Phát triển hoạt động bảo lãnh trong nước tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Hiện nay, sự phát triển của sản xuất hàng hóa, sự trao đổi hàng hóa giữa các bên diễn ra với tốc độ nhanh, khối lượng hàng hóa, giá trị giao dịch lớn. Một trong những nhân tố có vai trò như một chất xúc tác làm điều hoà, xúc tiến nhanh hơn quá trình trao đổi hàng hóa, thúc đẩy mối quan hệ hợp tác kinh tế của các chủ thể kinh tế hỗ trợ cho quá trình phát triển nền kinh tế trên chính là bảo lãnh ngân hàng. Nhờ có bảo lãnh ngân hàng mà hàng loạt các quan hệ trong hợp đồng kinh tế được ra đời, các bên có thể tin tưởng yên tâm tham gia ký kết các hợp đồng kinh tế và có trách nhiệm với hợp đồng của mình đã ký kết góp phần tăng cường mối quan hệ thương mại quốc tế giữa các quốc gia. Đối với doanh nghiệp trong các quan hệ kinh tế không phải lúc nào các đối tác cũng tin tưởng nhau do rất nhiều nguyên nhân. Vì thế, để đảm bảo an toàn quan hệ làm ăn, bên cung cấp thường yêu cầu bên kia phải có bảo lãnh của ngân hàng thì giao dịch mới thực hiện. Do đó bảo lãnh ngân hàng đôi khi là yêu cầu bắt buộc để bước đầu giúp cho doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận với hợp đồng. Ngoài ra, bảo lãnh giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được khoản vay vốn đáng kể, có thêm nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động và doanh nghiệp chỉ phải trả một khoản phí tương đối thấp. Đối với ngân hàng, bảo lãnh là một trong các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế. Bảo lãnh đem lại lợi ích trực tiếp cho ngân hàng bên cạnh lợi nhuận chính từ hoạt động tín dụng truyền thống. Phí bảo lãnh đóng góp vào lợi nhuận ngân hàng một khoản không nhỏ, chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng phí dịch vụ của các ngân hàng hiện nay. Không chỉ đóng góp vào lợi nhuận, bảo lãnh còn làm đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro mất vốn
Là một trong những ngân hàng lớn, uy tín có nhiều lợi thế trên thị trường về lĩnh vực ngân hàng, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank)-Chi nhánh Quảng Nam hiểu rõ được tầm quan trọng của dịch vụ bảo lãnh đối với kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh. Tuy nhiên, tại chi nhánh vẫn còn có những tồn tại những hạn chế như: số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ bảo lãnh tăng trưởng thấp so với số lượng các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn, chưa có đội ngũ chăm sóc khách hàng chuyên nghiệp, các thủ tục thực hiện bảo lãnh còn mất khá nhiều thời gian xử lý, cơ cấu các loại hình bảo lãnh còn chênh lệch, việc kiểm soát sau khi phát hành bảo lãnh chưa được chú trọng, mang tính hình thức nên khó có thể hạn chế được rủi ro cho ngân hàng…Bên cạnh đó, các nghiệp vụ bảo lãnh phát sinh tại chi nhánh chủ yếu là các hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh trong nước. Xuất phát từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng, xác định các hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân để đề xuất ra các giải pháp phù hợp, khả thi nhằm hoàn thiện hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh trong nước tại Ngân hàng VietinBank-Chi nhánh Quảng Nam là thực sự cần thiết. Chính vì những lý do đó, tôi đã chọn đề tài: “Phát triển hoạt động bảo lãnh trong nước tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam” để thực hiện nghiên cứu luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Quản trị kinh doanh.
2.1. Mục tiêu tổng quát: Phân tích, đánh giá các thực trạng hoạt động bảo lãnh trong nước tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam, từ đó đề xuất giải pháp để phát triển hoạt động bảo lãnh trong nước tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam.
2.2. Mục tiêu cụ thể:
Để đáp ứng được mục tiêu tổng quát, luận văn chia nhỏ thành 3 mục tiêu cụ thể:
– Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về về hoạt động kinh doanh bảo lãnh trong nước của NHTM.
– Phân tích thực trạng Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh trong nước tại Ngân hàng Công thương Việt Nam nói chung và đặc biệt đi sâu phân tích về những mặt đạt được những hạn chế tồn tại trong hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh trong nước tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- Chi nhánh Quảng Nam.
– Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh trong nước tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam để góp phần phát triển dịch vụ bảo lãnh tại Chi nhánh.
2.3. Câu hỏi nghiên cứu:
Để đáp ứng mục tiêu tổng quát cũng như 3 mục tiêu cụ thể, luận văn cần trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu tương ứng.
– Hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh trong nước tại NHTM gồm những nội dung gì?
– Thực trạng của hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh trong nước tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- Chi nhánh Quảng Nam trong thời gian qua là như thế nào?
– Cần có những giải pháp và kiến nghị gì để hoàn thiện hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh trong nước tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam-Chi nhánh Quảng Nam trong thời gian đến.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh trong nước tại Ngân hàng VietinBank-Chi nhánh Quảng Nam.
Phạm vi nghiên cứu tại Ngân hàng VietinBank-Chi nhánh Quảng Nam, số liệu được thu thập trong thời gian 2020-2022 để phân tích đánh giá.
Đề tài nghiên cứu sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như sau:
- Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp:
Thu thập thông tin thứ cấp từ các nguồn:
– Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của VietinBank Quảng Nam từ năm 2018 đến năm 2020.
– Các bài viết đăng trên báo hoặc các tạp chí khoa học chuyên ngành và tạp chí có liên quan; các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước.
– Tài liệu giáo trình hoặc các xuất bản khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
– Các văn bản, quy trình, quy định liên quan đến mảng dịch vụ bảo lãnh tại VietinBank. Trên cơ sở các dữ liệu thu thập được nêu trên cũng như các báo cáo tổng hợp của ngân hàng, tác giả tiến hành so sánh, phân tích dữ liệu nhằm đưa ra các kết quả nghiên cứu cho đề tài.
- Phương pháp tham vấn:
Tác giả tiến hành hỏi trực tiếp những người cung cấp thông tin, dữ liệu cần thiết cho việc nghiên cứu đề tài. Phương pháp này sử dụng để thu thập những thông tin cần thiết và số liệu thô có liên quan đến đề tài. Đây là phương pháp hữu hiệu trong quá trình nghiên cứu để tìm hiểu các thông tin chi tiết.
– Tham vấn Ban giám đốc: tìm hiểu thêm về chính sách tìm kiếm, tiếp cận KH mà chi nhánh hướng tới, định hướng phát triển về mảng dịch vụ bảo lãnh mà chi nhánh đang thực hiện.
– Tham vấn lãnh đạo và cán bộ Phòng khách hàng/Phòng giao dịch: hiểu biết hơn rõ hơn về các phân khúc KH đang tiếp cận, tìm hiểu về hoạt động bảo lãnh trong nước đang phát hành cho các KH, về quy trình và điều kiện áp dụng đối với KH khi phát sinh nhu cầu bảo lãnh.
– Tham vấn KH: Nắm rõ được nhu cầu thực tế của KH, các điểm chưa hài lòng và mong muốn hơn nữa từ việc cung cấp dịch vụ bảo lãnh của ngân hàng, có sự so sánh so với các TCTD khác đối với các KH hiện đang có quan hệ với nhiều TCTD.

- Phương pháp phân tích thống kê:
Dựa vào các số liệu đã thu thập được, tác giả sẽ sử dụng số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân; bằng phương pháp so sánh theo thời gian, theo không gian, so sánh với mục tiêu đặt ra để phân tích thực trạng và kết quả hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh trong nước của VietinBank Quảng Nam.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
5.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm các cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, quy trình liên quan đến hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh trong nước của Ngân hàng thương mại.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài đánh giá được thực trạng và đưa ra những ưu điểm và hạn chế cũng như các yếu tố tác động đến việc triển khai các hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh trong nước của Ngân hàng thương mại cổ phần Vietin Bank; Đồng thời, đề tài đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh và chất lượng dịch vụ bảo lãnh trong nước của Ngân hàng. Vì vậy, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tư liệu hữu ích cho quá trình nâng cao năng lực quản lý, hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo lãnh, là nguồn tư liệu tham khảo của các Ngân hàng thương mại, các cơ quan ban ngành, góp phần nâng cao năng lực nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả kinh doanh dịch vụ bảo lãnh trong thời gian tới.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận về hoạt động bảo lãnh trong nước tại Ngân hàng thương mại
Chương 2 : Thực trạng hoạt động Bảo lãnh trong nước tại NH TMCP Công thương Việt Nam – CN Quảng Nam.
Chương 3: Giải pháp để phát triển hoạt động Bảo lãnh trong nước tại NH TMCP Công thương Việt Nam – CN Quảng Nam trong thời gian tới.
CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TRONG NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN BẢO LÃNH TRONG NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm, chức năng của bảo lãnh ngân hàng
- Khái niệm bảo lãnh ngân hàng
Theo Điều 366, Bộ Luật dân sự năm 2015 quy định: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là Bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là Bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là Bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà Bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.”
Theo Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng 2010, bảo lãnh ngân hàng được hiểu: “Là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (Bên bảo lãnh) với bên có quyền (Bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (Bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay.”
Điều 3 Thông tư TT07/2015/TT-NHNN quy định về bảo lãnh ngân hàng như sau: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó Bên bảo lãnh cam kết với Bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho Bên được bảo lãnh khi Bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với Bên nhận bảo lãnh; Bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho Bên bảo lãnh.”
Như vậy, bảo lãnh ngân hàng là một dịch vụ sử dụng uy tín và sức mạnh tài chính của ngân hàng cam kết cùng với KH mà ngân hàng bảo lãnh để thực hiện một nghĩa vụ nào đó được quy định từ trước. Sự bảo lãnh của ngân hàng thường được áp dụng để bảo đảm cho một hoạt động nào đó của doanh nghiệp, trong trường hợp doanh nghiệp chưa được đối tác tin tưởng nên nhờ ngân hàng bảo lãnh. Việc bảo lãnh của ngân hàng cho phép chủ nợ của doanh nghiệp có được một chứng từ đảm bảo thanh toán, đơn vị được bảo lãnh phải trả chi phí dưới hình thức lợi tức cho ngân hàng theo những cam kết thỏa thuận. Một giao dịch bảo lãnh ngân hàng bao hàm những mối quan hệ, đó là:
- Quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh: Đây là quan hệ cơ sở để phát hành bảo lãnh và bên được bảo lãnh có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện đối với bên nhận bảo lãnh;
- Quan hệ giữa ngân hàng với bên được bảo lãnh: Đây là quan hệ giữa ngân hàng cấp tín dụng với KH của mình;
- Quan hệ giữa ngân hàng và bên nhận bảo lãnh: Đây là quan hệ giữa ngân hàng và bên thụ hưởng quyền phát sinh theo các cam kết bảo lãnh.
- Các chủ thể tham gia trong bảo lãnh ngân hàng:
– Bên bảo lãnh: là các TCTD, CN ngân hàng nước ngoài. Với trường hợp bảo lãnh đối ứng, xác nhận bảo lãnh và đồng bảo lãnh thì bên bảo lãnh bao gồm cả TCTD ở nước ngoài.
– Bên được bảo lãnh: là tổ chức (bao gồm cả TCTD, CN ngân hàng nước ngoài, TCTD ở nước ngoài) hoặc cá nhân.
– Bên nhận bảo lãnh: là tổ chức (bao gồm cả TCTD, CN ngân hàng nước ngoài, TCTD ở nước ngoài) hoặc cá nhân có quyền thụ hưởng bảo lãnh.
– Bên bảo lãnh đối ứng: là TCTD, CN ngân hàng nước ngoài, TCTD ở nước ngoài thực hiện bảo lãnh đối ứng cho bên được bảo lãnh.
– Bên xác nhận bảo lãnh: là TCTD, CN ngân hàng nước ngoài, TCTD ở nước ngoài thực hiện xác nhận bảo lãnh cho bên bảo lãnh.
– KH là tổ chức (bao gồm cả TCTD, CN ngân hàng nước ngoài, TCTD ở nước ngoài), cá nhân sau:
+ Trong bảo lãnh ngân hàng (trừ bảo lãnh đối ứng, xác nhận bảo lãnh), KH của bên bảo lãnh là bên được bảo lãnh;
+ Trong bảo lãnh đối ứng, KH của bên bảo lãnh là bên bảo lãnh đối ứng, KH của bên bảo lãnh đối ứng là bên được bảo lãnh;
+ Trong xác nhận bảo lãnh, KH của bên bảo lãnh là bên được bảo lãnh, KH của bên xác nhận bảo lãnh là bên bảo lãnh.
- Chức năng bảo lãnh ngân hàng:
– Bảo lãnh là công cụ bảo đảm: Đây là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh, bằng việc cam kết chi trả bồi thường khi xảy ra các biến cố vi phạm hợp đồng của người được bảo lãnh, các ngân hàng bảo lãnh đã tạo ra một sự đảm bảo chắc chắn cho người thụ hưởng. Chính sự tin tưởng này tạo điều kiện cho hợp đồng được ký kết suôn sẻ và thuận lợi. Với chức năng này, ngân hàng bảo lãnh cũng thường xuyên kiểm tra, giám sát tạo ra một áp lực thực hiện tốt hợp đồng, giảm thiểu vi phạm về phía người được bảo lãnh.
– Bảo lãnh là công cụ tài trợ: Bảo lãnh không chỉ là công cụ bảo đảm đối với bên nhận bảo lãnh, mà còn là công cụ tài trợ về mặt tài chính cho bên được bảo lãnh. Nhờ vào bảo lãnh ngân hàng, bên được bảo lãnh có thể nhận được các khoản tiền ứng trước hỗ trợ HĐKD, được vay nợ hoặc được kéo dài thời gian thanh toán tiền hàng, nộp thuế. Vì vậy, dù không trực tiếp cho vay nhưng với việc phát hành bảo lãnh, ngân hàng đã giúp cho KH được hưởng những thuận lợi về tài chính như khi cho vay thực sự.
1.1.2. Phân loại bảo lãnh ngân hàng
- Phân theo mục đích bảo lãnh:
– Bảo lãnh dự thầu: Là một bảo lãnh ngân hàng do TCTD phát hành cho bên mời thầu để đảm bảo nghĩa vụ tham gia dự thầu của KH. Trường hợp KH bị phạt do vi phạm quy định dự thầu mà không nộp hoặc nộp không đủ tiền phạt cho bên mời thầu thì TCTD thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết.
– Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: Là một bảo lãnh ngân hàng do TCTD phát hành cho bên nhận bảo lãnh bảo đảm cho việc thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ của KH theo hợp đồng đã ký kết. Trong trường hợp KH không thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ trong hợp đồng, TCTD sẽ phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết.
– Bảo lãnh tạm ứng: Là một bảo lãnh ngân hàng do TCTD phát hành về việc bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước của KH theo hợp đồng đã ký kết. Trường hợp KH vi phạm các cam kết và phải hoàn trả tiền ứng trước nhưng không hoàn trả hoặc hoàn trả không đủ số tiền ứng trước cho bên nhận bảo lãnh thì TCTD sẽ phải hoàn trả thay cho bên nhận bảo lãnh.
– Bảo lãnh bảo hành: Là một bảo lãnh ngân hàng do TCTD phát hành về việc bảo đảm KH thực hiện đúng các yêu cầu về chất lượng sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết. Trường hợp KH không thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng về chất lượng sản phẩm mà không nộp hoặc nộp không đủ tiền phạt cho bên nhận bảo lãnh thì TCTD sẽ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết.
– Bảo lãnh thanh toán: Là một bảo lãnh ngân hàng do TCTD phát hành cho bên nhận bảo lãnh cam kết sẽ thanh toán thay cho KH trong trường hợp KH không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình khi đến hạn.
– Bảo lãnh vay vốn: Là một bảo lãnh ngân hàng do TCTD phát hành cho bên nhận bảo lãnh về việc cam kết trả nợ thay cho KH trong trường hợp KH không trả nợ hoặc không trả nợ đầy đủ, đúng hạn.
– Các loại bảo lãnh khác: Với mục đích nhằm đảm bảo thanh toán cho những nghĩa vụ tài chính của KH trong trường hợp vi phạm như: Bảo lãnh thuế, bảo lãnh phát hành chứng khoán…
- Phân loại theo bản chất của bảo lãnh:
– Bảo lãnh đồng nghĩa vụ: Ngân hàng và bên được bảo lãnh được xem là đồng nghĩa vụ, tuy nhiên, bên có nghĩa vụ đầu tiên là KH, đối với ngân hàng chỉ có nghĩa vụ bổ sung. Ngân hàng chỉ thực hiện nghĩa vụ bổ sung khi chứng minh được các nghĩa vụ đầu tiên bị vi phạm.
– Bảo lãnh độc lập: Loại bảo lãnh này dựa trên hai quy tắc là độc lập và hoàn toàn phù hợp; nghĩa là nghĩa vụ của ngân hàng tách rời với nghĩa vụ của bên được bảo lãnh. Việc thanh toán được thực hiện khi các điều kiện, điều khoản quy định trong cam kết bảo lãnh được thỏa mãn. Tuy nhiên, tính độc lập của loại bảo lãnh này không hoàn toàn tuyệt đối mà còn phụ thuộc vào các điều kiện đã được quy định trong cam kết bảo lãnh.
Phân theo phương thức phát hành bảo lãnh:
– Bảo lãnh trực tiếp: Là loại bảo lãnh ngân hàng phát hành bảo lãnh trực tiếp theo yêu cầu của bên được bảo lãnh. Sau khi ngân hàng thanh toán cho bên nhận bảo lãnh, ngân hàng sẽ yêu cầu bên được bảo lãnh phải hoàn trả lại số tiền đã thanh toán thay cho mình.
– Bảo lãnh gián tiếp: Là loại bảo lãnh mà bên được bảo lãnh sẽ yêu cầu ngân hàng chỉ thị đề nghị ngân hàng phát hành phát hành cam kết bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh. Bên được bảo lãnh không thanh toán trực tiếp cho ngân hàng phát hành bảo lãnh mà ngân hàng chỉ thị sẽ thanh toán cho ngân hàng phát hành thông qua một cam kết gọi là bảo lãnh đối ứng do chính ngân hàng này đưa ra. Bảo lãnh đối ứng cũng có nội dung và các điều khoản quy định như trong bảo lãnh chính. Sau khi đã thanh toán cho ngân hàng phát hành bảo lãnh chính, ngân hàng chỉ thị có thể truy đòi từ người được bảo lãnh.
– Đồng bảo lãnh: Các ngân hàng thực hiện đồng bảo lãnh trong một số dự án có giá trị lớn để giảm thiểu bớt rủi ro. Một ngân hàng sẽ đứng ra đóng vai trò đầu mối phát hành bảo lãnh và có sự tham gia của nhiều ngân hàng khác. Nếu phải thanh toán cho bên nhận bảo lãnh, ngân hàng đầu mối có thể truy đòi từ các ngân hàng đồng minh theo tỷ lệ tham gia dựa trên các bảo lãnh đối ứng do các ngân hàng này phát hành. Và các ngân hàng đồng bảo lãnh này lại tiến hành truy đòi từ người được bảo lãnh.
- Phân theo điều kiện thanh toán của bảo lãnh
– Bảo lãnh theo yêu cầu: Là loại bảo lãnh quy định điều kiện thanh toán là bên nhận bảo lãnh chỉ cần xuất trình yêu cầu thanh toán: có thể là văn bản yêu cầu thanh toán hoặc văn bản yêu cầu thanh toán kèm với tờ trình về sự vi phạm hợp đồng của người được bảo lãnh cho ngân hàng phát hành.
– Bảo lãnh kèm chứng từ: Điều kiện thanh toán là phải có chứng từ xác nhận của bên thứ ba (thường là một bên độc lập có tư cách chuyên môn để xác nhận). Chứng từ có thể được xuất trình theo một trong hai cách:
+ Bên nhận bảo lãnh xuất trình các chứng từ xác nhận hành vi vi phạm hợp đồng của bên được bảo lãnh;
+ Bên nhận bảo lãnh xuất trình yêu thanh toán, ngoài ra không cần phải xuất trình thêm bất cứ một chứng từ nào khác theo yêu cầu của bảo lãnh. Tuy nhiên, quyền yêu cầu thanh toán có thể không được thực hiện nếu bên được bảo lãnh cung cấp chứng từ của bên thứ ba xác nhận việc hoàn thành hợp đồng.
– Bảo lãnh kèm phán quyết của trọng tài hoặc của tòa án: Điều kiện thanh toán là bên nhận bảo lãnh phải cung cấp phán quyết của tòa án hoặc trọng tài khẳng định việc vi phạm nghĩa vụ của bên được bảo lãnh và trách nhiệm bồi hoàn đối với bên nhận bảo lãnh.
- Các loại bảo lãnh khác:
– Bảo lãnh đối ứng: Là cam kết của TCTD (bên bảo lãnh đối ứng) với bên bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính cho bên bảo lãnh, trong trường hợp bên bảo lãnh thực hiện bảo lãnh và phải trả thay cho KH của bên bảo lãnh đối ứng với bên nhận bảo lãnh.
– Xác nhận bảo lãnh: Là cam kết của TCTD (bên xác nhận bảo lãnh) đối với bên nhận bảo lãnh, về việc bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của bên bảo lãnh đối với KH.
1.1.3. Đặc điểm bảo lãnh trong nước của ngân hàng
- Đặc điểm chung của hoạt động bảo lãnh ngân hàng:
– Tính độc lập: Bảo lãnh ngân hàng phát sinh dựa trên hai hợp đồng: hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh và hợp đồng bảo lãnh. Nội dung của cam kết bảo lãnh được xác định trên cơ sở nội dung của hợp đồng phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh nhưng cam kết bảo lãnh của ngân hàng độc lập và tách biệt với các quan hệ trong hợp đồng cơ sở.
– Mục đích của bảo lãnh là nhằm thanh toán cho bên nhận bảo lãnh thiệt hại từ việc bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng. Nhưng việc thanh toán căn cứ hoàn toàn vào các điều khoản, điều kiện đã được quy định trong cam kết bảo lãnh. Do vậy, những vấn đề phát sinh giữa các bên trong hợp đồng không ảnh hưởng đến các cam kết giữa ngân hàng và bên nhận bảo lãnh mà chỉ ràng buộc ở các điều kiện bảo lãnh. Một khi điều kiện theo bảo lãnh của ngân hàng được đáp ứng đầy đủ thì ngân hàng bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ thay KH của mình.
– Nếu yêu cầu thanh toán theo bảo lãnh yêu cầu bên nhận bảo lãnh lập và chỉ nêu nội dung vi phạm mà không cần thêm bất cứ chứng từ chứng minh nào thì tính chất độc lập ở đây gần như tuyệt đối. Nếu bảo lãnh quy định xuất trình chứng từ từ phía bên thứ ba như chứng thực của một cơ quan độc lập về sự vi phạm của bên được bảo lãnh, quyết định của trọng tài, thậm chí phán quyết của toà án hay văn bản của bên được bảo lãnh thì tính độc lập của bảo lãnh cũng đã ít nhiều bị điều chỉnh.
– Bảo lãnh là một hoạt động ngoại bảng: Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng nhưng được quản lý như một nghiệp vụ tín dụng. Bảo lãnh ngân hàng là một hình thức tài trợ dựa vào uy tín. Khi phát hành bảo lãnh, bảng cân đối tài sản của ngân hàng không bị thay đổi nên bảo lãnh được xem là một hoạt động ngoại bảng.
Trong trường hợp KH của ngân hàng vi phạm hợp đồng theo các điều khoản được quy định trong cam kết bảo lãnh, ngân hàng phải sử dụng nguồn vốn của mình để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thay cho KH đối với bên nhận bảo lãnh. Khi đó, ngân hàng sẽ cấp một khoản tín dụng bắt buộc cho bên được bảo lãnh và tác động đến bảng cân đối tài sản, ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản và các chỉ tiêu tài chính của ngân hàng. Vì thế, dù là một hoạt động ngoại bảng, bảo lãnh vẫn phải được các ngân hàng giám sát, quản lý một cách chặt chẽ như các hình thức cấp tín dụng khác.
– Bảo lãnh ngân hàng mang tính chứng từ: Bằng việc chấp thuận phát hành bảo lãnh, ngân hàng đã có nghĩa vụ thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khi bên nhận bảo lãnh xuất trình chứng từ phù hợp với các điều khoản, điều kiện của bảo lãnh. Ngược lại, nếu chứng từ xuất trình không phù hợp với những điều khoản, điều kiện của bảo lãnh thì ngân hàng được miễn trừ trách nhiệm thanh toán. Như vậy, hoạt động bảo lãnh ngân hàng mang tính chứng từ rất chặt chẽ.
- Những đặc điểm riêng của bảo lãnh trong nước:
Các bên tham gia trong một hợp đồng ở các quốc gia khác nhau thường sử dụng bảo lãnh ngân hàng như là một công cụ đảm bảo, hạn chế các rủi ro có thể xảy ra do thiếu thông tin, khác biệt về văn hóa, không gian, tôn giáo, môi trường chính trị, xã hội… Cùng với sự phát triển của bảo lãnh quốc tế thì bảo lãnh trong nước cũng ngày càng phổ biến và phát triển mạnh mẽ trong thị trường nội địa; ngoài các đặc điểm chung như đã nêu trên thì bảo lãnh trong nước còn có một số đặc điểm riêng như:
– Quan hệ kinh tế làm phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh phải là quan hệ trong nước, nghĩa vụ bảo lãnh phát sinh ở trong phạm vi một quốc gia. Các chủ thể tham gia trong quan hệ bảo lãnh: Bên nhận bảo lãnh, bên được bảo lãnh và ngân hàng bảo lãnh ở trong phạm vi một quốc gia.
– Pháp luật điều chỉnh và giải thích của cam kết bảo lãnh là Luật quốc gia; các tranh chấp phát sinh hoặc liên quan đến cam kết bảo lãnh sẽ do Tòa án nhân dân có thẩm quyền của quốc gia giải quyết theo quy định của pháp luật.
– Ngoài ra, bảo lãnh trong nước còn có một số đặc điểm như: Đồng tiền bảo lãnh, đồng tiền áp dụng khi thanh toán bảo lãnh là đồng nội tệ.
– Ở Việt Nam thư bảo lãnh hoặc hợp đồng bảo lãnh được phát hành dưới dạng văn bản giấy.
1.1.4. Vai trò của bảo lãnh trong nước
– Đối với bên nhận bảo lãnh: Khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình theo hợp đồng đã ký kết, bên nhận bảo lãnh sẽ yêu cầu ngân hàng bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay; do đó rủi ro đối với bên nhận bảo lãnh sẽ được hạn chế ở mức thấp nhất; đảm bảo về lợi ích kinh tế và giảm thiểu các thiệt hại do việc vi phạm hợp đồng gây ra. Đây là điều rất cần thiết khi mà quan hệ giữa hai bên chưa được xác lập một cách vững chắc.
– Đối với bên được bảo lãnh: Trong quan hệ kinh tế, không phải lúc nào các đối tác cũng tin tưởng nhau; để đảm bảo trong quan hệ giao dịch, các nhà cung cấp thường yêu cầu bên còn lại phải có bảo lãnh ngân hàng để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng thì mới thực hiện giao dịch. Do đó, bảo lãnh ngân hàng đôi khi là yêu cầu bắt buộc để bước đầu giúp cho bên được bảo lãnh có cơ hội tiếp cận với hợp đồng và tăng thêm uy tín với các đối tác. Ngoài ra, bảo lãnh còn giúp cho bên được bảo lãnh tiếp cận được nguồn vốn tài trợ với chi phí nhỏ hơn so với việc phải vay ngân hàng như: các khoản tạm ứng, tín dụng thương mại… để bổ sung vào nguồn vốn kinh doanh.
– Đối với ngân hàng: Bảo lãnh đem lại lợi ích trực tiếp cho ngân hàng đó là làm tăng doanh thu thông qua phí bảo lãnh. Phí bảo lãnh đóng góp vào lợi nhuận ngân hàng ngày càng nhiều và chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng phí dịch vụ của các ngân hàng, mà tăng tỷ trọng thu từ dịch vụ cũng là xu hướng phát triển chung của các ngân hàng hiện nay. Không những thế, bảo lãnh còn góp phần đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro. Tại thời điểm phát hành bảo lãnh, ngân hàng chưa phải sử dụng vốn của mình nên không mất chi phí cơ hội cho các mục đích kinh doanh khác. Cung cấp DVBL giúp ngân hàng thực hiện tốt hơn chính sách KH, vừa đáps ứng nhu cầu và gắn bó với KH truyền thống, vừa thu hút KH mới.
– Đối với nền kinh tế: Bảo lãnh có vai trò như một chất xúc tác cho các hợp đồng kinh tế, hợp đồng cung cấp hàng hóa, dịch vụ; giúp cho các bên tham gia có thể tin tưởng, yên tâm kí kết hợp đồng một cách nhanh chóng, thuận lợi và có trách nhiệm với hợp đồng của mình đã ký kết. Nhờ vào uy tín của ngân hàng, bảo lãnh trở thành công cụ tiếp cận tới các nguồn vốn cho các doanh nghiệp. Nguồn vốn này được sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường; đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn giữa các thành phần kinh tế. Ngoài ra, bảo lãnh còn được sử dụng như một công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước, giúp nhà nước thực hiện một số chương trình quốc gia như thúc đẩy các ngành kinh tế mũi nhọn hay hạn chế một số lĩnh vực không hiệu quả.
1.1.5. Rủi ro trong kinh doanh dịch vụ bảo lãnh trong nước
Nghiệp vụ bảo lãnh tuy không thể hiện trực tiếp trên bảng cân đối kế toán nhưng vẫn là một hình thức cấp tín dụng. Phát hành bảo lãnh là một dịch vụ chứa đựng nhiều rủi ro đối với ngân hàng, đặc biệt trong trường hợp ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Một số rủi ro trong HĐKD dịch vụ bảo lãnh trong nước mà ngân hàng có thể gặp phải như:
– Rủi ro tín dụng: Đây là rủi ro lớn nhất trong HĐKD dịch vụ bảo lãnh của các NHTM. Khi bên được bảo lãnh không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ đã thoả thuận với bên nhận bảo lãnh, ngân hàng phải chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh. Tuy chưa phát sinh tiền vay tại thời điểm phát hành bảo lãnh nhưng về thực chất mức độ trách nhiệm và nghĩa vụ của các NHTM trong nghiệp vụ này cũng tương đương như nghiệp vụ tín dụng. Nguyên nhân của rủi ro này là trong trường hợp ngân hàng đã thanh toán cho bên nhận bảo lãnh nhưng KH cố tình hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh không hiệu quả dẫn đến không hoàn trả đủ cho ngân hàng số tiền mà ngân hàng đã thanh toán thay; gây nên tổn thất về tài chính, dẫn đến khó khăn trong HĐKD của NHTM.
– Rủi ro tác nghiệp: Rủi ro tác nghiệp trong hoạt động DVBL có thể xuất phát từ nguyên nhân: Con người, công nghệ, quy trình hay các yếu tố khách quan khác gây tổn thất cho ngân hàng không những về vật chất, nguồn nhân lực mà còn có thể khiến cho uy tín của ngân hàng bị ảnh hưởng. Vì vậy, rủi ro tác nghiệp cũng là một loại rủi ro đáng quan tâm trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng.
– Rủi ro thanh khoản: Yêu cầu thanh toán theo bảo lãnh có thể xảy ra bất kỳ lúc nào, nếu KH không có khả năng thanh toán thì buộc các NHTM phải sử dụng nguồn vốn của mình để thực hiện. Trường hợp số tiền phải trả quá lớn, vượt khỏi giá trị khoản dự phòng thì ngân hàng sẽ có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản, buộc các ngân hàng phải sử dụng nguồn vốn để cho vay hoặc đi vay trên thị trường để thanh toán thay cho KH. Điều này làm cho các ngân hàng bị động và thiệt hại rất lớn về vốn và thu nhập, uy tín…
Đối với HĐKD dịch vụ bảo lãnh trong nước, NHTM có khả năng đối mặt với rất nhiều loại rủi ro, nhưng tập trung và quan trọng nhất vẫn là rủi ro tín dụng.
1.2. HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ BẢO LÃNH TRONG NƯỚC CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1. Mục tiêu hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh trong nước của ngân hàng thương mại
Các NHTM cung cấp đa dạng các loại hình dịch vụ, với mỗi loại dịch vụ ngân hàng sẽ có một mục tiêu riêng nhưng cuối cùng vẫn hướng đến mục tiêu cuối cùng là đáp ứng tốt nhất nhu cầu tài chính của từng KH và đem lại thu nhập cho ngân hàng. HĐKD dịch vụ bảo lãnh trong nước cũng không nằm ngoài các mục tiêu đề ra của các ngân hàng.
- Mục tiêu về quy mô: Quy mô HĐKD dịch vụ bảo lãnh trong nước luôn là mục tiêu hàng đầu của các NHTM; do quy mô quyết định thu nhập, lợi nhuận và các mối quan hệ khác với KH.
- Mục tiêu về thị phần: Quy mô thị trường không thay đổi nhưng xuất hiện ngày càng nhiều các NHTM trên địa bàn sẽ làm chia nhỏ thị trường, tạo nên sự cạnh tranh gay gắt. Thị phần bảo lãnh trên địa bàn là căn cứ đánh giá phần thị trường mà ngân hàng chiếm giữ được, thể hiện khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong HĐKD dịch vụ này.
- Mục tiêu về cơ cấu bảo lãnh: Dựa trên đối tượng KH sẵn có và tiềm năng trên thị trường cùng các loại hình bảo lãnh đang cung cấp; ngân hàng sẽ đánh giá loại hình sản phẩm và thị trường KH nào được xem là hấp dẫn nhất để tập trung hướng đến việc cung cấp dịch cho các đối tượng này. Từ đó, ngân hàng sẽ cơ cấu danh mục bảo lãnh theo sản phẩm hay hình thức bảo lãnh cho phù hợp.
- Bảo đảm được chất lượng DVBL: Chất lượng DVBL ảnh hưởng tới quyết định của KH có tiếp tục sử dụng dịch vụ của ngân hàng nữa hay không. Chất lượng dịch vụ thể hiện ở thời gian xử lý yêu cầu phát hành bảo lãnh, trình độ của nhân viên, công nghệ, thủ tục đơn giản… Chất lượng dịch vụ tốt sẽ đem lại sự hài lòng cho KH, tạo thêm sự trung thành và uy tín cho ngân hàng.
- Kiểm soát được rủi ro: Khác với hoạt động cho vay, ngân hàng đã chịu rủi ro ngay từ lúc giải ngân vốn cho KH thì DVBL chỉ thực sự rủi ro khi ngân hàng thực hiện nghĩa vụ thay cho KH của mình mà KH không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ giá trị mà ngân hàng đã thực hiện. Rủi ro mà các ngân hàng gặp phải có thể là rủi ro tín dụng hoặc là rủi ro tác nghiệp và xuất phát từ chính bản thân ngân hàng, từ bên nhận bảo lãnh hoặc bên được bảo lãnh, làm ảnh hưởng đến uy tín, kết quả HĐKD của ngân hàng. Vì vậy, kiểm soát rủi ro trong hoạt động bảo lãnh luôn là mục tiêu quan trọng mà các NHTM luôn quan tâm và chú trọng.
- Bán chéo sản phẩm: Bảo lãnh ngân hàng vừa là một sản phẩm đi kèm của hoạt động cấp tín dụng tại các NHTM vừa là cầu nối thiết lập quan hệ để cung cấp cho KH các dịch vụ khác. Thông qua bảo lãnh, các ngân hàng có thể đưa ra các gói dịch vụ bao gồm một nhóm các dịch vụ, tiện ích có tính chất bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Điều này khuyến khích KH sử dụng nhiều dịch vụ ngân hàng, mặt khác đáp ứng tối đa nhu cầu KH khi sử dụng DVBL bằng cách tăng thêm nhiều tiện ích, ưu đãi cho KH.
- Thu nhập: Một cam kết bảo lãnh sẽ được thu phí ngay tại thời điểm phát hành dù cho ngân hàng có thực hiện nghĩa vụ hay không; đồng thời khi nghĩa vụ được bảo lãnh hết hạn dù thời hạn bảo lãnh vẫn còn thì cam kết bảo lãnh vẫn mặc nhiên hết hiệu lực. Vì vậy, việc phát hành bảo lãnh không đồng nghĩa với việc ngân hàng chắc chắn chịu rủi ro. Hoạt động này đem lại thu nhập thừ phí DVBL thay vì thu nhập từ lãi của một ngân hàng truyền thống. Không những đóng góp vào lợi nhuận, bảo lãnh làm đa dạng hoá các loại hình dịch vụ nói riêng và hoạt động ngân hàng nói chung làm giảm sự phụ thuộc vào cho vay.
Trên cơ sở điều kiện về nguồn lực sẵn có, điều kiện thị trường với đối tượng cạnh tranh cụ thể, tùy từng giai đoạn và chiến lược mà ngân hàng hướng đến để lựa chọn chú trọng phát triển từng mục tiêu cụ thể.
1.2.2. Nội dung hoạt động dịch vụ bảo lãnh trong nước của ngân hàng thương mại
- Nghiên cứu thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu
Các NHTM sẽ tập trung nghiên cứu mục tiêu của KH trong việc lựa chọn ngân hàng, nhu cầu của KH đối với DVBL trong nước. Để có được các thông tin có giá trị, các NHTM cần thu thập, cập nhật và hệ thống một cách thường xuyên từ đó có biện pháp đáp ứng và phục vụ tốt nhất, hiệu quả nhất.
Phân tích và xác định các KH có trên thị trường hoặc xác định các sản phẩm bảo lãnh trong nước chưa được biết đến hoặc chưa được phục vụ một cách hiệu quả bởi các đối thủ cạnh tranh, tạo cơ hội thâm nhập vào các KH hoặc thị trường mới, tạo ra lợi thế cạnh tranh. Trên cơ sở đó, ngân hàng tiến hành đánh giá xem những thị trường nào được xem là mục tiêu và hấp dẫn nhất đối với ngân hàng; khả năng đáp ứng và ưu thế so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Thực hiện tốt việc nghiên cứu thị trường, các NHTM mới có thể tìm ra ưu thế của mình để khắc phục những điểm yếu, tận dụng và phát huy các điểm mạnh nhằm vạch ra các chiến lược, chính sách phát triển cho hoạt động bảo lãnh trong nước.
- Hoạt động triển khai chính sách khách hàng trong dịch vụ bảo lãnh
Mỗi KH hoặc mỗi nhóm KH có thói quen sử dụng dịch vụ khác nhau do vậy cần phải có nhiều cách tiếp cận khác nhau. KH có quy mô nhỏ và vừa sẽ có nhu cầu sản phẩm đơn giản, có sự nhạy cảm về giá hơn, thường tập trung quan hệ vào một hoặc hai ngân hàng. Với các KH có năng lực tài chính tốt, doanh thu lớn thì nhu cầu về sản phẩm ngân hàng đa dạng và phức tạp hơn; sự cạnh tranh giữa các ngân hàng cũng rất gắt gao đối với đối tượng KH này. Tùy thuộc vào đặc điểm của từng KH, các NHTM sẽ triển khai các chính sách KH khác nhau: phí bảo lãnh, điều kiện bảo lãnh, chăm sóc KH…
- Hoạt động triển khai chính sách marketing trong dịch vụ bảo lãnh
- Chính sách sản phẩm (Product): Đây được xem là chính sách cốt lõi, các chiến lược của ngân hàng còn lại được xác định xoay quanh, nhằm mục tiêu phát huy tối đa hiệu quả của chính sách sản phẩm. Ngân hàng phải đa dạng hóa các loại hình bảo lãnh cho phù hợp với nhu cầu của KH; đưa ra các giải pháp tổng thể nhằm thu hút sự quan tâm của KH. Từ đó cung cấp nhóm dịch vụ hoàn chỉnh, tạo ra sự gắn bó bền vững của KH với DVBL của ngân hàng. Ngoài việc hoàn thiện và đẩy mạnh các hoạt động bảo lãnh truyền thống, các NHTM cũng cần phát triển thêm các loại hình bảo lãnh mới để đạt được mục tiêu phục vụ nhu cầu thị trường và chiếm lĩnh thị trường vào loại hình bảo lãnh mới. Ngoài ra, còn phải lưu ý đến các dịch vụ bổ sung khác, những dịch vụ này có thể sinh lời thấp hoặc thậm chí không sinh lời nhưng có tác động thu hút KH.
- Chính sách giá (Price): Chính sách giá là chính sách trực tiếp vì mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng, các chính sách còn lại, ngân hàng phải tốn chi phí để có thể thực hiện các mục tiêu đã đặt ra. Đối với DVBL, giá của dịch vụ chính là mức phí bảo lãnh mà các NHTM áp dụng cho KH. Vì tính khác biệt về sản phẩm bảo lãnh giữa các ngân hàng không cao, nên không thể áp dụng một mức phí cao hơn hẳn đối với KH. Các ngân hàng thường xác định mức phí dịch vụ dựa theo thông lệ trên thị trường và thường có mức chênh lệch không quá lớn giữa các ngân hàng.
- Chính sách phân phối (Place): Sự tiện lợi trong giao dịch là yếu tố có tính chất quyết định trong việc KH sử dụng DVBL ngân hàng. Có thể phân loại kênh phân phối DVBL của ngân hàng như sau:
+ Kênh giao dịch trực tiếp: Là kênh phân phối mà KH tiếp xúc và sử dụng DVBL trực tiếp với nhân viên ngân hàng. Đây là kênh phân phối chính của các ngân hàng, được thực hiện tại trụ sở chính, các CN ngân hàng và các phòng giao dịch…
+ Kênh giao dịch gián tiếp: Là kênh phân phối mà KH không tiếp xúc với nhân viên ngân hàng mà được thực hiện thông qua mạng điện tử. KH có thể tự tạo yêu cầu phát hành bảo lãnh và đính kèm các tài liệu liên kèm theo qua tài khoản đã được ngân hàng cấp trước đó.
- Chính sách cổ động, truyền thông (Promotion): KH có thể biết đến và sử dụng DVBL ngân hàng qua các kênh như: bán hàng trực tiếp, báo chí, đài truyền hình, website, pano, áp phích… Mục tiêu của chính sách cổ động, truyền thông trong DVBL ngân hàng là làm tăng thêm sự hiểu biết của KH, kích thích nhu cầu và lôi kéo KH sử dụng dịch vụ.
- Chính sách con người (People): Mỗi một mô hình hoạt động ngân hàng đều đòi hỏi nguồn nhân lực trực tiếp thực hiện. Đối với ngân hàng, nguồn nhân lực để thực hiện cung ứng DVBL đòi hỏi không chỉ có chuyên môn nghiệp vụ, mà còn phải có thái độ phục vụ KH nhiệt tình, chuyên nghiệp và tạo sự hài lòng đối với KH khi sử dụng dịch vụ.
- Quy trình cung ứng dịch vụ (Processes): Quy trình cung ứng DVBL của ngân hàng là một trong những căn cứ để KH đánh giá về khả năng, chất lượng cung ứng sản phẩm dịch vụ. Một ngân hàng có quy trình cung ứng DVBL tốt được thể hiện qua các nội dung sau: số khâu mà KH phải tham gia, thời gian KH phải bỏ ra để có thể tiếp cận được dịch vụ của ngân hàng, số lượng cán bộ nhân viên mà KH phải tiếp xúc, thời gian hoàn thành hồ sơ… Như vậy, một ngân hàng có quy trình cung ứng dịch vụ nhanh, thuận tiện và hiệu quả sẽ có lợi thế trong cạnh tranh và là cơ sở để KH lựa chọn sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng những lần tiếp theo.
- Yếu tố vật chất (Physical evidence): Yếu tố vật chất hữu hình tạo nên nét văn hóa bề ngoài của ngân hàng, thể hiện qua: trụ sở làm việc, bao thư, mẫu giấy chuyên dụng in cam kết bảo lãnh,… những yếu tố này sẽ tạo ấn tượng ban đầu và là cơ sở để KH sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Khi KH chưa có nhiều thông tin về chất lượng DVBL, họ sẽ dựa trên hệ thống bằng chứng vật chất. Một ngân hàng có hệ thống bằng chứng vật chất cụ thể, rõ ràng sẽ có lợi thế hơn các ngân hàng khác chưa có những yếu tố này.
- Hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng
Rủi ro đối với HĐKD dịch vụ bảo lãnh trong nước luôn tiềm ẩn và phát sinh ngày càng nhiều; rủi ro có ảnh hưởng nhiều nhất đến các ngân hàng là rủi ro tín dụng. Tại thời điểm phát hành bảo lãnh ngân hàng chưa phát tiền vay nhưng về thực chất mức độ trách nhiệm, nghĩa vụ ngân hàng trong nghiệp vụ này cũng tương đương như nghiệp vụ tín dụng. Rủi ro tín dụng xảy ra khi ngân hàng thực hiện thanh toán thay nhưng KH không hoàn trả đủ, gây thất thoát cho ngân hàng. Để kiểm soát rủi ro tín dụng, các NHTM cần nâng cao chất lượng thẩm định, định kỳ thực hiện kiểm tra các khoản bảo lãnh sau khi phát hành bảo lãnh; nắm bắt rõ về tình hình kinh doanh thực tế của KH, quản lý chặt quá trình thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh nhằm phát hiện kịp thời và ngăn chặn các rủi ro có thể xảy ra đảm bảo cho toàn bộ HĐKD an toàn, hiệu quả.
1.2.3. Các tiêu chí đánh giá sự phát triển của hoạt động dịch vụ bảo lãnh trong nước của ngân hàng thương mại
Phát triển hoạt động bảo lãnh là hoạt động của ngân hàng nhằm tìm cách gia tăng doanh số, số dư bảo lãnh cùng với việc nâng cao chất lượng hoạt động này, đảm bảo sự gia tăng bảo lãnh an toàn và hiệu quả.
Để thực hiện đòi hỏi ngân hàng phải có những phương án, cách thức hữu hiệu. Việc phát triển hoạt động bảo lãnh có thể được thực hiện theo hai cách, đó là phát triển hoạt động bảo lãnh theo chiều rộng và phát triển hoạt động bảo lãnh theo chiều sâu.
- Phát triển hoạt động bảo lãnh theo chiều rộng: là việc ngân hàng thực hiện xâm nhập vào thị trường mới, thị trường mà khách hàng chưa biết đến sản phẩm của ngân hàng mình. Ở đây, có thể mở rộng hoạt động theo vùng địa lý, theo đối tượng khách hàng.
+ Phát triển hoạt động bảo lãnh theo vùng địa lý: là việc phát triển theo khu vực địa lý hành chính nhằm tạo thuận lợi cho khách hàng đến giao dịch, qua đó làm tăng số lượng khách hàng, sản phẩm được sử dụng nhiều hơn. Để có thể phát triển hoạt động theo vùng địa lý đạt hiệu quả cao đòi hỏi phải có một khoảng thời gian nhất định để sản phẩm có thể tiếp cận được với khách hàng và thích ứng với từng khu vực và ngân hàng phải tổ chức được mạng lưới giao dịch tối ưu.
+ Phát triển hoạt động bảo lãnh theo đối tượng khách hàng: Cùng với việc mở rộng hoạt động theo vùng địa lý, có thể mở rộng hoạt động bằng cách khuyến khích, kích thích các nhóm khách hàng của đối thủ cạnh tranh chuyển sang sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng mình. Nếu trước đây sản phẩm này chỉ nhằm vào một đối tượng nhất định trên thị trường thì nay thu hút thêm nhiều đối tượng khác. Một số sản phẩm đứng dưới góc độ khách hàng xem xét thì nó đòi hỏi phải đáp ứng nhiều mục tiêu sử dụng khác nhau, do đó, có thể nhằm vào những nhóm khách hàng khác nhau hoặc ít quan tâm tới sản phẩm dịch vụ của ngân hàng để đáp ứng một cách dễ dàng. Nhóm khách hàng này có thể được xếp vào khu vực thị trường còn bỏ trống mà ngân hàng có thể khai thác.
- Phát triển hoạt động bảo lãnh theo chiều sâu: là việc ngân hàng khai thác tốt hơn thị trường hiện có của mình, phân đoạn thị trường để thỏa mãn nhu cầu muôn hình, muôn vẻ của khách hàng. Việc thực hiện phát triển hoạt động bảo lãnh theo chiều sâu bằng cách đa dạng hóa sản phẩm bảo lãnh.
Việc đa dạng hoá các hình thức, phương thức bảo lãnh một mặt sẽ giúp cho ngân hàng có thêm nhiều sản phẩm dịch vụ để phục vụ nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của khách hàng; mặt khác, giúp cho NHTM nâng cao khả năng cạnh tranh, giảm rủi ro trong hoạt động, nâng cao được tỷ lệ thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng trên tổng thu nhập.
Có thể đa dạng hóa hoạt động bảo lãnh của ngân hàng theo nhiều chiều hướng khác nhau:
+ Phát triển dịch vụ mới trên cơ sở hoàn thiện các dịch vụ hiện có về nội dung và hình thức.
+ Phát triển dịch vụ mới tương đối. Đây là dịch vụ mới đối với một số ngân hàng nhưng không mới đối với ngân hàng khác và thị trường. Phát triển dịch vụ mới theo phương thức này thường chi phí nghiên cứu dịch vụ không cao.
+ Phát triển dịch vụ mới tuyệt đối. Đây là dịch vụ ngân hàng mới cả đối với các ngân hàng và thị trường.
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh trong nước của ngân hàng thương mại
HĐKD dịch vụ bảo lãnh trong nước của NHTM chịu tác động của rất nhiều yếu tố. Những nhân tố này tác động dưới nhiều khía cạnh khác nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của DVBL cả trong hiện tại và tương lai.
- Nhân tố bên ngoài:
- Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế trong nước lành mạnh tạo điều kiện cho các ngân hàng và doanh nghiệp phát triển. Các NHTM sẽ thực hiện tốt chức năng của mình, còn các doanh nghiệp sẽ đẩy mạnh hoạt động kinh doanh và ký kết nhiều hợp đồng thương mại, thực hiện đúng các cam kết của mình trong hợp đồng. Các chủ thể tham gia trong nền kinh tế hoạt động hiệu quả sẽ thúc đẩy mở rộng hoạt động bảo lãnh. Ngược lại, nền kinh tế suy thoái khiến các doanh nghiệp rơi vào tình trạng thua lỗ, gây rủi ro và hạn chế trong mở rộng hoạt động bảo lãnh trong nước.
- Môi trường pháp lý: Pháp luật tạo hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng nói chung và bảo lãnh ngân hàng nói riêng. Nếu hệ thống pháp luật không đồng bộ, đầy đủ và ổn định sẽ tạo khe hở cho quản lý bảo lãnh. Cơ sở pháp lý chặt chẽ sẽ tạo hành lang pháp lý để các ngân hàng thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ, xây dựng quy trình bảo lãnh; tạo điều kiện cho hoạt động bảo lãnh phát triển, đảm bảo an toàn và tuân thủ cơ chế, chính sách của nhà nước.
- Môi trường chính trị – xã hội: Môi trường chính trị – xã hội là nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động đầu tư, thông qua đó ngân hàng cũng có thể phát triển DVBL. Môi trường chính trị – xã hội ổn định giúp cho các cá nhân, doanh nghiệp là KH của ngân hàng có môi trường để kinh doanh ổn định, hiệu quả, đảm bảo được khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình. Ngược lại, một sự thay đổi hệ thống chính trị lớn sẽ làm cho hoạt động ngân hàng rơi vào khủng hoảng và hoạt động bảo lãnh không tránh khỏi bị tác động.
- Bên được bảo lãnh: Trước khi quyết định có phát hành bảo lãnh hay không, ngân hàng sẽ xem xét, đánh giá KH một cách kỹ lưỡng để đánh giá khả năng hoàn thành nghĩa vụ với bên thụ hưởng hay ngân hàng có khả năng truy đòi từ KH khoản tiền mà mình đã thực hiện thay hay không. Các nội dung mà NHTM sẽ đánh giá bên được bảo lãnh như sau:
+ Nhu cầu bảo lãnh của KH: Ngân hàng sẽ đánh giá nhu cầu phát hành bảo lãnh có hợp pháp hay không, có phù hợp với ngành nghề kinh danh, có đúng với các quy định trong hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh về giá trị, thời gian bảo lãnh hay không… để đưa ra quyết định phù hợp.
+ Năng lực của KH: Năng lực của KH mà ngân hàng quan tâm và đánh giá nhiều nhất đó là năng lực về tài chính và tính khả thi, hiệu quả trong việc thực hiện phương án bảo lãnh. Năng lực tài chính thể hiện ở các chỉ tiêu về thu nhập, khả năng sinh lời, khả năng tự tài trợ, tỷ trọng vốn tự có trong tổng nguồn vốn… Năng lực tài chính của doanh nghiệp càng tốt chứng tỏ khả năng thực hiện được nghĩa vụ càng cao. Tính khả thi trong phương án bảo lãnh thể hiện việc KH có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh và có khả năng sinh lời cho KH. Đánh giá năng lực của KH là rất cần thiết vì nó hạn chế được rủi ro có thể xảy ra.
+ Đạo đức của KH: Chỉ tiêu này mang tính chất định tính. Một KH có đạo đức tốt sẽ tránh được rủi ro trong việc gian lận, giả mạo các hồ sơ cung cấp cho ngân hàng và thiện chí trong việc thanh toán các khoản phí hay các khoản nợ vay liên quan đến yêu cầu phát hành bảo lãnh.
- Bên nhận bảo lãnh: Mặc dù không phải KH trực tiếp của ngân hàng, nhưng trong quan hệ bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh là đối tượng có quyền yêu cầu ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh nên đây cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến HĐKD dịch vụ bảo lãnh trong nước của NHTM.
+ Yêu cầu của bên nhận bảo lãnh: Khi quan hệ kinh tế phát sinh, tùy thuộc vào hợp đồng được ký kết giữa hai bên có quy định việc sử dụng bảo lãnh ngân hàng hay không thì mới phát sinh yêu cầu phát hành bảo lãnh. Khi các nhà cung cấp không yêu cầu sử dụng bảo lãnh để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng thì ngân hàng cũng mất đi một cơ hội kinh doanh.
+ Đạo đức của bên nhận bảo lãnh: Bên nhận bảo lãnh có thể gửi văn bản yêu cầu thanh toán cùng với chứng từ, giấy tờ xuất trình giả mạo cho ngân hàng để nhận khoản tiền thanh toán bảo lãnh. Khi ngân hàng không phát hiện được sự giả mạo này và thực hiện thanh toán dựa trên hồ sơ chưa phù hợp thì ngân hàng có thể sẽ gặp phải rủi ro không đòi được tiền bồi hoàn từ phía khách hàng. Vì vậy, đạo đức của bên nhận bảo lãnh cũng là nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng DVBL.
- Mức độ cạnh tranh: Các đối thủ sẽ cạnh tranh nhau về KH, thị phần, quy mô… Đối thủ cạnh tranh có nhiều thế mạnh sẽ thu hút được nhiều KH sử dụng DVBL hơn, làm giảm thị phần, quy mô và nguồn thu phí dịch vụ của ngân hàng.
- Nhân tố bên trong:
- Chiến lược của ngân hàng: Chiến lược kinh doanh của ngân hàng là cơ sở để xây dựng chính sách phát triển của từng hoạt động trong đó có hoạt động bảo lãnh. Nếu chiến lược không hợp lý, đúng đắn ngân hàng sẽ luôn bị động trước những biến động, thay đổi của thị trường. Ngược lại, một chiến lược kinh doanh đúng đắn sẽ giúp ngân hàng phát huy được tiềm năng của mình và ngày càng phát triển.
- Chính sách bảo lãnh: Chính sách bảo lãnh quyết định một phần rất lớn tới hoạt động bảo lãnh của các NHTM. Chính sách bảo lãnh thể hiện qua các nội dung như: loại hình bảo lãnh, phạm vi bảo lãnh, mục đích bảo lãnh, phí bảo lãnh, đối tượng KH,… Chính sách bảo lãnh phải đảm bảo tạo ra sự an toàn trong HĐKD dịch vụ bảo lãnh, vừa tạo ra lợi thế cạnh tranh vừa nâng cao chất lượng bảo lãnh.
- Quy trình bảo lãnh: Quy định các bước xử lý theo một trình tự thống nhất và bắt buộc phải thực hiện. Một quy trình không phù hợp, không đầy đủ các bước sẽ mang lại một khoản bảo lãnh kém chất lượng, có nguy cơ tiềm ẩn rủi ro. Nhưng ngược lại, một quy trình rườm rà sẽ gây phiền hà cho KH, bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. Quy trình bảo lãnh hợp lý, vừa đảm bảo kiểm soát rủi ro vừa thỏa mãn được nhu cầu KH là điều kiện cần để các NHTM phát triển tốt nhất hoạt động bảo lãnh.
- Năng lực quản trị điều hành: Bảo lãnh là một trong các nghiệp vụ cấp tín dụng của NHTM, để đảm quản trị rủi ro, đòi hỏi các cấp thẩm quyền, lãnh đạo ngân hàng phải có năng lực quản trị điều hành, khả năng nhìn nhận vấn đề tốt để nhận biết được các rủi ro tiềm ẩn, từ đó đưa ra quyết định tài trợ hay không tài trợ cho một đề nghị bảo lãnh từ phía KH.
- Chất lượng nhân sự trực tiếp tham gia kinh doanh DVBL: Đội ngũ nhân viên là nhân tố quan trọng trong hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động bảo lãnh nói riêng. Nguồn nhân sự có chuyên môn tốt, nhiều kinh nghiệm và đồng đều về trình độ có tác động tích cực đến HĐKD dịch vụ bảo lãnh của các NHTM. Ngoài ra, các kỹ năng và thái độ làm việc với KH cũng ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ, tạo ra sự khác biệt so với các NHTM khác.
- Công nghệ thông tin: Trang thiết bị và công nghệ hiện đại chính là lợi thế cạnh tranh của các NHTM nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày càng cao của KH. Ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động bảo lãnh của NHTM vừa thể hiện mức độ hiện đại hóa ngân hàng vừa giúp phục vụ KH tốt hơn, nâng cao khả năng cạnh tranh so với các đối thủ.
1.3. KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA MỘT SỐ NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
Kinh nghiệm của City bank
Việc tìm hiểu và thu thập thông tin từ khách hàng tiềm năng rất được ngân hàng này chú trọng và có kế hoạch săn đón bằng việc gia tăng lợi ích, ưu đãi từ dịch vụ ngân hàng và thực hiện bán chéo các sản phẩm. Việc phát triển và mở rộng dịch vụ bảo lãnh cũng được City bank thực hiện theo cách này. Thông qua việc áp dụng chính sách ưu đãi, ngân hàng này chủ động thu hút khách hàng. Đầu tiên là sử dụng các dịch vụ về tiền gửi, thanh toán, sau đó đến các dịch vụ cho vay, phát hành bảo lãnh ngân hàng.
Kinh nghiệm của ANZ
Ngoài ra, các ngân hàng nước ngoài còn mở rộng và phát triển khách hàng theo hướng thỏa mãn mọi nhu cầu khách hàng. Ví dụ, trường hợp của ngân hàng ANZ xác định: Mỗi khách hàng có nhu cầu khác nhau, ANZ giúp khách hàng xác định các rủi ro mà họ có thể gặp phải và đã cung cấp những sản phẩm để hạn chế rủi ro đó. Trong mọi trường hợp, ANZ luôn có những giải pháp giúp khách hàng giảm thiểu rủi ro, bảo vệ và bảo đảm lợi ích khách hàng.
Các ngân hàng nước ngoài tận dụng lợi thế mạng lưới và uy tín quốc tế để thực hiện xác nhận bảo lãnh theo yêu cầu và nghiệp vụ này đã trở thành thế mạnh cho các ngân hàng này. Đây là một dịch vụ được đánh giá là ít rủi ro và đem lại nguồn thu đáng kể từ phí. Trong nghiệp vụ này, các ngân hàng nước ngoài cũng rất chú trọng đến uy tín của ngân hàng nhận bảo lãnh cho phía khách hàng và ngược lại. Điều này một lần nữa khẳng định uy tín quốc tế và là vấn đề rất quan trọng của khách hàng đề nghị bảo lãnh cũng như ngân hàng đối tác bảo lãnh cho khách hàng của họ.
Trên đây là toàn bộ những lý luận cơ bản về hoạt động bảo lãnh trong nước tại các NHTM. Tác giả đã trình bày các nội dung chung nhất về hoạt động kinh doanh DVBL; đặc điểm chung của dịch vụ bảo lãnh và đặc điểm riêng của dịch vụ bảo lãnh trong nước; cũng như vai trò, mục tiêu, nội dung và các tiêu chí phản ánh kết quả, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh trong nước của các NHTM. Đây sẽ là tiền đề cho việc nghiên cứu phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam ở Chương 2; từ đó đề xuất các kiến nghị tại chi nhánh và các bên liên quan nhằm hoàn thiện hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh trong nước tại VietinBank-Chi nhánh Quảng Nam trong Chương 3.
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TRONG NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG
VIỆT NAM – CHI NHÁNH QUẢNG NAM
2.1. GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH QUẢNG NAM
2.1.1. Lịch sử hành thành và phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam- Chi nhanh Quảng Nam
2.1.2. Cơ cấu tổ chức và Chức năng, nhiệm vụ
2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của VietinBank-Chi nhánh Quảng Nam giai đoạn 2019-2021
2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ BẢO LÃNH TRONG NƯỚC CỦA CHI NHÁNH QUẢNG NAM
2.2.1. Môi trường kinh doanh dịch vụ bảo lãnh trong nước của chi nhánh
2.2.2. Mục tiêu hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh trong nước của VietinBank Quảng Nam
2.2.3. Thực trạng hoạt động dịch vụ bảo lãnh trong nước của VietinBank Quảng Nam
2.2.3.1. Chính sách Khách hàng và Quy trình bảo lãnh
- Hoạt động triển khai chính sách khách hàng:
- Các chính sách marketing trong dịch vụ bảo lãnh đã được VietinBank Quảng Nam áp dụng trong thời gian qua
- Chính sách sản phẩm:
- Chính sách phí bảo lãnh:
- Kênh phân phối:
- Chính sách cổ động, truyền thông:
- Chính sách con người:
Quy trình bảo lãnh
D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE CUONG CHI TIET/Phát triển hoạt động bảo lãnh trong nước tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam-CN Quảng Nam

