Phòng ngừa tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam

Phòng ngừa tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam

Phòng ngừa tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

NữgiớiởViệt Nam làmộtlựclượngcăn bản, nguồn nhântốquan trọngđóng góp vào sự phát triển toàn diện xã hội. Trải qua hàng nghìn năm xây dựng vìsự toàn vẹn lãnh thổ, đấu tranh chống thiên tai, duy trì nòi giống, phụ nữ Việt Nam luôn phát huy những đức tính quý báu mang đậm bản sắc truyền thống như đức tính tần tảo, chịu khó, biết hi sinh vì chồng con, coi trọng cuộc sống gia đình, coi trọng hôn nhân.

ỞViệt Nam,nữgiới chiếm 51%lựclượnglaođộngtrongđónữgiớiởnông thôn vẫn đóng vai trò chính trong hoạt động sản xuất nông nghiệp; bên cạnhđó, nữ giới (nhất là phụ nữ) vẫn đóng vai trò chính trong công việc gia đình và nuôi dạy con cái, phụng dưỡng cha mẹ khi về già. Xã hội ngày càng phát triển, nữ giới càng có nhiều cơ hội được học tập, công tác, cải thiện vị trí của mình trong gia đình và xã hội, được cống hiến nhiều hơn cho xã hội.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm kể trên, trong những năm gần đây, tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện đã có xu hướng gia tăng, bộc lộ nhiều đặc điểm nghiêm trọng cả về thực trạng và diễn biến. Vấn đề nữ giới phạm tội ở Việt Nam đãphản ánh khá rõ những đặc điểm về xã hội Việt Nam những năm gần đây cũng nhưphản ánh được tính riêng biệt về tâm sinh lí giới nữ của những người phạm tội nữ. Theosốliệu thống kêcủaTòa án nhân dântốicao, trên phạm vi toàn quốc năm 1995 có 4.151 người phạm tội nữ bị xét xử sơ thẩm hình sự thì đến năm 2002 con số này là 5.603 người, tăng lên 135% so với năm 1995 [80]; Năm 2003 trên phạm vi toàn quốc có 6.543 người phạm tội nữ bị xét xử sơ thẩm hình sự thì đến năm 2007 con số này là 7.231 người, tăng lên 111%, năm 2012 con số này là 6.895 người tăng lên 105 % so với năm 2003. Tính trung bình, mỗi năm có khoảng 6.570 người phạm tội nữ bị xét xử sơ thẩm hình sự [81]. Các tội phạm do nữ giới thực hiện ngày càngđa dạng và xảy ra ở tất cả các địa phương nhưng tập trung chủ yếu là Thành phố HồChí Minh và Hà Nội. Các tội phạm do nữ giới thực hiện có mức độ cao hơn cả là tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy; tội đánh bạc; tội trộm cắp tài

10

sản; tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc; tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; tội chứa mại dâm; tội cố ý gây thương tích; tội cướp giật tài sản; tội cướp tài sản; tội vi phạm quyđịnh về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; tội môi giới mại dâm; tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; tội giết người; tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả và tội mua bán phụ nữ (nay là tội mua bán người).

Trước tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện ngày càng phức tạp, hơn nữa từ năm 2003 đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này trên phạm vi cả nước, do vậy việc nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề nữ giới phạm tội ở Việt Namdướigócđộtộiphạmhọclàcầnthiết nhằm tìm ra giải pháp kìmchếsựgia tăng và làm giảm tội phạm nói chung cũng như tội phạm do nữ giới thực hiện nói riêng. Vì vậy, tác giả đã chọn và nghiên cứu đề tài: “Phòng ngừa tội phạm do nữgiới thực hiện ở Việt Nam” làm luận án tiến sĩ.

2. Mục đích nghiên cứu

Mụcđích nghiêncứucủaluận án làđưarađượchệthống các biện pháp phòng ngừa tội phạm do nữ giới thực hiện để kiềm chế sự gia tăng tội phạm và làm giảm dần nữ giới phạm tội ở Việt Nam trong những năm tiếp theo.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đốitượngnghiêncứulà cácvấnđềcầnxem xét, làm rõ trong quá trình nghiêncứuđềtài này, baogồmtình hìnhtộiphạm donữgiới thực hiện; nguyên nhân của tội phạm do nữ giới thực hiện và các biện pháp phòng ngừa tội phạm do nữ giới thực hiện.

Về phạm vi nghiên cứu, luận án nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học: Tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam trong 10 năm từ năm 2003 đến năm 2012.

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Xét về mặt lý luận, hầu hết các vấn đề được trình bày, phân tích trong luậnán là những vấn đềmới lầnđầu tiên được nghiên cứu một cách có hệ thống. Việc nghiêncứuthành công cácvấnđềđócóthểđượccoi làmộtđóng góp đáng ghi nhận vào tội phạm học Việt Nam.

Vềthực tiễn, việc nghiên cứu, đánh giáđượccácđặcđiểmtộiphạm học của tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện trên phạm vi toàn quốc giai đoạn 2003 –2012 và xác định được các nguyên nhân của tội phạm do nữ giới thực hiện ở nước ta trong giai đoạn này có ý nghĩa thiết thực đối với thực tiễn phòng ngừa tội phạm donữgiới thực hiện.Đặcbiệt trong việc xây dựng các biện pháp phòng ngừa tội phạm do nữ giới thực hiện trên cơ sở xác định những tồn tại, hạn chế của hoạt động củacác cơ quan tư pháp trongđấutranh chốngtộiphạm donữgiới thực hiện vàtrong công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội là nữ.

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TỘI PHẠM DO NỮ GIỚI THỰC HIỆN

Thông qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu về tội phạm do nữ giới thực hiện ở nước ngoài và ở Việt Nam tác giả thấy những nội dung cơ bản của vấnđề này được nghiên cứu bao gồm: Tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện, nguyên nhâncủatộiphạm donữgiới thực hiện và phòng ngừatộiphạm donữgiới thực hiện. Nhữngnộidung nêu trênđãđượcnhiều nhà khoahọcđềcậptớitrong các công trình nghiên cứu của mình ở những phương diện, góc độ khác nhau. Do đó, đểthực hiện đề tài “Phòng ngừa tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam” thì việc nghiên cứu, phân tích và đánh giá kết quả của các công trình có liên quan về những nội dung nêu trên có ý nghĩa quan trọng và rất cần thiết.

1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

2. MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2.1. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là đánh giá được tình hình tội phạm do nữgiới thực hiện ở Việt Nam giai đoạn 2003 – 2012; xác định được nguyên nhân của tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam giai đoạn 2003 – 2012; đề xuất được các biện pháp phòng ngừa tội phạm do nữ giới thực hiện. Kết quả nghiên cứu của luậnánsẽgóp phần xây dựng các biện pháp phòng ngừatộiphạm nói chung và góp phần thực hiệnmụctiêu kiềmchếsựgia tăng củatộiphạm, làm giảmtộiphạmởViệt Nam.

2.2. Nội dung nghiên cứu

Để đạt mục tiêu trên, luận án cần tập trung nghiên cứu những nội dung sau:

Thứnhất, phân tích, đánh giá tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam giai đoạn 2003 – 2012.

Thứhai, xác định, phân tích các nhân tố là nguyên nhân của tội phạm do nữgiới thực hiện ở Việt Nam giai đoạn 2003 – 2012.

Thứ ba, trên cơ sở hai nội dung nêu trên, đưa ra những dự báo về thực trạng và diễn biến của tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam trong những năm tới vàđề xuất các biện pháp phòng ngừa tội phạm do nữ giới thực hiện nhằm loại trừ hoặc hạnchếcác nhântốlà nguyên nhâncủatộiphạm donữgiới thực hiện, góp phần làm giảm tội phạm trong xã hội.

3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiêncứutổng quátcủađềtài này là phương pháp nghiên cứu thực nghiệm các vấn đề liên quan đến tội phạm do nữ giới thực hiện. Phương pháp nghiêncứuthực nghiệmđượchiểu là “cách thức chung chứng minh những luậnđiểmkhoahọc(phán đoán khoa học) bằng luậncứthực tiễn (bằng chứng)được thu thập từ trong thực tế bằng quan sát, thực nghiệm” [64, tr.38]. Phù hợp vớiđốitượngnghiêncứuđượcxácđịnh,các loại nghiêncứukhác nhau xétvềchức năng được thực hiện trong luận án. Đó là nghiên cứu mô tả để làm rõ tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam giai đoạn 2003 – 2012; nghiên cứu giải thíchđểxácđịnhcác nguyên nhâncủatộiphạm donữgiới thực hiệnởViệt Nam giaiđoạn2003 – 2012; nghiên cứuvềdựbáođể dựbáo tình hìnhtộiphạm donữgiới thựchiện ởViệt Nam trong thời giantớivà nghiêncứuvềgiải phápđểxây dựng các biện pháp phòng ngừa tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam. Để thực hiệnđượccác loại nghiêncứunày, các phương pháp nghiêncứucụthểthíchhợpđãđược lựa chọn và sử dụng. Tiêu biểu là các phương pháp nghiên cứu cụ thể thuộc các nhóm phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp xử lí dữ liệu và phương pháp kiểm chứng giả thuyết.

– Nhóm phương pháp thu thập dữ liệu:

+ Phương pháp phân tíchthứcấpdữliệu: Cácdữliệu thực tiễnđượcthu thậpđểsửdụng trong luận ánchủyếubằng việc phân tích, khai thác cácdữliệu gốc, sẵn có, bao gồm các số liệu thống kê, các bản án của các cơ quan chức năng. Cụthểlà thu thập cácdữliệu thống kê khởitố,truytốngườiphạmtộicủacục thống kê tội phạm của VKSNDTC và số liệu thống kê xét xử HSST (biểu mẫu 1A) của phòng tổng hợp của TANDTC. Các số liệu này để nghiên cứu đánh giá về mứcđộ của tội phạm, cơ cấu của tội phạm và diễn biến của tội phạm. Số liệu thống kêxét xử HSST về người phạm tội nữ kết hợp với số liệu thống kê dân số để xác định chỉsốvềngườiphạmtộivàđểso sánhvớicácnướckhác,sốliệu thống kê của UNOD văn phòng của Liên Hợp Quốc về phòng chống ma túy và tội phạm đã được thu thập vàsửdụng. Tuy nhiên, dosốliệu thống kêcủacác cơ quan tư phápvềngườiphạmtộinữhiện naymớichỉcósốliệu tổngthểhoặc theo các nhóm tội phạm trong các chương của BLHS hoặc theo tội danh cụ thể hoặc theo địa phương, nên không tạo cơ sở đầy đủ để nghiên cứu, đánh giá về cơ cấu của tội phạm do nữgiới thực hiện theo những tiêu thức khác nhau, như theo độ tuổi, trình độ văn hóa,

nghề nghiệp,… của người phạm tội nữ và dữ liệu có sẵn trong thống kê này không đủđểgiải thích nguyên nhâncủatộiphạm. Do vậy, chúng tôitựthu thập cácdữliệu khác qua việc phân tích các dữ liệu trong các bản án hình sự sơ thẩm. Cụ thể, chúng tôi lựa chọn một cách ngẫu nhiên 434 bản án HSST có bị cáo là nữ đã xét xửcó hiệu lực pháp luật trong các năm từ 2003 đến 2008 ở 19 tỉnh, thành bao gồm: HàNội, ThànhphốHồChí Minh,ĐàNẵng,HảiPhòng, Quảng Ninh, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Ninh Bình, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Lào Cai, Bình Dương, LâmĐồng, Đắk Lắk, Bà Rịa-Vũng Tàu, Sơn La, Thái Bình, Cà Mau, Trà Vinh.

Các loạisốliệuđãthu thập trênđâyvềngườiphạmtộinói chung, người phạmtộinữnói riêngđượcsửdụngkếthợpvớisốliệu thống kêvềdânsố,laođộng, việc làm, văn hóa, giáo dục, mức sống và các tài liệu sẵn có khác để nghiên cứu đánh giá tình hình tội phạm và xác định nguyên nhân của tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam trong giai đoạn 2003 – 2012.

Cùng với phương pháp phân tích thứ cấp, để thu thập dữ liệu mới chúng tôi còn sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.

+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:

Mụcđích nghiêncứunhằm khảo sát thực trạngvềngườiphạmtộinữmàtrong thống kê tội phạm không cóởcác khía cạnh:các đặcđiểmnhân thân người phạm tội nữ, các nguyên nhân dẫn đến họ thực hiện hành vi phạm tội và khả năng phòng ngừa người phạm tội nữ tái phạm.

Đốitượngkhảo sát là phạm nhânnữđang chấp hành hình phạt tùtạitrại giam Ngọc LýởtỉnhBắcGiang và trại giam Cái Tàuởtỉnh Cà Mau docụcV26 nay là tổng cục 8 – Bộ Công an quản lí. Số phiếu phát ra 406 phiếu, sau khi kiểm tra mứcđộhoàn thành thông tin thì có 38 phiếu khôngđủthông tincầnthiết nênđãloại bỏ không đưa vào phân tích số liệu để đảm bảo tính chính xác của thông tin. Sốphiếu được sử dụng để xử lí và phân tích số liệu là 368 phiếu. Tức mẫu nghiên cứu gồm 368 phạm nhân nữ.

Nguyêntắcđiềutra,đểcó thể thu thậpđượccâutrảlờitrung thựctừđối tượngkhảo sát,trướchếtphảitạođiềukiện thuậnlợiđểhọcósựtựnguyện, cởi mở, tự tin trả lời chính xác. Thứ hai, bảng hỏi đưa ra cho đối tượng khảo sát là các câu hỏi đóng với các phương án trả lời có sẵn, đối tượng khảo sát chỉ việc lựa chọn mộttrong những phương ántrảlờiphùhợpvớimình.Thứba, cáchđặtcâuhỏi

trong bảng hỏi là những câu đơn giản, nội dung câu hỏi là các lĩnh vực về đời sống thực tế của phạm nhân nữ và phải sắp xếp theo một trình tự nhất định để tránh được sự mặc cảm, tự ái và sự tự vệ tâm lí của họ khi trả lời câu hỏi.

Xửlí 368 phiếuhỏiphạm nhânnữbằng SPSS,kếtquảkhảo sátđượcthểhiện ở phụ lục 5.

– Phương pháp xử lí dữ liệu: Phương pháp xử lí dữ liệu cụ thể được sử dụng trong luận án là Phương pháp thống kê. Phương pháp này được sử dụng để xử lí dữliệu định lượng là các dữ liệu dưới dạng số liệu phục vụ mô tả tình hình tội phạm do nữgiới thực hiệnởViệt Nam trong giaiđoạn2003 – 2012.Mộtsốcácđạilượng thống kê đã được sử dụng, tiêu biểu như đại lượng thống kê số tuyệt đối, số trung bình,sốmốt,sốtươngđối,đượcbiểuthịdướidạng bảngsốliệu và biểuđồthích hợp đểmô tả, đánh giá tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu (được trình bày trong chương 1).

– Phương pháp kiểm chứnggiảthuyết: Phương phápcụthểthuộc nhóm phương pháp kiểm chứng giả thuyết được lựa chọn và sử dụng trong luận án là phương pháp chứng minh trực tiếp giả thuyết nghiên cứu. Phương pháp này được sử dụng đểphụcvụcho việckếtluận đánh giávềtình hìnhtộiphạm, nhữngkếtluậnvềcác nguyên nhân của tội phạm, những dự báo tình hình tội phạm trong thời gian tới cũng như việc xây dựng các biện pháp phòng ngừatộiphạm tươngứngvớicác nguyên nhân của tội phạm đã được xác định đều có cơ sở, minh chứng là các dữ liệu thực tiễn đã được xây dựng trong chương 1 của luận án. Việc thực hiện phương pháp này cũng là để đáp ứng yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa các chương của luận án và đảm bảo các kết quả nghiên cứu có sức thuyết phục. Ngoài ra, một số phương pháp khác còn được sử dụng kết hợp với các phương pháp nêu trên trong việc giải quyết các nội dung nghiên cứu của đề tài, đó là các phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh.

4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Luận án là công trình khoa học nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về phòng ngừa tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam hiện nay.

Trong các nội dung nghiên cứu, luận án đã phân tích làm rõ được tình hình tộiphạm donữgiới thực hiệnởViệt Namtừnăm 2003đếnnăm 2012, khái quát một số đặc điểm cơ bản như sau: Nữ giới phạm tội chiếm tỉ lệ 7,3% trong tổng sốngười phạm tội. Tội phạm do nữ giới thực hiện luôn chiếm tỉ lệ cao là tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (23,99%), tội đánh bạc (20,71%) và tội trộm cắp tài sản (12,82%). Các tội phạm do nữ giới thực hiện có xu hướngtăng cao trong giaiđoạnnày là:Tộimôi giới mại dâm, tội đánh bạc,tộitổchức đánh bạc hoặc gá bạc và tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Người chưa thành niên phạm tội là nữ năm 2012 tăng gấp đôi so với năm 2003 và so với người chưa thành niên phạm tội là nam thì số người chưa thành niên phạm tội là nữ có xu hướng tăng với mức độ cao hơn.

Đồngthời, luận ánđãlí giảiđượcvềcơbảnnhững nguyên nhâncủatội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2012. Đó là những tácđộng tiêu cực của quá trình phát triển kinh tế – xã hội; những tác động tiêu cực trong môi trường giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội; những hạn chế thiếu sót trong việc quản lí các đối tượng nữ có nguy cơ phạm tội cao; những hạn chế thiếu sót của các cơ quan tiến hành tố tụng trong hoạt động chống tội phạm và giáo dục cải tạo phạm nhân nữ.

Trên cơsởnghiêncứulàm rõ tình hìnhtộiphạm donữgiới thực hiện, nguyên nhân của tội phạm do nữ giới thực hiện và dự báo tình hình tội phạm do nữgiới thực hiện ở Việt Nam đến năm 2020, luận án đã đưa ra các biện pháp để phòng ngừa đối với tội phạm do nữ giới thực hiện trong những năm tiếp theo. Trong đó cómột số biện pháp quan trọng như: Phát triển kinh tế tạo việc làm để có thu nhập ổnđịnh cho lao động nữ; hạn chế các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, cờ bạc; đấu tranh chống bất bình đẳng giới; tăng cường quản lí đối tượng nữ có nguy cơ phạm tội cao (người nghiện các chất ma túy và người có tiền án, tiền sự); nâng cao hiệu quả công tác cải tạo và tái hòa nhập cộng đồng đối với phạm nhân nữ.

Vấn đề quan trọng trong phòng ngừa tội phạm do nữ giới thực hiện là cần loại trừ hoặc hạn chế những nguyên nhân từ đời sống xã hội dẫn đến nữ giới phạm tội. Mục đích của việc phòng ngừa tội phạm do nữ giới thực hiện chính là đem lại cho họ một tương lai tươi sáng hơn và việc đem lại tương lai tốt đẹp cho họ chính làđem lại tương lai cho xã hội và cho chính chúng ta.

 

Phòng ngừa tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam
Phòng ngừa tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

TÌNH HÌNH TỘI PHẠM DO NỮ GIỚI THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 2003 – 2012

Tình hìnhtộiphạm làmộtnộidung nghiêncứuquan trọngcủađềtàivềphòng ngừa tội phạm, bởi vì để giải thích được nguyên nhân của tội phạm và đưa rađược những biện pháp phòng ngừa tội phạm, trước hết phải dựa trên cơ sở nghiên cứu làm sáng tỏ tình hình tội phạm.

“Tình hìnhtộiphạm là trạng thái, xuthếvậnđộngcủacáctộiphạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc một loại tội phạm) đã xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định” [32, tr.203]. Vì vậy, nghiên cứu tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện cần phải làm rõ thực trạng và diễn biến của tội phạm do nữgiới thực hiện trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định. Trong phạm vi của luận án chúng tôi nghiên cứu tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam giaiđoạn 2003 – 2012.

1.1. THỰC TRẠNG CỦA TỘI PHẠM DO NỮ GIỚI THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2003 – 2012

Hiện nay, đang có những quan niệm khác nhau về khái niệm thực trạng của tộiphạm.Thứnhất là quan niệm cho rằng: “thực trạng (mứcđộ)củaTHTP làsốlượng các tội phạm đã được thực hiện và những người thực hiện các tội phạm đó ởmộtđịabàn nhấtđịnhvà trongmộtkhoảng thời gian nhấtđịnh”[92, tr.17]. Khái niệm thực trạng của tội phạm theo quan niệm này là chỉ thực trạng về mức độ hay quy mô của tội phạm. Theo đó thì thực trạng của tội phạm do nữ giới thực hiện làtổngsốcác hành vi phạmtộiđãxảyra và tổngsốnữgiới thực hiện các hành vi phạm tội đó trong một đơn vị không gian và thời gian nhất định. Như vậy, đánh giávề thực trạng của tội phạm chỉ đòi hỏi đánhgiá về số vụ, số người phạm tộiphảnánh mức độ của tội phạm đã xảy ra trong thực tế. Khác với quan niệm hẹp nêu trên, quan niệm khác, toàn diện hơn về thực trạng của tội phạm cho rằng: Thực trạng của tội phạm bao gồm thực trạng về mức độ và thực trạng về tính chất [89, tr.101]. Điều

36

đócó nghĩa nghiêncứuthực trạngcủatộiphạm khôngchỉnghiêncứuđặcđiểm “địnhlượng” mà còn phải nghiêncứuđặcđiểm”địnhtính”củathực trạngcủatội phạm. Theođó,đánh giávềthực trạngcủatộiphạm donữgiới thực hiệnđòihỏi không chỉ đánh giá thực trạng về mức độ mà còn đòi hỏi đánh giá cả thực trạng vềtính chất của tội phạm do nữ giới thực hiện. Chúng tôi theo quan niệm này về thực trạng của tội phạm để thực hiện việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng của tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam giai đoạn 2003 – 2012.

1.1.1. Thực trạng về mức độ của tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam giai đoạn 2003 – 2012

Đểcóthểđánh giá thực trạngvềmứcđộcủatộiphạm dongườinữgiới thực cần thiết phải đánh giá được mức độ của tội phạm rõ và mức độ tội phạm ẩn của tội phạm do nữ giới thực hiện.

Tạocơsởcho việc đánh giá,đưarakếtluận tươngđốisát thựcvềthực trạngcủatộiphạm donữgiới thực hiệnởViệt Nam, tácgiảđãsửdụngsốliệu thống kê hìnhsựcủacụcthống kêtộiphạm, Viện kiểm sát nhân dântốicao (VKSNDTC) và phòng tổnghợpcủaTòa án nhân dântốicao (TANDTC).Đồng thời với việc thu thập và sử dụng số liệu thống kê tổng thể nêu trên, tác giả còn sửdụng cácsốliệuđượcthống kêtừ434bảnán hìnhsựsơ thẩm (HSST)đượclựa chọn ngẫu nhiên từ tổng số các bản án hình sự sơ thẩm về tội phạm do nữ giới thực hiện giai đoạn 2003 – 2008 và qua phiếu hỏi 368 phạm nhân nữ trong hai trại giam là trại giam Ngọc Lý ở tỉnh Bắc Giang và trại giam Cái Tàu ở tỉnh Cà Mau.

1.1.1.1. Tội phạm rõ

Tội phạm rõ được hiểu là “toàn bộ số tội phạm và người phạm tội đã phải chịu xử lí hình sự, tức là đã bị phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và đưa vào con sốthống kê hình sự” [92, tr. 23].

Theo thống kê của TANDTC, ở nước ta trong 10 năm từ năm 2003 đến năm 2012, đã xét xử 65.704 bị cáo nữ. Tính trung bình, mỗi năm có khoảng 6570 bị cáo nữ bị xét xử sơ thẩm hình sự [81]. Cụ thể số bị cáo nữ đã được xét xử sơ thẩm hàng năm trên phạm vi toàn quốc từ năm 2003 đến 2012, được thểhiện ở bảng1.1. Vàcũng trong giai đoạn này, trên phạm vi toàn quốc Tòa án các cấp đã xét xử sơ thẩm tổng số 906.827 bị cáo trong đó có 65.704 bị cáo nữ chiếm tỉ lệ 7,3% và 841.123 bị

37

cáo nam chiếm tỉ lệ 92,7% so với tổng số bị cáo [81]. Biểu đồ 1.1: So sánh số bị cáo nữ với số bị cáo nam thì số bị cáo nữ chỉ chiếm 7,8 % số bị cáo nam, tức là cứ 100 người phạm tội thì có khoảng 7 – 8 người phạm tội là nữ. Như vậy, có thể kết luận về mức độ của tội phạm do nữ giới thực hiện thấp hơn nhiều mức độ của tội phạm do nam giới thực hiện ở nước ta trong giai đoạn này.

Bảng 1.1: Số bị cáo nữ đã bị xét xử sơ thẩm ở Việt Nam giai đoạn 2003 – 2012

Năm2003200420052006200720082009201020112012TổngTB
Bị cáo

nữ

6543675461816421723170457149610153846895657046570

Nguồn: TANDTC.

Biểu đồ 1.1: So sánh số bị cáo nữ và số bị cáo nam đã bị xét xử sơ thẩm

ở Việt Nam giai đoạn 2003 – 2012

1000000 800000 600000 400000 200000

Nam

Nữ

841123

65704

0

Một thông số khác phản ánh thực trạng về mức độ của tội phạm rõ là chỉ sốngười phạm tội. Việc xác định chỉ số người phạm tội nữ và so sánh với chỉ số người phạm tội nam ở Việt Nam cũng như so sánh với chỉ số người phạm tội nữ của một số nước cũng góp phần làm rõ mức độ của tội phạm rõ của tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam.

Chỉ số người phạm tội nữ phản ánh mức độ phổ biến tội phạm trong dân cư. Chỉ số người phạm tội được tính như sau: Số người phạm tội nữ của từng năm nhân với 100.000 chia cho số dân nữ trong cùng một năm tương ứng [86, tr.39]. Kết quảthể hiện ở bảng 1.2 chỉ số người phạm tội nữ. Bảng này cho thấy chỉ số người phạm tộinữtrung bình trong giaiđoạn2003 – 2012 là 15.Điềunày có nghĩa làcứ100.000 người nữ thì có 15 người nữ thực hiện hành vi phạm tội.

38

Bảng 1.2: Chỉ số người phạm tội nữ (2003 – 2012)

NămDân số nữ

(nghìn người)

Người phạm tội nữChỉ số người phạm tội nữ
200341147654316
200441395675416
200541871618115
200642313642115
200741395723117
200842772704516
200943162714917
201043946610114
201144395538412
201244511689516
TB15

Nguồn: Tổng cục thống kê và TANDTC.

Để thấy rõ hơn mức độ tội phạm do nữ giới thực hiện chúng tôi so sánh chỉsố người phạm tội nữvới chỉ số người phạm tội nam. Chỉ số người phạm tội namđượctính tương tựkếtquả cũngđượcthểhiệnởbảng 1.3. Cho thấychỉsốngười phạmtộinam trung bình trong giaiđoạnnày là 201.Điềunày có nghĩa làcứ100.000 người nam thì có 201 người nam thực hiện hành vi phạm tội. So sánh chỉsốngườiphạmtộinữởbảng 1.2vớichỉsốngườiphạmtộinamởbảng 1.3, cho thấy chỉ số người phạm tội nam gấp hơn 12 lần chỉ số người phạm tội nữ.

Như vậy, người phạm tội nữ ít hơn người phạm tội nam mặc dù dân số nữcao hơn so với dân số nam. Thực trạng nữ giới phạm tội ít hơn nam giới phạm tộiđã và đang tồn tại cho đến thời điểm hiện nay. Giải thích nữ giới phạm tội ít hơn so với nam giới phạm tội có thể là do nữ giới phải đảm đương việc lao động sản xuất, công tác như nam giới, nhưng trọng trách chínhcủanữgiớivẫnlàm những công việc gia đình. Và công việc hàng ngày ở nhà đã giữ chân họ nên ít có cơ hội phạm tội. Điều này không chỉ đúng ở nước ta mà còn phổ biến ở hầu hết các nước khác trênthếgiới. Theodữliệu báo cáocủaUNOD văn phòngcủaLiênHợpQuốcvềphòng chống ma túy và tội phạm cho thấy tỉ lệ người phạm tội nữ bị kết án so với tổng sốngườiphạmtộibịkếtánởcácnướctrong năm 2010 như sau: Mêxicô chiếm

39

8,73%; Liên bang Nga chiếm 15,31%; Ucraina chiếm 12,71%; Thổ NhĩKỳ11,27%; Cộng Hòa Pháp chiếm 11,41%; Cộng hòa Liên bang Đức chiếm 22,31% [103].

Bảng 1.3: Chỉ số người phạm tội nam (2003 – 2012)

NămDân số nam

(nghìn người)

Người phạm tội namChỉ số người phạm tội nam
20033975561822156
20044004268699172
20054052273137180
20064099984665207
20074144884764205
20084195691696219
20094252492823218
20104298680782188
20114344492294212
201243809110441252
TB201

Nguồn: Tổng cục thống kê và TANDTC.

So sánh chỉ số người phạm tội nữ của Việt Nam so với chỉ số người phạm tội nữ củacác nước trong năm 2010 cho thấychỉsốngườiphạmtộinữởnướcta thấp hơn so với chỉ số người phạm tội nữ của rất nhiều nước. Cụ thể như: Mexicô là33,1; Liên bang Nga là 193,5; Ucraina là 102,6;Thổnhĩkỳlà 166,7; Cộng hòa Pháp 246,0; Cộng hòa Liên bangĐứclà 406,1; Bungary là 74,7; Cộng hòa Séc 206,5 [103]. Chỉ số người phạm tội nữ ở nước ta thấp hơn nhiều so với chỉ số người phạm tội nữ ở các nước khác một phần là do ở các nước này có sự thay đổi xã hội,đặc biệt là sự giải phóng phụ nữ được thực hiện trước Việt Nam với những hiệu quảrõ rệt cũng kéo theo mặt trái của nó là có nhiều hơn điều kiện để nữ giới phạm tội và làm thu hẹp khoảng cách giữa số người phạm tội nữ với số người phạm tội nam.

Tuy nhiên,sốngườiphạmtộitrênđâychỉlàsốngườiphạmtộinữrõđãđược xét xử và đưa vào con số thống kê tội phạm, còn một phần không nhỏ là tội phạm ẩn – tội phạm do nữ giới đã thực hiện nhưng chưa bị phát hiện, điều tra, xét xử và không có trong thống kê tội phạm.

40

1.1.1.2. Tội phạm ẩn

Tội phạm ẩn là “một phần trong tổng thể các tội phạm đã xảy ra trong một khoảng thời gian và trênmột địa bàn nhất địnhmà chưa được các cơ quan bảo vệpháp luật (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và các cơ quan khác của Công an cóchức năng tiếp nhận tin tố giác và phát hiện tội phạm) phát hiện về sự kiện chung hoặc chưa nhận biết được sự kiện hành vi đã phát hiện là tội phạm” [13, tr. 79-80]. Trong tội phạm học, tội phạm thực tế đã xảy ra nhưng không có trong thống kê tội phạm thườngđượcchia làm ba loại như sau:Tộiphạmẩntựnhiên,tộiphạmẩn nhân tạo và tội phạm ẩn thống kê [92, tr. 33-51]. Tuy nhiên cũng có quan điểm khác với quan điểm trên về tên gọi là tội phạm ẩn khách quan, tội phạm ẩn chủ quan vàsai số thống kê [57, tr. 180-184].

Tội phạm ẩn tự nhiên (tội phạm ẩn khách quan) là số lượng tội phạm thực tế đã xảy ra nhưng do những nguyên nhân khách quan nên các cơ quan chức năng không có thông tin về chúng, chưa bị các cơ quan chức năng phát hiện nên các tội phạm này chưa phải chịu bất kỳ một hình thức xử lí hình sự nào và do vậy nó không có trong thống kê hình sự.

Để nghiên cứu, xác định mức độ tội phạm ẩn tự nhiên của tội phạm do nữgiới thực hiện, trong luận án chúng tôisửdụng phương phápđiềutratựthuậtđối với các phạm nhân nữ trong 2 trại giam là trại Ngọc Lý và trại Cái Tàu. Chúng tôiđiềutrađểbiết ngoài trườnghợptộiphạmhọ thựchiện bịphát hiện vàbịphạt tùmà họ đang phải chấp hành thì họ còn thực hiện hành vi phạm tội khác mà không bịcơ quan chức năng phát hiện, cơ quan chức năng không có thông tin về chúng. Khi tiến hành cuộc điều tra chúng tôi phải cam kết giữ bí mật danh tính của người tham gia tự tường thuật về tội phạm đã thực hiện và bảo đảm họ không phải lo lắng, sợhãisẽbịbắtgiữ,bịtrừng phạtvềsựtiếtlộthông tin cho chúng tôi.Điềutra 368 phạm nhân nữ ở 2 trại giam trên, với câu hỏi: có khi nào các chị thực hiện hành vi phạm tội mà không bị cơ quan chức năng phát hiện không? Kết quả thu được cho thấy có 216 phiếu trả lời không bằng 58,7% và có 152 phiếu trả lời có bằng 41,3%. Lí do hành vi phạm tội của chị không bị phát hiện? Kết quả cho thấy có 35,7% trảlời là do bản thân tự che giấu, 8,6% trả lời do nạn nhân không tố giác, 43,3% trả lời do người khác thấy không ngăn cản, không tố giác, 11,4% trả lời lí do khác.

41

Như vậy,kếtquảkhảo sátcủachúng tôi cho thấyngườiphạmtộinữẩn chiếm tỉ lệ 41,3% trong tổng số người phạm tội nữ.

Tội phạm ẩn nhân tạo (tội phạm ẩn chủ quan) là số lượng tội phạm thực tếđã xảy ra mà các cơ quan chức năng đã có thông tin và xử lí nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau xuất pháttừphíachủthểáp dụng pháp luật, nhữngtộiphạm này không bị xử lí hình sự và do vậy không có trong thống kê tội phạm.

Để xác định mức độ tội phạm do nữ giới thực hiện ẩn nhân tạo chúng tôi so sánhsốbịcannữvới số bịcáonữ. Cụthể, theo thống kê của VKSNDTCtừnăm 2003 đến 2012 trên phạm vi toàn quốc có 73.759 người bị khởi tố là nữ [91]. Theo thống kê của TANDTC cũng trong thời gian này trên phạm vi cả nước có 65.704 bịcáo nữ đã được xétxử sơ thẩm hình sự [81]. Như vậy, số bị cannữ lớn hơn số bịcáo nữ là 8.055 người. Và theo số liệu thống kê của TANDTC trên phạm vi cả nước giai đoạn 2003 – 2012 cho thấy số bị cáo còn lại chưa xét xử chiếm 4,4% và số bịcáo đình chỉ xét xử chiếm 0,5% trong tổng số bị cáo. Nếu số bị cáo nữ còn lại chưa xét xử và đình chỉ xét xử cũng giống như số bị cáo nói chung thì số bị cáo nữ còn lạichưa xétxửsẽlà 2.890người(4,4%) và đìnhchỉxétxửlà 328người(0,5%). Trongsố8.055ngườinày thì có 2.890ngườicònlạichưa xétxửvà 328 người thuộc trườnghợpđìnhchỉxétxửvà 4.837ngườithuộc trườnghợphoànlạiViện kiểm sát để điều tra bổ sung hoặc không làm rõ được họ là người phạm tội. Điều đócó nghĩa là số người phạm tội nữ ẩn nhân tạo phải nhỏ hơn 4.837 người, tức là dưới 6,5% trong tổng số người phạm tội nữ bị phát hiện. Như vậy số người phạm tội nữẩn nhân tạo khoảng dưới 6,5% trong tổng số người phạm tội nữ bị phát hiện.

Tội phạm ẩn thống kê (sai số thống kê) “chỉ tồn tại trong trường hợp số thống kê là số đúng, tức là người làm thống kê đã áp dụng đúng mọi quy định đối với công tác thống kê, không sai phạm gì trong tính toán hay thời hạn mà vẫn còn những tội phạm đã bị xử lí theo pháp luật hình sự lọt ra ngoài số thống kê ấy” [66, tr. 344].

Để xác định số tội phạm do nữ giới thực hiện đã bị xử lí về hình sự nhưng không có trong thống kê tội phạm. Chúng tôi nghiên cứu tội phạm do nữ giới thực hiện qua 434 bản án HSST cho thấy 85,38% bị cáo nữ phạm tội lần đầu và 14,62% bị cáo tái phạm, phạm tội nhiều lần hoặc phạm nhiều tội [51]. Trong các trường hợp phạmtộinhiềulầncóthểthấyđiểmđặctrưng chính lànữgiới thực hiện hành vi

42

phạm tội dưới hình thức bí mật, che đậy hành vi phạm tội rất khéo léo bằng những thủđoạntinh vixảoquyệt. Vì vậy,họcóthểthực hiện trótlọthàng loạt hành vi phạm tội của cùng một tội hoặc nhiều tội trong thời gian dài rồi mới bị phát hiện vàđưa ra xét xử. Những tội phạm do nữ giới thực hiện nhiều lần rồi mới bị phát hiện chủ yếu là các tội sau: Tội trộm cắp tài sản; tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội mua bán trái phép chất ma túy; tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc; tội chứa và môi giới mại dâm. Nghiên cứu 434 bản án hình sựsơ thẩm, chúng tôi nhận thấy có những bản án xét xử nhiều vụ phạm tội của cùng mộttộidanh nhưng cũngchỉthống kê là 1vụ.Vídụ,bảnán HSSTsố62 ngày 10/06/2003 của TAND thị xã Ninh Bình xét xử Nguyễn Thị Lan về tội trộm cắp tài sản, trongbảnán ghi rõ Nguyễn Thị Lan thực hiện 5vụtrộm cắp tàisảnđộclập, không thuộc trườnghợptộikéo dài hoặctộiliêntục(mỗivụđềuthỏa mãnĐiều 138, BLHSVN) [73]. Trong trường hợp này TAND thị xã Ninh Bình cũng chỉ thống kê là một vụ và một người. Như vậy, đã lọt 4 hành vi phạm tội trộm cắp không cótrong thống kê, tức là số vụ được thống kê nhỏ hơn nhiều so với số hành vi phạm tội mà tòa án đã xét xử. Tuy nhiên số người phạm tội nói chung và người phạm tội nữvẫnđượcthống kê đúng. Tươngtự,trong trườnghợpnữgiới thực hiện nhiều tội khác nhau thì tòa án cũng chỉ thống kê là một vụ theo tội danh nghiêm trọng nhất vàmức hình phạt cao nhất để lọt những tội phạm có tính nguy hiểm thấp hơn so với tội phạm được thống kê và người phạm tội vẫn được thống kê đủ. Ví dụ, Bản án số: 93 ngày 27/09/2006, Tòa án ThànhphốĐàNẵngkếtán NguyễnThịHuyền Trang phạm tội giết người và cướp tài sản; Xử phạt Nguyễn Thị Huyền Trang 16 năm tùvề tội giếtngười, 3 năm tù về tội cướp tài sản [72]. Trong trường hợp này TAND Thành phố Đà Nẵng cũng chỉ thống kê là một vụ theo tội giết người và một người vàđãđể lọt tội cướptài sản không có trong thống kê tội phạm. Từ phân tích trênđây, có thể kết luận về tội phạm do nữ giới thực hiện ẩn thống kê (sai số thống kê) ởViệt Nam trong giai đoạn 2003 – 2012 chỉ có sai số về hành vi phạm tội và không cósai số về người phạm tội nữ.

Như vậy, người phạm tội nữ ẩn tự nhiên là 41,3%, ẩn nhân tạo là nhỏ hơn 6,5%, ẩn thống kê không. Đánh giá chung người phạm tội nữ ẩn chiếm khoảng dưới 48,8% trong tổng số người phạm tội nữ. Số lượng tội phạm nói chung đã được thực

43

hiện nhưng ẩn vì nhiều lí do khác nhau, chiếm tỉ lệ 66,19% [6, tr. 26]. Như vậy, nữgiới phạm tội có tỉ lệ ẩn thấp hơn tỉ lệ ẩn tội phạm nói chung, tức là thấp hơn nam giới phạm tội. Sở dĩ nữ giới phạm tội có tỉ lệ ẩn thấp hơn nam giới phạm tội là do phầnlớnnữgiới thực hiệntộiphạm và che giấutộiphạm bằng phương phápthủđoạn đơn giản nêndễbị phát hiện hơn so với nam. Nghiên cứu 434 bản án HSST cho thấy lí do cácvụánbịphát hiện như sau: 60,38%vụphạmtộibắtquảtang, 29,87% vụ do nạn nhân tố giác, 9,75% vụ còn lại do quần chúng tố giác và người phạm tội tự thú [51].

1.1.2. Thực trạng về tính chất của tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam giai đoạn 2003 – 2012

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM DO NỮ GIỚI THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *