Phát triển du lịch tại Mỹ Sơn
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế, du lịch đã đạt được những thành tựu đáng kể và ngày càng có nhiều tác động tích cực hơn đối với nền kinh tế. Sự phát triển này đã đem lại hiệu quả rõ rệt cho nền kinh tế của đất nước.
Ngành du lịch được Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định là “Một ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước” với mục tiêu: “Phát triển mạnh du lịch, từng bước đưa nước ta trở thành trung tâm du lịch tầm cỡ trong khu vực”.
Nằm trên con đường di sản miền Trung, Quảng Nam được biết đến là nơi “Một điểm đến – Hai di sản”, mảnh đất Quảng Nam có nhiều điều kiện và thế mạnh để phát triển du lịch, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn cho tỉnh nhà. Khu di tích Mỹ Sơn được UNESCO ghi tên vào danh mục các di sản văn hóa thế giới năm 1999. Mỗi năm, Mỹ Sơn đón hàng trăm nghìn lượt khách đến tham quan du lịch, nghiên cứu.
Tuy nhiên, những thành tựu đó của hoạt động du lịch Mỹ Sơn vẫn chưa xứng đáng với vị thế là “di sản thế giới”. Hoạt động du lịch ở Mỹ Sơn vẫn còn nghèo nàn về sản phẩm và dịch vụ, cở sở hạ tầng chưa được chú trọng đầu tư cũng như nguồn nhân lực tại đây còn rất hạn chế về số lượng cũng như chất lượng, cơ sở lưu trú đạt chuẩn tại đây chưa có để phục vụ nhu cầu lưu trú của du khách,dịch vụ lưu trú ở đây chỉ là những nhà nghỉ rẻ tiền, bình dân thì khó lòng đòi hỏi có các loại hình dịch vụ phục vụ khác; phần lớn du khách đến tham quan rồi đi về trong ngày.
Qua đó, ta thấy Mỹ Sơn còn nhiều yếu kém trong việc khai thác hoạt động du lịch, chưa tận dụng hết khả năng và thế mạnh của mình. Đã 15 năm được công nhận là di sản thế giới nhưng hoạt động du lịch ở di tích Mỹ Sơn vẫn chưa thật sự khai thác tốt và có hiệu quả. Hoạt động du lịch ở Mỹ Sơn mới chỉ dừng lại ở việc khai thác tiềm năng sẵn có mà chưa chú trọng vào việc phát triển các dịch vụ đi kèm, và Mỹ Sơn mới chỉ là điểm dừng chân ngắn của du khách chứ không phải là điểm du lịch lý tưởng cuốn hút khách du lịch. Với lý do trên em chọn đề tài “Phát triển du lịch tại Mỹ Sơn” nhằm tìm hiểu về du lịch Mỹ Sơn hiện nay, từ đó nêu ra một vài giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển du lịch Mỹ Sơn.
2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá tiềm năng du lịch của di tích Mỹ Sơn, hiểu rõ những điểm mạnh cũng như hạn chế về hoạt du lịch tại đây; từ đó đưa ra các giải pháp đẩy mạnh hiệu quả hoạt động du lịch tại Mỹ Sơn, đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng và phát triển của du lịch huyện Duy Xuyên nói riêng và tỉnh Quảng Nam nói chung.
– Thực trạng phát triển du lịch Mỹ Sơn như thế nào?
– Các yếu tố nào tác động đến phát triển du lịch Mỹ Sơn?
– Yếu kém và nguyên nhân của những yếu kém trong quá trình phát triển du lịch Mỹ Sơn?
– Để đẩy mạnh phát triển du lịch Mỹ Sơn thì cần thực hiện những biện pháp, chính sách nào?
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình phát triển du lịch tại Mỹ Sơn, các yếu tố ảnh hưởng tới du lịch Mỹ Sơn
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: nghiên cứu tình hình phát triển du lịch tại Mỹ Sơn
Về thời gian: đánh giá tình hình phát triển du lịch tại Mỹ Sơn giai đoạn 2009 – 2013.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp điền giã. Về thu thập thông tin, đề tài đã chọn lọc các dữ liệu thứ cấp từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng chủ yếu là các số liệu do Ban quản lý khu du lịch Mỹ Sơn và Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Duy Xuyên cung cấp.
* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài:
Nghiên cứu tình hình phát triển du lịch Mỹ Sơn: số lượng du khách đến thăm quan, doanh thu đóng góp cho địa phương, hệ thống cung ứng dịch vụ cho du lịch Mỹ Sơn, những ưu điểm, tồn tại trong quá trình phát triển du lịch. Từ đó nêu ra một vài giải pháp, kiến nghị nhằm thúc đẩy phát triển du lịch Mỹ Sơn trong thời gian tới.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển một điểm du lịch
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch tại Mỹ Sơn
Chương 3: Giải pháp phát triển du lịch tại Mỹ Sơn
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.1.1. Khái niệm về du lịch
Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại du lịch đã được ghi nhận như là một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Ngày nay du lịch trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến và là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống xã hội.
Thuật ngữ du lịch đã trở nên khá thông dụng, nó bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là đi một vòng. Du lịch gắn liền với nghỉ ngơi, giải trí, tuy nhiên do hoàn cảnh, thời gian và khu vực khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau nên khái niệm về du lịch cũng không giống nhau.
Theo các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế. Nhà kinh tế học Kalfiotis cho rằng: Du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hay tập thể từ nơi ở đến một nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức, do đó tạo nên các hoạt động kinh tế. Với cố gắng chỉ ra một cách cụ thể khía cạnh kinh tế của du lịch Picara- Edmod đưa ra định nghĩa: “du lịch là tổng hoà việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chỉ ra và của những khách vãng lai mang đến với một túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí.”
Năm 1963, với mục đích quốc tế hóa, tại hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp tại Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến cư trú không phải là nơi làm việc của họ”
Theo tổ chức du lịch thế giới WTO: Du lịch là tổng thể các hiện tượng và các mối quan hệ xuất phát từ sự giao lưu giữa du khách và các nhà kinh doanh, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư trong quá trình thu hút và đón tiếp khách.
Luật du lịch Việt Nam năm 2006 đã đưa ra khái niệm như sau: Du lịch là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.

1.1.2. Khái niệm về tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử – văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.
1.1.3. Khái niệm phát triển du lịch
“Phát triển” là cụm từ được sử dụng rộng rãi ở nhiều lĩnh vực. Phát triển được hiểu là một quá trình vận động đi lên, là một quá trình lâu dài, luôn thay đổi và xu hướng thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện. Trong hoạt động kinh tế, khái niệm phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế.
Phát triển là khuynh hướng vận động đã xác định về hướng của sự vật: hướng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn…Nhưng nếu hiểu sự vận động phát triển một cách biện chứng toàn diện, sâu sắc thì trong tự bản thân sự vận động phát triển đã bao hàm sự vận động thụt lùi, đi xuống với nghĩa là tiền đề, điều kiện cho sự vận động đi lên, hoàn thiện.
Phát triển du lịch là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai, cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương.
Phát triển du lịch của 1 điểm đến là quá trình phát triển hệ thống sản phẩm của nó nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách du lịch, gia tăng thu hút khách du lịch, mang lại thu nhập một cách hiệu quả hơn cho doanh nghiệp du lịch, cộng đồng cư dân địa phương và chính quyền sở tại.
1.1.4. Sản phẩm du lịch và khách du lịch
Sản phẩm du lịch:
Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, vùng hay một quốc gia nào đó (N.V. Đính, T.T.M. Hòa, Giáo trình Kinh tế Du lịch, tr.31).
Sản phẩm đặc trưng của du lịch là các chương trình du lịch, nội dung chủ yếu của nó là sự liên kết những di tích lịch sử, di tích văn hóa và cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng cùng với cơ sở vật chất – kỹ thuật như cơ sở lưu trú, ăn uống, vận chuyển.
Sản phẩm du lịch mang một phần lớn yếu tố vô hình trong cấu tạo của nó. Điều này là do bởi trong một sản phẩm du lịch thì yếu tố dịch vụ thường chiếm từ 80% – 90% giá trị còn hàng hóa chỉ chiếm một tỷ trọng thấp.
Bên cạnh đó, sản phẩm du lịch thường được gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch, nên sản phẩm du lịch là không thể di chuyển. Hay nói một cách khác, chúng ta không thể đưa sản phẩm du lịch đến tay người tiêu dùng mà chỉ có thể đưa khách hàng đến nơi có sản phẩm du lịch để giúp họ thỏa mãn nhu cầu thông qua việc tiêu dùng sản phẩm.
Khách du lịch:
Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ những trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến (Điều 4, Luật Du lịch, 2005). Cũng theo như Luật này quy định, khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam; và khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.
Ngoài ra có thể liệt kê một số khái niệm khác về các loại du khách như:
– Khách thăm viếng:
Khách thăm viếng (visitor) là một người đi tới một nơi – khác với nơi học thường trú, với một lý do nào đó (ngoại trừ lý do đến để hành nghề và lĩnh lương từ nơi đó). Định nghĩa này có thể được áp dụng cho khách quốc tế (International Visitor) và du khách trong nước (Domestic Visitor). Khách thăm viếng được chia thành hai loại:
+ Khách du lịch (tourist): Là khách thăm viếng có lưu trú tại một quốc gia hoặc một vùng khác với nơi ở thường xuyên trên 24 giờ và nghỉ qua đêm tại đó với mục đích nghĩ dưỡng, tham quan, thăm viếng gia đình, tham dự hội nghị, tôn giáo, thể thao
+ Khách tham quan (excursionist): Còn gọi là khách thăm viếng 1 ngày (Day Visitor): là loại khách thăm viếng lưu lại ở một nơi nào đó dưới 24 giờ và không lưu trú qua đêm.
Các loại hình du lịch
Loại hình du lịch được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tương tự, hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc được xếp chung theo một mức giá bán nào đó.
Theo phạm vi lãnh thổ của chuyến du lịch
– Du lịch quốc tế: là hình thức du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của du khách nằm ở các vùng lãnh thổ quốc gia khác nhau. Có hai loại hình du lịch quốc tế là:
+ Du lịch quốc tế chủ động: Du khách nước ngoài đến một quốc gia và tiêu ngoại tệ ở đó.
+ Du lịch quốc tế thụ động: là hình thức du lịch của công dân một quốc gia hoặc những người nước ngoài đang cư trú trên lãnh thổ nước đó đi qua một nước khác và trong chuyến đi đó họ sẽ tiêu một lượng tiền mà bản thân đã làm ra.
– Du lịch nội địa: là hình thức du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của khách cùng nằm trong lãnh thổ của một quốc gia.
Dựa theo nhu cầu trong thực hiện hành vi du lịch
– Du lịch nghỉ dưỡng, giải trí: chủ yếu là để phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi nhằm phục hồi thể lực, nâng cao tinh thần.
– Du lịch thể thao: khách đi du lịch dưới hình thức này là nhằm để tham gia vào các hoạt động thể thao. Khách có thể tham gia theo hình thức chủ động: trực tiếp tham gia vào hoạt động thể thao. Hoặc theo hình thức thụ động: đi xem các hoạt động thể thao quốc tế như: Thế Vận hội Olympic, Giải Vô địch bóng đá thế giới (World Cup)…
– Du lịch chữa bệnh: đây là loại hình mà người đi du lịch là do nhu cầu chữa trị bệnh của bản thân, ở đây có thể bao gồm: chữa trị bằng khí hậu, bằng vật chất đặc biệt ở nơi đến như: khoáng nóng, bùn khoáng…
– Du lịch vì mục đích văn hóa: Nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết về các lĩnh vực như: lịch sử, kiến trúc, hội họa, phong tục tập quán… tại nơi mà du khách sẽ đến.
– Du lịch sinh thái: nhằm thỏa mãn nhu cầu hướng đến thiên nhiên trên tinh thần bảo vệ môi trường sống, hệ sinh thái, tài nguyên thiên nhiên, văn hóa tại nơi mà du khách đi tham quan.
– Du lịch tôn giáo: Để phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của những người theo những tôn giáo khác nhau trên thế giới như là các cuộc hành hương về thánh địa tôn giáo như Thánh địa Jerusalem (Israel), Thánh địa Mecca (Ảrập Saudi) hay Thánh địa La Vang (tỉnh Quảng Trị, Việt Nam).
– Du lịch về thăm thân nhân, quê hương: Loại hình du lịch này là những người ở xa quê hương về thăm người thân, họ hàng hoặc dự lễ cưới, nhân dịp tết cổ truyền dân tộc…
– Du lịch thương gia: nhằm mục đích tìm hiểu thị trường, nghiên cứu dự án đầu tư hay là ký kết hợp đồng hợp tác…
– Du lịch công vụ: nhằm thực hiện công tác hoặc nghề nghiệp nào đó. Trong loại hình này sẽ bao gồm: khách đi tham dự hội nghị, hội thảo, kỷ niệm các ngày lễ lớn, triển lãm hàng hóa, hội chợ…
– Du lịch quá cảnh: là việc quá cảnh trong một thời gian ngắn để đi qua một nước khác.
Căn cứ vào đối tượng đi du lịch ta có thể phân loại
– Du lịch dành cho thanh, thiếu niên.
– Du lịch dành cho gia đình.
– Du lịch dành cho phụ nữ.
– Du lịch dành cho người cao tuổi.
Căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi
– Du lịch theo đoàn: các thành viên tham dự đi theo đoàn và thường theo một chương trình đã được dự trù trước. Du lịch theo đoàn có thể thông qua các tổ chức du lịch như: các doanh nghiệp lữ hành, các cơ sở lưu trú (khách sạn). Hoặc có thể tự tổ chức mà không thông qua các đơn vị kinh doanh du lịch.
– Du lịch cá nhân: cá nhân có thể thông qua các tổ chức kinh doanh du lịch để thực hiện chuyến hành trình hoặc cũng có thể đi tự do.
Căn cứ vào phương tiện được sử dụng trong thời gian đi du lịch
– Du lịch bằng xe đạp.
– Du lịch bằng xe mô tô.
– Du lịch bằng xe ô tô.
– Du lịch bằng tàu hỏa.
– Du lịch bằng tàu thủy.
– Du lịch bằng máy bay.
Căn cứ loại hình lưu trú
– Du lịch ở khách sạn.
– Du lịch ở nhà nghỉ, khách sạn nhỏ bên lề đường dành cho khách đi bằng ô tô tự lái.
– Du lịch cắm trại.
– Du lịch ở làng du lịch.
Căn cứ vào thời gian đi du lịch
– Du lịch ngắn ngày hoặc trong ngày: thường diễn ra vào dịp cuối tuần.
– Du lịch dài ngày: những chuyến du lịch kéo dài trên 3 ngày.
Căn cứ vào vị trí địa lý của nơi đến
– Du lịch núi: dựa trên việc khai thác cơ sở tài nguyên núi, rừng.
– Du lịch nghỉ biển, sông, hồ: ở đây điểm đến là biển hoặc sông, hồ.
– Du lịch thành phố: tìm hiểu cuộc sống, văn hóa, địa chỉ di tích ở thành phố.
– Du lịch nông thôn: tìm hiểu cuộc sống nông thôn và hưởng thụ không khí trong lành ở đó.
Trong thực tế chúng ta thường gặp người đi du lịch với mục đích thỏa mãn nhiều hơn một nhu cầu cùng lúc nên thường có sự kết hợp một vài loại hình du lịch với nhau. Ví dụ như: kết hợp nghỉ dưỡng với thưởng thức văn hóa, kết hợp du lịch biển với nghỉ ngơi tại khách sạn, khu nghỉ mát…

1.2. NỘI DUNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.2.1. Gia tăng cơ sở kinh doanh du lịch
Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp, bao gồm nhiều bộ phận tạo thành, các bộ phận này chính là các cơ sở kinh doanh du lịch có mối quan hệ phụ thuộc và bổ sung cho nhau, bao gồm:
– Doanh nghiệp du lịch lữ hành.
– Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống bao gồm các nhà hàng, khách sạn, nhà khách, nhà trọ..
– Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận chuyển khách với các loại phương tiện khác nhau: máy bay, tàu thuỷ, ô tô…
– Doanh nghiệp kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch.
Kinh doanh cơ sở lưu trú là một trong những hoạt đông cơ bản của hoạt động du lịch, nó đóng vai trò vừa là một sản phẩm du lịch, vừa là điều kiện cơ sở vật chất để phát triển du lịch tại địa phương. Bên cạnh hoạt động kinh doanh lưu trú, kinh doanh dịch vụ ăn uống cũng là một hoạt động quan trọng của du lịch. Đối tượng phục vụ của dịch vụ này không chỉ dành cho khách du lịch thuần túy mà còn đáp ứng nhu cầu của đối tượng khách vãng lai hoặc khách khác. Doanh thu từ ăn uống chỉ đứng sau doanh thu từ kinh doanh lưu trú. Kinh doanh dịch vụ lưu trú và ăn uống nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Thông thường một cơ sở lưu trú (điển hình là các khách sạn) cung cấp nhiều dịch vụ khác ngoài phòng nghỉ, nhằm thoả mãn nhu cầu của khách. Các dịch vụ bổ sung bao gồm: nhà hàng, quầy bar, phòng họp, trung tâm giải trí, thể thao, đại lý du lịch…sự phát triển của các cơ sở lưu trú và ăn uống là biểu hiện sự sẳn sàng đón tiếp du khách, để chăm lo cho việc nghỉ ngơi, ăn uống và vui chơi, giải trí của du khách.
Kinh doanh dịch vụ vận chuyển khách du lịch là việc cung cấp dịch vụ vận chuyển cho khách du lịch theo tuyến du lịch, theo chương trình du lịch và tại các khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch. Hầu hết các điểm du lịch đều được kết nối vào hệ thống giao thông chính (bao gồm phương tiện vận chuyển và tuyến giao thông), nếu không có hệ thống giao thông tương ứng cũng như sự phát triển của các hãng vận chuyển thì sự di chuyển của du khách ra khỏi nơi cư trú để đến điểm du lịch không thể thực hiện được, điều đó khẳng định rằng nếu thiếu một hệ thống giao thông hữu hiệu, thì du lịch không thể phát triển. Hoạt động du lịch gắn liền với phương tiện vận chuyển khách du lich. Đó là mối quan hệ biện chứng không thể tách rời hoặc phá bỏ được. Phương tiện vận chuyển cũng là một nhân tố quan trọng tạo nên loại hình du lịch dựa trên tiêu chí của chính nó.
Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch bao gồm đầu tư bảo tồn, nâng cấp tài nguyên du lịch đã có; đưa các tài nguyên du lịch tiềm năng vào khai thác; phát triển khu du lịch, điểm du lịch mới; kinh doanh xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch, cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch. Đối với quốc gia, vùng, miền và các nhà làm du lịch thì điểm và khu du lịch được xem là nguồn lực, là một trong những nhân tố quan trọng góp phần cạnh tranh, khai thác nguồn khách và đem lại nguồn thu cho mình. Các sản phẩm, dịch vụ tại điểm và khu du lịch càng phong phú, độc đáo, chất lượng, giá cả hợp lý thì càng chiếm được cảm tình, tiêu dùng và quay lại của du khách. Điều này đỏi hỏi những nhà quản lý, người kinh doanh tại điểm, khu du lịch cần có chính sách về sản phẩm cũng như giá hợp lý để “kích thích” khả năng tiêu dùng của khách du lịch. Kinh doanh tại điểm và khu du lịch gắn liền với việc đầu tư, bảo tồn, nâng cấp tài nguyên du lịch đã có, xây dựng kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phù hợp, phát triển và bảo vệ tài nguyên du lịch theo hướng bền vững.
Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch lữ hành và hệ thống đại lý sẽ tạo nên các chương trình du lịch hoặc các dịch vụ du lịch trọn gói để bán cho khách hàng, các doanh nghiệp này tổ chức và điều phối các hoạt động của các đơn vị cung cấp dịch vụ nhằm thực hiện chương trình du lịch. Doanh nghiệp du lịch lữ hành đóng vai trò trung gian trong thị trường du lịch, là cầu nối giữa cung và cầu, giữa du khách với các doanh nghiệp cung ứng hàng hoá và dịch vụ du lịch. Để có được nguồn cung về các loại hàng hoá, dịch vụ du lịch nhằm phục vụ nhu cầu khách hàng, doanh nghiệp du lịch lữ hành phải tìm đến các doanh nghiệp du lịch khác như các khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí, công ty vận tải hành khách, các điểm du lịch… Ngược lại bằng cách duy trì mối liên hệ với doanh nghiệp lữ hành và thường xuyên tiếp nhận lượng khách hàng lớn, ổn định, các doanh nghiệp này cũng có điều kiện rất thuận lợi để phát triển. Vì thế, doanh nghiệp du lịch lữ hành là một mắc xích không thể thiếu được trong việc kết nối hai lực lượng cung cầu và khiến cho thị trường du lịch hoạt động có hiệu quả hơn.
– Số lượng các doanh nghiệp du lịch lữ hành, các cơ sở lưu trú và ăn uống, các dịch vụ vui chơi giải trí, các hãng vận chuyển và các điểm đến tham quan (bao gồm điểm đến thiên nhiên và điểm đến nhân tạo).
– Tốc độ tăng của các doanh nghiệp.
– Tỷ lệ các doanh nghiệp mới được thành lập.
– Cơ cấu thành phần kinh tế của các doanh nghiệp.
Những tiêu chí trên được dùng để đánh giá tình hình phát triển du lịch của một địa phương. Nói cách khác gia tăng cơ sở kinh doanh du lịch đóng vai trò then chốt nhất trong quá trình phát triển du lịch, thể hiện năng lực sẳn sàng phục vụ du lịch của một địa phương.
1.2.2. Gia tăng các nguồn lực để phát triển du lịch
Nguồn lực để phát triển du lịch là tổng thể các nguồn tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất – kỹ thuật, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn và thị trường…có khả năng khai thác, sử dụng nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển du lịch.
Nguồn lực không phải là bất biến. Nó thay đổi theo không gian và thời gian. Do đó con người có thể làm thay đổi nguồn lực theo hướng có lợi cho mình. Gia tăng nguồn lực sẽ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế nói chung và du lịch nói riêng. Muốn nhanh chóng thoát khỏi sự nghèo nàn, tụt hậu cần thiết phải khai thác, sử dụng hợp lí, có hiệu quả các nguồn lực sẵn có.
Gia tăng nguồn lực là việc mà chủ đầu tư bỏ tiền của, vật chất để sở hữu, sử dụng và khai thác nó, định hình, định hướng và định lượng nó theo mô hình đã lựa chọn nhằm đạt được hiệu quả tối ưu.
Gia tăng nguồn lực tức là gia tăng đầu tư, khai thác, sử dụng các nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực kinh tế xã hội.
– Nguồn lực tự nhiên là cơ sở tự nhiên của quá trình sản xuất. Đó là những nguồn vật chất vừa phục vụ trực tiếp cho cuộc sống, vừa phục vụ cho phát triển kinh tế. Sự giàu có và đa dạng về tài nguyên thiên nhiên tạo lợi thế quan trọng cho sự gia tăng, phát triển.
– Nguồn lực kinh tế – xã hội, nhất là dân cư và nguồn lao động, nguồn vốn, khoa học – kỹ thuật và công nghệ, có vai trò quan trọng để lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng, từng địa phương.
Các yếu tố đầu vào bao gồm tài nguyên thiên nhiên (đất đai, nguyên nhiên vật liệu, nước, không khí); Nguồn nhân lực; Nguồn vốn (máy móc, trang thiết bị, tiền) là điều kiện cần thiết để gia tăng nguồn lực. Trong các yếu tố trên, nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của ngành du lịch. Sự phát triển cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu của đội ngũ lao động du lịch sẽ đảm bảo cho sự phát triển về chất lượng các sản phẩm, chất lượng các dịch vụ du lịch; và như vậy sẽ góp phần đáng kể vào quá trình phát triển du lịch. Phát triển nguồn nhân lực là quá trình gia tăng, biến đổi đáng kể cả về số lượng và chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực. Đó là các hoạt động nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức và thể lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sản xuất. Là tổng thể các cơ chế chính sách và biện pháp hoàn thiện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất, phẩm chất tâm lý xã hội) và điều chỉnh hợp lý số lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển.
Thước đo quan trọng phản ánh việc gia tăng nguồn lực phát triển du lịch chính là sự gia tăng về vốn để đầu tư phát triển du lịch. Vốn được kết hợp với lao động và tài nguyên, thông qua quá trình sản xuất, sẽ tạo ra của cải vật chất trong xã hội. Sự gia tăng nhanh các nguồn vốn, phân bổ và sử dụng chúng có hiệu quả, sẽ tác động lớn đến tăng trưởng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế sẽ tạo ra việc làm, gia tăng xuất khẩu và tăng tích luỹ của nền kinh tế. Tính quan trọng đặc biệt của vốn thể hiện ở chỗ, thiếu nó những nguồn lao động, tài nguyên chỉ nằm dưới dạng tiềm năng. Muốn khai thác các nguồn lực này, đòi hỏi các nền kinh tế luôn phải duy trì một tỷ lệ vốn đầu tư nhất định.
Tiêu chí đánh giá gia tăng nguồn lực gồm:
– Qui mô, năng lực phục vụ của các cơ sở lưu trú, các dịch dụ, tiện nghi phục vụ khách du lịch.
– Trình độ chuyên môn của người lao động.
– Vốn đầu tư vào các công trình dự án du lịch qua các năm.
– Cơ cấu vốn đầu tư qua các năm.
1.2.3. Phát triển sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, vùng hay một quốc gia nào đó (N.V. Đính, T.T.M. Hòa, Giáo trình Kinh tế Du lịch, tr.31).
Sản phẩm đặc trưng của du lịch là các chương trình du lịch, nội dung chủ yếu của nó là sự liên kết những di tích lịch sử, di tích văn hóa và cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng cùng với cơ sở vật chất – kỹ thuật như cơ sở lưu trú, ăn uống, vận chuyển.
Tài nguyên là yếu tố góp phần quan trọng nhất trong việc tạo ra bản sắc đặc trưng cho sản phẩm du lịch và đóng vai trò quyết định trong việc tạo sức hút đối với các thị trường khách du lịch.
Cơ sở vật chất phục vụ khách du lịch, bao gồm: nguồn vốn, khoa học kỹ thuật và công nghệ, hệ thống vận tải, giao thông, đường sá, nhà hàng, khách sạn, các khu vui chơi giải trí phục vụ nhu cầu du khách, các chính sách phát triển du lịch của các đơn vị kinh doanh du lịch từ nhà hàng, khách sạn, công ty lữ hành cho đến các chính sách của cơ quan, chính quyền địa phương cũng là một trong những điều kiện không thể thiếu cho phát triển sản phẩm du lịch. Bên cạnh đó, nhân tố con người cũng được xem là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến việc khai thác và phục vụ khách, quyết định sự thành công của ngành du lịch và sản phẩm du lịch.
Để phát triển các sản phẩm du lịch đạt hiệu quả cần sự bắt tay của cả xã hội từ các cơ quan có thẩm quyền ở cấp Nhà nước, địa phương, các công ty du lịch và cộng đồng dân cư.
– Số lượng các tour, tuyến du lịch mới được hình thành gắn với các điểm di tích lịch sử, di tích văn hóa và cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng.
– Chính sách phát triển sản phẩm và chất lượng phục vụ của các cơ sở lưu trú, ăn uống, vận chuyển.
– Sự thuận lợi về hệ thống giao thông, điện, nước đến các khu du lịch mới khai thác.
1.2.4. Liên kết phát triển du lịch
Liên kết là kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng lẻ, cùng hợp tác với nhau, cùng hành động nhằm đạt được lợi ích cho các bên.
Có thể nói ngành du lịch tồn tại và phát triển luôn gắn liền với các mối quan hệ, liên kết xuất phát từ hai góc độ vi mô tới vĩ mô. Bản thân du lịch là ngành dịch vụ, tác động và chịu sự tác động của mọi mặt trong đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội. Phát triển du lịch luôn chịu sự liên kết tác động hai chiều với các ngành khác trong việc cung cấp “dịch vụ” để truyền tải tới du khách. Các mối liên kết thể hiện cụ thể như sau:
– Liên kết giữa ngành du lịch với các ngành khác như công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, văn hóa, thể thao, ngoại giao, giao thông vận tải.. Những ngành này chính là nguồn lực, điều kiện chung ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch thông qua việc cung cấp các sản phẩm phục vụ khách du lịch.
– Liên kết giữa cơ quan quản lí nhà nước về du lịch đối với địa phương và các doanh nghiệp thể hiện mối quan hệ hai chiều. Đối với cơ quan quản lí nhà nước thì đó là việc ở xây dựng chiến lược phát triển du lịch chung của ngành; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, của các địa phương và các doanh nghiệp du lịch thông qua hệ thống pháp luật.
– Liên kết trong nội bộ địa phương và giữa các địa phương với nhau trong việc các công ty lữ hành xây dựng, hình thành các tuyến du lịch. Sự liên kết thể hiện ở tuyến du lịch đó là lộ trình nối liền các điểm du lịch, khu du lịch, cơ sở ăn uống, lưu trú, vui chơi giải trí …ngay trong bản thân địa phương hoặc giữa các địa phương với nhau.
– Liên kết giữa các doanh nghiệp du lịch với nhau thể hiện trong việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ du lịch cho khách.
– Liên kết giữa doanh nghiệp du lịch và du khách được xem hạt nhân của sự tồn tại và phát triển ngành du lịch. Các doanh nghiệp luôn xác định rằng khách hàng là người trả công và nuôi sống doanh nghiệp. Muốn tồn tại, doanh nghiệp và du khách luôn có mối liên hệ hữu cơ.
– Liên kết giữa du khách và cộng đồng địa phương cũng là vấn đề cần được quan tâm theo chiều hướng tích cực. Điểm chung giữa cộng đồng và du khách chính là sự giao lưu văn hóa.
Muốn tạo lập sư liên kết và gắn bó lâu dài thì bản thân các địa phương, các doanh nghiệp dưới sự quản lý, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước phải tạo chữ “tín” thông qua chất lượng sản phẩm, dịch vụ; môi trường làm việc chuyên nghiệp của mình; Nghiên cứu xây dựng các thương hiệu và các sản phẩm du lịch mang bản sắc của mỗi vùng, mỗi địa phương. Thực tiễn ở nhiều vùng, sự liên kết du lịch khó hiệu quả vì các địa phương đều có các sản phẩm du lịch na ná giống nhau; Cần đầu tư nghiên cứu quy hoạch các điểm, tuyến du lịch của mỗi tỉnh và toàn vùng. Từ đó tìm ra vẻ đẹp tiềm ẩn riêng, bản sắc riêng của mỗi địa phương để xây dựng thế mạnh liên kết.
– Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong sự định hướng, gắn liền sợi dây liên kết giữa các nhóm chủ thể.
– Hệ thống các văn bản pháp luật, chính sách phù hợp với nguyện vọng chính đáng của doanh nghiệp cũng như cộng đồng địa phương phát huy sự liên kết.
– Cơ chế liên kết rõ ràng, hiệu quả (có Ban chỉ đạo, nguồn kinh phí đóng góp chung, phương hướng, dự án phát triển chung và có bộ máy chuyên trách hoạt động);
Xây dựng và vận dụng tính liên kết trong hoạt động phát triển du lịch thời hội nhập là điều rất cần thiết để ngành có cách “quản lý tương tai” tốt hơn. Liên kết giữa các chủ thể trong hoạt động du lịch để tạo và nâng cao sức mạnh, tránh tụt hậu, cùng nhau phát triển vì những mục đích riêng và chung là xu thế tất yếu của thời đại. Phạm vi, khả năng ảnh hưởng có được mở rộng hay không, sự thành công hay thất bại của ngành du lịch Việt Nam chính là nhờ một phần đóng góp không nhỏ của sự liên kết đó.
1.2.5. Gia tăng kết quả hoạt động du lịch
Về mặt kinh tế: Đóng góp của du lịch vào thu nhập quốc dân, tạo việc làm, thu nhập của dân cư và phần trăm tăng thêm nhờ phát triển du lịch, quảng bá cho sản xuất địa phương, tăng nguồn thu cho nhà nước, phát triển nhu cầu du lịch trong nước, cải thiện cán cân thương mại quốc gia do nguồn thu ngoại tệ của du lịch.
Về mặt văn hóa: Đóng góp của du lịch vào việc bảo tồn, duy trì, phát triển những nét văn hóa truyền thống của xã hội, tương tác giữa du khách và dân cư địa phương, thương mại hóa các tác phẩm nghệ thuật và đồ thủ công do sản xuất với số lượng lớn để bán cho du khách.
Về mặt xã hội: Phát triển du lịch tạo ra nhiều công ăn, việc làm cho xã hội, thực hiện xoá đói, giảm nghèo ở những vùng sâu, vùng xa, vùng nghèo đói. Du lịch giúp tái hồi sức lao động của con người sau thời gian lao động vất vả cần nghỉ ngơi, thư giản và giải trí. Du lịch cũng là một trong những phương tiện giáo dục có hiệu quả tình yêu quê hương, đất nước, tinh thần tự hào truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm của người đối với việc bảo vệ tổ quốc, bảo vệ truyền thống dân tộc.
Về mặt môi trường: Phát triển du lịch nâng cao ý thức của cộng đồng dân cư về bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, giáo dục mọi người tôn trọng, văn minh, lịch sự với khách du lịch, không để xảy ra hiện tượng ăn xin, chèo kéo khách mua hàng, bán hàng đúng giá cho khách và giữ uy tín với khách.
Gia tăng kết quả trong hoạt động du lịch được biểu hiện thông qua một hệ thống tiêu chí, yêu cầu đặt ra là hệ thống các tiêu chí hiệu quả kinh tế trong du lịch phải bao gồm các tiêu chí để đánh giá hiệu quả kinh tế của bản thân ngành du lịch và các tiêu chí dùng để đánh giá mức độ tham gia của ngành này vào việc nâng cao hiệu quả kinh tế quốc dân. Trên thực tế có một số tiêu chí được sử dụng:
Du lịch cũng như tất cả các ngành kinh tế khác đều cần được đánh giá sự phát triển thông qua sự gia tăng về doanh thu, về giá trị đóng góp cho nền kinh tế quốc dân. Doanh thu du lịch có ý nghĩa quan trọng, nó biểu hiện được sự thay đổi chất lượng phục vụ; sự thay đổi trình độ hiện đại hoá của cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ du lịch; mức độ và trình độ phục vụ của nhân viên du lịch làm mức thu nhập tăng tiến. Mặc dù không phải là yếu tố duy nhất quyết định nhưng sự tăng trưởng về doanh thu vẫn là dấu hiệu đầu tiên và quan trọng nhất để nhận biết hiệu quả của phát triển du lịch.
Doanh lợi là chỉ tiêu thể hiện mức độ tận dụng chi phí trong quá trình phục vụ khách. Doanh lợi là tỷ lệ % giữa lợi nhuận và chi phí.
Chỉ tiêu này được áp dụng đối với các công trình mới, sửa chữa và hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật dịch vụ du lịch.
Lượng khách du lịch tăng cao chứng tỏ rằng hoạt động du lịch đang phát triển đúng hướng và có hiệu quả. Điều này càng quan trọng đối với những đối tượng khách du lịch từ những thị trường khách có khả năng chi trả cao, có thời gian lưu trú dài ngày.
+ Số lượng các khu, điểm du lịch được tôn tạo, bảo vệ
Số lượng các khu, điểm du lịch được đầu tư, tôn tạo, bảo vệ được coi là một trong những dấu hiệu nhận biết về sự phát triển của hoạt động du lịch.
Trong việc đầu tư, ngoài nguồn đầu tư từ nhà nước hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng, nguồn đầu tư quan trọng là từ thu nhập du lịch. Nguồn đầu tư này càng lớn chứng tỏ rằng hiệu quả của ngành du lịch mang lại càng cao. Quy mô đầu tư (tỉ lệ tái đầu tư) từ thu nhập du lịch sẽ được xem là sự gia tăng nguồn lực cho hoạt động phát triển du lịch.
+ Tạo việc làm cho cộng đồng địa phương
Nếu như việc thu hút khách du lịch quốc tế chủ yếu nhằm tăng nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế thì việc thu hút khách du lịch nội địa còn có ý nghĩa tạo điều kiện phân phối lại thu nhập giữa các thành phần lao động trong xã hội, góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho xã hội, hỗ trợ tích cực cho các chương trình cứu trợ của Chính phủ như các chương trình xóa đói giảm nghèo, nâng cao nhận thức cho cộng đồng….Như vậy đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện thành công mục tiêu đặt ra của phát triển cả dưới góc độ về kinh tế và xã hội.
+ Mức đóng góp của du lịch vào phát triển kinh tế – xã hội của địa phương
Hiện nay du lịch được xem là ngành kinh tế tạo nguồn thu ngoại tệ to lớn cho đất nước, thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành khác có liên quan. Tuy nhiên một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển của du lịch là việc đóng góp phát triển kinh tế xã hội các địa phương nơi có du lịch phát triển.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Các ngành từ kinh tế đến khoa học, xã hội muốn phát triển đều chịu ảnh hưởng của các nhân tố, hoàn cảnh đem lại cho ngành đó, tức là phải có lực đẩy, có tiềm năng. ngành du lịch cũng không nằm ngoài quy luật đó. Tuy nhiên, là một hoạt động đặc trưng, du lịch chỉ có thể phát triển được trong những điều kiện mà nó cho phép. Trong những điều kiện này có những điều kiện mang đặc tính chung thuộc về các mặt của đời sống xã hội, bên cạnh đó do đặc điểm điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý từng vùng mà nó tạo nên tiềm năng du lịch khác nhau. Đó chính là nét đa dạng tạo nên những chương trình du lịch độc đáo của từng vùng, miền và cái đích cuối cùng là thu hút khách du lịch, tăng sự hiểu biết, tạo mối giao lưu văn hóa giữa các vùng, miền.
1.3.1. An ninh chính trị, an toàn xã hội
Để du lịch không ngừng phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, sự phối hợp chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh với các hoạt động du lịch cũng như các ngành kinh tế khác có ý nghĩa cực kì quan trọng. Sự bảo đảm vững chắc về quốc phòng, an ninh tạo môi trường ổn định cho đất nước và khách tới tham quan.
Du lịch, bên cạnh việc nghỉ ngơi là “thẩm nhận những giá trị vật chất, tinh thần độc đáo, khác lạ với quê hương mình”. Điều này đòi hỏi sự giao lưu, đi lại của du khách giữa các quốc gia, các vùng với nhau. Bầu chính trị hòa bình, hữu nghị sẽ kích thích sự phát triển của du lịch quốc tế. Một thế giới bất ổn về chính trị, xung đột về sắc tộc, tôn giáo làm ảnh hưởng tới việc phát triển du lịch tức là nó không làm tròn “sứ mệnh” đối với du lịch, gây nên nỗi hoài nghi, tâm lý sợ hãi cho du khách. Bên cạnh đó, những cuộc nội chiến, những cuộc chiến tranh xâm lược với nhiều loại trang thiết bị lợi hại làm hủy hoại tài nguyên du lịch, các công trình nghệ thuật kiến trúc do loài người sáng tạo nên. Thiên tai cũng có tác động xấu đến sự phát triển du lịch. Nhật Bản là đất nước giàu và đẹp nhưng luôn phải hứng chịu những trận động đất, gây khó khăn cho phát triển du lịch, có chăng chỉ phát triển du lich bị động. Vào những ngày cuới năm 2004, một trận sóng thần lớn nhất từ trước tới nay xảy ra ở Đông Nam Á, Nam Á đã gây thiệt hại lớn về người và của, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển du lịch. Điều đáng nói là sóng thần đã làm cho nhiều du khách bị thiệt mạng, cơ sở vật chất phục vụ phát triển du lịch bi huỷ hoại nặng nề. Bên cạnh đó là sự phát sinh và lây lan các loại dịch bệnh như tả lỵ, dịch hạch sốt rét.
Từ những ví dụ trên cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của an ninh chính trị, an toàn xã hội cho khách du lịch, và là nhân tố quan trọng tạo nên sự thành bại của ngành du lịch .
Một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển du lịch là điều kiện kinh tế chung. Nền kinh tế chung phát triển là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của ngành kinh tế du lịch. Theo ý kiến của các chuyên gia kinh tế thuộc Hội đồng Kinh tế và Xã hội của Liên Hợp Quốc, một đất nước có thể phát triển du lịch một cách vững chắc nếu nước đó tự sản xuất được phần lớn số của cải vật chất cần thiết cho du lịch.
Sự phát triển của nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm có ý nghĩa quan trọng với phát triển du lịch. Đây là cơ sở cung ứng nhiều hàng hoá nhất cho du lịch. Ngành công nghiệp dệt cung cấp cho các xí nghiệp du lịch các loại vải để trang bị phòng khách, các loại khăn trải bàn, ga giường….Ngành công nghiệp chế biến gỗ trang bị đồ gỗ cho các văn phòng, cơ sở lưu trú.
Khi nói đến nền kinh tế của đất nước, không thể không nói đến giao thông vận tải. Từ xa xưa, giao thông vận tải đã trở thành một trong những nhân tố chính cho sự phát triển của du lịch, đặc biệt là du lịch quốc tế. Giao thông vận tải ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch trên hai phương diện: số lượng và chất lượng. Sự phát triển về số lượng làm cho mạng lưới giao thông thông vươn tới mọi miền trái đất. Chất lượng của phương tiện giao thông ảnh hưởng tới chuyến du lịch ở các mặt sau: tốc độ, an toàn, tiện nghi, giá cả.
Chúng ta có thể khẳng định ngày nay với sự tiến bộ của khoa học – kỹ thuật nhiều thành tựu được áp dụng vào sản xuất. Điều đó đồng nghĩa vói điều kiện kinh tế của con người được nâng cao rõ rệt và vấn đề ăn, mặc, trở thành thứ yếu. Nhu cầu được nghỉ ngơi, giải trí và giao lưu tình cảm xuất hiện. Hiện nay, ở các nước kinh tế phát triển, du lịch trở thành nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống của họ. Các nhà nghiên cứu kinh tế Du lịch đã đưa ra nhận định là ở các nước kinh tế phát triển nếu nhu cầu quốc dân trên mỗi người tăng lên 1% thì chi phí du lịch tăng lên 1,5%. Xu hướng ngày nay là hầu hết các du khách ở các nước phát triển đều thích tham quan ở các nước đang phát triển. Điều này rất dễ hiểu vì chi phí ở các nước đang phát triển thấp, phù hợp với điều kiện kinh tế của người dân hạng trung lưu và nghèo ở các nước phát triển.
Kinh tế và phát triển luôn có mối quan hệ hữu cơ, nghịch thuận lẫn nhau. Trong quá trình phát triển của mình, du lịch luôn xem kinh tế là một trong những nguồn lực quan trọng. Sự tác động của điều kiện kinh tế tới phát triển du lịch thể hiện ở nhiều góc độ khác nhau. Tìm hiểu rõ vấn đề này là cách giúp những nhà quản lí và làm du lịch có những chính sách phát triển của ngành phù hợp.
Ngành du lịch chỉ phát triển khi có khách du lịch. Nhân tố hình thành nên khách du lịch bao gồm thời gian rỗi, đông cơ – nhu cầu đi du lich, khả năng tài chính. Chúng ta thấy rằng khả năng tài chính của cá nhân mỗi du khách đóng vai trò rất quan trong trong việc thúc đẩy bước chân của du khách tham gia cuộc hành trình. Khi nền kinh tế phát triển, đời sống con người được nâng cao, các nhu cầu hàng ngày được đáp ứng thì con người xuất hiện những nhu cầu cao hơn trong đó có nhu cầu du lịch. Như vậy điều kiện kinh tế phát triển là cơ sở để ngành du lịch khai thác kinh doanh các nguồn khách khác nhau.
Ngày nay, xu thế thế giới là toàn cầu hóa. Từng dòng tư bản và trí thức có sự luân chuyển giữa các quốc gia với nhau. Trước xu thế đó, các công ty lớn thường có kế hoạch khai phá thị trường của mình. Hoạt động kinh tế, trao đổi thương mại giữa các quốc gia phát triển mạnh. Qua sư giao lưu, tìm hiểu kinh tế với các đối tác nước ngoài cũng như qua các hôi nghị kinh tế lớn, ngành du lich co cơ hội quảng bá điểm mạnh của mình ra thế giới. Bên cạnh đó, các hoạt động văn hóa thể thao lớn ngày càng có yếu tố “thương mai hóa” và kéo theo đó là truyền hình vào cuộc. Tất nhiên sự vào cuộc của truyền hình là đòn bẩy kích thích ngành du lịch của nhiều quốc gia hồi sinh. Điều đó để chúng ta tự hỏi tại sao các nước luôn muốn tranh chấp để đươc đăng cai các sự kiện lớn như Worldcup, Olympic, hoa hậu….
Trên bình diện cả nước, nền kinh tế ngày càng phát triển “thay da đổi thịt”, nhiều công trình cao cấp, nhiều khách sạn, resort liên kết với nước ngoài được đầu tư xây dựng. Đó là cơ sở để chúng ta có cơ sở và đảm bảo khả năng khai thác và đón tiếp nguồn khách quốc tế tới tham quan.
Trình độ văn hoá cao tạo điều kiên cho việc phát triển du lịch. Phần lớn những người tham gia vào cuộc hành trình du lịch là những người có trình độ văn hoá nhất định, nhất là những người đi du lịch nước ngoài. Bởi vì họ có sở thích (nhu cầu) đối với việc tìm hiểu các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, bản sắc văn hoá dân tộc hay nói đúng hơn tài nguyên, điểm du lịch tác động đến họ theo một quá trình: thông tin – tiếp xúc – nhận thức – đánh giá. Phải có trình độ văn hoá thì mới hiểu hết giá trị của chuyến tham quan du lịch. Ở các quốc gia mà nhân dân có trình độ văn hoá cao thì số người đi du lịch ra ngoài tăng lên không ngừng với cường độ cao. Bên cạnh đó, trình độ của người dân nước sở tại, nơi đón khách cũng phải chú ý. Trình độ văn hóa thấp ảnh hưởng đến phát triển du lịch: ăn xin, cướp giật, ép khách mua hàng….
Việc phát triển du lịch phải mang dấu ấn của con người, tức là con người thông qua trí tuệ của mình đưa ra những biện pháp, cách thức để phát triển du lich. Một quốc gia giàu có về tài nguyên du lịch nhưng nếu không biết sử dụng trí óc của con người để phát huy hết giá trị của tài nguyên đó thì coi như “muối bỏ bể”. Ngược lại có những quốc gia nghèo về tài nguyên du lịch nhưng biết phát huy hợp lí sẽ thu hút được lượng khách du lịch rất lớn và ngành du lịch sẽ phát triển bền vững.
Tài nguyên du lịch có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển du lịch. Tài nguyên nghĩa là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần được khai thác và phục vụ cho mục đích phát triển nào đó của con người. Theo Buchvakop – Nhà địa lý học người Bungari “Tài nguyên du lịch bao gồm các thành phần và những kết hợp khác nhau của cảnh quan thiên nhiên cùng cảnh quan nhân văn có thể được sử dụng cho dịch vụ du lịch và thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi hay tham quan của khách du lịch”. Xét dưới góc độ cơ cấu tài nguyên du lịch, có thể phân thành hai bộ phận hợp thành: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.
Di sản thế giới: đây được coi là tiềm năng lớn nhất và quan trọng nhất, để phát triển du lịch. Di sản văn hoá được hiểu là toàn bộ các tạo phẩm chứa đựng những giá trị tích cực mà loài người đã đạt được trong xã hội thực tiễn do thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau. Di sản văn hoá được chia ra làm hai loại:
– Di sản văn hoá vật thể: là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học; là toàn bộ các sản phẩm vật chất hiện hữu dược hình thành do bàn tay sáng tạo của con người, bao gồm: hệ thống di tích lịch sử văn hoá, hệ thống danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
– Di sản văn hoá phi vật thể: là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết truyền miệng, truyền nghề, trình diễn, lễ hội truyền thống, ý thức về y dược học, trang phục truyền thống….
a. Tài nguyên du lịch tự nhiên
Địa hình: Địa hình hiện tại của bề mặt trái đất là sản phẩm của các quá trình địa chất lâu dài (nội sinh, ngoại sinh). Trong chừng mực nhất định, mọi hoạt động sống của con người trên lãnh thổ đều phụ thuộc vào địa hình. Đối với hoạt động du lịch, địa hình của một vùng đóng một vai trò quan trọng với việc thu hút khách. Địa hình Đồng bằng tương đối đơn điệu về ngoại cảnh nhưng là nơi tập trung tài nguyên du lịch nhân văn, đặc biệt là các di tích lịch sử văn hoá và là nơi hội tụ các nền văn minh của loài người. Địa hình đồi thường tạo ra không gian thoáng đãng, nơi tập trung dân cư tương đối đông đúc, lại là nơi có những di tích khảo cổ và tài nguyên văn hóa, lịch sử độc đáo, tạo khả năng phát triển loại hình du lịch tham quan theo chuyên đề. Địa hình núi có ý nghĩa lớn nhất đối với phát triển du lịch, đặc biệt là khu vực thuận lợi cho tổ chức du lịch mùa đông, và các loại hình du lịch thể thao như leo núi, du lịch sinh tháiKhí hậu: là một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát triển du lịch. Khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa. Do nằm hoàn toàn trong vùng nội chí tuyến (2 lần mặt trời đi qua thiên đỉnh) nên lãnh thổ nhận được một lượng bức xạ mặt trời rất lớn. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 220C – 270C, tổng lượng nhiệt hoạt động lên tới 8.0000C, tổng số giờ nắng 1.400 giờ. Điều đó cho thấy các bãi biển luôn chan hòa ánh nắng và thu hút một lượng khách trong nước và quốc tế đến nghỉ dưỡng, chủ yếu là vào mùa hè. Tuy nhiên, khí hậu Việt Nam cũng có sự phân hóa phức tạp về mặt không gian và thời gian tạo nên tính mùa vụ du lịch và tạo nên những loại hình du lịch thích hợp, phụ thuộc vào thời gian.
Tài nguyên nước: bao gồm nước chảy trên bề mặt và nước ngầm. Đối với du lịch thì nguồn nước mặt có ý nghĩa rất lớn. Nó bao gồm đại dương, biển, hồ, sông, hồ chứa nước nhân tạo, suối, Karst, thác nước, suối phun…. Nhằm mục đích phục vụ du lịch, nước sử dụng tùy theo nhu cầu, sự thích ứng của cá nhân, độ tuổi và quốc gia. Trong tài nguyên nước, cần phải nói đến tài nguyên nước khoáng. Đây là nguồn tài nguyên có giá trị du lịch an dưỡng và chữa bệnh trên thế giới, những nước giàu nguồn nước khoáng nổi tiếng cũng là những nước phát triển du lịch chữa bệnh như: Nga, Bungary, Ý, Đức, Cộng hoà Séc…Ở Việt Nam tiêu biểu có nguồn nước khoáng Kim Bôi (Hoà Bình), Hội Vân (Bình Định), Quang Thanh (Quảng Ninh), Bình Châu (Bà Rịa – Vũng Tàu)…
Hệ động thực vật: đây là một tiềm năng du lịch đã và đang khai thác có sức hấp dẫn lớn khách du lịch. Du khách đến với các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên để tham quan thế giới động thực vật sống động, hài hòa trong thiên nhiên để con người thêm yêu cuộc sống. Bên cạnh đó là việc phát triển loại hình du lịch nghiên cứu khoa học và du lịch thể thao săn bắn (phụ thuộc vào quy định từng vùng).
b. Tài nguyên du lịch nhân văn
Tiềm năng du lịch nhân văn là đối tượng và hiện tượng văn hóa lịch sử do con người sáng tạo ra trong đời sống. So với tiềm năng du lịch tự nhiên, tiềm năng du lịch nhân văn có tác dụng nhận thức nhiều hơn, giá trị giải trí là thứ yếu. Tiềm năng du lịch nhân văn thường tập trung ở các thành phố lớn, là đầu mối giao thông và là nơi tập trung cơ sở vật chất phục vụ du lịch. Đại bộ phận tài nguyên du lịch nhân văn không có tính mùa, không bị phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên tần suất hoạt động của nó là rất lớn (lượng khách, số ngày khách đến).
Di tích lịch sử văn hoá: là tài sản văn hoá quý giá của mỗi địa phương, mỗi đất nước và của cả nhân loại. Di tích được hiểu theo nghĩa chung nhất là những tàn tích, dấu vết còn sót lại của quá khứ, là tài sản của các thế hệ trước để lại cho các thế hệ kế tiếp.
Các bảo tàng: là nơi bảo tồn tài sản văn hoá dân tộc, truyền thụ tri thức, chấn hưng tinh hoa truyền thống. Cùng với việc bảo vệ các di tích lịch sử – văn hoá, việc xây dựng các bảo tàng luôn đặt trong quốc sách về kinh tế, văn hoá, xã hội mỗi quốc gia.
Lễ hội: bất cứ thời đại nào, bất cứ dân tộc nào, và bất cứ mùa nào cũng có những ngày lễ hội. Lễ hội là hoạt động sinh hoạt văn hoá cộng đồng diễn ra trên địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định nhằm nhắc lại những sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử hay một huyền thoại, đồng thời là dịp để hiểu biết cách ứng xử văn hoá của con người với thiên nhiên thần thánh và con người với xã hội. Các lễ hội có sức hấp dẫn du khách không kém gì các di tích lịch sự văn hoá. Lễ hội có hai phần: phần nghi lễ và phần hội:
Các yếu tố của lễ hội ảnh hưởng tới việc thu hút khách du lịch:
– Yếu tố thời gian: Các lễ hội nhìn chung thường diễn ra vào mùa xuân, thời điểm bắt đầu mỗi năm mới con người có thời gian rảnh rỗi nên họ đi lễ cầu lộc, cầu may.
– Quy mô lễ hội: các lễ hội có quy mô lớn, nhỏ khác nhau điều này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động du lịch và khả năng thu hút khách. Ở Việt Nam, các lễ hội có quy mô lớn như: Giỗ Tổ Hùng Vương, lễ hội yên Tử, lễ hội chùa Hương thu hút một lượng khách rất lớn.
Lễ hội thường được tổ chức tại những di tích lịch sử văn hoá. Điều đó cho phép khai thác tốt hơn cả di tích lẫn lễ hội vào mục đích du lịch.
– Văn hóa ẩm thực: Người ta nói ăn uống là biểu hiện của văn hóa.
Ngày nay, việc đưa văn hóa ẩm thực vào các chương trình du lịch đã trở nên phổ biến. Đó là cách để “lấy tiền” của du khách một cách lịch sự nhất. Việc xây dựng các chương trình du lịch ẩm thực thường được các công ty tổ chức thành 2 lọai: chương trình du lịch chuyên biệt và chương trình du lịch kết hợp.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\LUAN VAN (Nguyen Duc Phuc)\SAU BAO VE


