đầu tư xây dựng là các công trình hạ tầng GTĐB thuộc cấp tỉnh quản lý”.[7].
Quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ NSNN địa phương là sự tác động, điều khiển có mục đích của chủ thể quản lý (cơ quan quản lý Nhà nước cấp tỉnh) đối với đối tượng quản lý thông qua luật pháp, chính sách và các quy định của nhà nước nhằm sử dụng có hiệu quả nhất vốn NSNN đầu tư cho phát triển hạ tầng giao thông đường bộ để đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH.
Từ các khái niệm trên, tác giả luận văn xác định quan điểm về quản lý ĐTXD GTĐB từ nguồn vốn ngân sách địa phương như sau:
Thứ nhất: Chủ thế quản lý về ĐTXD GTĐB từ nguồn vốn ngân sách địa phương là cơ quan cấp tỉnh đó là HĐND, UBND tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng, Sở Giao thông Vận tải, Sở Tài chính, Kho bạc Nhà nước, Thanh tra tỉnh…
Thứ hai: Đối tượng quản lý là các chủ thể thực hiện các hoạt động liên quan đến ĐTXD GTĐB sử dụng vốn ngân sách địa phương Các chủ thể đó bao gồm: Chủ đầu tư, nhà thầu tư vấn, nhà thầu thi công xây dựng..
Thứ ba: Phương thức quản lý ĐTXD GTĐB từ nguồn vốn địa phương được thực hiện thông qua các công cụ quản lý (khung khổ pháp luật, văn bản, chính sách, quy trình quy phạm kỹ thuật…) trên cơ sở sử dụng, bố trí đội ngũ cán bộ giám sát, kiểm tra, kiểm soát hoạt động ĐTXD GTĐB từ nguồn vốn địa phương.
1.1.2 Đặc điểm của đầu tư xây dựng giao thông đường bộ bằng NSNN
Đầu tư xây dựng GTĐB thực chất là một hoạt động đầu tư công trong lĩnh vực giao thông vận tải do đó có những đặc điểm sau đây:
a. Quá trình đầu tư xây dựng GTĐB thường sử dụng nguồn vốn lớn, thời gian kéo dài
Các công trình GTĐB khi đầu tư xây dựng phải qua rất nhiều công đoạn: khảo sát, thiết kế, lập dự án… đồng thời không gian đầu tư kéo dài qua nhiều địa điểm, khu vực có điều kiện địa hình, địa chất khó khăn, thuận lợi khác nhau (sông, hồ, suối…) qua các khu dân cư phải đền bù, giải phóng mặt bằng… do đó cần nhiều thời gian để xử lý kỹ thuật, trình phương án… Vấn đề đảm bảo lợi ích của dân cư trong bối cảnh nền kinh tế thị trường.
Các hoạt động đầu tư xây dựng sử dụng nguồn NSNN phải tuân thủ quy hoạch, chủ trương, quá trình cấp phát vốn và có hạn mức nhất định. Vì nguồn vốn đầu tư xây dựng GTĐB thường lớn nên cũng cần có thời gian huy động vốn từ thuế hoặc các nguồn tài trợ. Từ đặc điểm đó đặt ra cần phải có các chính sách, giải pháp nhằm huy động vốn hợp lý; xây dựng quy hoạch và kế hoạch đầu tư đúng đắn; có biện pháp quản lý chặt chẽ nguồn vốn đầu tư, bố trí và sử dụng vốn đầu tư đúng mục đích theo tiến độ đầu tư, không để tồn đọng vốn đầu tư gây lãng phí nguồn lực; thực hiện đầu tư phải trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải, kéo dài gây thất thoát vốn đầu tư. Nếu thấy cần thiết thì phải tiến hành phân kỳ đầu tư hợp lý, bố trí vốn và các nguồn lực để tập trung hoàn thành dứt điểm các hạng mục công trình cần thiết trước để đưa vào khai thác sử dụng.
b. Kết quả của đầu tư xây dựng giao thông đường bộ là động lực phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương được xây dựng
Công trình GTĐB quốc gia đi qua nhiều tỉnh, thành phố. Công trình giao thông cấp tỉnh kết nối với giao thông quốc gia và kết nối các huyện trong tỉnh có các điều kiện tự nhiên kinh tế – xã hội khác nhau. Một mặt, khi hình thành đường giao thông sẽ là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế liên quan đến vấn đề lợi ích người dân và địa phương. Xây dựng hệ thống giao thông đường bộ đồng bộ, hiện đại sẽ tạo điều kiện và góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Nguồn lực dành cho đầu tư xây dựng GTĐB có giới hạn do vậy hoạt động quản lý cần phải tuân thủ các nội dung:
Thứ nhất, cần phải có chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư đúng, phù hợp với đặc điểm của địa phương, khu vực đầu tư xây dựng công trình. Trước khi đưa ra quyết định đầu tư xây dựng công trình GTĐB với quy mô đầu tư xây dựng bao nhiêu là hợp lý, tiến độ đầu tư xây dựng trong thời gian bao nhiêu,… cần phải được nghiên cứu, khảo sát kỹ lưỡng và tính toán dựa trên những luận cứ khoa học chắc chắn.
Thứ hai, cần phải lựa chọn địa điểm đầu tư xây dựng phù hợp. Để có thể lựa chọn địa điểm đầu tư xây dựng công trình GTĐB phù hợp cần phải dựa trên những số liệu nghiên cứu khảo sát chi tiết, đầy đủ, dựa trên các căn cứ khoa học, trên cơ sở những hệ thống, các chỉ tiêu kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa,… Hệ thống các chỉ tiêu này phải được xây dựng một cách logic, áp dụng khoa học tiên tiến, hiện đại để đánh giá và cần phải đưa ra các phương án lựa chọn vị trí đầu tư xây dựng khác nhau để từ đó có thể lựa chọn ra phương án, hướng tuyến đầu tư xây dựng các công trình GTĐB phù hợp nhất với quy hoạch và nhu cầu phát triển của vùng, địa phương.
c. Hoạt động đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước có độ rủi ro cao
Các dự án đầu tư xây dựng GTĐB thường có quy mô vốn lớn, thời gian đầu tư kéo dài, địa điểm đầu tư trải dài hàng chục đến hàng trăm km qua nhiều vùng có điều kiện địa hình, địa chất có độ phức tạp khác nhau. Nhiều tình huống kỹ thuật đặt ra phải xử lý khó do phụ thuộc điều kiện địa hình, địa chất… phải có thời gian có sự tham gia nhiều cơ quan, nhiều nhà khoa học để tìm giải pháp khắc phục. Vì vậy, kinh phí phát sinh trong quá trình thực hiện dự án không lường trước được. Điều đó đặt ra trong quá trình quản lý đầu tư xây dựng GTĐB từ NSNN ngay từ bước lập quy hoạch, kế hoạch đầu tư cần phải tiến hành một cách nghiêm túc, quản lý chặt chẽ, khoa học, trách nhiệm cao nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình đầu tư xây dựng và cần phải thực hiện đồng bộ các biện pháp quản ý rủi ro từ việc nhận diện rủi ro đầu tư xây dựng, đánh giá mức độ rủi ro và xây dựng các biện pháp phòng chống rủi ro cho các dự án đầu tư xây dựng.
d. Đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước mang tính định hướng, hệ thống và đồng bộ
Các hoạt động đầu tư công nói chung, đầu tư xây dựng GTĐB nói riêng đều nằm trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội trung hạn, dài hạn của quốc gia, địa phương, do đó việc lập, thẩm định, phê duyệt các dự án ĐTXD GTĐB từ NSNN phải trên cơ sở chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ, các quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt.
Đặc điểm này có tác động mạnh mẽ tới quy trình, nội dung, phương thức quản lý ĐTXD ở tất cả các giai đoạn từ việc lập, phê duyệt chủ trương đầu tư đến thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư, triển khai thi công công trình, nghiệm thu tổ chức vận hành, khai thác, sử dụng công trình và thanh quyết toán vốn đầu tư. Đồng thời, với chức năng là thỏa mãn nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân, doanh nghiệp, GTĐB được coi là huyết mạch của nền kinh tế, kết nối các vùng miền, các khu vực với nhau, định hướng mở đường cho các hoạt động đầu tư và phát triển kinh tế, xã hội khác.
Tính hệ thống và đồng bộ là một trong những đặc trưng cơ bản của hoạt động ĐTXD GTĐB từ NSNN. Nó được thể hiện ở chỗ các khâu trong quá trình ĐTXD GTĐB đều có liên quan chặt chẽ, mật thiết với nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động đầu tư. Nếu từ bước lập kế hoạch, chủ trương đầu tư xây dựng đến bước thẩm định dự án đầu tư, lựa chọn nhà thầu xây dựng, nghiệm thu đưa vào sử dụng, thanh quyết toán… nếu làm không tốt, sai sót sẽ ảnh hưởng đến quá trình khai thác, sử dụng công trình GTĐB và sẽ gây ra những thiệt hại lớn đến kinh tế, xã hội của địa phương có công trình GTĐB được ĐTXD. Tính hệ thống, đồng bộ còn thể hiện trong việc tổ chức quản lý phát triển kết cấu hạ tầng trong ngành GTVT của từng địa phương, vùng lãnh thổ. Do đó, khi lập kế hoạch, quy hoạch phát triển hệ thống GTĐB không được xem xét tới những lợi ích riêng lẻ của từng công trình, dự án và phải đặt trong mối quan hệ tổng thể đảm bảo sự phát triển đồng bộ của toàn bộ hệ thống kết cấu hạ tầng GTVT và các lĩnh vực khác có liên quan.
e. Đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước mang tính chất vùng, địa phương và phải tuân thủ các nguyên tắc về quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước
Mỗi vùng, địa phương khác nhau có các yếu tố về điều kiện tự nhiên như vị trí, địa hình, khí hậu, mục tiêu phát triển khác khau. Do đó, để mỗi vùng, địa phương phát huy được tiềm năng, thế mạnh của mình và đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của cả nước thì trong quá trình ĐTXD GTĐB từ NSNN phải mang tính vùng và địa phương đó. Vì vậy, trong quá trình lập kế hoạch, qui hoạch ĐTXD GTĐB ngoài việc chú ý đến mục tiêu phát triển chung của cả nước còn phải tính đến điều kiện, đặc điểm và nhu cầu phát triển của mỗi vùng, địa phương riêng lẻ.
Đầu tư xây dựng GTĐB sử dụng NSNN là một hoạt động đầu tư công trong lĩnh vực giao thông vận tải nên phải tuân thủ các Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ Tài nguyên, Môi trường,.. Nhất là quá trình từ việc bố trí kế hoạch vốn hàng năm, lập và điều chỉnh kế hoạch vốn, phân bổ vốn, thẩm tra và giao kế hoạch vốn, thanh quyết toán vốn đầu tư đều phải tuân thủ Luật NSNN. Đây là một đặc điểm cơ bản để phân biệt dự án ĐTXD từ NSNN với các dự án ĐTXD sử dụng các nguồn vốn khác (tư nhân, nhà đầu tư nước ngoài).
1.1.3 Vai trò của đầu tư xây dựng giao thông đường bộ
a. Hoàn thiện hệ thống giao thông đường bộ là điều kiện cơ bản thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của địa phương
Giao thông đường bộ được hoàn thiện đồng bộ sẽ tạo điều kiện cho các luồng vận tải hàng hóa được lưu thông thuận lợi, nhanh chóng, qua đó thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh và tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, GTĐB phát triển góp phần tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phân bố các nguồn lực sản xuất. Để tiết kiệm chi phí vận tải, các nhà đầu tư sẽ chỉ lựa chọn những địa điểm có điều kiện giao thông thuận lợi để đặt các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Khi GTĐB tại một địa phương phát triển sẽ thu hút các nhà đầu tư đến với địa phương đó và hình thành lên những ngành kinh tế mới. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương vì thế sẽ diễn ra.
Hệ thống GTĐB phát triển sẽ góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Sức cạnh tranh của nền kinh tế liên quan trực tiếp đến hai yếu tố là giá thành sản phẩm và môi trường đầu tư. GTĐB phát triển sẽ tạo điều kiện hạ giá thành sản phẩm do chi phí vận tải giảm, đồng thời cải thiện môi trường đầu tư. Vì vậy, sự phát triển của GTĐB sẽ giúp nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Hệ thống GTĐB phát triển sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế, cải thiện thu nhập và mức sống của người dân. Vì thế người dân sẽ có điều kiện hưởng thụ các điều kiện vật chất, văn hóa tinh thần, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Hệ thống GTĐB phát triển sẽ tác động đến phân bố lại dân cư: trong khu vực. Mỗi khi có tuyến đường mới được mở ra đồng nghĩa với điều kiện sống và điều kiện sản xuất, kinh doanh của người dân ở hai bên đường được cải thiện. Người dân sẽ chuyển đến sinh sống ở những nơi có điều kiện sống tốt hơn và có cơ hội kiếm sống dễ dàng hơn.
b. Hệ thống giao thông đường bộ phát triển góp phần quan trọng vào đảm bảo an ninh xã hội, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thúc đẩy hội nhập khu vực và quốc tế
Hệ thống GTĐB phát triển sẽ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, nâng cao ý thức bảo đảm trật tự an ninh xã hội. Những vùng, địa phương có hệ thống GTĐB đồng bộ, hiện đại sẽ giảm thiểu tình trạng ùn tắc giao thông, đặc biệt là tại các khu vực trung tâm, các thành phố lớn, các khu đô thị. Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật xã hội, giảm bớt bức xúc khó khăn trong cuộc sống; góp phần giảm tai nạn giao thông và giữ gìn trật tự xã hội. Đồng thời, hệ thống GTĐB phát triển đến các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới quốc gia với các nước bạn sẽ góp phần quan trọng trong việc bảo vệ biên giới của đất nước. Ngoài ra, còn mang kiến thức, văn hóa đến với các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số… góp phần nâng cao trình độ hiểu biết, kiến thức, ý thức của người dân từ đó đảm bảo sự ổn định về chính trị quốc gia, an ninh quốc phòng của đất nước.
Hội nhập và giao lưu kinh tế quốc tế về mọi mặt đang là xu hướng diễn ra mạnh mẽ giữa các quốc gia trong khu vực và trên toàn thế giới. Nước CHDXND Lào và các nước khu vực ASEAN cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Tại các tỉnh có vị trí giao thương kinh tế quan trọng luôn được Chính phủ Lào ưu tiên xây dựng GTĐB, đảm bảo sự kết nối với GTĐB với các quốc gia có chung đường biên giới. Tạo điều kiện cho các luồng lưu thông hàng hóa được thông suốt. Việc ĐTXD GTĐB đồng bộ, hiện đại sẽ góp phần đẩy mạnh thu hút đầu tư nhất là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Các địa phương khi thu hút được các dự án đầu tư, nhất là đầu tư FDI sẽ kéo theo rất nhiều thuận lợi, đặc biệt là lợi ích kinh tế.
1.1.4 Trình tự thực hiện đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ
Theo Nghị định số 77/PM của Chính phủ Lào ban hành, trình tự thực hiện đầu tư xây dựng công trình có sử dụng nguồn NSNN (Đầu tư công), được quy định cụ thể, như sau:
* Giai đoạn chuẩn bị dự án:
Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: (1) khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư (nếu có); (2) lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng phục vụ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng; lập, thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi để phê duyệt/quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án. Trong giai đoạn chuẩn bị, nhà đầu tư, Chủ đầu tư cần tiến hành các công việc như sau:
Sau khi đã có ý tưởng dự án, chủ đầu tư tiến hành khảo sát xây dựng. Nghiên cứu quy mô, thị trường, tìm kiếm nguồn đất, thông tin về thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất, lên phương án đầu tư và thỏa thuận địa điểm thực hiện quy hoạch dự án.
Tiếp đến, chủ đầu tư sẽ tiến hành lập báo cáo đầu tư. Có các loại báo cáo sau đây: Lập, thẩm định, Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư (nếu có); Lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng; Lập, thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi;
Tiếp theo chủ đầu tư tiến hành nộp báo cáo cho cơ quan có thẩm quyền để tiến hành thẩm định và phê duyệt dự án, thiết kế cơ sở. Tùy thuộc vào từng loại dự án mà thẩm quyền thẩm định và phê duyệt sẽ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo đúng quyền hạn của mình, cụ thể: Đối với việc thẩm định chủ trương đầu tư do cơ quan quản lý đầu tư công thực hiện thẩm định trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đối với việc thẩm định và phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng; lập, thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi do cơ quan chuyên môn xây dựng thẩm đinh, trình Người quyết định đầu phê duyệt.
* Giai đoạn thực hiện dự án:
Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: (1) chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); (2) khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; (3) cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); (4) lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; (5) giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; (6) vận hành, chạy thử; nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng; (7) bàn giao công trình đưa vào sử dụng và các công việc cần thiết khác.
– Công tác chuẩn bị mặt bằng xây dựng được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai. Ủy ban nhân dân các cấp chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư đối với dự án đầu tư xây dựng theo quy định của pháp luật; Thời hạn giải phóng mặt bằng xây dựng phải đáp ứng yêu cầu tiến độ thực hiện dự án đã được phê duyệt hoặc quyết định của người có thẩm quyền.
– Công tác khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng:
+ Chủ đầu tư chịu trách nhiệm phê duyệt phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng phù hợp với loại, cấp công trình xây dựng, loại hình khảo sát, bước thiết kế phê duyệt tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về khảo sát xây dựng được áp dụng; kết quả khảo sát xây dựng phải được lập thành báo cáo, bảo đảm tính trung thực, khách quan, phản ánh đúng thực tế và phải được phê duyệt.
+ Chủ đầu tư lập và trình cơ quan chuyên môn xây dựng thẩm định hồ thiết kế dự toán. Hồ sơ thiết kế phải đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ thiết kế; phù hợp với nội dung dự án đầu tư xây dựng được duyệt, quy hoạch xây dựng, cảnh quan kiến trúc, điều kiện tự nhiên, văn hóa – xã hội tại khu vực xây dựng; nội dung thiết kế xây dựng công trình phải đáp ứng yêu cầu của từng bước thiết kế; tuân thủ tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật, quy định của pháp luật về sử dụng vật liệu xây dựng, đáp ứng yêu cầu về công năng sử dụng, công nghệ áp dụng (nếu có); bảo đảm an toàn chịu lực, an toàn trong sử dụng, mỹ quan, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống cháy, nổ và điều kiện an toàn khác; Có giải pháp thiết kế phù hợp và chi phí xây dựng hợp lý; bảo đảm đồng bộ trong từng công trình và với các công trình liên quan; bảo đảm điều kiện về tiện nghi, vệ sinh, sức khỏe cho người sử dụng.
– Việc cấp phép xây dựng đối với dự án ĐTXD hạ tầng GTĐB được miễn cấp phép xây dựng sau khi đã được cơ quan chuyên môn về xây dựng thông báo kết quả thẩm định thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở đủ điều kiện phê duyệt thiết kế xây dựng và đáp ứng các điều kiện về cấp giấy phép xây dựng theo quy định của Luật Xây dựng
– Việc lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình.
+ Chủ đầu tư thực hiện lập Kế hoạch lựa chọn nhà thầu, trình cơ quan quản lý ĐTXD hạ tầng GTĐB thẩm định và trình cấp có quyền quyền phê duyệt Kế hoạch lựa chọn nhà thầu; tổ chức lựa chọn nhà thầu, thương thảo ký kết hợp đồng xây dựng và phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu.
+ Tổ chức triển khai thực hiện thi công theo hồ sơ hợp đồng, cam kết hợp đồng đã kí kết.
– Giám sát thi công xây dựng, tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành.
+ Việc thực hiện giám sát thi công xây dựng do Chủ đầu tư thực hiện hay thuê Tư vấn thực hiện; công tác giám sát phải được thực hiện trong suốt quá trình thi công từ khi khởi công xây dựng, trong thời gian thực hiện cho đến khi hoàn thành và nghiệm thu công việc, công trình xây dựng; Giám sát thi công công trình đúng thiết kế xây dựng được phê duyệt, tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật, quy định về quản lý, sử dụng vật liệu xây dựng, chỉ dẫn kỹ thuật và hợp đồng xây dựng.
+ Tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành được thực hiện theo cam kết hợp đồng và hồ sơ nghiệm thu.
– Công tác vận hành, chạy thử; nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng: Trước khi đưa vào sử dụng, chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức và trực tiếp tham gia nghiệm thu hoàn thành toàn bộ hạng mục công trình, công trình xây dựng khi đáp ứng các điều kiện sau: Các công việc xây dựng đã được thi công đầy đủ theo hồ sơ thiết kế được phê duyệt; Công tác nghiệm thu công việc xây dựng, bộ phận, giai đoạn trong quá trình thi công được thực hiện đầy đủ; Kết quả thí nghiệm, kiểm tra, kiểm định, thử nghiệm, chạy thử đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật theo quy định của thiết kế xây dựng; Tuân thủ các quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ môi trường và quy định của pháp luật khác có liên quan.
– Bàn giao công trình đưa vào sử dụng và các công việc cần thiết khác:
+ Dự án được bàn giao đưa vào sử dụng khi đã thực hiện nghiệm thu công trình xây dựng và được cơ quan chuyên môn xây dựng kiểm tra công tác nghiệm thu theo đúng quy định của pháp luật về xây dựng; Bảo đảm an toàn trong vận hành, khai thác khi đưa công trình vào sử dụng.
+ Chủ đầu tư có trách nhiệm tiếp nhận công trình theo đúng hợp đồng đã ký kết với nhà thầu. Trường hợp chủ đầu tư không đồng thời là người quản lý sử dụng công trình thì chủ đầu tư có trách nhiệm bàn giao công trình xây dựng cho chủ quản lý sử dụng công trình sau khi đã tổ chức nghiệm thu công trình xây dựng; trường hợp chưa bàn giao được công trình cho chủ quản lý sử dụng thì chủ đầu tư có trách nhiệm tạm thời quản lý, vận hành công trình xây dựng
+ Khi bàn giao công trình xây dựng, nhà thầu thi công xây dựng phải giao cho chủ đầu tư các tài liệu gồm bản vẽ hoàn công, quy trình hướng dẫn vận hành, quy trình bảo trì công trình, danh mục các thiết bị, phụ tùng, vật tư dự trữ thay thế và các tài liệu cần thiết khác có liên quan.
* Giai đoạn kết thúc xây dựng gồm các công việc:
Giai đoạn kết thúc xây dựng, gồm các công việc: Quyết toán hợp đồng xây dựng, quyết toán dự án hoàn thành, xác nhận hoàn thành công trình, bảo hành công trình xây dựng, bàn giao các hồ sơ liên quan và các công việc cần thiết khác.
– Quyết toán hợp đồng là việc xác định tổng giá trị cuối cùng của hợp đồng xây dựng mà bên giao thầu có trách nhiệm thanh toán cho bên nhận thầu khi bên nhận thầu hoàn thành tất cả các công việc theo thỏa thuận trong hợp đồng. Bên nhận thầu có trách nhiệm quyết toán hợp đồng xây dựng với bên giao thầu phù hợp với loại hợp đồng và hình thức giá hợp đồng áp dụng. Nội dung quyết toán hợp đồng xây dựng phải phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng.
– Công trình xây dựng sau khi hoàn thành được nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng phải thực hiện quyết toán dự án đầu tư xây dựng. Chủ đầu tư có trách nhiệm lập và quản lý hồ sơ quyết toán dự án hoàn thành đúng quy định, trình người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành.
– Bên nhận thầu có trách nhiệm bảo hành công trình, bảo hành thiết bị theo đúng các thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng; bên nhận thầu chỉ được hoàn trả bảo đảm bảo hành công trình sau khi kết thúc thời hạn bảo hành và được chủ đầu tư xác nhận đã hoàn thành công việc bảo hành.
1.1.5 Yêu cầu quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước cấp tỉnh
a. Đảm bảo sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực của nhà nước trong đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ.
Nguồn lực của nhà nước dành cho hoạt động ĐTXD GTĐB từ NSNN chính là lao động, nguồn vốn NSNN, đất đai và các tài nguyên khác có liên quan. So với nhu cầu hiện nay của hoạt động ĐTXD GTĐB từ NSNN thì các nguồn lực này luôn khan hiếm, không đáp ứng đủ để triển khai thực hiện. Do đó, để đạt mục tiêu quản lý về ĐTXD GTĐB từ NSNN trong giai đoạn hiện nay thì việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực của nhà nước là yêu cầu hết sức cấp thiết.
Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn lực lao động đòi hỏi công tác bố trí, sử dụng cán bộ, công chức phải xuất phát từ mục tiêu, nhu cầu của công việc, đảm bảo đúng người, đúng việc… theo tiêu chuẩn, định mức, vị trí việc làm được phê duyệt tại các cơ quan, đơn vị có liên quan đến hoạt động quản lý về ĐTXD GTĐB từ NSNN. Để sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn vốn ngân sách địa phương trong ĐTXD GTĐB đòi hỏi các khâu lập kế hoạch vốn, phân bổ vốn, giao kế hoạch vốn, tạm ứng, thanh, quyết toán vốn đầu tư từ nguồn vốn ngân sách địa phương cho các chủ đầu tư, nhà thầu xây lắp, tư vấn,… phải đảm bảo theo đúng tiêu chí, trình tự quy định của pháp luật về NSNN và quy định về quản lý chi phí ĐTXD của nhà nước.
Việc lựa chọn địa điểm ĐTXD GTĐB cũng là điều hết sức quan trọng, nó có tác động lâu dài tới việc phát huy hiệu quả kinh tế – xã hội của từng dự án, công trình. Lựa chọn địa điểm ĐTXD GTĐB liên quan đến việc sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai, đây nguồn lực không thể thiếu cho ĐTXD GTĐB. Nguồn lực đất đai ngày càng trở lên khan hiếm hơn trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, do đó trong quá trình ĐTXD GTĐB cần phải cân nhắc, tính toán, xác định một cách hợp lý quy mô dự án đầu tư, diện tích đất đền bù giải phóng mặt bằng, diện tích đất sử dụng cho từng dự án để phát huy tối đa hiệu quả sử dụng đất, tránh lãng phí nguồn tài nguyên này.
Ngoài việc tính toán, sử dụng tiết kiệm các nguồn lực nêu trên, cần quan tâm, xem xét, tính toán tới những lợi ích đạt được, các tác động của dự án ĐTXD GTĐB trong quá trình khai thác, sử dụng kết quả đầu tư. Đây là một trong những yêu cầu quan trọng trong quản lý về ĐTXD GTĐB từ nguồn vốn ngân sách địa phương.
b. Đảm bảo tổ chức thực hiện đúng quy định và trình tự đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước.
Các quy định và trình tự các bước ĐTXD từ nguồn vốn ngân sách địa phương do cơ quan nhà nước ban hành để quản lý và kế hoạch hóa các hoạt động ĐTXD từ NSNN. Trình tự ĐTXD, các giai đoạn của chu trình dự án được xác lập có căn cứ khoa học nhằm biến ý tưởng đầu tư thành các kết quả đầu tư, hiện thực hóa các mục tiêu đầu tư. Các công việc trong giai đoạn thực hiện đầu tư và kết thúc xây dựng, đưa công trình vào khai thác sử dụng được thể hiện tuần tự hoặc xen kẽ tùy theo từng điều kiện cụ thể của dự án. Các công việc trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư như lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục quy định của nhà nước về ĐTXD. Việc ghi kế hoạch vốn đầu tư hàng năm phải tuân thủ các quy định của Nhà nước về quản lý, thanh toán vốn đầu tư từ nguồn vốn ngân sách địa phương.
c. Đáp ứng yêu cầu phòng, chống các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước.
Đảm bảo yêu cầu về phòng, chống các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, thất thoát, lãng phí trong ĐTXD GTĐB từ nguồn vốn ngân sách địa phương là vấn đề được nhiều người quan tâm, tìm hiểu. Nguy cơ thất thoát, lãng phí xuất hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi đối tượng có cơ hội tiếp xúc với hoạt động ĐTXD GTĐB từ nguồn vốn ngân sách địa phương. Phòng, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí vốn trong ĐTXD GTĐB từ nguồn vốn ngân sách địa phương góp phần quan trọng vào việc tiết kiệm nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực NSNN và thực hiện có hiệu quả các mục tiêu của dự án.
Để thực hiện được yêu cầu này, nhà nước phải tạo ra một hệ thống cơ chế, chính sách, giải pháp phù hợp để cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức được nhà nước giao quản lý và sử dụng nguồn vốn ngân sách địa phương và các nhà thầu thực hiện dự án không thể làm, không dám, không nên, không cần tham nhũng, thất thoát, lãng phí vốn ĐTXD GTĐB từ nguồn vốn ngân sách địa phương.
1.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Quy hoạch là quá trình sắp xếp và phân phố không gian các hoạt động kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường để sử dụng hiệu quả các nguồn lực phục vụ mục tiêu phát triển bền vững do Nhà nước đặt ra cho thời kỳ dài hạn trên lãnh thổ xác định. [25]
Quản lý nhà nước ở cấp tỉnh về quy hoạch đầu tư xây dựng giao thông đường bộ là bước cụ thể hóa chiến lược phát triển hạ tầng giao thông đường bộ đã được phê duyệt. Quản lý quy hoạch đầu tư xây dựng có vai trò rất quan trọng trong sử dụng nguồn lực có giới hạn của ngân sách cũng như tài nguyên hiện có, đây vừa là vấn đề mang tính chiến lược, vừa là bước đầu tiên làm cơ sở cho đầu tư xây dựng công trình.
Công tác quản lý cần lưu ý phân tích, đánh giá tính thỏa đáng của các luận chứng về nhu cầu phát triển và phân bố đầu tư xây dựng giao thông đường bộ có thể ảnh hưởng đến sự ra đời và vận hành của dự án đầu tư; phân tích đánh giá luận chứng về các giải pháp tổ chức thực hiện và cả thứ tự ưu tiên đầu tư.
Trên cơ sở phương án quy hoạch đã được phê duyệt, cơ quan chức năng lập kế hoạch đầu tư xây dựng một cách cụ thể, chi tiết đối với từng dự án, trong từng khâu, công đoạn thực hiện dự án trên cơ sở quản lý mặt bằng xây dựng đảm bảo, chặt chẽ để việc triển khai thực hiện dự án được thuận lợi.
Việc xây dựng kế hoạch vốn đầu tư từ ngân sách cho phát triển hạ tầng giao thông đường bộ là sự phân bổ vốn ngân sách địa phương cho các công trình, dự án xây đường giao thông nhằm thực hiện kế hoạch phát triển hạ tầng giao thông đường bộ của Tỉnh. Kế hoạch vốn cần xác định rõ tổng vốn đầu tư, vốn cho từng giai đoạn, khả năng cung ứng vốn trong từng giai đoạn.
Tiêu chí đánh giá của công tác này là:
- Tính phù hợp, khả thi của công tác quy hoạch, kế hoạch về ĐTXD hạ tầng GTĐB.
- Tính hiệu quả của công tác quy hoạch, kế hoạch về ĐTXD hạ tầng GTĐB.
- Quá trình thực hiện thực tế so với kế hoạch về ĐTXD hạ tầng GTĐB.
1.2.2 Ban hành các quy định, chính sách pháp luật về quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ nguồn vốn địa phương
- Quản lý nhà nước có hiệu lực và hiệu quả hay không phụ thuộc vào việc Nhà nước có ban hành được hệ thống chính sách, pháp luật phù hợp và được thực thi có hiệu quả. Chính vì vậy, nội dung quan trọng hàng đầu trong QLNN là việc ban hành và thực thi chính sách pháp luật có liên quan đến ngành, lĩnh vực thuộc cấp quản lý. Do đó, việc ban hành và thực thi các chính sách, pháp luật có liên quan đến ĐTXD GTĐB từ NSNN là nội dung quan trọng đối với các cấp quản lý khác nhau trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình.
- Trong phạm vi địa phương cấp tỉnh, việc ban hành và thực thi chính sách pháp luật liên quan đến hoạt động ĐTXD chủ yếu là cụ thể hóa và hiện thực hóa các quy định của Quốc hội, Chính phủ và các Bộ ngành Trung ương nhằm quản lý, quán xuyến các hoạt động thực thi một cách nghiêm ngặt theo khuôn khổ quy định nhằm đạt mục tiêu quản lý như mong muốn. Quản lý nhà nước đối với hoạt động ĐTXD GTĐB từ NSNN cần ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định, điều chỉnh toàn bộ các quá trình đầu tư, xây dựng và điều chỉnh các chủ thể tham gia vào hoạt động ĐTXD. Ngoài ra, các văn bản quy phạm pháp luật này còn quy định các hành lang pháp lý giúp cho hoạt động ĐTXD diễn ra theo đúng kế hoạch. Các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động ĐTXD GTĐB được ban hành ở cấp Trung ương bao gồm các Luật (Đầu tư công, Ngân sách, Quy hoạch, Xây dựng, Đấu thầu…), Nghị định hướng dẫn của Chính phủ; các Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và các Thông tư của các Bộ như: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Xây dựng, GTVT… các quy định này tập trung vào các nội dung như: quy định về lập quy hoạch, kế hoạch đầu tư; quy định về trình tự thực hiện các bước của quá trình đầu tư; quy định về phân cấp trong thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư, dự án đầu tư, bản vẽ thi công và dự toán…; các quy định liên quan đến hoạt động đấu thầu; các tiêu chuẩn, định mức trong hoạt động xây dựng GTĐB; quy định về thanh, quyết toán vốn đầu tư…
- Đối với cấp tỉnh, đó là các văn bản quy định về quản lý các hoạt động ĐTXD GTĐB từ NSNN trên địa bàn tỉnh nhằm hướng dẫn, phân công, phân cấp và giao trách nhiệm cụ thể cho các Sở, ngành, UBND các huyện trong việc thực hiện các bước của quá trình quản lý đầu tư và xây dựng, cụ thể như: Quy định về quản lý đầu tư và xây dựng bằng nguồn vốn đầu tư công; Quy định về phân công, phân cấp trong hoạt động đầu tư và xây dựng; Quy định phối hợp quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng; Ban hành tiêu chuẩn, tiêu chí phân bổ vốn đầu tư; Ban hành kế hoạch đầu tư công trung hạn, hàng năm; Ban hành đơn giá xây dựng, giá vật liệu xây dựng, giá ca máy xây dựng; Quy định về thực hiện công tác đền bù, giải phóng mặt bằng; Quy định về phối hợp thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh.
- Tiêu chí đánh giá công tác này là:
- – Quá trình phân cấp trách nhiệm về quản lý ĐTXD hạ tầng GTĐB rõ ràng;
- – Quá trình ban hành và cập nhập các chính sách về quản lý ĐTXD hạ tầng GTĐB kịp thời;
- – Các hướng dẫn rõ ràng, dễ thực hiện;
- – Các chính sách phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của tỉnh.
- 1.2.3 Tổ chức thực hiện quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ nguồn vốn địa phương
- * Lựa chọn, thẩm định dự án đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ nguồn vốn địa phương
Nhu cầu đầu tư xây dựng hạ tầng GTĐB ở địa phương là rất lớn. Hầu hết các dự án về hạ tầng GTĐB đều phải được cân nhắc, lựa chọn, phê duyệt trước khi đưa vào quy hoạch phát triển kinh tế – xã hồi và kế hoạch đầu tư công. Nguyên tắc lựa chọn danh mục dự án và dự kiến mức vốn bố trí cho từng dự án trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm từ nguồn ngân sách nhà nước phải tuân thủ theo quy định của Luật đầu tư công hiện hành.
Nguyên tắc lựa chọn danh mục dự án và dự kiến mức vốn bố trí cho từng dự án là:
– Việc lựa chọn danh mục dự án và dự kiến mức vốn bố trí cho từng dự án trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm nguồn cân đối ngân sách địa phương về nguyên tắc và điều kiện thực hiện phải tuân theo quy định của Luật đầu tư công hiện hành.
– Thuộc nhiệm vụ ngân sách địa phương đầu tư.
– Phải phù hợp với khả năng cân đối thu, chi ngân sách địa phương; khả năng huy động các nguồn vốn đầu tư khác đối với các dự án sử dụng nhiều nguồn vốn đầu tư.
– Bố trí vốn theo đúng các nguyên tắc, tiêu chí phân bổ vốn ngân sách nhà nước trung hạn và hằng năm theo quy định của Chính phủ.
Thẩm định tính khả thi của phương án phân bổ, sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách địa phương cho phát triển hạ tầng giao thông đường bộ là xem xét lại tính đúng đắn của những căn cứ phân bổ vốn; đúng theo quy định của pháp luật về chi, sử dụng vốn ngân sách chưa; sự phù hợp của phương án phân bổ, sử dụng vốn ngân sách với mục tiêu và kế hoạch phát triển hạ tầng giao thông đường bộ của tỉnh trong thời kỳ kế hoạch.
Đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ được thực hiện thông qua các dự án đầu tư trong lĩnh vực này. Vì thế, tất cả các dự án đầu tư xây dựng hệ thống giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách đều phải thẩm định. Nội dung thẩm định dự án đầu tư là kiểm tra, đánh giá tính khả thi của phương án kế hoạch vốn theo các phương diện: tổng vốn đầu tư theo dự toán; các điều kiện về thủ tục đầu tư; điều kiện khởi công công trình; các điều kiện đảm bảo sự phù hợp của dự án với quy hoạch phát triển ngành, lãnh thổ; các điều kiện về tài chính và tiến độ thực hiện dự án, đặc biệt cần phân tích, đánh giá kỹ lưỡng dự án theo tiêu chí chi phí – lợi ích.
Tiêu chí đánh giá của công tác này là:
– Số lượng dự án đã thẩm định;
– Số vốn đầu tư đề xuất;
– Số vốn đầu tư sau khi thẩm định;
– Mức chênh lệch vốn đầu tư sau khi thẩm định.
* Tổ chức đấu thầu các công trình hạ tầng GTĐB từ nguồn vốn ngân sách địa phương
Đấu thầu là một quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng được yêu cầu của bên mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu. Lợi ích của hình thức này là chọn được nhà thầu có phương án đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật của công trình và có chi phí tài chính thấp nhất. [28]
Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đề ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư đề ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở đảm bảo cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế [28].
Các hình thức đấu thầu thường gặp trong xây dựng hạ tầng GTĐB sử dụng nguồn vốn ngân sách của địa phương bao gồm:
- Đấu thầu rộng rãi: là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu tham gia. Bên mời thầu phải thông báo công khai về các điều kiện, thời gian dự thầy trên các phương tiện thông tin đại chúng trước khi phát hành hồ sơ mời thầu. [28]. Đấu thầu rộng rãi được sử dụng nhiều trong các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng GTĐB. Ưu điểm của hình thức này là tính cạnh tranh trong đấu thầu cao, hạn chế tiêu cực trong đấu thầu, kích thích các nhà thầu phải thường xuyên nâng cao năng lực.
- Đấu thầu hạn chế: Hình thức này được áp dụng trong trường hợp gói thầy có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù mà chỉ có một số nhà thầy đáp ứng yêu cầu của gói thầu; là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một số nhà thầu (tối thiểu là 5) có đủ năng lực tham dự [28]. Danh sách nhà thầu phải được người cấp có thẩm quyền chấp thuận, quá trình đấu thầu phải công khai, minh bạch.
- Chỉ định thầu: Là hình thức chọn trực tiếp nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu để thương thảo hợp đồng. [28]
- Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt: Trường hợp gói thầu, dự án xuất hiện các điều kiện đặc thù, riêng biệt mà không thể áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư thông thường theo quy định của Luật Đấu thầu thì người thẩm quyền trình UBND, HĐND xem xét quyết định lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư.
* Quản lý tiến độ thực hiện các công trình đầu tư xây dựng hạ tầng GTĐB từ nguồn vốn ngân sách địa phương
Tiến độ thực hiện các công trình đầu tư xây dựng là thời gian từ khi lập dự án đến khi dự án nghiệm thu dự án và đưa vào hoạt động.
Quản lý tiến độ thực hiện các công trình đầu tư xây dựng hạ tầng GTĐB từ nguồn vốn ngân sách địa phương là xem xét quá trình tiến độ thi công có đáp ứng về mặt kết quả, chất lượng, thời gian theo tiến độ của dự án đã được phê duyệt hay không?.
Các nhà thầu thi công xây dựng công trình phải có nghĩa vụ lập tiến đột thi công xây dựng chi tiết, bố trí xen kẽ kết hợp với công việc cần thựcc hiện nhưng phải đảm bảo phù hợp với tiến độ của dự án. [30]
Chủ đều tư, nhà thầu thi công xây dựng, tư vấn giám sát và các bên có liên quan có trách nhiệm theo dõi, giám sát tiến độ thi công xây dựng công trình và điều chỉnh tiến độ trong trường hợp tiến độ thi công xây dựng ở một số giai đoạn bị kéo dài nhưng không được làm ảnh hưởng đến tổng tiến đôj của dự án.
Xét thầy tổng tiến độ của dự án bị kéo dài thì chủ đầu tư phải báo cáo người quyết định đầu tư để ra quyết định việc điều chỉnh tổng tiến độ dự án.
* Quản lý sử dụng vốn cho đầu tư xây dựng hạ tầng GTĐB bằng nguồn vốn ngân sách địa phương.
Công tác quản lý sử dụng vốn cho đầu tư xây dựng hạ tầng GTĐB bằng nguồn vốn ngân sách địa phương bao gồm cấp phát, phân bổ vốn, quyết toán vốn đầu tư xây dựng hạ tầng GTĐB bằng nguồn vốn ngân sách địa phương.
Cấp phát vốn từ ngân sách địa phương phải dựa vào kế hoạch phân bổ và sử dụng vốn cho đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ và phải căn cứ vào các quy định, định mức đã được nhà nước ban hành. Việc cấp phát vốn từ ngân sách địa phương chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện đã có trong dự toán ngân sách; đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức của nhà nước; có khối lượng công việc đã hoàn thành; được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền quyết định. Thanh toán vốn đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách địa phương là việc chủ đầu tư trả tiền cho nhà thầu khi có khối lượng hoàn thành và đủ điều kiện thanh toán. Thanh toán vốn đầu tư có thể được thanh toán theo tuần, kỳ, tức là sau một thời gian thi công chủ đầu tư sẽ thanh toán cho nhà thầu một số tiền, có thể thanh toán theo giai đoạn quy ước hay điểm dừng kỹ thuật hợp lý, có thể thanh toán theo khối lượng xây dựng cơ bản (XDCB) hoàn thành hay theo công trình, hạng mục công trình. Trong việc thanh toán vốn đầu tư, kiên quyết không thanh toán những công trình, hạng mục công trình không có dự toán và không tuân thủ theo những quy định, đình chỉ ngay những dự án kém hiệu quả để tránh lãng phí hơn nữa nguồn vốn của ngân sách địa phương. Việc thanh toán vốn đầu tư mà không tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện về giá trị khối lượng hoàn thành và đủ điều kiện thanh toán sẽ gây lãng phí, thất thoát và các hiện tượng tiêu cực có thể xảy ra.
Quyết toán vốn đầu tư của một dự án thuộc hạ tầng giao thông đường bộ là tổng kết, tổng hợp các khoản thu, chi để làm rõ tình hình thực hiện một dự án đầu tư. Thực chất của quyết toán vốn đầu tư của một dự án, công trình, hạng mục công trình là xác định giá trị của dự án, công trình, hạng mục công trình đó, nói cách khác là xác định vốn đầu tư được quyết toán. Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã được thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác sử dụng. Chi phí hợp pháp là chi phí theo hợp đồng đã ký kết và thiết kế dự toán đã được duyệt, đảm bảo đúng quy chuẩn, định mức, đơn giá, chế độ tài chính – kế toán và những quy định hiện hành của nhà nước có liên quan. Quyết toán vốn đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách địa phương cần đáp ứng các yêu cầu sau:
(1) Quyết toán vốn đầu tư phải đúng đắn, nghĩa là phải xác định đúng lượng vốn đầu tư được quyết toán là tổng chi phí xây dựng toàn bộ công trình. Vốn đầu tư được quyết toán phải được phân theo đúng nguồn vốn quy đổi giá trị về thời điểm bàn giao đưa công trình vào sử dụng.
(2) Quyết toán vốn phải đảm bảo tính kịp thời. Tính kịp thời đảm bảo cho việc xác định chính xác giá trị công trình giao thông đưa vào sử dụng, nó là cơ sở để xác định được chính xác giá trị hao mòn trong hạch toán kinh tế. Đồng thời, tính kịp thời trong quyết toán vốn góp phần phát hiện dễ dàng và nhanh chóng những chi phí bất hợp pháp của dự án để loại bỏ, tránh được những tiêu cực trong quá trình đầu tư.
Để thực hiện được hai yêu cầu trên cần phải có những quy định rõ ràng, cụ thể nội dung của công tác quyết toán vốn đầu tư, quy định về tổ chức bộ máy để thực hiện công tác quyết toán, cán bộ nhân viên trong cơ quan của chủ đầu tư, cơ quan giám sát, các nhà thầu, cơ quan cấp vốn, cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) và nhân dân tham gia giám sát quá trình đầu tư của dự án.
Tiêu chí đánh giá công tác này là:
– Kế hoạch vốn, số vốn dự toán giao, số vốn tạm ứng, tỷ lệ số dư tạm ứng/Dự toán.
– Số vốn được giải ngân, số vốn không được giải ngân, tỷ lệ số vốn được giải ngân/ Kế hoạch vốn.
– Quá trình giải ngân vốn có đúng kế hoạch không.
– Số vốn được quyết toán;
– Tỷ lệ số vốn được quyết toán/kế hoạch vốn;
– Thời gian quyết toán có đúng hạn hay không?.
- 1.2.4 Tổ chức bộ máy quản lý về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách địa phương
Tổ chức bộ máy quản lý chính là nhân tố quyết định của công tác QLNN. Muốn hoạt động QLNN có hiệu quả, hiệu lực thì cần có một bộ máy quản lý tốt, đủ năng lực để hoạt động. Đối với bộ máy QLNN về ĐTXD hạ tầng GTĐB từ NSNN cấp tỉnh chính là các chủ thể quản lý ĐTXD hạ tầng GTĐB từ NSNN tại địa phương với các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao và mối quan hệ giữa các chủ thể với nhau. Công tác cán bộ là vấn đề cốt lõi, quyết định đến việc thực hiện tốt hay không tốt chức năng, nhiệm vụ của bộ máy quản lý. Một bộ máy quản lý tốt là bộ máy có đội ngũ cán bộ có đủ năng lực, trình độ chuyên môn cũng như phẩm chất đạo đức. Đối với lĩnh vực quản lý về ĐTXD hạ tầng GTĐB từ ngân sách địa phương thì các tiêu chuẩn nêu trên là rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công tác quản lý ở tất cả các khâu trong quá trình quản lý ĐTXD như: ban hành và tổ chức thực thi văn bản quy phạm pháp luật, các cơ chế chính sách có liên quan; lập quy hoạch, kế hoạch ĐTXD; tổ chức thực hiện cũng như triển khai công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động ĐTXD.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phân công, bố trí cán bộ, công chức làm công tác quản lý ĐTXD GTĐB đúng năng lực chuyên môn, sở trường công tác theo từng chức danh, vị trí việc làm trong từng nội dung của quá trình quản lý. Phải có kế hoạch đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý ĐTXD GTĐB từ nguồn vốn ngân sách địa phương với tầm nhìn dài hạn và thực hiện việc đào tạo, luân chuyển cán bộ một cách phù hợp. Nếu tổ chức bộ máy với đội ngũ cán bộ quản lý đáp ứng được các yêu cầu như trên thì công tác QLNN về ĐTXD GTĐB từ nguồn vốn ngân sách địa phương sẽ đạt kết quả cao, hiệu lực, hiệu quả quản lý sẽ được đảm bảo trong tất cả các khâu của quá trình quản lý đầu tư và xây dựng.
Tiêu chí đánh giá là:
– Số lượng và chất lượng cán bộ tham gia công tác quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ;
– Các công tác phát triển nhân sự như tuyển dụng, đào tạo, .. .
– Công tác phối hợp giữa các đơn vị trong quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ.
1.2.5 Thanh tra, kiểm tra, giám sát quá trình đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách Nhà nước
Trong hoạt động quản lý về ĐTXD hạ tầng GTĐB từ ngân sách địa phương, với cơ chế tác động và biện pháp điều chỉnh chủ yếu là bằng pháp luật, cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phải thường xuyên tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm loại trừ các hành vi bất hợp pháp ra khỏi hoạt động ĐTXD hạ tầng GTĐB từ ngân sách địa phương. Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành các văn bản pháp luật là một khâu quan trọng trong quá trình quản lý về kinh tế nói chung, với hoạt động ĐTXD hạ tầng GTĐB từ ngân sách địa phương nói riêng. Đó là một khâu quan trọng đảm bảo hiệu quả, hiệu lực quản lý trong các hoạt động ĐTXD hạ tầng GTĐB từ ngân sách địa phương.
Một số nội dung thanh tra, kiểm tra hoạt động đầu tư xây dựng hạ tầng GTĐB từ ngân sách địa phương bao gồm kiểm tra công tác xây dựng quy hoạch, lập kế hoạch đầu tư, công tác lựa chọn thẩm định dự án, công tác đấu thầu công trình, tiến độ thực hiện công trình, chất lượng công trình, quá trình sử dụng vốn, các công tác đánh giá, nghiệm thu dự án,.. .
Các hình thức thanh tra, kiểm tra thường được sử dụng là kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất, kiểm toán. Mục đích của thanh tra, kiểm tra là để các hoạt động ĐTXD hạ tầng GTĐB từ ngân sách địa phương thực hiện đúng quy hoạch, kế hoạch, tiến độ, đạt chất lượng, nguồn vốn sử dụng hiệu quả, đúng mục đích phục vụ các mục tiêu về kinh tế – xã hội. Yêu cầu của công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát là phải trung thực, đầy đủ, chính xác, khách quan và kịp thời. Vì vậy, Nhà nước tạo lập các điều kiện để việc thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm đảm bảo yêu cầu, từ tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, quy định về địa vị pháp lý, quy định chức năng, nhiệm vụ, chặt chẽ về quy trình, đảm bảo tính độc lập trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát.
Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà đề xuất xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính thậm chí là tuy tố trách nghiệm hình sự nếu gây ra hậu quả nghiêm trọng.
Việc xử lý vi phạm phải đảm bảo được nguyên tắc:
- Phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh, giải quyết hậy quả do vi phạm pháp luật về ĐTXD hạ tầng GTĐB từ ngân sách địa phương; đảm bảo khắc phục, bồi thường theo đúng quy định của pháp luật.
- Công tác xử lý vi phạm phải được công khai minh bạch, có tính răn đe, nêu gương.
- Xử lý vi phạm phải đúng người, đúng việc, đúng thời gian, đúng mức độ hậu quả gây ra.
Tiêu chí đánh giá:
- Số lượng các cuộc thanh tra, kiểm tra, giám sát;
- Số lượng vi phạm, cách thức xử lý vi phạm;
- Tác động của công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đến hoạt động quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ.
1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
1.3.1 Đặc điểm tự nhiên
- Có thể khẳng định đặc điểm tự nhiên ảnh hưởng đến quản lý về đầu tư mọi lĩnh vực nói chung. Riêng quản lý về ĐTXD GTĐB có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng. Trước hết, điều kiện tự nhiên như vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên đều có ảnh hưởng đến quá trình ĐTXD GTĐB. Tại những vùng, địa phương có điều kiện tự nhiên thuận lợi, như các tỉnh thuộc đồng bằng có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ là những nhân tố thuận lợi góp phần giảm chi phí đầu tư trong suốt các giai đoạn của quá trình ĐTXD GTĐB. Hoặc tại những nơi có địa hình, địa chất thuận lợi, tài nguyên phong phú, dồi dào nhất là nguồn vật liệu xây dựng thì đây cũng là những tiền đề để thực hiện các dự án ĐTXD GTĐB với tiến độ nhanh nhất, giá thành thấp nhất, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý về ĐTXD GTĐB từ nguồn vốn ngân sách địa phương
1.3.2 Tình hình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương
Chi của ngân sách địa phương phụ thuộc vào thu của ngân sách địa phương. Chi cho đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách địa phương là một trong các khoản chi đầu tư phát triển của ngân sách địa phương, vì vậy nó phụ thuộc vào thu của ngân sách. Nếu tăng trưởng kinh tế địa phương ổn định, thì vốn đầu tư từ NSNN cho phát triển hạ tầng giao thông đường bộ của địa phương sẽ được cung cấp đầy đủ, đúng tiến độ. Ngược lại, nếu kinh tế địa phương bị suy giảm, tăng trưởng kinh tế trì trệ sẽ ảnh hưởng đến thu của NSNN, do đó ảnh hưởng đến các khoản chi của NSNN, các dự án có thể bị điều chỉnh cơ cấu vốn đầu tư. Lạm phát làm cho giá cả nguyên vật liệu tăng, làm tăng chi phí xây dựng công trình, điều này có thể dẫn đến tình trạng không đủ vốn để thực hiện dự án.
Trình độ văn hóa, nhận thức, ý thức của người dân góp phần tích cực vào quá trình quản lý về ĐTXD GTĐB. Từ nhiều nội dung khác nhau có thể dẫn ra khi thực hiện dự án ĐTXD GTĐB trên một địa bàn nhất định, chính người dân là người được thụ hưởng thành quả, họ sẽ trực tiếp phản biện hay đồng thuận các quyết định quản lý trong sự áp đặt chủ quan từ phía cơ quan quản lý. Nếu quyết định quản lý hợp lòng dân thì mọi quyết định quản lý triển khai thuận lợi: giải phóng mặt bằng, giá cả bồi thường để thu hồi mặt bằng. Thậm chí những quyết định hợp lòng dân người dân sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân (hiến đất, ngày công lao động, tiền bạc…) để góp phần hoàn thiện công trình giao thông. Mặt khác, trình độ ý thức của người dân thể hiện ở tinh thần trách nhiệm vì sự nghiệp chung. Người dân tham gia giám sát công trình, phản ánh những bất cập trong triển khai thi công, đảm bảo tiến độ cũng như chất lượng công trình GTĐB. Trên thực tế nhiều ý kiến phản biện của người dân giúp cơ quan quản lý sửa đổi, uốn nắn, bổ sung các quyết định tránh lãng phí.
1.3.3 Điều kiện vật chất – kỹ thuật phục vụ quản lý đối với vốn đầu tư từ ngân sách địa phương
Cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ quản lý đối với vốn đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ từ NSNN bao gồm các tài sản, trang thiết bị, các phương tiện làm việc,… Cơ sở vật chất – kỹ thuật đầy đủ, hiện đại sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý. Ngày nay công nghệ thông tin và công nghệ tin học đã xâm nhập vào mọi mặt của đời sống xã hội, kể cả lĩnh vực quản lý và trở thành đặc trưng của xã hội hiện đại. Thực tế cho thấy việc ứng dụng công nghệ tin học vào trong công tác quản lý NSNN, trong đó có quản lý vốn đầu tư cho phát triển hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách sẽ giúp tiết kiệm được thời gian xử lý công việc, đảm bảo tính chính xác, nhanh chóng và thống nhất về mặt dữ liệu, tạo tiền đề cho những cải cách quy trình về nghiệp vụ một cách hiệu quả, góp phần tăng cường cải cách hành chính trong công tác quản lý vốn đầu tư từ ngân sách. Chính vì thế mà công nghệ tin học là một trong những nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả quản lý vốn đầu tư cho phát triển hạ tầng giao thông đường bộ từ NSNN. Hiện nay, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới. Tất nhiên Lào cần phải bắt nhịp cùng các nước trong cuộc cách mạng này. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tác động mạnh mẽ, sâu sắc, nhiều mặt đến nước ta, trong đó có hoạt động quản lý. Vì thế, quản lý đối với vốn ngân sách đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ cần phải tích cực áp dụng các công nghệ tiêu biểu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 để xử lý các công việc quản lý một cách nhanh chóng với chất lượng cao.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 trình bày hệ thống cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về ĐTXD hạ tầng GTĐB từ nguồn vốn ngân sách của địa phương. Từ các nguồn tài liệu là giáo trình, luận án, luận văn, bài báo khoa học tác giả đã trích dẫn, phân tích đưa ra các quan điểm về các vấn đề như khái niệm về quản lý nhà nước về ĐTXD hạ tầng GTĐB từ nguồn vốn ngân sách của địa phương, vai trò, yêu cầu của công tác ĐTXD hạ tầng GTĐB từ nguồn vốn ngân sách của địa phương đối với phát triển kinh tế xã hội. Nội dung cụ thể của công tác ĐTXD hạ tầng GTĐB từ nguồn vốn ngân sách của địa phương bao gồm: Xây dựng quy hoạch và kế hoạch đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ nguồn vốn địa phương; Ban hành các quy định, chính sách pháp luật về quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ nguồn vốn địa phương; Tổ chức thực hiện quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ nguồn vốn địa phương; Thanh tra, kiểm tra, giám sát quá trình đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách Nhà nước; Tổ chức bộ máy quản lý về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách địa phương. Chương 1 còn xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về giao thông đường bộ từ ngân sách địa phương. Nội dung chương 1 là cơ sở định hướng cho phân tích thực trạng ở chương 2 và đề xuất giải pháp ở chương 3.
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\TÀI LIỆU NĂM 2022\NĂM 2022 KHO SỐ 1/ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
Quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước địa phương trên địa bàn tỉnh Savannakhet Quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước địa phương trên địa bàn tỉnh Savannakhet Quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước địa phương trên địa bàn tỉnh Savannakhet Quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước địa phương trên địa bàn tỉnh Savannakhet Quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước địa phương trên địa bàn tỉnh Savannakhet


