Phong cách nghệ thuật thơ Phạm Phú Thứ
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử và văn học Việt Nam, Phạm Phú Thứ là một nhân vật khá đặc biệt. Ông là người giữ nhiều chức vụ quan trọng dưới triều vua Tự Đức.. Ông để lại cho văn học dân tộc một khối lượng tác phẩm đồ sộ, nội dung vô cùng phong phú và đa dạng, có nhiều giá trị. Ngoài Tây hành nhật ký (nhật ký đi Tây), Phạm Phú Thứ còn là tác giả của bộ sách đồ sộ Giá Viên toàn tập (gồm 27 quyển thơ – văn). Điều này cho thấy một cách đầy đủ hơn tài năng sáng tác, công sức lao động của ông. Phạm Phú Thứ có một di sản thơ văn đồ sộ, phong phú với hàng trăm tác phẩm gồm các tấu, khải, thư, biểu, tựa… Đặc biệt, ông còn để lại gần một ngàn bài thơ chữ Hán.
Tuy có những đóng góp lớn như vậy nhưng việc nghiên cứu, đánh giá thơ văn Phạm Phú Thứ cho đến nay vẫn còn rất hạn chế. Các công trình nghiên cứu về Giá Viên không nhiều và nhìn chung vẫn chưa đầy đủ. Thơ văn của ông vẫn ít người biết đến. Đó là một điều đáng tiếc.
Phạm Phú Thứ là một cây bút tài hoa, có phong cách riêng. Chọn đề tài “Phong cách nghệ thuật thơ Phạm Phú Thứ”, chúng tôi hi vọng sẽ làm rõ hơn những giá trị đặc sắc trong tác phẩm nghệ thuật của ông cả trên phương diện nội dung tư tưởng cũng như bút pháp nghệ thuật; từ hệ thống hình tượng, cảm hứng, phương thức biểu hiện, v.v. Thông qua luận văn này, chúng tôi mong muốn góp phần đánh giá một cách công bằng về những đóng góp to lớn mà Phạm Phú Thứ đã để lại cho văn học dân tộc.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn của chúng tôi đi sâu nghiên cứu Phong cách nghệ thuật thơ chữ Hán Phạm Phú Thứ, bao gồm hệ thống các hình tượng; chủ thể nhà thơ; các phương thức nghệ thuật đặc sắc mà tác giả sử dụng để thể hiện trong các bài thơ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm Phú Thứ có một khối lượng tác phẩm rất đồ sộ, đa dạng. Ở đây chúng tôi khảo sát trong 13 tập thơ (với 817 bài thơ) được viết bằng chữ Hán trong Phạm Phú Thứ toàn tập do Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành năm 2014.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài Phong cách nghệ thuật thơ chữ Hán Phạm Phú Thứ, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
– Phương pháp phân tích, tổng hợp
– Phương pháp so sánh, đối chiếu
– Phương pháp phân loại thống kê
– Phương pháp hệ thống.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài đã khẳng định những nét độc đáo, đặc sắc của thơ ca Phạm Phú Thứ; góp thêm một hướng tiếp cận, một cách nhìn mới về thơ chữ Hán của tác giả trong dòng chảy của văn học, văn hóa Việt Nam giai đoạn cuối cuối thế kỷ XIX.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Qua nghiên cứu phong cách thơ chữ Hán Phạm Phú Thứ, luận văn đã bổ sung thêm tư liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy thơ chữ Hán Phạm Phú Thứ ở nhà trường và việc cảm thụ văn chương đa chiều kích trong đời sống văn học hiện nay.

6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Phạm Phú Thứ – tác gia tiêu biểu trong văn học trung đại Việt Nam
Chương 2: Phong cách thơ Phạm Phú Thứ qua cảm hứng và hình tượng nghệ thuật
Chương 3: Phong cách thơ Phạm Phú Thứ qua bút pháp và ngôn từ nghệ thuật
CHƯƠNG 1
PHẠM PHÚ THỨ – TÁC GIA TIÊU BIỂU
TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
1.1. Cuộc đời và sự nghiệp “trí quân trạch dân” của Phạm Phú Thứ
1.1.1. Tiểu sử
Phạm Phú Thứ sinh ngày 24 tháng Chạp năm Canh Thìn (tức ngày 27 tháng Giêng năm 1821), mất ngày 17 tháng Chạp năm Tân Tỵ (tức ngày 5 tháng Hai năm 1882); thọ 61 tuổi. Quê quán của ông ở làng Đông Bàn, huyện Diên Phước (nay là xã Điện Trung, huyện Điện Bàn) tỉnh Quảng Nam.
Thân phụ của Phạm Phú Thứ có tên là Phan Sang; một người có học thức trong làng xã. Cụ Phan Sang có tiếng là một người hiền lành, nhân hậu, bản tính hay giúp đỡ người nghèo khó, cơ nhỡ, gặp hoàn cảnh khó khăn. Thân mẫu của Phạm Phú Thứ là bà Phạm Thị Cẩm, người làng Trừng Giang.
Thuở thiếu thời, Phạm Phú Thứ đã rất ham mê học tập. Ông nổi tiếng là người thông minh, nhanh trí; sách vở chỉ cần xem qua một lần là thuộc. Con đường khoa cử của ông cũng khá suôn sẻ; đi thi, dù là thi Hương, thi Hội hay thi Đình, Phạm Phú Thứ luôn có thành tích rất tốt.
Thư tịch còn ghi rõ, năm Nhâm Dần (1842), khi mới 22 tuổi, Phạm Phú Thứ đi thi đỗ Giải Nguyên ân khoa tại trường thi Thừa Thiên. Năm sau, 1843 (năm Quý Mão) ông đi thi Hội và đỗ Hội nguyên, đứng đầu bảng Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Khoa thi này có 7 người đỗ Tiến sĩ (Mai Anh Tuấn đỗ Thám Hoa, Nguyễn Bá Di đỗ Tiến sĩ Đệ Nhị giáp, và 5 người đỗ Đệ tam).
Ngay sau khi thi đỗ, Phạm Phú Thứ được bổ làm quan tại triều với chức Hành tẩu ở Nội các vào năm 1844. Phạm Phú Thứ mất vào năm Tự Đức thứ 35 (Nhâm Ngọ 1882) tại quê nhà, hưởng thọ 61 tuổi. Đây cũng được coi là những tháng ngày u uất nhất của vương triều Nguyễn.
Từ những nét mang tính phác thảo vừa nêu, có thể nhận thấy cuộc đời của Phạm Phú Thứ đầy những thăng trầm. Hành trạng, sự nghiệp của ông liên quan mật thiết với những biến động của lịch sử dân tộc giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX.
1.1.2. Sự nghiệp “trí quân trạch dân” của nhà nho Phạm Phú Thứ
Phạm Phú Thứ là một nhà nho thực tài. Khả năng và cống hiến của ông được ghi nhận tại ngay thời điểm ông còn sống, qua lời đánh giá của các vua Thiệu Trị và Tự Đức. Sự nghiệp “trí quân trạch dân” của ông được thể hiện trên ba phương diện lớn. Một là tu học, thi cử và đào tạo, tiến cử người hiền tài cống hiến cho triều đình. Phương diện thứ hai là làm lợi cho người dân, đặc biệt là đối với quê hương Quảng Nam – nơi ông sinh ra. Thứ ba là canh tân đất nước. Bên cạnh đó, ông còn được đánh giá là nhà thơ tài năng của dân tộc. Đó là hình mẫu về một nhà Nho ưu tú cả về tài năng lẫn phẩm hạnh.
Phạm Phú Thứ được coi là một nhà Nho theo chủ trương “dấn thân”, nhập cuộc. Hành trạng cuộc đời ông để lại dấu ấn rất rõ nét trong lịch sử dân tộc – một giai đoạn lịch sử đầy biến động đã chứng minh điều đó.
Nhìn chung, xét về vai trò và vị trí của Phạm Phú Thứ trong đời sống chính trị của đất nước, có thể thấy nổi bật hai điểm. Đó là tinh thần dân tộc và ý thức, khát vọng canh tân đất nước của ông.
Ở phương diện thứ nhất, tinh thần dân tộc, tình cảm yêu nước thương nòi của Phạm Phú Thứ là một điều rất dễ chứng minh. Sau quãng thời gian ngoài một thế kỷ, cho đến bây giờ thực tế đã cho thấy ông là một nhà Nho chân chính; nhân cách của con người này không có gì phải nghi ngờ.
Trong sự nghiệp “trí quân trạch dân” của Phạm Phú Thứ, chuyến đi sứ phương Tây có một ý nghĩa rất lớn; một sự trải nghiệm hết sức đặc biệt. Với tính cách của một người thích tìm hiểu, khám phá, khi được lệnh đi sứ, Phạm Phú Thứ đã rất hang hái và mẫn cán. Phạm Phú Thứ muốn được đến nơi, tận mắt chứng kiến đời sống phương Tây để học hỏi và tìm con đường phát triển cho dân tộc.
Phạm Phú Thứ đã chứng tỏ khả năng tư duy rất đáng nể qua Tây hành nhật ký và Tây phù thi lục. Có thể thấy ông là một nhà Nho có óc tư duy khoa học, năng lực quan sát, khảo sát thực tế đến kinh ngạc.
Sự nghiệp quan trường của Phạm Phú Thứ không tránh khỏi những khúc ngoặt, những bước thăng trầm do sự đố kị của quan lại địa phương và cả ở trong triều. Tuy vậy nhờ có tài, lại có đức, Phạm Phú Thứ vẫn được triều đình trọng dụng. Ông làm quan đến chức Thượng thư bộ Hộ sung thương chính đại thần.
Cuộc đời hoạt động của Phạm Phú Thứ rất sôi nổi; cho thấy ông là người nhạy bén, dũng cảm; là nhà nho thức thời, dấn thân. Trong xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, khi mà chế độ phong kiến vào buổi suy tàn thì đó là một trường hợp hiếm có.
1.2. Sự nghiệp trứ tác của Phạm Phú Thứ
1.2.1. Tác phẩm của Phạm Phú Thứ
Tác phẩm của Phạm Phú Thứ có một khối lượng rất lớn, gồm nhiều thể loại khác nhau. Điều đặc biệt là cho đến nay, vẫn chưa có văn bản Nôm nào của ông được phát hiện và công bố. Tất cả mọi văn bản tác phẩm đều được viết bằng chữ Hán. Sách của Phạm Phú Thứ được tập hợp, in ấn nhiều lần; dưới nhiều tiêu đề khác nhau. Tác phẩm có dung lượng lớn là thơ và đồ sộ nhất là Giá Viên toàn tập, 26 quyển, gồm: Quyển 1 – Ứng chế thi thảo (vâng mệnh nhà vua họa lại thơ), có 70 bài, trong đó, thơ họa lại dưới thời Thiệu Trị là 15 bài; thơ họa lại dưới thời Tự Đức là 55 bài. Quyển 2 – Bắc hành thi lục (thơ làm ở giai đoạn Tri Phủ Lạng Giang) gồm 82 bài; Quyển 3 – Nông giang thi lục (thơ làm ở trạm Thừa Nông), gồm 29 bài; Quyển 4 – Đông hành thi lục (thơ làm trong chuyến công cán đi Quảng Đông), gồm 89 bài; Quyển 5 – Kinh hương thi lục (những bài thơ làm ở quê nhà và kinh đô), gồm 84 bài. Quyển 6 – Nam hành thi lục (những bài thơ làm trong thời gian ông ở Quảng Ngãi, liên quan đến việc chinh phục giặc Đá Vách), gồm 27 bài; Quyển 7 – Kinh hương thi lục (những bài thơ làm ở kinh đô), gồm 47 bài; Quyển 8 – Tây phù thi lục (các bài thơ trong chuyến hành trình đi sứ qua Pháp và Tây Ban Nha), gồm 31 bài. Quyển 9, 10, 11 – Kinh hương thi lục (những bài thơ làm ở kinh đô), gồm 51 bài, 84 và 48 bài; Quyển 12 – Hàm thành thi lục (những bài thơ làm ở Quảng Yên – Hải Dương), gồm 88 bài; Quyển 13 – Tĩnh hậu thi lục (những bài thơ làm vào lúc cuối đời, tâm sự, tình hình bệnh tật), gồm 89 bài. Từ quyển 14 đến quyển 26 gồm: Chương tấu (các quyển 14,15,16,17); quyển 18 là các thể Phú – Biểu – Luận; Quyển 19 – Bi minh, Hành thuật; quyển 20 – Phúc duyệt ngự chế thi văn tập hợp 14 bài thơ, luận phúc duyệt; quyển 21 – Đối liên, gồm 143 câu đối liên, điếu tang; quyển 22 gồm các thể loại: Ký – Tự – Duyệt – Bình – Sách vấn – Di văn, gồm 11 bài; quyển 23 – Kỳ tế văn tập hợp 40 bài văn cúng; quyển 24 gồm các thể văn: Thư – Khải – Tự – Bạt, gồm 64 bài, là những thư từ trao đổi với quan chức, trí thức, đồng sự; quyển 25 gồm Thư – Khải, tập hợp 34 bài; Quyển 26 gồm Thư – Khải – Tự – Đề, tập hợp 48 bài, gồm những lời chúc tụng, dặn dò, thư gửi đồng sự, v.v.
Các thể loại, thể văn chữ Hán, ngoài các tập thơ kể trên, trong các tác Như vậy, trong suốt cuộc đời của mình, bên cạnh sự nghiệp chính trị, kinh bang tế thế, Phạm Phú Thứ còn để lại một di sản trứ tác hết sức đồ sộ. Tác phẩm của ông trải rộng trên rất nhiều lĩnh vực như văn chương, văn hóa, chính trị, lịch sử, tư tưởng, kinh tế, v.v. Những tác phẩm với tính chất đa dạng và đồ sộ này sẽ là di sản vô cùng quý giá của ông đã để lại cho hậu thế.
1.2.2. Vị trí của Phạm Phú Thứ trong lịch sử văn học dân tộc
Phạm Phú Thứ có một quá trình sáng tác lâu dài, từ khi còn trẻ cho đến cuối đời. Ông đã để lại một di sản đồ sộ, với hơn 800 bài thơ, phú và các thể văn chữ Hán khác. Giá Viên xứng đáng có một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam.
Đương thời, Phạm Phú Thứ được nhiều bằng hữu đánh giá cao cả trên phương diện chính trị cũng như văn chương nghệ thuật.
Vị trí của Phạm Phú Thứ (1821 – 1882) trong lịch sử văn học dân tộc nếu đặt ông trong giai đoạn cùng thời với những nhà thơ, nhà văn khác cùng thế hệ như Đặng Huy Trứ (1825 – 1874), Nguyễn Thông (1827 – 1884), Nguyễn Tư Giản (1823 – 1890), Nguyễn Trường Tộ (1827 – 1877), Nguyễn Lộ Trạch (1852 – 1895), Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), Nguyễn Thông (1827–1884), Nguyễn Xuân Ôn (1825 – 1889), nhà thơ hoàng tộc Tuy Lý Vương – Miên Trinh (1820 – 1897), v.v. nếu xét về mặt số lượng thơ văn sáng tác và những vấn đề rộng lớn mà ông quan tâm có thể thấy một sự đóng góp to lớn và đồ sộ.
Đóng góp của Phạm Phú Thứ ở loại hình thơ ca: Ở lĩnh vực thơ ca, đóng góp của Phạm Phú Thứ được thể hiện ở hai phương diện chủ yếu là nội dung và nghệ thuật. Về nội dung, tác phẩm của ông đã bao quát được một phạm vi đời sống xã hội, cá nhân rất đa dạng, phong phú. Điều này được thể hiện qua hệ thống đề tài mà ông đề cập.
Tác phẩm của Phạm Phú Thứ có hệ thống đề tài rất phong phú. Tuy nhiên nổi bật hơn cả trong thi ca là các đề tài “ngôn chí”, “thù tạc”, “tống biệt”. Đây là những đề tài xuất hiện thường xuyên, được nhắc đi nhắc lại liên tục, xuyên suốt trong toàn bộ sang tác của ông. Nó trở thành một nét riêng, có tính ổn định, có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao.
Xét về phương thức thể hiện, tư duy nghệ thuật trong thơ Phạm Phú Thứ, có thể thấy bên cạnh những chủ đề, tư duy như yêu nước, thân dân, ý thức chống ngoại xâm, nêu các quan điểm giáo hóa của nhà nho về đạo lí, bổn phận làm người, v.v. thì kiểu tư duy về thế sự – thời sự đã hiện hiện như một phẩm chất, đặc điểm quan trọng chi phối các chặng đường thơ Phạm Phú Thứ, tạo cho thơ ông có những nét riêng.
Sâu xa trong các bài thơ chữ Hán của Phạm Phú Thứ là chiều sâu giá trị nhân văn mang cảm quan tư duy thế sự – thời sự. Những chuyện, việc thời sự nhưng cũng là nhưng mối cảm hoài, những suy tư về giá trị nhân văn nhân bản của con người có tính phổ quát.
1.2.2.2. Đóng góp của Phạm Phú Thứ ở loại hình văn xuôi
Bên cạnh thành tựu thơ ca, thể hiện rõ qua các phương diện nội dung và nghệ thuật, Phạm Phú Thứ còn có một tác phẩm văn xuôi đặc sắc mang tính chất nhật ký, với tiêu đề Nhật ký đi Tây. Đây cũng là một đóng góp đáng kể của ông về mặt thể loại văn học.
Về văn xuôi, dấu ấn lớn nhất của Phạm Phú Thứ thể hiện chủ yếu qua tập Tây hành nhật ký, cũng còn có tên gọi khác là Giá Viên biệt lục. Tác phẩm Tây hành nhật ký thuộc thể tài du ký và dung chứa trong nó nhiều hình thức tư duy nghệ thuật, trước hết là sự tuân thủ chặt chẽ lối viết nhật ký
Có thể thấy trong Tây hành nhật ký những giọng văn tả cảnh, tả vật, tả sự khác nhau và đan xen trong đó một số ít đoạn văn hồi ức, kể sử, bình luận ngoại đề. Cho đến bây giờ, sau khoảng thời gian dài và nhiều biến động lịch sử, các tác phẩm của Phạm Phú Thứ vẫn còn nguyên những giá trị. Thơ văn của ông chứa đựng những trăn trở suy tư về hiện thực đời sống xã hội phong kiến đã từng diễn ra. Giá trị của những áng văn chương này không dừng lại ở những điều được mô tả bằng ngôn từ mà nó còn thể hiện cái Thần – Chí – Khí của tác giả.
Tiểu kết Chương 1
Phạm Phú Thứ (1821 – 1882) là nhà thơ, nhà nho, nhà canh tân của Việt Nam thế kỉ XIX. Trong nhiều tài liệu từ điển nhân vật lịch sử đều ghi nhận ông là danh sĩ, danh thần, danh nho dưới triều Nguyễn. Cuộc đời và thơ văn, tư tưởng của ông vẫn luôn được đánh giá cao và còn rất nhiểu giá trị cho đến ngày nay. Về tư tưởng, ông là người thuộc số ít nhạy bén với thời cuộc, có nhận thức về tầm quan trong của việc canh tân đất nước. Nhiều đề xuất và kiến giải của ông đương thời không được áp dụng nhưng đó cũng là bi kịch chung của dân tộc và những trí thức thức thời nửa sau thế kỉ XIX. Ông có một sự nghiệp thơ văn đồ sộ, với nhiều thể loại khác nhau, trong đó thơ chữ Hán chiếm một số lượng lớn và in dấu tư tưởng và giá trị nghệ thuật. Ông xứng đáng có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc.
CHƯƠNG 2
PHONG CÁCH THƠ PHẠM PHÚ THỨ NHÌN TỪ
PHƯƠNG DIỆN CẢM HỨNG VÀ HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT
2.1. Phong cách thơ Phạm Phú Thứ nhìn từ phương diện cảm hứng nghệ thuật
2.1.1. Cảm hứng tụng ca trong thơ thơ Phạm Phú Thứ
Trong thơ chữ Hán Phạm Phú Thứ, nguồn cảm hứng của ông đến từ nhiều hướng khác nhau. Có thể đó là một sự vật, sự việc bình thường như chuyện đắp đê, đê mới thay đê cũ, những cảnh vật núi non, đèo ải, cửa biển hoặc những cảnh sắc quê hương, hoặc những vấn đề về giao hữu, tống tiễn, các sản vật, những con người quen lẫn lạ, v.v. đều có thể gợi hứng cho ngọn bút vừa hiện thực vừa ước lệ của ông. Trong đó, nổi bật lên là cảm hứng ngợi ca vương triều, đất nước với những cảnh sắc hùng vĩ của non sông và cảm hứng về thế sự nhân sinh cũng như những vấn đề đổi mới.
Phạm Phú Thứ có hẳn một mảng thơ hàng trăm bài, ca tụng minh quân và sự nghiệp vương triều. Đấy cũng là cảm hứng chủ đạo của dòng thơ này. Chẳng hạn, những áng thi ca trao đổi thù tạc với vua Thiệu Trị, Tự Đức, v.v. hay những trao đổi với các vị hoàng thân quốc thích, quý tộc trong triều. Nội dung của nó phần lớn là miêu tả, ca ngợi phong cảnh chốn cung đình: từ ngọn gió, áng mây, thời tiết, ao hồ, cây cỏ, hoa lá… cho đến những đồ vật quý báu của hoàng cung.
Chủ thể trữ tình trong thơ chữ Hán của Phạm Phú Thứ, là hình tượng một bậc nho thần công vụ. Hầu như đọc bất kỳ bài thơ nào của ông, ta đều bắt gặp một Phạm Phú Thứ tháo vát, chăm chỉ, không mệt mỏi thực hiện chức phận của mình.
2.1.2. Ngợi ca vương triều và đất nước
Ca tụng minh quân và sự nghiệp vương triều là cảm hứng chủ đạo của dòng thơ này. Chẳng hạn, những áng thi ca trao đổi thù tạc với vua Thiệu Trị, Tự Đức, v.v. hay những trao đổi với các vị hoàng thân quốc thích, quý tộc trong triều. Nội dung của nó phần lớn là miêu tả, ca ngợi phong cảnh chốn cung đình: từ ngọn gió, áng mây, thời tiết, ao hồ, cây cỏ, hoa lá… cho đến những đồ vật quý báu của hoàng cung. Nội dung các bài thơ chủ yếu ca ngợi công đức vua chúa: dựng xây cơ đồ, khai sáng triều đại, mở mang bờ cõi và những chiến công oanh liệt… Hình ảnh các bậc quân vương trong các sáng tác thơ văn vừa được đề cao, tán dương, vừa khẳng định triều đại, vừa khai mở cho cảm hứng ca công tụng đức vốn có nơi các văn sĩ triều thần. Tư tưởng tụng ca, tung hô lẫn nhau mang theo niềm tin của họ về lý tưởng chính trị, xã hội thái bình thịnh trị.
Những hình ảnh thiên nhiên, màu sắc cảnh vật có giá trị xây dựng nên những mẫu nhân cách lý tưởng. Đó là các mẫu hình hoàng đế anh minh, tài trí (minh quân, nhân quân), bề tôi hiền lương (lương thần, hiền thần, lương tướng), người quân tử tài đức kiêm toàn (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín), người phụ nữ đức hạnh (tiết phụ, liệt phụ, hiền phụ,…),… Những mẫu nhân cách lý tưởng này hầu hết đều theo quan niệm của Nho giáo. Các tác giả cung đình Việt Nam thời trung đại với tư cách là người “dẫn đạo xã hội” muốn lấy tam giáo (Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo), đặc biệt là Nho giáo làm chỗ dựa vững chắc về tinh thần, một mô hình lý tưởng để hành đạo và sử dụng văn chương như một phương tiện hữu ích và đắc lực để tuyên truyền cho tư tưởng ấy. Đặc biệt, Nho giáo xem văn chương là công cụ để giáo hóa xã hội và con người theo đạo lý của thánh nhân. Một loạt mệnh đề về mối quan hệ giữa “văn” và “đạo” cho thấy điều đó: “văn dĩ tải đạo” (văn để chở đạo), “văn dĩ quán đạo” (văn để thấu suốt đạo), “văn dĩ minh đạo” (văn để làm sáng tỏ đạo), “văn dĩ hoằng đạo” (văn để truyền bá đạo), v.v.
2.1.3. Cảm hứng thế sự và tư tưởng canh tân
Trong thơ chữ Hán của Phạm Phú Thứ, bên cạnh những bài thơ thể hiện tư tưởng, cảm hứng tụng ca vương triều là những bài thơ u hoài, uất ức. Ở những bài thơ này, mỗi chữ mỗi câu là dòng huyết lệ của một nhà Nho tận trung báo quốc. Nếu cảm hứng ngợi ca nghiêng về cái nhìn lãng mạn, thi vị hóa và mang tính chất ca tụng thì cảm hứng thế sự lại nghiêng về tính chất hiện thực với bút pháp tả thực.
Trên đường ra bắc (trong tập Bắc hành thi lục) nhà thơ đã ghi lại những tâm tư tình cảm của mình trong chuyến hành trình. Tâm hồn nhà thơ đồng cảm cùng những âm vang của cuộc đời nơi “thôn dã”, cùng quán trọ, tiếng côn trùng lúc canh ba tĩnh mịch.
Những biểu hiện về cảm hứng thế sự trong thơ Phạm Phú Thứ, ngoài những tâm trạng về thế thái nhân tình, về tình cảnh cuộc sống con người trong xã hội – những nơi ông đã từng đi qua còn xuất hiện những bài thơ miêu tả nỗi lòng của ông về chính thân phận mình, cảnh ngộ của mình trước thời cuộc. Bài Ưu đàm tú tài Đoàn Kim tương kiến phỏng thư thi ghi lại nỗi lòng đồng cảm cùng bằng hữu nhưng cũng là những cảnh ngộ của “khách tha hương”, mang “tấm lòng hùng tráng” mong ước một cuộc đời khoáng đạt hơn.
D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE CUONG DE AN 2024\PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ PHẠM PHÚ THỨ

