Phòng vệ chính đáng theo pháp luật Luật hình sự Việt Nam

Phòng vệ chính đáng theo pháp luật Luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Phòng vệ chính đáng theo pháp luật Luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây tình hình kinh tế xã hội càng phát triển về công nghệ khoa học kỹ thuật lẫn cả về nhận thức con người cũng tiến bộ, cuộc sống vật chất, mức sống con người ngày càng tăng cao hơn so với trước kia. Giá trị con người ngày càng được đề cao, quyền con người được ghi nhận hơn, mỗi người đều có những quyền bất khả xâm phạm tính mạng, sức khỏe. Họ được phép bảo vệ họ chống lại sự tấn công của người khác, đôi khi hành động bảo vệ đó có thể gây ra những thiệt hại cho người khác, nhưng được pháp Luật hình sự thừa nhận và được loại trừ tính chất tội phạm của hành vi, loại trừ trách nhiệm hình sự. Những trường hợp hành vi gây thiệt hại trong xã hội được loại trừ trách nhiệm hình sự hiện nay được pháp luật thừa nhận và không coi là tội phạm tương đối phổ biến trong đó có phòng vệ chính đáng. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì muốn bảo vệ những lợi ích hợp pháp có thể của mình hoặc của cá nhân, tổ chức khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đang không phải là tội phạm. Chính vì vậy để phòng và chống lại những hành vi xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm của con người nói chung, xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người được thể hiện qua hành vi phòng vệ chính đáng nói riêng là việc cấp bách luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, đề cao và chú trọng. Tác giả chọn đề tài “Phòng vệ chính đáng theo pháp luật Luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình nhằm đóng góp một phần công sức nhỏ của mình vào việc xây dựng về mặt Luật hình sự nói chung và vấn đề xác định phòng vệ chính đáng trong Luật hình sự nói riêng.

  1. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng tại địa bàn thành phố Đà Nẵng, luận văn nhằm mục đích góp phần hoàn thiện và làm phong phú tâm lý luận chuyên ngành chọn lọc luật hình sự về chế định phòng vệ chính đáng, đồng thời đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và đảm bảo áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về phòng vệ chính đáng trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên luận văn đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:

– Phân tích làm rõ khái niệm, dấu hiệu đặc trưng của phòng vệ chính đáng trong pháp luật Hình sự Việt Nam.

– Phân tích rõ thế nào là vượt quá phòng vệ chính đáng

– Đi sâu nghiên cứu góc độ tâm lý và quyền con người khi thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng

– So sánh chế định phòng vệ chính đáng trong pháp luật Hình sự Việt Nam với pháp luật Hình sự một số quốc gia trên thế giới

– Chỉ ra một số hạn chế, bất cập trong pháp luật Hình sự Việt Nam về chế định phòng vệ chính đáng

– Đề xuất các kiến nghị để góp phần hoàn thiện các quy định về phòng vệ chính đáng trong pháp luật Hình sự Việt Nam.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quan điểm lý luận, quy định của pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phòng vệ chính đáng.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

– Về nội dung:

Luận văn không chỉ nghiên cứu khái niệm, điều kiện của phòng vệ chính đáng mà còn nghiên cứu những vấn đề khác liên quan đến phòng vệ chính đáng như vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và các trường hợp phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

– Về thời gian, không gian:

Luận văn khảo sát thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về phòng vệ chính đáng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2012 đến năm 2016.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước Việt Nam về xây dựng Nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa; về đấu tranh phòng, chống tội phạm; các tri thức của khoa học luật hình sự về phòng vệ chính đáng.

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Bên cạnh việc sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –Lênin tác giả còn sử dụng các phương pháp so sánh, lôgic, phân tích, chứng minh, tổng hợp, so sánh kết hợp lý luận với thực tiễn và một số phương pháp khác để nghiên cứu các nội dung trong luận văn này.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú và hoàn thiện tâm lý luận chuyên ngành luật hình sự về chế định phòng vệ chính đáng.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể tham khảo để hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự và đảm bảo áp dụng đúng các quy định đó về phòng vệ chính đáng, qua đó góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tổ chức và công dân.

Luận văn còn được sử dụng như là một tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, học tập tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành Luật hình sự

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu, nội dung của luận văn gồm 03 chương và phần kết luận, cụ thể:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về phòng vệ chính đáng

Chương 2: Quy định của bộ luật hình sự Việt Nam về phòng vệ chính đáng và thực tiễn áp dụng tại thành phố Đà Nẵng.

Chương 3: Nhu cầu và giải pháp đảm bảo áp dụng đúng quy định của bộ luật hình sự Việt Nam về phòng vệ chính đáng.

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG

    1. 1.1. Khái niệm của phòng vệ chính đáng

1.1.1. Khái niệm

Điều 13 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định: “Phòng vệ chính đáng là hành vi vì bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, của người khác mà chống trả lại một cách tương xứng người có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm”.

Khái niệm phòng vệ chính đáng quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự năm 1985 đã được sửa đổi bổ sung và tiếp tục được quy định tại Điều 15 bộ luật hình sự năm 1999 như sau:

“Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm”.

Như vậy, khái niệm phòng vệ chính đáng trong Bộ luật hình sự năm 1999 có sự hoàn thiện hơn so với khái niệm phòng vệ chính đáng trong Bộ luật hình sự năm 1985. Khái niệm này thể hiện rõ bản chất xã hội, pháp lý của phòng vệ chính đáng. Nó là cơ sở thống nhất cho việc xác định một hành vi được coi là phòng vệ chính đáng, qua đó phát huy được tính tích cực của phòng vệ chính đáng trong đấu tranh phòng chống tội phạm.

1.1.2. Đặc điểm

– Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

– Phòng vệ chính đáng là quyền chứ không phải nghĩa vụ pháp lý của công dân.

– Phòng vệ chính đáng là một trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự vì có căn cứ hợp pháp.

Với nghĩa như vậy, phòng vệ chính đáng là một trong những trường hợp có tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự.

    1. 1.1.3. Mục đích của việc xây dựng chế độ phòng vệ chính đáng trong pháp luật Hình sự Việt Nam

Mục đích của việc xây dựng chế định phòng vệ chính đáng trong pháp luật Hình sự Viêt Nam là tập trung nghiên cứu bản chất, tính chất và mức độ của phòng vệ chính đáng, hành vi vượt quá giới hạn cho phép trong phòng vệ chính đáng, từ đó xác định hành vi nào được luật cho phép và hành vi nào vượt quá sự cho phép đó và phải bị chịu trách nhiệm hình sự.

    1. 1.2. Các điều kiện của phòng vệ chính đáng

1.2.1. Những điều kiện thuộc về hành vi xâm hại

Thứ nhất, hành vi xâm hại phải là hành vi bất hợp pháp, rõ ràng là có tính chất mức độ nguy hiểm đáng kể cho xã hội.

Thứ hai, hành vi xâm hại đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần bảo vệ.

1.2.2. Những điều kiện thuộc về hành vi phòng vệ

Thứ nhất, hành vi phòng vệ phải là hành vi chống trả lại chính người có hành vi xâm hại các lợi ích được pháp luật bảo vệ.

Thứ hai, thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người có hành vi xâm hại chủ yếu và thường phải là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe (thiệt hại về thể chất).

Thứ ba, hành vi phòng vệ (chống trả) phải là hành vi cần thiết để ngăn chặn sự xâm hại.

Tóm lại, trong mọi trường hợp để xem xét hành vi phòng vệ có phải là cần thiết (chính đáng) hay vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, cần xem xét, đánh giá đầy đủ và toàn diện tất cả các điều kiện (dấu hiệu) nêu trên có liên quan đến hành vi xâm hại cũng như hành vi phòng vệ.

    1. 1.3. Vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng

1.3.1. Khái niệm

Một trong những điều kiện của phòng vệ chính đáng là sự chống trả người có hành vi xâm hại phải là sự chống trả cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Nếu không thỏa mãn điều kiện này thì bị coi là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

Khoản 2 Điều 15 BLHS năm 1999 quy định “ Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng vượt quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại”.

Như vậy, vượt quá phòng vệ chính đáng thực chất là trường hợp do đánh giá sai tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại nên người phòng vệ đã lựa chọn những công cụ, phương tiện, biện pháp chống trả gây thiệt hại rõ ràng quá mức cần thiết cho người có hành vi xâm hại, trong khi không cần thiệt phải chống trả gây thiệt hại đến như vậy vẫn có khả năng bảo vệ được những lợi ích hợp pháp.

Vấn đề phức tạp về lý luận và thực tiễn là ranh giới giữa phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thật sự chưa rõ ràng, cụ thể. Do vậy, để phân định trường hợp nào là phòng vệ chính đáng, trường hợp nào là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng không phải đơn giản và thường có những ý kiến khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.

Trong khi đó, các văn bản hướng dẫn áp dụng các quy định của BLHS về vấn đề này cũng chỉ nêu một cách chung chung là: “Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là trường hợp người phòng vệ đã dùng những phương tiện và phương pháp gây ra thiệt hại quá đáng cho người có hành vi xâm hại mà tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại cũng như hoàn cảnh cụ thể chưa đòi hỏi phải dùng các phương tiện và phương pháp đó”.

1.3.2. Trách nhiệm hình sự

Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi nguy hiểm cho xã hội vì nó gây ra những thiệt hại không cần thiết, không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Vì vậy, người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự

Khoản 2 Điều 15 BLHS quy định: “Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sư”

Tuy nhiên, trách nhiệm hình sự trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được giảm nhẹ nhiều so với trường hợp phạm tội không thuộc trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Bởi vì, phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được quy định là một tình tiết giảm nhệ trách nhiệm hình sự tại điểm c, khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999.

Trong BLHS năm 1999 quy định hai trường hợp phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, đó là: Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 96) và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 106). Đây là hai tội được xây dựng dưới dạng cấu thành giảm nhẹ đặc biệt vì thế loại và mức hình phạt quy định đối với hai tội phạm này ít nghiêm khắc do với hai tội phạm tương ứng quy định tại Điều 93 và Điều 104BLHS.

Ngoài trách nhiệm hình sự, người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng có thể phải chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.

    1. 1.4. Phân biệt phòng vệ chính đáng với các trường hợp không phải là phòng vệ chính đáng và trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự khác.

1.4.1. Phân biệt phòng vệ chính đáng với tình thế cấp thiết

Trong các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, ngoài trường hợp phòng vệ chính đáng còn có tình thế cấp thiết được quy định tại điều 16 BLHS có một số nội dung gần giống với phòng vệ chính đáng. Do vậy, cần phải phân biệt để tránh nhầm lẫn.

Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm

Phòng vệ chính đáng theo pháp luật Luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Phòng vệ chính đáng theo pháp luật Luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

1.4.2. Phân biệt phòng vệ chính đáng với phòng vệ tưởng tượng

Ngoài hai hình thức phòng vệ quá sớm hoặc quá muộn, còn có một hình thức phòng vệ khác nữa đó là “phòng vệ” tưởng tượng. Đó là sự phòng vệ trong trường hợp không có hành vi xâm hại trên thực tế nhưng người “phòng vệ” lại tưởng lầm hành vi hợp pháp của người nào đó là hành vi xâm hại và đã chống trả lại sự tấn công tưởng tượng đó (ví dụ, bắn vào một người đi đường mà tưởng lầm là kẻ cướp). Phòng vệ tưởng tượng chỉ giống phòng vệ chính đáng ở một điểm duy nhất là đó là mục đích và động cơ khi thực hiện hành vi: đều nhằm chống trả hành vi xâm hại, bảo vệ các lợi ích cần được bảo vệ. Pháp luật hình sự của một số nước xem xét và đánh giá hành vi phòng vệ tưởng tượng trên cơ sở các quy định về phòng vệ chính đáng và chế định về sai lầm thực tế, tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh và các tình tiết trong từng trường hợp cụ thể mà hành vi phòng vệ tưởng tượng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vô ý hoặc không phải chịu trách nhiệm hình sự

1.4.3. Phân biệt Phòng vệ chính đáng với phòng vệ quá sớm

Phòng vệ quá sớm hay còn gọi là phòng vệ trước là hành vi phòng vệ khi chưa có hành vi xâm hại bằng việc gây thiệt hại thực sự cho khách thể cần bảo vệ hoặc chưa có hành vi đe đoạ gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc khách thể cần bảo vệ. Đây là trường hợp chưa có cơ sở làm phát sinh quyền phòng vệ và do vậy việc gây thiệt hại lúc này sẽ không được coi là hợp pháp và chính đáng. Hành vi phòng vệ quá sớm sẽ là tội phạm thông thường và người thực hiện hành vi phòng vệ quá sớm phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện khác.

Pháp luật hình sự Việt Nam không thừa nhận hành vi phòng vệ quá sớm, tức là chưa có sự tấn công mà đã có hành vi nhằm ngăn chặn sự tấn công như: đấu dòng điện vào cánh cửa để phòng trộm, dùng bẫy để đề phòng kẻ gian… Nếu việc phòng vệ quá sớm gây hậu quả làm chết người hoặc gây thương tích cho người khác thì người có hành vi phòng vệ quá sớm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc cố ý gây thương tích…

1.4.4. Phân biệt Phòng vệ chính đáng với phòng vệ quá muộn

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 1999, tr.68 có đưa ra khái niệm phòng vệ quá muộn như sau: Phòng vệ quá muộn là hành vi phòng vệ khi sự tấn công thực sự đã chấm dứt. Đây là trường hợp cơ sở làm phát sinh quyền phòng vệ đã không còn nữa và do vậy việc gây thiệt hại cho kẻ tấn công lúc này sẽ không được coi là hợp pháp. Người có hành vi phòng vệ quá muộn phải chịu trách nhiệm hình sự khi đủ các điều kiện khác.

Dưới góc độ khoa học luật hình sự, phòng vệ quá muộn là hành vi trả thù cá nhân, tự ý xử lý hành vi phạm pháp khác, nó không còn ý nghĩa trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm nữa mà đã mang tính nguy hiểm cho xã hội ở mức độ nào đó. Do vậy, hành vi phòng vệ quá muộn không những không được pháp luật cho phép mà nó còn bị pháp luật trừng trị như đôi với tội phạm thông thường.

Thực tiễn xét xử cho thấy việc phân biệt giữa hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và hành vi phòng vệ quá muộn là tương đối khó khăn mà yêu cầu xác định sự khác nhau đó là rất quan trọng. Bởi vì, hành vi phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi phạm tội có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nên trách nhiệm hình sự cũng như hình phạt áp dụng đối với người thực hiện hành vi đó là rất nhẹ. Tuy nhiên, nhưng nếu là phạm tội trong trường hợp phòng vệ quá muộn thì chỉ được coi là tội phạm thông thường. Khi xét xử các vụ án hình sự như vậy, ta có thể coi tình tiết “phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại gây ra” là tình tiết giảm nhẹ có ý nghĩa định khung hình phạt nhưng cũng không thể nào nhẹ hơn trường hợp phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

CHƯƠNG 2

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

VỀ PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

    1. 2.1. Quy định vấn đề phòng vệ chính đáng trong pháp luật hình sự Việt Nam
      1. 2.1.1. Khái quát lịch sử lập pháp Việt Nam hình sự quy định vấn đề phòng vệ chính đáng

2.1.1.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi pháp điển hóa lần thứ nhất – Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985

2.1.1.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi pháp điển hóa lần thứ hai – Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999

2.1.2. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về phòng vệ chính đáng và việc sửa đổi , bổ sung trong Bộ luật hình sự năm 2015

2.1.2.1. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về phòng vệ chính đáng

2.1.2.2. Điểm mới trong các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về phòng vệ chính đáng

    1. 2.2. Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về phòng vệ chính đáng tại Đà Nẵng

2.2.1. Những kết quả đạt được

Người viết xin nêu ra những vụ điển hình:

Vụ án xảy ra vài ngày 18/10/2014 tại phường An Hải Tây, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

Tại bản án sơ thẩm số 97/2015/HSST ngày 17/8/2015 Tòa án nhân dân TP Đà Nẵng quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồ Thuận phạm tội “Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”. Áp dụng khoản 1 Điều 96, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Hồ Thuận 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2014.

Ngày 23/8/2015 đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị tăng mức hình phạt, tăng mức bồi thường và đề nghị xử bị cáo Nguyễn Hồ Thuận tội giết người.

Tại phiên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân cấp cao nhận định, hành vi của anh Bình tại quán nhậu của anh Thanh là tự gây sự, cầm chai bia đánh anh Thuận vô căn cứ dù được mọi người can ngăn, đã ra về sau đó còn quay lại cầm đao tự tạo chém Thuận, Thuận giơ ghế lên đỡ thì Bình chém đứt chân ghế sau đó định chém vào cùi tay trái của Thuận. Khi Thuận lui vào nhà bếp thì nhặt con dao đâm lên khi Bình tiếp tục lao vào chém Thuận, mũi dao đâm vào cổ Bình dẫn đến Bình chết, hành vi của Thuận chống trả sự tấn công của Bình, được xem là phòng vệ chính đáng. Tòa án TP Đà Nẵng đã xử phạt Thuận về tội danh và hình phạt là đúng người, đúng tội có căn cứ pháp luật, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của đại diện bị hại.

Như vậy có thể nhận thấy cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, HĐXX từ cấp sơ thẩm đến phúc thẩm đều có chung quan điểm thống nhất hành vi vi phạm của Bình và hành vi chống trả của Thuận. Dù bản án sơ thẩm bị kháng cáo nhưng xem xét dưới góc độ khách quan, các bằng chứng và nhân chứng của vụ án thì hành vi của Thuận cấu thành tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng chứ không phải tội giết người.

Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được thì còn những hạn chế, thiếu sót chưa thể khắc phục được

2.2.2. Những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân

2.2.2.1. Những hạn chế, thiếu sót

Thực tiễn xét xử cho thấy, bên cạnh việc xác định đúng, chính xác và có căn cứu các trƣờng hợp phòng vệ chính đáng để bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, thì việc xác định vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng đúng đắn cũng góp phần xử lý nghiêm minh, kịp thời và đúng pháp luật mọi hành vi phạm tội. Tuy nhiên, là một vấn đề khá phức tạp trong thực tiễn áp dụng, trong quá trình nghiên cứu, khảo sát thực tiễn xét xử chúng tôi nhận thấy có một số tồn tại trong thực tiễn xét xử như sau:

Thứ nhất, khi xét về hành vi chống trả của người phòng vệ chưa nêu được căn cứ để xác định như thế nào là cần thiết.

Thứ hai, chưa xác định rõ tính chất của hành vi, dẫn đến việc định tội danh là chưa chính xác.

Thứ ba, quy định chế định phòng vệ chính đáng nằm trong phần “tội phạm” chưa đảm bảo đúng bản chất của một hành vi chính đáng được Nhà nước cho phép

Thứ tư, chưa quy định rõ hành vi xâm phạm trong trường hợp như thế nào thì hành vi chống trả được coi là phòng vệ, trường hợp nào thì không được coi là phòng vệ

Thứ năm, ranh giới để xác định trường hợp nào là phòng vệ chính đáng, trường hợp nào là tình thế cấp thiết chưa được xác định đúng đắn bởi các cơ quan có thẩm quyền.

Thứ sáu, chưa phân biệt được rõ phòng vệ chính đáng với hành vi phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh dẫn đến áp dụng chưa đúng.

2.2.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót

Một là, Bộ luật hình sự Việt Nam mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009, nhưng qua tình hình thực tế, xã hội ngày càng thay đổi, thực tiễn thi hành cho thấy cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện hơn nữa các quy định về phòng vệ chính đáng, các tội phạm do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

Hai là, một số cán bộ của các cơ quan bảo vệ pháp luật, Tòa án trình độ nhận thức về các quy định pháp luật hình sự còn hạn chế và chưa đầy đủ.

Ba là, thực tiễn xét xử đòi hỏi trong pháp luật hình sự phải kịp thời, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới.

Bốn là, do nguyên nhân chủ quan, một số vụ án đã vi phạm các quy định liên quan đến phòng vệ chính đáng, các tội phạm do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng trong Bộ luật hình sự, qua đó, gây thiệt hại cho các lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân vì động cơ vụ lợi hay động cơ cá nhân khác, gây ảnh hưởng đến công tác phòng và chống tội phạm.

Năm là, do phương pháp, lề lối làm việc và trách nhiệm của một số cán bộ làm công tác điều tra, truy tố, xét xử chưa cao, nên việc quản lý, xử lý, giải quyết vụ án chưa thật sâu, thật kỹ.

Phòng vệ chính đáng theo pháp luật Luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Phòng vệ chính đáng theo pháp luật Luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 3

NHỮNG YẾU TỐ ĐẢM BẢO VÀ GIẢI PHÁP ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

VỀ PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG

    1. 3.1. Những yếu tố đảm bảo áp dụng đúng các quy định của Bộ luật hình sự về phòng vệ chính đáng

3.1.1. Chất lượng của quy phạm pháp luật hình sự quy định về phòng vệ chính đáng

Chất lượng của quy phạm pháp luật là một trong những yếu tố đảm bảo cho việc thi hành và áp dụng đạt được kết quả cao trong thực tiễn. Nếu chất lượng của quy phạm pháp luật nói riêng mà hệ thống pháp luật nói chung thấp, tính khả thi kém thì việc thi hành chúng sẽ gặp khó khăn, vướng mắc, khó phát huy hiệu quả của pháp luật trong đáu tranh phòng, chống tội phạm.

Để có chất lượng đòi hỏi quy phạm pháp luật hình sự quy định về phòng vệ chính đáng phải có cấu trúc logic, chặc chẽ, lời văn trong sáng, ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với khả năng nhận thức của quãng đại quần chúng; có nội dung cụ thể, rõ ràng không trùng lặp hoặc mâu thuẫn với các quy phạm pháp luật khác có liên quan; phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, đạo đức, trình độ dân trí đặc biệt là phải đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo vệ được lợi ích của Nhà nước, tổ chức cũng như quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân.

Đối chiếu quy phạm pháp luật hình sự về phòng vệ chính đáng với những yêu cầu, đòi hỏi phải thấy rằng, mặc dù đã qua ba lần pháp điển hóa, nhưng quy phạm này rõ ràng còn mang tính nguyên tắc, có tính khái quát cao. Vì thế một số nội dung thể hiện trong quy phạm này chưa thật sự rõ ràng, cụ thể mang tính đánh giá nhưng không chỉ ra tiêu chí đánh giá. Chẳng hạn, khi nói đến hành vi chống trả một cách cần thiết người đang có hành vi vi phạm nhưng chưa nêu được căn xứ để xác định như thế nào là cần thiết? Các lợi ích bị xâm phạm bao gồm quyền và lợi ích chính đáng của người phòng vệ hoặc của người khác, lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, nhưng bị xâm phạm trong trường hợp như thế nào thì hành vi chống trả được coi là phòng vệ chính đáng, trường hợp nào thì không được coi là phòng vệ chính đáng…

Điều này đòi hỏi phải có văn bản giải trình, hướng đẫn, nhưng trên thực tế những văn bản giải thích, hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự thường không theo kịp và không đầy đủ. Những hạn chế, bất cập này sẽ gây không ít khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và ảnh hưởng không nhỏ đến việc áp dụng đúng đắn quy phạm pháp luật hình sự quy định về phòng vệ chính đáng trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm.

3.1.2. Trình độ ý thức pháp luật trong xã hội

Trình độ ý thức pháp luật của cán bộ, công chức và nhân dân, nhất là của những người tiến hành tố tụng cũng là một trong những yếu tố, điều kiện cực kì quan trọng đảm bảo cho pháp luật hình sự nói chung, quy phạm pháp luật hình sự quy định về phòng vệ chính đáng nói riêng được thi hành, áp dụng chính xác, đúng đắn trong thực tiễn.

Khi đã có trình độ, ý thức pháp luật cần thiết, câc chủ thể pháp luật sẽ có những hành vi pháp luật tích cực, biết sử dụng các quy định của pháp luật về phòng vệ chính đáng để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người dân, lợi ích của nhà nước, của tổ chức, đấu tranh không khoan nhượng với các hành vi xâm phạm bất hợp pháp đến những lợi ích cần phải bảo vệ, điều quan trọng là họ áp dụng các vi phạm pháp luật về phòng vẹ chính đáng được chính xác và đúng đắn.

3.1.3. Các điều kiện và môi trường thi hành, áp dụng pháp luật

Các điều kiện và môi trường thi hành và áp dụng pháp luật hình sự nói chung, quy phạm pháp luật về phòng vệ chính đáng nói riêng có ảnh hưởng rất lớn đến việc thi hành áp dụng trên thực tiễn.

Các điều kiện để các quy phạm pháp luật về phòng vệ chính đáng được thi hành, áp dụng chính xác, đúng đắn có rất nhiều, song về cơ bản là những dấu hiệu như: Việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành, áp dụng pháp luật; hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; công tác giải thích pháp luật, chất lượng đội ngũ cán bộ có thẩm quyền thi hành, áp dụng pháp luật; những điều kiện vật chất kỹ thuật; môi trường tự nhiên, xã hội để bảo đảm việc thi hành, áp dụng các quy định của pháp luật hình sự vê fphonfg vệ chính đáng…

Nếu những diều kiện này được đáp ứng thì việc thi hành và áp dụng các quy phạm pháp luật về phòng vệ chính đáng sẽ đảm bảo chính xác và đúng đắn đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của người phòng vệ hoặc người khác, bảo vệ lợi ích của nhà nước và xã hội khỏi sự xâm hại của những hành vi bất hợp pháp, đặc biệt là tội phạm.

    1. 3.2. Các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về phòng vệ chính đáng

3.2.1. Tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy phạm pháp luật hình sự về phòng vệ chính đáng và các quy phạm pháp luật có liên quan

Hiện nay, loại tội phạm do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng ngày càng gia tăng đòi hỏi việc áp dụng pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền cần phải nhanh và chính xác hơn nữa. Do đó việc bổ sung hoàn thiện các quy phạm pháp luật hình sự về phòng vệ chính đáng và các quy phạm pháp luật có liên quan sẽ là căn cứ giúp cho những người tiến hành tố tụng đánh giá chính xác nhất tính chất, mức độ, điều kiện, nhằm xác định hành vi đó là phòng vệ chính đáng hay vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng để xét xử đảm bảo đúng người, đúng tội.

Hệ thống hóa và chính xác công tác thống kê tư pháp, thống kê hình sự; xây dựng các chuyên đề tập huấn về phòng vệ chính đáng và các tội phạm do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định của Bộ luật hình sự còn chưa thống nhất, vướng mắc, đặc biệt liên quan đến vấn đề trên.

3.2.2. Bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức pháp luật, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ có thẩm quyền áp dụng pháp luật

Việc tiến hành bồi bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức pháp luật, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ có thẩm quyền áp dụng pháp luật, nhất là đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm sẽ giúp cho công tác nghiên cứu hồ sơ, thực hiện xét xử chính xác hơn, công bằng hơn, tránh oan sai. Giúp cho người dân thêm tin tưởng vào pháp luật qua đó thúc đẩy việc thực hiện theo pháp luật của quần chúng nhàn dân góp phần làm xã hội trở nên trong sạch.

Ngoài ra còn phải tiếp tục nâng cao và đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân, chủ động phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm trong xã hội; xây dựng Quy chế cho các Câu lạc bộ phòng, chống tội phạm, Đội Dân phòng.

Tăng cường sự giám sát, kiểm sát của Viện kiểm sát trong các vụ án về phòng vệ chính đáng và các tội phạm do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

3.2.3. Đầu tư kinh phí thỏa đáng, trang bị phương tiện công tác đáp ứng yêu cầu thi hành, áp dụng pháp luật đấu tranh phòng, chống tội phạm

Việc chú trọng đầu tư kinh phí, trang bị phương tiện công tác sẽ góp phần đáp ứng yêu cầu thi hành, áp dụng pháp luật trong đấu tranh phòng, chống tội phạm . Đảm bảo cho việc áp dụng các quy định pháp luật hình sự nói chung và quy định về phòng vệ chính đáng nói riêng được nhanh chóng, chính xác minh bạch, đúng người đúng tội.

3.2.4. Kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng các quy định của pháp luật về phòng vệ chính đáng và các quy định khác có liên quan

Hệ thống hóa và chính xác công tác thống kê tư pháp, thống kê hình sự; xây dựng các chuyên đề tập huấn về phòng vệ chính đáng và các tội phạm do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định của Bộ luật hình sự còn chưa

thống nhất, vướng mắc, đặc biệt liên quan đến vấn đề trên

3.2.5. Tiếp thu, học hỏi những điểm tiến bộ trong các quy định pháp luật hình sự về Phòng về chính đáng ở các nước trên thế giới

Điều 20 Bộ luật hình sự của nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa quy định như sau:

Người thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng nhằm ngăn chặn hành vi bất hợp pháp xâm hại các lợi ích của Nhà nước, xã hội, các quyền nhân thân, tài sản và các quyền khác của mình hoặc của người khác, gây thiệt hại cho người có hành vi xâm hại bất hợp pháp, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Người có hành vi phòng vệ chính đáng rõ ràng vượt quá giới hạn cần thiết và gây thiệt hại lớn thì phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng cần được giảm nhẹ, áp dụng khung hình phạt nhẹ hơn hoặc được miễn hình phạt.

Người có hành vi phòng vệ đối với tội phạm đang hành hung, giết người, cướp của, hiếp dâm, bắt cóc hoặc các tội bạo lực khác, gây thương tích hoặc làm chết người phạm tội, không thuộc trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ, không phải chịu trách nhiệm hình sự

Theo tác giả, có hai nội dung các nhà làm luật nước ta có thể tham khảo khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự như sau:

– Người có hành vi phòng vệ chính đáng rõ ràng vượt quá giới hạn cần thiết và gây thiệt hại lớn thì phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng cần được giảm nhẹ, áp dụng khung hình phạt nhẹ hơn hoặc được miễn hình phạt, trong khi Bộ luật hình sự nước ta chỉ quy định chung – phải chịu trách nhiệm hình sự và xem nó là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (điểm c khoản 1 Điều 46);

– Người có hành vi phòng vệ đối với tội phạm đang hành hung, giết người, cướp của, hiếp dâm, bắt cóc hoặc các tội bạo lực khác, gây thương tích hoặc làm chết người phạm tội, không thuộc trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ, không phải chịu trách nhiệm hình sự, trong khi Bộ luật hình sự nước ta quy định. Do đó, để khuyến khích, động viên và bảo đảm công dân thực hiện tốt quyền của mình, chúng ta nên tiếp thu nội dung này

Ngoài ra, có thể tham khảo thêm Điều 2 Bộ luật hình sự Vương quốc Thụy Điển khi quy định:

Trong trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù, đang bị giam giữ hoặc bị bắt hoặc bị tước tự do dưới hình thức khác mà bỏ trốn hoặc đe dọa dùng vũ lực để chống trả người có nhiệm vụ canh giữ hoặc giám sát thì được phép dùng vũ lực nếu căn cứ vào hoàn cảnh thực tế mà việc dùng vũ lực đó được coi là lý do chính đáng để ngăn chặn việc bỏ trốn hoặc duy trì trật tự. Quy định này cũng được áp dụng nếu hành động chống trả là do một người khác ngoài những người đã nói trên thực hiện [66].

Qua đó, bảo đảm quyền của người thi hành công vụ.

3.2.6. Những vấn đề cụ thể

Thứ nhất, nên bỏ đi tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 56 BLHS.

Nếu thỏa mãn theo quy định tại khoản 1 Điều 15 BLHS: “ Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.” thì hành vi của người phòng vệ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nhưng hành vi phòng vệ quá mức cần thiết theo khoản 2 Điều 15 BLHS: “Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm phạm khác. Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự.”, thì người vượt quá giới hạn phòng vệ cho phép sẽ phải chịu truy cứu trách nhiệm hình sự. Từ đó có thể thấy yếu tố vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được quy định tại khoản 2 Điều 15 BLHS đã là một yếu tố làm giảm nhẹ hành vi nguy hiểm cho xã hội hơn. Mà đặc điểm của tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của yếu tố vượt quá phòng vệ chính đáng là: nó không phải là tình tiết được dùng làm căn cứ xác định một hành vi tội phạm và sự mất đi của tình tiết này không làm mất tính tội phạm của hành vi như các tình tiết định tội thông thường khác. Sự xuất hiện của tình tiết giảm nhẹ này chỉ làm thay đổi tội danh theo hướng nhẹ hơn thôi.

Người có hành vi chống trả vượt mức cần thiết trong phòng vệ chính đáng chỉ được phép gây thiệt hại cho tính mạng sức khỏe của người khác đã được BLHS quy định với tư cách là tình tiết định tội tại Điều 96 tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và Điều 106 tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khac do vượt quá phòng vệ chính đáng. Ngoài hai trường hợp này không còn trường hợp nào được xem là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Cho nên việc quy định thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm c khoản 1 Điều 46 BLHS là không cần thiết, việc quy định tình tiết giảm nhẹ ở đây chỉ có ý nghĩa giảm tính nguy hiểm cho xã hội và được xác định thuộc loại tội danh nhẹ hơn chứ không được coi là tính tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt.

Thứ hai, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể dưới dạng nghị định hay thông tư quy định các căn cứ để tránh trường hợp nhầm lẫn giữa phòng vệ chính đáng với phạm tội do tinh thần bị kích động.

Nếu hành vi tấn công vừa khiến cho bên bị hại vừa kích động mạnh về tinh thần vừa làm phát sinh quyền phòng vệ chính đáng thì việc tiên viện dẫn áp dụng sẽ là phòng vệ chính đáng. Vì áp dụng chế định này sẽ có lợi hơn cho chủ thể phòng vệ.

Để phân biệt phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng với phạm tội do tinh thần bị kích động mạnh ở những điểm sau:

  • Trong trường hợp phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng:

+ Hành vi trái pháp luật của nạn nhân đang diễn ra và chưa kết thúc.

+ Tinh thần của người phạm tội có thể bị kích động nhưng chưa đến mức mất tự chủ, hoặc không bị kích động.

+ Hành vi trái pháp luật của nạn nhân chỉ có thể bằng hành động.

+ Hành vi trái pháp luật của nạn nhân đối với người phạm tội, Nhà nước, tổ chức, người khác.

  • Trong trường hợp phạm tội trong trạng thái tính thần bị kích động mạnh:

+ Hành vi trái pháp luật của nạn nhân khiến tinh thần của người phạm tội bị kích động mạnh có thể đã kết thúc

+ Tinh thần của người phạm tội phải bị kích động mạnh

+ Hành vi trái pháp luật của nạn nhân có thể bằng hành động, hoặc bằng lời nói.

+ Hành vi trái pháp luật của nạn nhân là đối với người phạm tội hoặc người thân của họ

Thứ ba, nên thừa nhận thêm khái niệm phòng vệ từ xa (phòng vệ quá sớm) và tình tiết giảm nhẹ cho trường hợp này.

Thực tiễn xét xử cho thấy, dù pháp luật Nhà nước ta chưa có quy định hành vi phòng vệ từ xa là một hành vi phòng vệ chính đáng, nhưng khi Tòa án xét xử một vụ án cụ thể thì Tòa án chỉ đưa ra hình phạt với dưới mức thấp nhất của khung hình mà vẫn được sự đồng tình của người dân, thậm chí như trong vụ án TAND TP. Đà Nẵng đã tuyên phạt ông Trần Quang Long, sinh năm 1931 (trú tại phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng) 5 năm từ về tội “giết người” có ý kiến cho rằng không nên truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Long vì kẻ bị chết chính là kẻ trộm.

KẾT LUẬN

Phòng vệ chính đáng là một trong những tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi, loại trừ trách nhiệm hình sự. Việc nhận thức và áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về chế định này sẽ góp phần không chỉ nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền con người của các cơ quan bảo vệ pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và còn phát huy được tinh thần tích cực, chủ động của quần chúng nhân dân tham gia vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Tuy nhiên cho đến nay vấn đề phòng vệ chính đáng chưa được khoa học luật Hình sự quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống. Trong khi đó thực tiễn điều tra ruy tố và xét xử ở nước ta nói chung và ở thành phố Đà Nẵng nói riêng trong thời gian qua cho thấy còn nhiều vướng mắc trong nhận thức và áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về phòng vệ chính đáng. Phần lớn sai lầm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong xử lý các vụ án có liên quan đến phòng vệ chính đáng là do nhận thức không đúng, không đầy đủ về phòng vệ chính đáng. Mặt khác, ranh giới giữa phòng evej chính đáng với vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, giữa bị coi là tội phạm với không bị coi là tội phạm quá gần nhau, nên rất dễ bị lạm dụng trong thực tiễn áp dụng vì những động cơ cơ cá nhân.

Bộ luật hình sự năm 1999 của nước ta là một bước phát triển mới trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự, trong đó có chế định phòng vệ chính đáng. Tuy nhiên, quy định của Bộ luật hình sựu năm 1999 về phòng vệ chính đáng còn mang tính nguyên tắc, chưa đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Do vậy, việc nghiên cứu làm sáng tỏ về mặt lý luận vấn đề phòng vệ chính đáng cũng như đánh giá thực tiễn quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng trong phạm vi cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng là vấn đề có tính cấp thiết có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về lý luận và thực tiễn ở nước ta hiện nay.

Hiện nay, Việt Nam đang hội nhập quốc tế một cách mạnh mẽ, sâu rộng, thì vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng (trong đó có chế định phòng vệ chính đáng) cho phù hợp với hệ thống pháp luật trên thế giới là cần thiết và cấp bách. Cho nên, pháp luật hình sự Việt Nam cần phải tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm lập pháp của nước ngoài, đúc rút kinh nghiệm thực tiễn, thu hút sự đóng góp tâm huyết của các nhà khoa học. Từ đó, chúng ta sẽ có một hệ thống pháp luật hoàn thiện, đồng bộ, thống nhất, sẵn sàng ứng phó với bất kỳ những trở ngại trên đường phát triển. Do đó, khoa học luật hình sự Việt Nam phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, đặt ra những yêu cầu mới trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Từng bước, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam như mục tiêu của Đảng “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nƣớc ta trở thành nƣớc công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 6\LUAT HINH SU VA TO TUNG HINH SU\VO NGOC TIN\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *