Phát triển hoạt động bán lẻ tại Công ty Xăng dầu Quảng Bình

Phát triển hoạt động bán lẻ tại Công ty Xăng dầu Quảng Bình

Phát triển hoạt động bán lẻ tại Công ty Xăng dầu Quảng Bình

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập nền kinh tế thế giới cùng với sự phát triển như của khoa học công nghệ, vấn đề lợi thế so sánh của các quốc gia, vùng lãnh thổ cũng như doanh nghiệp đã có nhiều thay đổi. Đặc biệt là Việt Nam tham gia vào WTO, Hiệp định Ðối tác toàn diện, tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), bên cạnh những cơ hội lớn, cũng có nhiều khó khăn thách thức tiềm ẩn đặt ra, đặc biệt là sức ép cạnh tranh đối với doanh nghiệp, hàng hóa của Việt Nam, trong đó có mặt hàng xăng dầu.

Hiện cả nước có 15.000 cửa hàng bán xăng dầu với các quy mô khác nhau. Trong đó, thuộc sở hữu của các doanh nghiệp nhập khẩu: Tập đoàn xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) là: 3.500 (tính cả các công ty liên kết với Tập đoàn này), của doanh nghiệp tư nhân chỉ phân phối trên thị trường nội địa và của đại lý bán lẻ là: 11.000. Do quá trình đô thị hóa đang tăng nhanh; định hướng chính sách là hạn chế đi lại bằng xe máy để giảm ùn tắc giao thông, trước hết là các thành phố lớn; cơ chế định giá ngày càng “thị trường” hơn, cùng với sự phát triển của công nghệ là sự chuyển hướng sang sử dụng các dạng năng lượng không gây ô nhiễm môi trường, hệ thống bán lẻ xăng dầu cũng đang và sẽ có sự thay đổi mạnh mẽ.

Bán lẻ xăng dầu hiện đang là phương thức cung ứng xăng dầu chủ yếu cho các nhu cầu vận tải, sản xuất và đi lại của cá nhân. Bán lẻ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng lượng xăng, diesel bán ra, trừ những đơn vị sản xuất kinh doanh có nhu cầu lớn: Các nhà máy điện, một số công ty vận tải thủy, công ty Đường sắt sử dụng đầu máy chạy Diesel là có hệ thống kho chứa riêng để nạp xăng dầu cho phương tiện. Hiện nay, tại Việt Nam, xu hướng phát triển các cửa hàng bán lẻ xăng dầu trên các đường vành đai và khu vực xa trung tâm thành phố, loại bỏ dần các cửa hàng có quy mô nhỏ ở trung tâm, nhất là ở những nơi có mật độ cửa hàng cao, những tuyến đường thường bị ùn tắc. Xu hướng này là phù hợp với tiến trình hạn chế dần xe máy lưu thông trong nội đô. Các cửa hàng bán xăng dầu tự động, thanh toán bằng thẻ không có nhân viên phục vụ phát triển phổ biến ở nhiều nước trên thế giới (ở nước ta, mới chỉ có một số cửa hàng, ở đó, người mua tự nạp xăng, diesel với sự hỗ trợ của nhân viên cửa hàng). Xu hướng này cũng sẽ từng bước phát triển ở nước ta cùng với sự thay đổi thiết bị công nghệ, bao gồm công nghệ thanh toán. Xu hướng phát triển rất mạnh ở các nước trên thế giới và bắt đầu xuất hiện ở nước ta (tuy còn rất ít) là phát triển các cửa hàng bán xăng dầu có quy mô lớn, mặt tiền rộng, kết hợp với trạm dừng nghỉ cho lái xe. Ngoài nhiên liệu, các cửa hàng này còn bán các loại hàng hóa, cafe, nước giải khát và cung ứng các dịch vụ khác, kể cả dịch vụ vệ sinh có thu tiền.

Hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc phát triển hoạt động kinh doanh bán lẻ xăng dầu. Công ty xăng dầu Quảng Bình cũng không phải là ngoại lệ, bên cạnh những đối thủ cạnh tranh vốn có và ngày càng gay gắt như các cửa hàng xăng dầu của Công ty xăng dầu Hưng Phát, Tổng Công ty dầu Việt Nam (PV oil), các cửa hàng xăng dầu của DNTN trên địa bàn… sẽ xuất hiện thêm các đối thủ quốc tế với quy mô và năng lực cạnh tranh mạnh hơn, điều kiện kinh doanh vì thế mà cũng ngày càng khó khăn và khắc nghiệt hơn.

Trước thực tế đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu, đánh giá hiện trạng hoạt động kinh doanh bán lẻ tại Công ty Xăng dầu Quảng Bình hiện nay. Đó là lí do tôi chọn luận văn: “Phát triển hoạt động bán lẻ tại Công ty Xăng dầu Quảng Bình”. Với dữ liệu thu được từ cuộc khảo sát và thông qua xử lý, phân tích dữ liệu thống kê, nghiên cứu này hy vọng cung cấp cho các nhà quản lý Công ty có cái nhìn sâu sắc hơn về hoạt động kinh doanh bán lẻ. Từ đó giúp họ có các định hướng, chính sách phù hợp trong việc phát triển kinh doanh bán lẻ xăng dầu của Công ty.

2. Mục tiêu nghiên cứu

+ Hệ thống hóa các lý luận về kinh doanh bán lẻ và vận dụng các lý luận đó vào trong lĩnh vực kinh doanh bán lẻ xăng dầu.

+ Phân tích thực trạng về phát triển kinh doanh bán lẻ của Công ty xăng dầu Quảng Bình.

+ Đề xuất các giải pháp để phát triển kinh doanh bán lẻ của Công ty xăng dầu Quảng Bình.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác phát triển kinh doanh bán lẻ xăng dầu

– Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi không gian: luận văn được nghiên cứu tại Công ty Xăng dầu Quảng Bình và các cửa hàng bán xăng dầu trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.

+ Phạm vi thời gian: Phân tích, đánh giá thực trạng tình hình kinh doanh bán lẻ của Công ty Xăng dầu Quảng Bình từ năm 2017 đến 2019 từ đó đề xuất các giải phát để phát triển trong giai đoạn 2020 đến 2025.

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu dựa vào kết hợp các phương pháp như:

– Phương pháp thu thập, tổng hợp dữ liệu:

Số liệu thứ cấp được sử dụng trong đề tài là báo cáo tài chính, báo cáo hoạt động kinh doanh của Công ty Xăng dầu Quảng Bình giai đoạn 2017-2019; niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình.

Các số liệu được tổng hợp theo từng năm, theo từng sản phẩm để hỗ trợ cho việc phân tích, so sánh hoạt động phát triển kinh doanh của công ty những năm qua.

– Phương pháp thống kê, mô tả:

Nghiên cứu sử dụng số bình quân, số tương đối, phân tích sự biến động theo thời gian… để phân tích đánh giá thực trạng hoạt động phát triển hoạt động bán lẻ của Công ty trong phạm vi thời gian đề tài nghiên cứu.

– Phương pháp phân tích, so sánh:

Đề tài tiến hành thu thập báo cáo tài chính, báo cáo hoạt động của Công ty giai đoạn 2017-2019 làm cơ sở phân tích tình hình sản xuất kinh doanh trong giai đoạn nghiên cứu, số lượng cửa hàng bán lẻ xăng dầu trực thuộc Công ty và số lượng cửa hàng bán lẻ trên toàn tỉnh để đánh giá mức độ mở rộng thị phần của Petrolimex Quảng Bình.

5. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội của luận văn có kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển kinh doanh bán lẻ xăng dầu.

Chương 2: Thực trạng phát triển kinh doanh bán lẻ xăng dầu tại Công ty Xăng dầu Quảng Bình.

Chương 3: Giải pháp phát triển kinh doanh bán lẻ xăng dầu tại Công ty Xăng dầu Quảng Bình.

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH DOANH

BÁN LẺ XĂNG DẦU

1.1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BÁN LẺ

1.1.1. Khái niệm bản lẻ, thị trường bán lẻ và kinh doanh bán lẻ

1.1.1.1. Khái niệm bán lẻ

Theo từ điển American Heritage định nghĩa: bán lẻ là bán hàng cho người tiêu dùng, thường là với khối lượng nhỏ và không bán lại.

Theo NAICS, US năm 2002, lĩnh vực bán lẻ (mã ngành 44-45) bao gồm những cơ sở kinh doanh bán lẻ hàng hoá (thường không có hoạt động chế biến) và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho bán hàng. Quá trình bán lẻ là khâu cuối cùng trong phân phối hàng hoá. Các nhà bán lẻ tổ chức việc bán hàng theo khối lượng nhỏ cho người tiêu dùng.

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, bán lẻ là hình thức bán từng cái, từng ít một trực tiếp cho người tiêu dùng. Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa: Bán lẻ bao gồm việc bán hàng cho cá nhân hoặc hộ gia đình để họ tiêu dùng, tại một địa điểm cố định, hoặc không cố định và thông qua các dịch vụ liên quan.

Trong cuốn sách Quản trị Marketing, Philip Kotler đã định nghĩa: bán lẻ bao gồm tất cả những hoạt động liên quan đến việc bán hàng hoá hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân, không kinh doanh .

Theo phân loại sản phẩm chính tạm thời của Liên Hợp quốc (CPC- Central Products Classification), bán lẻ là hoạt động bán hàng hoá cho người tiêu dùng hoặc các hộ tiêu dùng từ một địa điểm cố định (cửa hàng, kiốt) hay một địa điểm khác (bán trực tiếp) và các dịch vụ phụ liên quan.

Những khái niệm trên đây đã xác định bán lẻ là: bán với khối lượng nhỏ; bán trực tiếp cho người tiêu dùng; bán lẻ hàng hoá và các dịch vụ có liên quan; người tiêu dùng mua để phục vụ cho nhu cầu của cá nhân và hộ gia đình, không dùng để kinh doanh (bán lại); không bao gồm tiêu dùng cho sản xuất (phân biệt giữa hàng tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất); bán lẻ là công đoạn cuối cùng trong khâu lưu thông để sản phẩm đến với người tiêu dùng; bán lẻ tại một địa điểm cố định, hoặc không cố định và thông qua các dịch vụ khác.

Về bản chất, bán lẻ là một trong những hoạt động kinh tế (economic activities) của nền kinh tế và thuộc khu vực dịch vụ. Theo danh mục phân loại ngành dịch vụ của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ngành dịch vụ phân phối bao gồm 4 phân ngành: đại lý; bán buôn; bán lẻ (bao gồm cả hoạt động bán hàng đa cấp); nhượng quyền thương mại. Ở Việt Nam, Nghị định 75/CP ngày 27/10/1993 về phân ngành kinh tế, bán lẻ thuộc ngành thương nghiệp, sửa chữa thiết bị – phân ngành cấp 1 và thuộc khu vực dịch vụ. Hiện nay, Quyết định số 10/2007/QĐ -TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 23/1/2007, bán lẻ thuộc phân ngành cấp 1 – Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy và xe có động cơ khác (nhóm G).

Danh mục CPC xác định rằng “dịch vụ chính do các nhà bán buôn và bán lẻ thực hiện là bán lại hàng hóa kèm theo hàng loạt các dịch vụ phụ trợ có liên quan khác như: bảo quản, lưu kho hàng hóa; sắp xếp và phân loại đối với hàng hóa khối lượng lớn, bốc dỡ và phân phối lại đối với hàng hóa khối lượng nhỏ; dịch vụ giao hàng; dịch vụ bảo quản lạnh; các dịch vụ khuyến mãi do những người bán buôn thực hiện; và các dịch vụ liên quan đến việc kinh doanh của người bán lẻ như chế biến phục vụ cho bán hàng, dịch vụ kho hàng và bãi đỗ xe”.

1.1.1.2. Khái niệm thị trường bán lẻ

Trong kinh tế học hiện đại, thị trường là tổng thể các quan hệ mua bán hàng hoá, dịch vụ giữa vô số những người bán và người mua có quan hệ cạnh tranh với nhau, bất kể là ở địa điểm nào, thời gian nào. Khái niệm này cũng đúng với thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng. Tuy nhiên, trong khái niệm thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng, ngoại diên đã được thu hẹp và nội hàm được mở rộng hơn. Cụ thể, người bán là người bán lẻ, họ không chỉ bán hàng hóa mà còn cung cấp cho người người mua các dịch vụ hỗ trợ, bổ sung có liên quan đến hàng hóa; người mua là người tiêu dùng cuối cùng, họ không chỉ mua hàng hóa mà còn quan tâm đến cả dịch vụ do người bán cung cấp; hàng hóa cũng được xác định cụ thể là những hàng hóa phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình.

Từ góc độ kinh tế, về nguyên tắc, không có sự khác biệt giữa sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Cả thị trường hàng hóa và dịch vụ đều được điều chỉnh bởi tập hợp các mục đích, các động lực và các hạn chế tương tự. Nhiệm vụ kinh tế thực sự của một công ty cung cấp hàng hóa hay dịch vụ đều bao gồm việc tiến hành và điều phối các nhân tố sản xuất (vốn, lao động, công nghệ) nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của khách hàng tiềm năng cả ở trong và ngoài nước. Trên thị trường, thành công hay thất bại của một công ty kinh doanh hàng hóa hay dịch vụ được quyết định bởi chính năng lực cạnh tranh của công ty đó. Tuy nhiên, thị trường dịch vụ cũng có khác biệt so với thị trường hàng hóa về phương thức thực hiện mua – bán trên thị trường (phương thức thực hiện thương mại), tính cạnh tranh trên thị trường, các qui định pháp lý. Những khác biệt này có liên quan đến đặc tính vô hình của dịch vụ, sự diễn ra đồng thời của sản xuất (cung ứng) và tiêu dùng dịch vụ, tính không thể lưu trữ và không có sự chuyển quyền sở hữu.

Người bán lẻ hàng hóa không chỉ đơn thuần là bán hàng, mà còn cung cấp cho người tiêu dùng (người mua) một loạt các dịch vụ liên quan trực tiếp đến hàng hóa (bảo quản, kho bãi, phân loại, bao gói hàng hóa,…), dịch vụ bổ sung (địa điểm thuận lợi, bảo đảm về giao hàng, các thông tin và môi trường kinh doanh), giúp cho người mua có sự lựa chọn chính xác hơn, thuận tiện hơn. Như vậy, trên thị trường, về thực chất, người bán lẻ hàng hóa đã cung cấp cho người mua (người tiêu dùng cuối cùng) hàng loạt các dịch vụ phụ trợ có liên quan đến hàng hóa được bán ra.

Khi người tiêu dùng mua hàng hóa, khi đó họ không chỉ nhận được hàng hóa, mà còn nhận được hàng loạt các dịch có liên quan từ người bán lẻ. Nói cách khác, khi việc mua – bán hàng hóa diễn ra, khi đó đồng thời phát sinh cả quan hệ mua – bán hàng hóa và quan hệ mua – bán dịch vụ. Trên thực tế, do tính vô hình của sản phẩm dịch vụ, quan hệ mua – bán dịch vụ thường bị che lấp bởi quan hệ mua – bán hàng hóa.

Thực tế, khi người tiêu dùng thực hiện việc mua hàng hóa cũng đã bao gồm chi phí liên quan đến nhiều dịch vụ khác nhau được cung cấp bởi nhà phân phối. Theo Betancourt (2004) đã phân định các chi phí giao dịch liên quan đến các loại dịch vụ mà người tiêu dùng phải gánh chịu thành 5 nhóm khác nhau, bao gồm:

+ Nhóm dịch vụ liên quan đến môi trường của địa điểm. “Môi trường của địa điểm” xác định mức chi phí tâm lý mà khách hàng phải gánh chịu do bản chất của môi trường bán lẻ. Có thể hiểu bản chất của loại dịch vụ này bằng ví dụ về sự khác biệt giữa dịch vụ cung cấp bởi một cửa hàng giảm giá và một cửa hàng cao cấp. Sản phẩm bán tại cửa hàng cao cấp sẽ có mức giá cao hơn bởi phải mất chi phí cho các nguồn lực cần thiết để tạo ra một môi trường bán lẻ cao cấp, kể cả chi phí thuê địa điểm tại khu vực đắt đỏ hơn.

+ Nhóm dịch vụ thứ hai là dịch vụ phân loại sản phẩm (được cung cấp bởi nhà phân phối), có thể chia thành: phân loại theo chiều rộng (các dòng sản phẩm – product line) hoặc phân loại theo chiều sâu (các loại sản phẩm khác nhau trong cùng một dòng sản phẩm).

+ Nhóm dịch vụ thứ ba là sự tiện lợi của địa điểm (accessibility). Đây là loại dịch vụ dễ định nghĩa và định lượng nhất. Sự tiện lợi ở đây, có thể hiểu đơn giản nhất, là khoảng cách đến cơ sở bán lẻ. Yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí đi lại và thời gian của khách hàng cho hoạt động tiêu dùng và thanh toán. Một hệ thống bán lẻ có thể tăng cường sự tiện lợi cho khách hàng bằng cách thiết lập nhiều cơ sở bán lẻ trong cùng khu vực thị trường, tuy nhiên bố trí này cũng làm chi phí cao hơn so với việc vận hành một cơ sở bán lẻ duy nhất.

+ Nhóm dịch vụ thứ tư là sự bảo đảm về giao hàng, có thể chia ra thành hai loại: giao hàng tại thời điểm mong muốn và theo hình thức mong muốn. Giao hàng tại thời điểm mong muốn đạt được bằng cách tăng thời gian mở cửa hoặc cung cấp tín dụng. Giao hàng theo hình thức mong muốn bao gồm việc thực hiện các chức năng: chia lô hàng, chịu rủi ro thông qua bố trí chuyển giao quyền sở hữu hoặc cung cấp bảo hành.

+ Nhóm dịch vụ thứ năm được cung cấp bởi các cơ sở bán lẻ là thông tin về giá cả, sự sẵn có và các đặc điểm khác của hàng hóa, dịch vụ cung cấp, kể cả thông tin về chính cơ sở bán lẻ. Việc cung cấp dịch vụ này sẽ dẫn đến gia tăng chi phí đối với hệ thống bán lẻ, nhưng mặt khác làm giảm chi phí về tìm kiếm thông tin, giảm mức độ rủi ro cho khách hàng.

Việc phân loại các nhóm dịch vụ và chi phí liên quan nêu trên đây làm rõ hơn bản chất của giao dịch mua – bán trên thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng về phương diện dịch vụ bán lẻ giữa người mua (người tiêu dùng) và người bán trên thị trường bán lẻ.

Phát triển hoạt động bán lẻ tại Công ty Xăng dầu Quảng Bình
Phát triển hoạt động bán lẻ tại Công ty Xăng dầu Quảng Bình

1.1.1.3. Khái niệm kinh doanh bán lẻ

Kinh doanh bán lẻ là hoạt động kinh doanh thương mại nhằm tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ tới những cá nhân người tiêu dung hoặc những tập thể hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.

Ở mỗi quốc gia khác nhau sẽ có những mô hình kinh doanh bán lẻ khác nhau. Sự đa dạng của các mô hình cũng như sự đặc trưng của một mô hình cũng thể hiện sự khác nhau của từng quốc gia. Điều này được quyết định bởi đặc trưng của mỗi nền kinh tế. Tuy thị trường bán lẻ của Việt Nam còn nhỏ bé, manh mún, song cũng được nhận xét là “thế giới có cái gì thì Việt Nam có cái đó”. Các loại hình bán lẻ của Việt Nam cũng bao gồm loại hình kinh doanh hiện đại và loại hình kinh doanh truyền thống.

Loại hình bán lẻ truyền thống bao gồm: chợ và các cửa hàng tạp hoá.

Loại hình bán lẻ hiện đại bao gồm: Đại Siêu thị (hyper market), Siêu thị (super market), trung tâm thương mại (department store), trung tâm mua sắm (shopping mall), cửa hàng tiện ích (convenient store), cửa hàng chuyên doanh.

Thị trường kinh doanh bán lẻ của Việt Nam được xem là “miếng bành béo bở” đối với các nhà bán lẻ ngoài nước. Việc các doanh nghiệp Việt Nam phài chia sẽ “miếng bánh béo bở” thị trường bán lẻ với các công ty nước ngoài không phải là tín hiệu vui đối với các nhà bán lẻ nội địa bởi các công ty ngoại có kinh nghiệm, thế mạnh vượt trội hơn rất nhiều. Bắt đầu từ lúc thực hiện cam kết với WTO, các nhà bán lẻ nước ngoài đầu tư vào nước ta đã thúc đẩy thị trường bán lẻ Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên bên cạnh mặt tích cực đó luôn tồn tại những thách thách không nhỏ, thậm chí nếu các doanh nghiệp không có chiến lược hoạt động hợp lý sẽ rất dễ bị chịu thiệt ngay trên sân nhà. Như đã đề cập, hiện nay chúng ta đang có sự quan tâm đầu tư đặc biệt của các tập đoàn bán lẻ lớn trên thế giới như Walmart (Mỹ), Auchan (Pháp), Big C (Pháp), Metro Cash & Carry (Đức), Emart (Hàn Quốc), Lotte (Hàn Quốc), Aeon (Nhật), Seven Eleven (Nhật), Parkson (Malaysia), Robins (Thái Lan)….

Có thể nhận thấy trên đây là hầu hết các tập đoàn lớn, mạnh về tài chính, kinh nghiệm, công nghệ,… thêm vào đó là sự ưu đãi đầu tư của một số địa phương đã gây ra những bước cản cho các doanh nghiệp trong nước có cùng lĩnh vực mà nhất là trong cạnh tranh và phân phối hàng hoá.

Việt Nam bây giờ đã hội nhập sâu và nền kinh tế thế giới, có rất nhiều cơ hội để nền kinh tế phát triển toàn diện hơn nữa trong đó có cơ hội cho việc phát triển kinh doanh bán lẻ cả chiều rộng lẫn chiều sâu một các mạnh mẽ ở thị trường nội địa và vươn ra khu vực. Tuy nhiên chúng ta cũng đang đối diện với những thách thức, khó khăn cần phải vượt qua như sau:

– Việt Nam phải xây dựng được chiến lược phát triển ngành bán lẻ ở cả ba cấp là Nhà nước, Ngành và Doanh nghiệp. Quy mô kinh doanh với vốn nhỏ, hạ tầng phục vụ còn thấp, tính chuyên nghiệp chưa cao, văn hoá phục vụ còn nhiều điều phải khắc phục, quản trị doanh nghiệp chưa theo kịp với tình hình, đặc biệt là tính liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp bán lẻ với nhau, giữa bán lẻ và nhà sản xuất còn chưa cao. Ít có những tổ chức bán lẻ có những điểm cá biệt, nổi trội, đổi mới kinh doanh còn chậm chạp. Tình hình trên cho thấy thách thức của kinh doanh bán lẻ ở Việt Nam hiện tại là rất lớn.

– Đầu tư vào ngành bán lẻ của Việt Nam chưa ổn định khi mà nguồn cung hàng hoá được sản xuất với qui mô nhỏ, năng suất thấp, chất lượng không ổn định, vệ sinh an toàn không đảm bảo, chi phí sản xuất cao, chưa đồng bộ hoá, giá lại không cạnh tranh ngay trên thị trường nội địa. Một điều quan trọng nữa là lợi nhuận chưa phân phối hợp lý giữa các khâu, đặc biệt là với người sản xuất.

– Thách thức lớn tiếp theo đó là sự quan tâm của người tiêu dùng, các chính sách của nhà nước, bộ, ngành. Các công tác tổ chức triển khai những đề án có liên quan đến việc phát triển thị trường bán lẻ được công bố thì thường rất yếu ở khâu thực hiện.

– Bên cạnh đó, năng lực của nhà bán lẻ nội địa cũng là thách thức không nhỏ đối với chính họ. Với nguồn lực khó khăn, trong khi luôn có sự bất lợi trong các chính sách hỗ trợ so với doanh nghiệp nước ngoài như về lãi suất ngân hàng, vị trí mặt bằng, đất đai, cơ sở hạ tầng.

Việc nhìn nhận thị trường bán lẻ Việt Nam với những cơ hội và thách thức cần phải vượt qua trong quá trình hội nhập với kinh tế thế giới, chúng ta đã có những bước cơ bản cho việc phát triển kinh doanh bán lẻ hiện đại ngày nay. Để các doanh nghiệp bán lẻ trong nước có thể tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp cần phải lựa chọn cho mình một chiến lược hoạt động phù hợp với tình hình thực tế, đặc biệt là nguồn lực hiện có của mình cũng như trong tương lai.

1.1.2. Các hình thức kinh doanh bán lẻ

– Bán lẻ thu tiền tập trung

Một hình thức kinh doanh bán lẻ không thể tách rời và thu tiền giao hàng cho người mua tận nơi. Tại mỗi một cửa hàng sẽ có quầy thu ngân và nhân viên có trách nhiệm thu tiền cho khách hàng khi đến quầy nhận hàng. Trong trường hợp làm theo ca thì sau khi kết thúc ca nhân viên căn cứ vào những hóa đơn tích kê giao hàng lại cho khách và kiểm tra hàng hóa còn tồn để xác định lượng hàng đã bán được trong ngày để làm báo cáo bán hàng.

– Bán lẻ thu tiền trực tiếp

Hình thức kinh doanh bán lẻ mà nhân viên bán hàng sẽ thực hiện nhiệm vụ thu tiền và giao hàng cho khách trực tiếp. Sau khi giao dịch thành công nhân viên bán hàng tiến hành làm giấy nộp tiền và nộp lại tiền cho thu ngân và kiểm kê lại hàng còn tồn kho xác định lượng hàng còn tồn và hàng bán trong ngày để lập báo cáo.

– Bán lẻ tự phục vụ (tự chọn)

Đây là hình thức bán hàng khá phổ biến và quen thuộc hiện nay. Khách hàng tự chọn hàng hóa đang có nhu cầu mang đến quầy thu ngân để thanh toán hóa đơn. Nhân viên kiểm tra hàng và tính tiền, lập hóa đơn thanh toán và thu tiền của khách hàng.

Nhân viên có trách nhiệm nhắc nhở khách kiểm tra hàng hóa và hóa đơn sau khi ra khỏi cửa hàng.

– Bán trả góp

Hình thức trả góp mới được áp dụng gần đây. Người mua hàng chọn sản phẩm đang cần và chỉ thanh toán một số khoản tiền nhất định và sẽ thu một khoản lãi chậm. Với các công ty, cửa hàng bán lẻ lớn có thương hiệu tầm cỡ thì mua trả góp có lãi suất không đồng để khuyến khích hành vi mua hàng.

Với hình thức này thì đối với bên bán và bên mua đều nhận được nhiều tiện ích. Người mua nhận được sản phẩm mình mong muốn mà chưa đủ kinh tế và người bán sẽ bán được nhiều sản phẩm và duy trì được doanh thu ổn định và lãi suất hàng tháng thu về từ người trả góp.

– Bán hàng tự động

Bán hàng tự động là quá trình bán lẻ được giao dịch trên các sàn thương mại điện tử sử dụng để bán hàng tự động. Sử dụng cho một hoặc nhiều sản phẩm khác nhau có thể đặt và xem sản phẩm mọi lúc mọi nơi. Sau khi nạp tiền vào máy lựa chọn sản phẩm thông tin và hàng hóa sẽ được giao đến tận tay người mua.

Đây là hình thức khá phổ biến tại Việt Nam bởi nhiều khách hàng muốn mua hàng nhanh gọn và tiết kiệm thời gian.

– Gửi đại lý bán hay ký gửi hàng hoá

Đây là hình thức bán hàng mà các doanh nghiệp sẽ giao hàng đến các cơ sở bán hàng để các cơ sở trực tiếp bán hàng. Bên nhận giữ vai trò đại lý và được hưởng hoa hồng. Số hàng hóa được ký gửi bán tại các cơ sở phụ thuộc vào quyền sở hữu của các doanh nghiệp thỏa hiệp trước khi hợp tác.

1.1.3. Khái niệm phát triển kinh doanh bán lẻ

Khái niệm phát triển được hiểu là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật. Quá trình trình vận động đó đó diễn ra dưới tác động của cả các yếu tố bên trong và bên ngoài sự vật. Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn.

Vận dụng khái niệm phát triển vào lĩnh vực kinh doanh chuỗi CHBL cụ thể như sau: Phát triển kinh doanh chuỗi CHBL là một quá trình thay đổi của chuỗi do sự thay đổi của các yếu tố bên trong, cũng như những thay đổi của môi trường kinh doanh bán lẻ. Phát triển kinh doanh chuỗi CHBL là quá trình tác động nhiều mặt, có chủ đích của chính các chủ thể kinh doanh bán lẻ theo mô hình chuỗi cũng như của hệ thống chính sách của nhà nước. Sự phát triển kinh doanh chuỗi CHBL là kết quả gia tăng số lượng cửa hàng, phạm vi hoạt động của chuỗi CHBL, doanh thu bán lẻ qua chuỗi cửa hàng, các dịch vụ bán lẻ kèm theo… (thay đổi về lượng) và dẫn đến sự gia tăng năng suất lao động, giảm chi phí kinh doanh, nâng cao uy tín, danh tiếng của nhà bán lẻ trên thị trường, nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng cho người mua (người tiêu dùng cuối cùng) và sự ổn định chung của nền kinh tế,… (sự thay đổi về chất).

Tóm lại, phát triển kinh doanh chuỗi cửa hàng bán lẻ bao gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế (doanh nghiệp, cá nhân) cũng như của nhà nước sử dụng để thay đổi về lượng và dẫn đến sự thay đổi về chất trong hoạt động kinh doanh của chuỗi cửa hàng bán lẻ.

Trong thực tiễn kinh doanh, các chủ thể kinh doanh nói chung và kinh doanh chuỗi cửa hàng bán lẻ nói riêng luôn phải tìm kiếm những phương sách hữu hiệu để phát huy nội lực, thích ứng với sự thay đổi môi trường kinh doanh đảm bảo duy trì, phát triển hoạt động kinh doanh và gia tăng lợi nhuận.

Phát triển kinh doanh chuỗi CHBL đòi hỏi nhà bán lẻ phải huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, nâng cao năng lực kinh doanh trên thị trường, thấu hiểu sản phẩm và khách hàng, giúp khách hàng hiểu rõ được giá trị cốt lõi mà họ có được nếu sở hữu sản phẩm mà chuỗi CHBL cung cấp, thích ứng với thay đổi của môi trường và áp lực cạnh tranh trên thị trường bán lẻ. Vì vậy, việc liên kết, hợp tác giữa các yếu tố nội bộ và bên ngoài chuỗi là rất cần thiết nhằm đưa ra các chính sách bán hàng và chiến lược quảng cáo tiếp thị hiệu quả (Lamba, 2003). Phát triển kinh doanh chuỗi CHBL nhằm đảm bảo khả năng phát triển bền vững và tăng trưởng ổn định có ý nghĩa sống còn đối với chủ thể kinh doanh.

1.1.4. Kinh doanh bán lẻ xăng dầu

1.1.4.1. Điều kiện để kinh doanh bán lẻ xăng dầu

Căn cứ Nghị định 83/2014/NĐ-CP ngày 03/9/2014 của Chính phủ về Kinh doanh xăng dầu, điều kiện để cửa hàng bán lẻ xăng dầu được Sở Công Thương cấp Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu được quy định như sau:

– Địa điểm mở cửa hàng bán lẻ xăng dầu  phải phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

– Cửa hàng thuộc sở hữu, đồng sở hữu của thương nhân là đại lý hoặc tổng đại lý bán lẻ xăng dầu  /thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu hoặc thương nhân phân phối xăng dầu/ thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu / thương nhân sản xuất xăng dầu có hệ thống phân phối theo quy định tại Nghị định 83/2014/NĐ-CP (thương nhân đề nghị cấp phải đứng tên trên Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu).

– Cửa hàng phải được thiết kế, xây dựng và trang bị  trang thiết bị đầy đủ  theo đúng các quy định hiện hành về quy chuẩn, tiêu chuẩn cửa hàng bán lẻ xăng dầu, an toàn phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ môi trường của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

– Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh tại cửa hàng phải được đào tạo, huấn luyện và có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành.

1.1.4.2. Những đặc thù trong phát triển kinh doanh bán lẻ xăng dầu

a. Xăng dầu – mặt hàng thiết yếu có tính chất đặc thù

Xăng dầu và các sản phẩm dầu mỏ có tính chất hết sức đặc thù, ảnh hưởng rất lớn đến quá trình kinh doanh. Từ những đặc tính đặc thù này, đòi hỏi phải có những biện pháp, công nghệ thích hợp đáp ứng được những yêu cầu của tính chất đặc biệt đó.

Các sản phẩm xăng dầu là mặt hàng thiết yếu, mặt khác nguồn cung nhập khẩu là có hạn cho nên trong ngắn hạn đều rất ít co giãn về lượng cầu- cung so với sự thay đổi về giá.

b. Xăng dầu – mặt hàng chiến lược chịu sự quản lý của Nhà nước

Xăng dầu và các sản phẩm từ dầu mỏ là nguồn nhiên liệu và nguyên liệu cực kỳ quan trọng, là yếu tố đầu vào cho nhiều ngành như luyện thép, thủy tinh, xi măng, giao thông,…, đặc biệt đóng vai trò trong hoạt động của nền kinh tế quốc dân, trong quốc phòng, an ninh, và đời sống hàng ngày của nhân dân.

Mặt khác, xăng dầu và các sản phẩm từ dầu mỏ là mặt hàng đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước; góp phần ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát … tạo ra sự phát triển lành mạnh cho nền kinh tế quốc dân.

Việc kinh doanh xăng dầu chịu ảnh hưởng trực tiếp của tình hình biến động giá cả trên thị trường xăng dầu thế giới, từ đó làm ảnh hưởng đến giá vốn hàng bán của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu trong nước. Đồng thời, các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu còn chịu sự kiểm soát thị trường và điều tiết giá cả của Nhà nước.

Chính phủ thực hiện quản lý kinh doanh xăng dầu theo Nghị định 83, theo đó doanh nghiệp có một phần điều hành và quyền quyết định giá, tần suất, biên độ (Theo điểm (c) điều 38 của Nghị định 83/2014/NĐ-CP).

Ngoài ra Chính phủ thực hiện quản lý trên cơ sở các thông tư, văn bản hướng dẫn, đặc biệt về giá bán Chính phủ quy định trên một số nguyên tắc, thời điểm, mức độ, phương pháp thay đổi giá … Doanh nghiệp được quyền quyết định giá trong phạm vi nhất định, khi giá thị trường có thể tác động tới các chỉ tiêu kinh tế xã hội, Chính phủ có quyền điều tiết việc tăng, giảm giá của doanh nghiệp. Chính phủ quy định các doanh nghiệp phải công khai cách tính giá trên cơ sở giá cơ sở và giá bán hiện hành và các khoản thu theo quy định.

Đối với các khoản thuế, lệ phí quỹ bình ổn: thực hiện chính sách tận thu để đảm bảo nguồn thu ngân sách, Chính phủ đã thực hiện thông qua việc điều chỉnh thuế nhập khẩu, quỹ bình ổn … từng thời điểm nhằm mang lại sự ổn định về nguồn thu ngân sách cũng như đảm bảo không có sự biến động bất thường về giá bán.

c. Kinh doanh xăng dầu đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và sự phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật. Ngành xăng dầu nói chung trong thập kỷ qua có sự phát triển vượt bậc về quy mô, chất lượng và công nghệ khai thác. Với ngành xăng dầu Việt Nam, sự phát triển của khoa học công nghệ đã đem lại nhiều sự thay đổi như: Thực hiện các phương pháp đo lường điều khiển, xuất nhập hàng hóa thông qua hệ thống tự động hóa, sản xuất xăng sinh học,… Công nghệ tiên tiến giúp ngành xăng dầu phát triển nhanh, giúp cho các doanh nghiệp có điều kiện để phát triển cơ sở hạ tầng, thiết bị của mình, thích ứng với sự phát triển của thế giới, giảm thiểu chi phí tăng hiệu quả kinh doanh.

Do đặc thù kinh doanh xăng dầu có vốn đầu tư ban đầu lớn, do đó số lượng doanh nghiệp tham gia cung ứng trên thị trường không nhiều.

1.1.5. Vai trò của phát triển kinh doanh bán lẻ xăng dầu

1.1.5.1. Đối với công ty bán lẻ

Với dự báo thị trường xăng dầu sẽ cạnh tranh ngày càng cao trong năm những năm sắp tới, “đại gia” xăng dầu lớn nhất tại Việt Nam với khoảng 49% thị phần là Petrolimex đang quyết liệt thực hiện chiến lược phát triển đầu tư mạnh cho hệ thống bán lẻ. Thực tế là trong suốt 20 năm qua, với tầm nhìn chiến lược dài hạn, Petrolimex đã đầu tư mạnh cho hệ thống bán lẻ thông qua việc phát triển mới và đầu tư xây dựng khoảng 70 cửa hàng bán lẻ xăng dầu/năm với nhiều quy mô khác nhau. đây chính là hướng đi đúng đắn mà Petrolimex đã thực hiện và sẽ tiếp tục thực hiện để đón đầu xu hướng các nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời tập trung tham gia vào thị trường phân phối xăng dầu Việt Nam thông qua IPO các nhà máy lọc dầu trong nước, các công ty kinh doanh xăng dầu. Đây cũng chính là yếu tố để duy trì tăng trưởng của Petrolimex trong những năm tiếp theo.

Trong bối cảnh thị trường xăng dầu ngày càng cạnh tranh khốc liệt với sự xuất hiện ngày càng nhiều hơn các DN đầu mối, doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu cần xây dựng chiến lược phát triển mới, nhằm gia tăng thị phần và tìm kiếm khách hàng mới, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp mình.

1.1.5.2. Đối với khách hàng

Bán lẻ hiện đang là phương thức cung ứng xăng dầu chủ yếu cho các nhu cầu vận tải, sản xuất và đi lại của cá nhân. Bán lẻ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng lượng xăng, diesel bán ra, trừ những đơn vị sản xuất kinh doanh có nhu cầu lớn: Các nhà máy điện, một số công ty vận tải thủy, công ty Đường sắt sử dụng đầu máy chạy Diesel là có hệ thống kho chứa riêng để nạp xăng dầu cho phương tiện.

Xăng dầu luôn được coi là một loại hàng hóa đặc biệt quan trọng, là “máu huyết” của nền kinh tế quốc dân và quốc phòng. Biến động giá xăng dầu có tác động lớn đến hầu hết các ngành nghề và người dân trong xã hội, trong đó trực tiếp là các ngành thuộc lĩnh vực giao thông vận tải, khai mỏ, sản xuất điện, xi măng, tiêu dùng sinh hoạt… chưa kể tới hàng loạt các lĩnh vực bị ảnh hưởng gián tiếp.

Một đặc điểm trong hệ thống đại lý của nước ta là phương thức “mua đứt bán đoạn” và không gắn chặt với một doanh nghiệp cung cấp nào hiện đang là phổ biến. Ở vào một thời điểm cụ thể, doanh nghiệp nào có giá bán buôn thấp hoặc “Hoa hồng” cao thì “ăn” hàng ở đó. Các đại lý bán lẻ phải tự đầu tư cơ sở vật chất nên quy mô, hình thức các cửa hàng rất khác nhau, có cả các trạm bán xăng dầu trên sông, biển để cung cấp cho các loại tàu thuyền cỡ nhỏ. Do đó, việc phát triển kinh doanh bán lẻ tạo thuận lợi cho NTD vì thuận lợi trong việc mua sản phẩm, chất lượng sản phẩm cung ứng vì mức độ cạnh tranh mà tăng lên.

Do quá trình đô thị hóa đang tăng nhanh; định hướng chính sách là hạn chế đi lại bằng xe máy để giảm ùn tắc giao thông, trước hết là các thành phố lớn; cơ chế định giá ngày càng “thị trường” hơn, cùng với sự phát triển của công nghệ là sự chuyển hướng sang sử dụng các dạng năng lượng không gây ô nhiễm môi trường, hệ thống bán lẻ xăng dầu cũng đang và sẽ có sự thay đổi mạnh mẽ.

1.1.5.3. Đối với nền kinh tế

Thị trường xăng dầu có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Qua thị trường có thể hình dung ra toàn bộ nhu cầu của nền kinh tế xã hội, có thể nhận biết được mức độ, hình thức, hiệu quả của các phương thức phân phối xăng dầu và có thể đánh giá được tiềm lực kinh tế của quốc gia, trình độ dân trí, xu hướng tiêu dùng…

1.2. NỘI DUNG PHÁT TRIỂN KINH DOANH BÁN LẺ XĂNG DẦU

1.2.1. Xác định thị trường mục tiêu

Việc xác định thị trường mục tiêu sẽ giúp nhà kinh doanh xăng dầu thu hẹp dần các đối tượng mà hoạt động kinh doanh của họ hướng tới, từ đó sẽ dễ dàng đưa ra được thông điệp thích hợp cho thị trường đó. Tất cả các hoạt động kinh doanh thành công đều có một thị trường mục tiêu.

Thị trường mục tiêu là thị trường bao gồm các khách hàng có cùng nhu cầu hoặc mong muốn mà công ty có khả năng đáp ứng. Nắm rõ được điều này, công ty có thể chiếm được ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh, đồng thời đạt được các mục tiêu mà chiến lược tiếp thị đã khẳng định. Sau khi đã phân đoạn thị trường, cần phải tiến hành lựa chọn thị trường mục tiêu. Việc này sẽ mang lại các lợi ích cơ bản sau:

– Hiểu biết một cách thấu đáo hơn những nhu cầu và mong muốn của khách hàng;

– Sử dụng một cách có hiệu quả nguồn kinh phí của công ty dành cho hoạt động tiếp thị;

– Nâng cao tính thích ứng và hiệu quả của việc xây dựng chiến lược kinh doanh, đồng thời thực hiện tốt nhất chiến lược tiếp thị của công ty;

– Đảm bảo tính khách quan và có căn cứ khi đề xuất các chính sách tiếp thị hỗn hợp;

– Nâng cao hiệu quả của việc xác định thị trường, đồng thời tạo ra và sử dụng tốt những ưu thế cạnh tranh của công ty so với các đối thủ cạnh tranh trong cố gắng phát triển thị trường.

Thị phần của kinh doanh bán lẻ xăng dầu được căn cứ cơ bản trên bán kính phục vụ của các cửa hàng thuộc Công ty xăng dầu đó và khả năng mở rộng ra các khu vực lân cận so với các các cửa hàng kinh doanh xăng dầu của các đối thủ cạnh tranh khác. Để xác định thị trường mục tiêu cho kế hoạch kinh doanh, Công ty xăng dầu cần tiến hành nghiên cứu về những khách hàng tiềm năng. Những khách hàng tiềm năng là những người trong tương lai sẽ quan tâm và mua sản phẩm, hay sử dụng dịch vụ của Công ty xăng dầu. Điều này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu thị trường để xác định được số lượng khách hàng tiềm năng, các chỉ tiêu về kinh tế xã hội như thu nhập bình quân, mức độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng, mức độ phát triển các dịch vụ vui chơi, giải trí… các chỉ số về khách hàng như giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, thói quan mua sắm, nhu cầu,… các yếu tố về mùa vụ, lễ hội truyền thống tại địa phương,… Có được những kết quả này, sẽ cho chúng ta biết được mức độ đầu tư về qui mô, về diện tích, về không gian mua sắm, về cơ cấu hàng hóa, về chính sách giá, về các dịch vụ tiện ích…

1.2.2. Lựa chọn khách hàng mục tiêu và xây dựng các chính sách phát triển khách hàng

Xác định khách hàng mục tiêu và phân tích là một phần không thể thiếu trong bất cứ chiến lược marketing nào. Trong quá trình xây dựng chiến lược kinh doanh của một công ty, khâu quan trọng nhất là xác định ai là khách hàng mục tiêu của mình, việc lựa chọn khách hàng mục tiêu theo qui trình như sau:

– Phân tích môi trường kinh doanh, tìm ra được những yếu tố cản trở và thuận lợi của thị trường đối với doanh nghiệp khi tham gia thị trường. Đối với kinh doanh xăng dầu, phân tích môi trường kinh doanh nhằm tìm ra những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức để đưa ra các sản phẩm phù hợp với từng nhu cầu của khách hàng mục tiêu.

– Phân khúc thị trường ra nhiều nhóm có nhu cầu tương đồng về sản phẩm và dịch vụ, đồng thời phân tích nhu cầu của khác hàng và khả năng đáp ứng nhu cầu của các đối thủ cạnh tranh theo từng phân khúc của thị trường.

– Phân tích những nhóm khách hàng nào là phù hợp với nguồn lực và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

– Lựa chọn khách hàng mục tiêu, định vị sản phẩm và đặt ra thị phần mục tiêu mà doanh nghiệp muốn đạt được.

Khi xác định được khách hàng mục tiêu thì toàn bộ nỗ lực của doanh nghiệp sẽ nhắm vào đối tượng khách hàng này. Để có được những thông tin chính xác cho việc lựa chọn và xác định thị phần mục tiêu các doanh nghiệp cần có các thông tin chính xác cho việc quyết định và tính toán các con số cụ thể.

1.2.3. Đa dạng hóa các sản phẩm bán lẻ

Đa dạng hóa sản phẩm là quá trình mở rộng danh mục sản phẩm sao cho phù hợp với nhu cầu thị trường và xã hội, phù hợp với điều kiện môi trường kinh doanh nhằm tạo ra cơ cấu sản phẩm hợp lí và có hiệu quả cho doanh nghiệp.

Hàng hóa bán lẻ qua các cửa hàng là yếu tố quyết định quan trọng đối với sự thành công của kinh doanh bán lẻ. Việc lựa chọn chủng loại hàng hóa kinh doanh bán lẻ qua chuỗi cửa hàng do các nhà bán lẻ quyết định trên cơ sở tìm hiểu nhu cầu của khách hàng mục tiêu, tìm kiếm nhà cung cấp.

Bên cạnh mặt hàng xăng dầu, tại cửa hàng xăng dầu Petrolimex còn có các hàng hóa, dịch vụ khác như dầu mỡ nhờn, gas, bảo hiểm, ngân hàng, v.v… Ngoài ra, các cửa hàng xăng dầu hiện nay còn triển khai dịch vụ bán lẻ hàng tiêu dùng thiết yếu để phục vụ nhu cầu của khách hàng.

Để đáp ứng yên cầu bảo vệ môi trường, các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đã và đang nghiên cứu và tung ra các sản phẩm bảo vệ môi trường như:

– E5: là sản phẩm chính thức thay thế xăng khoáng RON 92 trên toàn quốc. E5 được luận chứng ở 3 điểm: Nguồn dầu thô (nhiên liệu hóa thạch) là hữu hạn; đẩy mạnh trồng trọt ngô khoai sắn (nguyên liệu thô chế biến ra E100 để pha thành E5) thì phát triển nông nghiệp nông thôn, khai thác quỹ đất, tạo công ăn việc làm và gia tăng thu nhập của nông dân; đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xăng ngày càng gia tăng nhưng giảm được khí thải độc hại ra môi trường sống. Chính phủ cùng các bộ ngành đã quyết định đưa xăng E5 nhất loạt từ 01/01/2018 thay thế hoàn toàn Xăng khoáng RON 92.

Do-V:  là điêzen có hàm lượng lưu huỳnh thấp. Mỗi mức giảm hàm lượng lưu huỳnh có trong điêzen là cả một sự nỗ lực và tiến bộ vì con người. Phần lưu huỳnh còn lại trong điêzen, các nhà sản xuất ô tô cũng phải chung tay chính vì thế cũng có quy chuẩn về động cơ Euro V.

Ngoài ra, các sản phẩm như Xăng Ron95 tiêu chuẩn Euro 4, , Dầu DO 0,001S tiêu chuẩn Euro 5 và nhiên liệu hàng hải tuân thủ quy định về giới hạn lưu huỳnh của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) kể từ ngày 01/01/2020.

1.2.4. Duy trì ổn định chất lượng hàng hóa bán lẻ

Hiện nay sản phẩm xăng dầu rất đa dạng về chủng loại và chất lượng tùy thuộc vào công nghệ lọc dầu của nhà sản xuất. Xăng dầu hiện nay là nguyên liệu chính chưa thể thay thế, chất lượng sản phẩm có ảnh hưởng rất lớn đến các vấn đề như: Độ an toàn trong quá trình sử dụng, độ bền của máy móc thiết bị, đặc biệt là ảnh hưởng lớn đến môi trường thiên nhiên và sức khỏe của con người. Vì vậy việc quy định những yêu cầu về chất lượng đối với sản phẩm xăng dầu là rất cần thiết. Hiện nay nhiều nước trên thế giới đã đưa ra các bộ tiêu chuẩn chất lượng chơ mặt hàng xăng dầu như Euro 2, Euro 3-2000, Euro 4-2005, các tiêu chuẩn của Mỹ, trung Quốc, Nhật Bản, Singapore… những bộ tiêu chuẩn này luôn thay đổi theo chiều hướng ngày càng nghiêm ngặt hơn nhằm giảm ô nhiễm môi trường, đảm bảo sức khỏe con người và phù hợp với sự thay đổi mạnh mẽ của khoa học và công nghệ.

Thực tế cho thấy vấn đề tình trạng xăng dầu giả và kém chất lượng vẫn có cơ hội “qua mặt” các cơ quan quản lý trên thị trường như hiện nay, để đảm bảo quyền lợi cao nhất cho khách hàng, cần tăng cường công tác quản lý nhà nước về tiêu chuẩn đo lường chất lượng trong hoạt động kinh doanh xăng dầu với nhiều điểm mới đã góp phần hạn chế hành vi gian lận thương mại trong kinh doanh xăng dầu bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng của người tiêu dùng.

Theo Thông tư số 15/2015/TT-BKHCN quy định về đo lường chất lượng trong kinh doanh xăng dầu thì đối với hoạt động bán lẻ xăng dâu, ngoài vệc thực hiện các quy định về đo lường thương nhân bán lẻ xăng dầu phải thực hiện các quy định về đo lường sau đây:

(1). Có sẵn các ca đong hoặc bình đong có dung tích 1 lít, 2 lít, 5 lít, 10 lít và ống đong chia độ để xác định sai số; sẵn sàng thực hiện phép đo đối chứng khi được yêu cầu.

a) Các ca đong, bình đong phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

– Đã được kiểm định và còn trong thời hạn giá trị của chứng chỉ kiểm định; bảo đảm sai số lớn nhất của ca đong, bình đong nhỏ hơn hoặc bằng sai số cho phép lớn nhất của kết quả đo quy định tại khoản 1 Điều này;

– Được đặt tại vị trí sử dụng thuận lợi cho việc kiểm tra của người có trách nhiệm hoặc người mua xăng dầu đối với việc thực hiện phép đo, kết quả đo lượng xăng dầu;

– Được bảo quản, sử dụng theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất ca đong, bình đong; duy trì các yêu cầu kỹ thuật đo lường của ca đong, bình đong trong quá trình sử dụng.

b) Ống đong chia độ được hiệu chuẩn hoặc kiểm định ban đầu.

(2). Sử dụng các ca đong hoặc bình đong, ống đong chia độ quy định tại khoản 1 khi thực hiện phép đo đối chứng để xác định sai số kết quả đo lượng xăng dầu đã bán cho người mua hoặc đã đong khi kiểm tra. Sai số kết quả đo thông qua thực hiện phép đo đối chứng là căn cứ để cơ quan, người có thẩm quyền xử lý theo quy định.

(3). Sai số kết quả đo lượng xăng dầu trong bán lẻ hoặc trong thanh tra, kiểm tra không được vượt quá 1,5 lần giới hạn dương của sai số cho phép của phương tiện đo, hệ thống đo được sử dụng để bán xăng dầu. Sai số kết quả đo lượng xăng dầu được xác định trên cơ sở kết quả đo lượng xăng dầu tại điều kiện đo thực tế.

(4). Khi thực hiện phép đo đối chứng, nếu sai số kết quả đo lớn hơn sai số cho phép lớn nhất quy định tại khoản 3 Điều này thì tiến hành kiểm tra sai số của phương tiện đo, hệ thống đo tại ít nhất 3 mức đo khác nhau tùy chọn trong phạm vi đo của phương tiện đo, hệ thống đo đó.

Sai số kết quả đo lượng xăng dầu là không phù hợp quy định nếu sai số của phương tiện đo, hệ thống đo lớn hơn giới hạn sai số cho phép.

(5). Từ ngày 01 tháng 7 năm 2018, cột đo xăng dầu phải gắn thiết bị in chứng từ bán hàng để in và trả chứng từ cho khách hàng. Thiết bị in chứng từ bán hàng phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

a) Bảo đảm tình trạng kỹ thuật theo hướng dẫn của nhà sản xuất và hoạt động tốt;

b) Các thông tin bắt buộc in trên chứng từ bán hàng gồm: Tên cơ sở bán hàng, địa chỉ, điện thoại; phút, giờ, ngày, tháng, năm bán hàng; chủng loại, số lượng, đơn giá, tổng số tiền (xăng, dầu đã bán).

6. Phải xây dựng kế hoạch và định kỳ ít nhất một tháng một lần thực hiện tự kiểm tra phương tiện đo, hệ thống đo, điều kiện thực hiện phép đo để bảo đảm lượng xăng dầu trong bán lẻ cho khách hàng phù hợp với quy định tương ứng tại khoản 3 Điều này. Khi thực hiện tự kiểm tra, được sử dụng các ca đong hoặc bình đong và ống đong chia độ quy định tại khoản 1 Điều này. Hồ sơ thực hiện việc định kỳ tự kiểm tra phải được lưu giữ tại cửa hàng bán lẻ xăng dầu trong thời gian mười hai (12) tháng kể từ ngày kết thúc việc tự kiểm tra.

Đối với chất lượng xăng dầu, thông tư này cũng quy định cụ thể như sau:

Cửa hàng bán lẻ xăng dầu phải thực hiện các quy định sau đây:

(1). Thực hiện quy trình kiểm soát hệ thống bể chứa xăng dầu do thương nhân chủ sở hữu cửa hàng xăng dầu ban hành để duy trì chất lượng phù hợp quy chuẩn QCVN 1 : 2009/BKHCN, tiêu chuẩn công bố áp dụng; bảo đảm hệ thống bể chứa xăng dầu không bị rò rỉ và chứa đựng lẫn loại xăng dầu và việc thực hiện kiểm tra bể chứa xăng dầu phải được lưu hồ sơ.

(2). Lấy mẫu, niêm phong và lưu mẫu theo quy định.

(3). Kiểm tra niêm phong của xitec, hầm hàng, ngăn chứa và các van xuất nhập trên các phương tiện chứa xăng dầu trước khi nhập hàng và kiểm tra niêm phong của bình chứa mẫu được lấy tại kho của thương nhân đầu mối hoặc tổng đại lý hoặc thương nhân phân phối.

(4). Thông báo công khai ở vị trí dễ nhận biết cho người tiêu dùng các thông tin sau: tên, chủng loại xăng dầu; trị số octan đối với xăng không chì; trị số octan và ký hiệu E5 đối với xăng E5; hàm lượng lưu huỳnh đối với nhiên liệu điêzen; hàm lượng lưu huỳnh và ký hiệu B5 đối với nhiên liệu điêzen B5; tiêu chuẩn công bố áp dụng.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\NGUYEN DUY KHANH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *