Phát triển du lịch bền vững tại thành phố Hội An – tỉnh Quảng Nam
Thực tiễn đã cho thấy, chìa khóa để dẫn đến thành công của ngành du lịch chính là sự tăng trưởng của lượng khách du lịch đến. Hơn 10 năm qua, ngành Du lịch đang có những thay đổi theo hướng phát triển bền vững, chuyển từ những loại hình du lịch theo hàng loạt các tiêu chuẩn cứng nhắc sang phát triển các loại hình du lịch thân thiện với môi trường. Để tăng nguồn thu từ hoạt động kinh doanh du lịch, các nhà quản lý du lịch luôn đưa ra và áp dụng những chiến lược hiệu quả nhằm thu hút khách du lịch đến với đất nước mình, địa phương mình hay điểm đến mà mình đang khai thác. Các điểm đến du lịch đang đẩy mạnh các hoạt động marketing nhằm nắm bắt những cơ hội lớn; trong đó có điểm đến Hội An.Theo số liệu thống kê của Tổng cục Du lịch Việt Nam, số lượng khách du lịch quốc tế đến Hội An ngày càng gia tăng; tổng lượt khách tham quan, du lịch đến Hội An, ước cả năm 2022 ước đạt 1,536 triệu lượt, (khách quốc tế ước đạt 614 nghìn lượt, khách Việt Nam ước đạt 922 nghìn lượt). vượt 30,4% so với kế hoạch, Tổng lượt khách đến Hội An trong năm 2023 là 4.000.000 lượt, tăng 99,79% so với cùng kỳ năm 2022. Năm 2024. Hội An phấn đấu đón 4,3 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt hơn 3,2 triệu lượt, khách nội địa đạt hơn 1 triệu lượt. Doanh thu ngành du lịch đạt khoảng 4.540 tỷ đồng, tăng 9,64% so với cùng kỳ. Điều này đã tạo ra bước phát triển mạnh mẽ cho ngành du lịch nói riêng và nền kinh tế thành phố nói chung, điều này đã tạo ra bước phát triển mạnh mẽ cho ngành Du lịch nói riêng và nền kinh tế thành phố nói chung. Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của ngành Du lịch thành phố thì việc mở rộng và khai thác hơn nữa thị trường khách du lịch quốc tế đang đặt ra nhiều vấn đề cho ngành Du lịch thành phố trong thời gian đến, đặc biệt là vấn đề nghiên cứu hành vi khách hàng, các nhà quản lý điểm đến hay kinh doanh dịch vụ du lịch đều phải có sự hiểu biết về sự thay đổi trong nhận thức, nhu cầu và mong muốn của du khách; Chính vì vậy, việc triển khai đề án “Phát triển du lịch bền vững tại thành phố Hội An – tỉnh Quảng Nam” trở nên vô cùng cần thiết và đầy ý nghĩa.
Đầu tiên và quan trọng nhất, đề tài này giúp chúng ta nhìn nhận rõ hơn về tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy tiềm năng của môi trường tự nhiên và văn hóa. Hội An không chỉ là một điểm đến du lịch mà còn là di sản của loài người, là một phần của di sản toàn cầu. Sự cân nhắc kỹ lưỡng và sự phát triển bền vững trong lĩnh vực du lịch sẽ giúp bảo vệ và tôn vinh những giá trị văn hóa và môi trường này cho cả thế hệ hiện tại và tương lai.
Thứ hai, đề tài này mang lại cơ hội và thách thức cho các nhà quản lý địa phương, các nhà nghiên cứu, cũng như cộng đồng trong việc thảo luận và đề xuất các giải pháp cụ thể để phát triển du lịch một cách bền vững và hiệu quả. Việc tạo ra các chính sách và quy định hỗ trợ việc bảo tồn môi trường, quản lý lưu lượng khách du lịch, và tăng cường ý thức văn hóa cho cả du khách và cộng đồng địa phương là những bước quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển dài lâu của du lịch tại Hội An.
Thứ ba, đề tài này mở ra những cơ hội kinh doanh mới cho các doanh nghiệp và dịch vụ du lịch. Du lịch bền vững không chỉ là một xu hướng mà còn là một cơ hội để các doanh nghiệp phát triển sản phẩm và dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu của khách hàng có ý thức về bảo vệ môi trường và tôn trọng văn hóa. Các hoạt động du lịch xanh như trekking, ecotourism, hoạt động nông nghiệp cộng đồng đều mang lại không chỉ lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào việc bảo vệ và phát triển bền vững của các nguồn lực thiên nhiên và văn hóa.
Cuối cùng, đề tài này còn thúc đẩy sự hợp tác và liên kết giữa các bên liên quan trong việc thúc đẩy một mô hình phát triển du lịch xanh toàn diện. Chỉ khi chúng ta cùng nhau hành động, cùng nhau chia sẻ trách nhiệm và cùng nhau tôn trọng những giá trị văn hóa và môi trường, chúng ta mới có thể đạt được một tương lai du lịch bền vững và thịnh vượng cho thành phố Hội An, cho tỉnh Quảng Nam và cho cả đất nước Việt Nam.
- Phát triển bền vững cho thành phố Hội An
- Xác định và phân tích các vấn đề, bất cập và rào cản hiện tại đối với việc phát triển du lịch xanh tại thành phố Hội An – tỉnh Quảng Nam
- Đề xuất các giải pháp và chiến lược phát triển du lịch xanh nhằm giải quyết những thách thức và tạo lập cơ sở thực tiễn cho việc phát triển du lịch bền vững.
- Đánh giá cơ sở lý thuyết về du lịch xanh:
- Xác định rõ khái niệm và các nguyên tắc cơ bản của du lịch xanh.
- Nghiên cứu các mô hình và kinh nghiệm phát triển du lịch xanh từ các quốc gia và khu vực khác trên thế giới để áp dụng phù hợp với điều kiện của Hội An.
- Đánh giá thực trạng phát triển hoạt động du lịch xanh tại Hội An.
- Phân tích hiện trạng môi trường, cơ sở hạ tầng và các hoạt động du lịch hiện tại.
- Xác định các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong việc phát triển du lịch xanh tại địa phương.
- Giải pháp về mặt tổ chức thực hiện cho các doanh nghiệp du lịch xanh tại Hội An:
- Xây dựng và hoàn thiện các chính sách, quy định, khung pháp lý hỗ trợ phát triển du lịch xanh.
- Tăng cường công tác quản lý và giám sát hoạt động du lịch, đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn bền vững.
- Khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng tái tạo và giảm thiểu rác thải.
- Đẩy mạnh giáo dục và nâng cao nhận thức về du lịch xanh cho cộng đồng địa phương và du khách.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan trong quá trình phát triển và quản lý du lịch xanh.
- Câu hỏi nghiên cứu 1: Khái niệm và các nguyên tắc cơ bản của du lịch xanh là gì?
- Câu hỏi nghiên cứu 2: Hiện trạng môi trường, cơ sở hạ tầng và các hoạt động du lịch xanh hiện tại tại Hội An như thế nào?
- Câu hỏi nghiên cứu 3: Những giải pháp cụ thể nào có thể áp dụng để hỗ trợ và thúc đẩy các doanh nghiệp du lịch xanh tại Hội An phát triển bền vững?
- Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động du lịch tại các đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn Thành phố Hội An.
- Về nội dung: Xác định và làm rõ khái niệm về du lịch bền vững, trong đó du lịch xanh là phần quan trọng, – Nghiên cứu các nguyên tắc cơ bản của du lịch bền vững, đặc biệt du lịch xanh bao gồm các tiêu chuẩn, hướng dẫn và thực tiễn tốt nhất từ các quốc gia và khu vực
- Về không gian: đề tài tập trung nghiên cứu trên địa bàn Thành phố Hội An.
- Về thời gian: từ tháng 3/2024 đến nay.
Tổng hợp thứ cấp và định lượng: khảo sát và xử lý số liệu
- Tổng hợp thứ cấp:
- Phương pháp tổng hợp thứ cấp bao gồm việc thu thập, tổng hợp và phân tích các tài liệu, số liệu và thông tin đã được công bố từ các nguồn khác nhau.
- Nguồn tài liệu: Các tài liệu nghiên cứu từ trước, báo cáo, thống kê, sách, bài báo khoa học, và các nguồn dữ liệu khác từ các tổ chức, cơ quan chính phủ, tổ chức phi chính phủ và các cơ sở nghiên cứu liên quan đến du lịch xanh và bền vững.
- Quá trình thực hiện:
- Thu thập tài liệu: Tìm kiếm và lựa chọn các tài liệu liên quan đến du lịch xanh và bền vững, đặc biệt là các nghiên cứu và báo cáo đã được thực hiện tại Hội An và các khu vực tương tự.
- Tổng hợp thông tin: Phân loại và tổng hợp các thông tin quan trọng từ các tài liệu đã thu thập.
- Phân tích dữ liệu: Đánh giá, so sánh và đối chiếu các thông tin, số liệu để xác định các xu hướng, nguyên tắc và mô hình liên quan đến du lịch xanh.
- Định lượng:
- Phương pháp định lượng bao gồm việc thu thập và phân tích dữ liệu số từ các cuộc khảo sát, nhằm đưa ra các kết luận mang tính chất thống kê và đo lường.
- Khảo sát: Sử dụng bảng câu hỏi, phỏng vấn hoặc các công cụ khác để thu thập dữ liệu từ các đối tượng liên quan (du khách, doanh nghiệp du lịch, cộng đồng địa phương, v.v.).
- Thiết kế bảng câu hỏi: Bảng câu hỏi sẽ được thiết kế với các câu hỏi liên quan đến nhận thức, thái độ và hành vi liên quan đến du lịch xanh, cũng như các vấn đề về môi trường, xã hội và kinh tế trong du lịch tại Hội An.
- Chọn mẫu: Lựa chọn mẫu đại diện cho các đối tượng nghiên cứu để đảm bảo kết quả khảo sát mang tính chính xác và đáng tin cậy.
- Tiến hành khảo sát: Tiến hành thu thập dữ liệu từ các đối tượng nghiên cứu qua bảng câu hỏi hoặc phỏng vấn trực tiếp.
- Xử lý số liệu:
- Nhập liệu: Dữ liệu thu thập được sẽ được nhập vào các phần mềm phân tích số liệu như SPSS, Excel, hoặc các công cụ tương tự.
- Phân tích dữ liệu: Sử dụng các phương pháp thống kê để phân tích dữ liệu, bao gồm tính toán tần suất, tỷ lệ phần trăm, trung bình, độ lệch chuẩn và các kiểm định thống kê khác.
- Diễn giải kết quả: Đưa ra các kết luận dựa trên kết quả phân tích dữ liệu, từ đó đề xuất các giải pháp và khuyến nghị cụ thể.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững trên địa bàn Thành phố Hội An-Tỉnh Quảng Nam.
- Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch bền vững trên địa bàn thành phố Hội An- Tỉnh Quảng Nam
- Chương 3: Các giải pháp phát triển du lịch bền vững trên địa bàn thành phố Hội An, Tỉnh Quảng Nam.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỘI AN- TỈNH QUẢNG NAM
. Du lịch
Từ lâu, khái niệm “du lịch” đã được các học giả sử dụng rộng rãi trên sách báo và các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, mỗi thời kỳ phát triển, khái niệm về du lịch cũng mang những nét đặc trưng khác nhau và được bổ sung ngày càng hoàn thiện hơn.
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Du lịch Việt Nam 2017: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.
. Điều kiện để phát triển du lịch:
. Điều kiện chung
a. An ninh- chính trị và an toàn xã hội:
Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội: Điều kiện anh ninh chính trị và an toàn xã hội ổn định thì khi đó mới có thể phát triển du lịch.
b. Kinh tế:
Nền kinh tế chung phát triển là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của ngành kinh tế du lịch
c. Chính sách phát triển:
Những chính sách phát triển đúng đắn sẽ góp phần quan trọng trong sự phát triển chung của ngành du lịch của quốc gia đó.
d. Thời gian rỗi:
Con người không thể đi du lịch nếu không có thời gian.
e. Giao thông vận tải:
Ngày nay giao thông đã trở thành một trong những nhân tố chính cho sự phát triển của du lịch, đặc biệt là du lịch quốc tế.
a. Điều kiện tự nhiên: địa hình, khí hậu, động thực vật,các nguồn nước khoáng
- Về địa hình: Địa hình ở một nơi thường quyết định cảnh đẹp và sự đa dạng của phong cảnh ở nơi đó
- Khí hậu: Những nơi có khí hậu điều hòa thường được khách du lịch ưa thích.
- Thực vật: Thực vật đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của du lịch chủ yếu nhờ sự đa dạng và số lượng các loài, nhiều rừng, nhiều hoa…
- Động vật: Động vật cũng là một trong những nhân tố có thể góp phần thu hút khách du lịch
- Các nguồn nước khoáng: Các nguồn nước khoáng là tiền đề không thể thiếu được đối với việc phát triển du lịch chữa bệnh
b. Giá trị văn hóa lịch sử, các thành tựu chính trị và kinh tế:
- Giá trị văn hóa lịch sử, các thành tựu chính trị và kinh tế có ý nghĩa đặc trưng cho sự phát triển của du lịch ở một địa điểm, một vùng hoặc một đất nước.
c. Sự sẵn sàng đón tiếp du khách
Sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch được thể hiện ở 3 nhóm điều kiện chính đó là: Các điều kiện về tổ chức, về kỹ thuật và về kinh tế…
QUAN ĐIỂM VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG:
. Khái niệm về phát triển du lịch bền vững
Lý thuyết về phát triển bền vững xuất hiện vào giữa những năm 1980 và chính thức được đưa ra tại hội nghị Ủy ban thế giới về Phát triển và Môi trường (WCED) năm 1987. Theo WCED, “Phát triển bền vững là sự phát triển lâu dài phù hợp với yêu cầu của thế hệ hôm nay mà không gây ra những khả năng nguy hại đến các thế hệ mai sau trong việc thỏa mãn nhu cầu riêng và trong việc lựa chọn ngưỡng sống của họ”.
Luật Bảo vệ môi trường (2014) tại Chương I, điều 3, mục 4 đã đưa ra khái niệm về phát triển bền vững như sau: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”. Đây là khái niệm có tính tổng quát, nêu bật những yêu cầu và mục tiêu quan trọng nhất của phát triển bền vững, phù hợp với điều kiện và tình hình Việt Nam.
Khái niệm về phát triển du lịch bền vững không tách rời khái niệm về phát triển bền vững. Do du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có định hướng tài nguyên rõ rệt (bao gồm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn) và sự phát triển của du lịch gắn liền với môi trường nên chính bản thân sự phát triển của du lịch đòi hỏi phải có sự phát triển bền vững chung của xã hội và ngược lại.
Từ đầu thập niên 1990, các nhà khoa học trên thế giới đã đề cập nhiều đến việc phát triển du lịch với mục đích đơn thuần về kinh tế đang đe dọa hủy hoại môi trường sinh thái và các nền văn hóa bản địa. Chính vì vậy, phát triển du lịch theo hướng bền vững là nhằm hạn chế các tác động tiêu cực của hoạt động du lịch, đảm bảo sự phát triển lâu dài. Các loại hình du lịch quan tâm đến vấn đề môi trường đã xuất hiện như du lịch sinh thái, du lịch khám phá, du lịch mạo hiểm… đã góp phần nâng cao hình ảnh về một hướng phát triển du lịch có trách nhiệm, đảm bảo sự phát triển bền vững.
Trong khi đó, theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch thế giới tại Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro (1992) thì “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai. Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người”.
Theo Liên minh Bảo tổn thế giới (World Conservation Union, 1996): “Du lịch bền vững là việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên, các đặc điểm văn hóa kèm theo (có thể là cả trong quá khứ và hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tế – xã hội của cộng đồng địa phương.”
Khái niệm về phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam đã được đưa ra trong Luật Du lịch Việt Nam (2014): “phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế – xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai”.
Lý luận về phát triển bền vững cũng được các nhà khoa học ở Việt Nam đưa ra trên cơ sở tiếp thu những kết quả nghiên cứu về lý luận và kinh nghiệm quốc tế đối với phát triển bền vững, đối chiếu với hoàn cảnh cụ thể ở nước ta. Mặc dù còn những quan điểm chưa thực sự thống nhất về khái niệm phát triển du lịch bền vững, tuy nhiên cho đến nay đa số ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch và các lĩnh vực có liên quan khác ở Việt Nam đều cho rằng phát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai, cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương.
. Nội dung phát triển du lịch bền vững
Phát triển du lịch bền vững bao gồm các nội dung như sau:
Thứ nhất là phát triển bền vững về kinh tế. Theo tác giả Phạm Thị Thanh Bình (2015), phát triển bền vững về kinh tế là đảm bảo sự tăng trưởng ổn định về GDP với một tỷ trọng phù hợp, trong đó, đóng góp của khu vực dịch vụ cao hơn so với nông nghiệp, và sẽ chiếm đa số về lâu dài. Tăng trưởng bền vững về kinh tế hoàn toàn khác biệt với quan điểm tăng trưởng bằng mọi giá.
Thứ hai là phát triển bền vững về xã hội. Khía cạnh này nhấn mạnh đến tính nhân bản của sự phát triển. Sự phát triển do con người tạo ra và phải phục vụ cho con người, cho sự công bằng trong xã hội. Để đo lường tính bền vững của khía cạnh xã hội, các nước sử dụng chỉ số phát triển con người (Human Development Index) với ba khía cạnh: tuổi thọ, học vấn và thu nhập GDP bình quân đầu người.
Thứ ba là bảo vệ tốt môi trường tự nhiên. Đó là việc đảo bảo tính tự nhiên của môi trường, không phá huỷ, phá hoại, không làm tổn thương môi trường. Tăng cường bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên làm cho môi trường thật sự trở thành một bộ phận trong lành và mật thiết với con người. Để đánh giá tính bền vững về môi trường, nhiều nước trên thế giới áp dụng chỉ số ESI-chỉ số bền vững về môi trường
. Tiêu chí phát triển du lịch bền vững:
Nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra các bộ chỉ số bền vững trong phát triển du lịch, một trong số đó phải kể đến Bộ tiêu chuẩn du lịch bền vững toàn cầu do Hội đồng du lịch toàn cầu (GSTC) xây dựng, đưa ra ngày 21/12/2016. Ở đây, tác giả xin tóm gọn lại như sau:
| BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG (HỘI ĐỒNG DU LỊCH BỀN VỮNG TOÀN CẦU-GSTC) | A. Chứng minh việc quản lý bền vững hiệu quả |
| B. Tối đa hóa các lợi ích kinh tế xã hội cho cộng đồng địa phương và tối thiểu hóa các tác động có hại | |
| C. Tối đa lợi ích cho di sản văn hóa và tối thiểu tác động có hại | |
| D. Tối đa lợi ích cho môi trường và tối thiểu tác động có hại |
Trong đó:
A. Chứng minh việc quản lý bền vững, hiệu quả, gồm: (1) Thực hiện một hệ thống quản lý bền vững, lâu dài, phù hợp với quy mô và thực lực, quan tâm giải quyết các vấn đề về môi trường, kinh tế – xã hội, văn hóa, chất lượng, sức khỏe và an toàn; (2) Tuân thủ pháp luật và các quy định quốc gia, quốc tế; (3) Nhân viên được đào tạo định kỳ về vai trò trong quản lý áp dụng về môi trường, kinh tế – xã hội, văn hóa, sức khỏe và an toàn; (4) Đánh giá sự hài lòng của khách hàng để có sự điều chỉnh phù hợp; (5) Quảng cáo sản phẩm du lịch đúng sự thật, cam kết bền vững và không hứa hẹn những điều không có; (6) Thiết kế, xây dựng, cải tạo và vận hành cơ sở hạ tầng đảm bảo tuân thủ pháp luật, quy hoạch, tôn trọng di sản, sử dụng vật liệu địa phương; (7) Sở hữu hợp pháp đất đai và tài sản theo các quy định pháp luật của địa phương; (8) Cung cấp thông tin, diễn giải về thiên nhiên, di sản, văn hóa cũng như hướng dẫn cách ứng xử phù hợp cho du khách khi tham quan tại điểm đến du lịch.
B. Tối đa hóa các lợi ích kinh tế xã hội cho cộng đồng địa phương và tối thiểu hóa các tác động có hại, gồm: (1) Tích cực ủng hộ các sáng kiến phát triển cơ sở hạ tầng xã hội và hỗ trợ phát triển cộng đồng; (2) Cộng đồng địa phương được ưu tiên tuyển dụng và đào tạo; ưu tiên sử dụng hàng hóa và dịch vụ sản xuất tại địa phương, trừ khi sản phẩm không phù hợp; (3) Tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất nhỏ của địa phương phát triển và bán các sản phẩm bền vững dựa trên những đặc thù về thiên nhiên, lịch sử văn hóa của khu vực; (4) Có quy tắc xử sự phù hợp với các hoạt động của cộng đồng bản địa; (5) Chống bất kỳ hành vi khai thác và áp bức nào về thương mại và tình dục, đặc biệt đối với trẻ em, phụ nữ và người thiểu số; (6) Đối xử công bằng trong tuyển dụng các lao động phụ nữ và người dân tộc thiểu số, không được sử dụng lao động trẻ em; (7) Tuân thủ các quy định của pháp luật quốc gia và quốc tế về quyền của người lao động; (8) Các hoạt động du lịch không được gây nguy hiểm cho nguồn dự trữ cơ bản hay hệ thống vệ sinh của cộng đồng; (9) Các hoạt động du lịch không gây ảnh hưởng đến sinh kế của người dân địa phương.
C. Tối đa lợi ích cho di sản văn hóa và tối thiểu tác động có hại, gồm: (1) Tuân thủ các hướng dẫn và quy tắc ứng xử khi tham quan các điểm văn hóa hay lịch sử nhạy cảm; (2) Các đồ tạo tác lịch sử hoặc giả cổ không được phép mua bán, kinh doanh hay trưng bày, trừ khi được phép; (3) Đóng góp cho công tác bảo tồn di tích, tài sản giá trị lịch sử, văn hóa, khảo cổ, có ý nghĩa tinh thần, tuyệt đối không cản trở việc tiếp cận của cư dân địa phương; (4) Tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của cộng đồng địa phương khi sử dụng các yếu tố về nghệ thuật, kiến trúc hoặc di sản văn hóa địa phương trong hoạt động kinh doanh, thiết kế, trang trí, ẩm thực.
D. Tối đa lợi ích cho môi trường và tối thiểu tác động có hại, gồm: (1) Bảo tồn các nguồn tài nguyên; (2) Giảm ô nhiễm môi trường; (3) Bảo tồn đa dạng sinh học, hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, để áp dụng phù hợp hơn với điều kiện thực tế của các địa phương, chúng ta cần có một bộ tiêu chí cụ thể hơn. Tác giả xin đề xuất bộ tiêu chí của nhóm nghiên cứu Nguyễn Thu Hiền, Nguyễn Thị Tuyết Nga (2020) như sau:
* Tiêu chí đánh giá tăng trưởng kinh tế bền vững:
– Tốc độ tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng giá trị tăng thêm của du lịch: Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã đề ra chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm của Việt Nam là 6,5 – 7%/năm. Chỉ tiêu này tiếp tục được giữ nguyên trong mục tiêu phát triển kinh tế năm 2021 – 2025 đề ra trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Giới hạn này cần đạt được ổn định, liên tục không dưới 5 năm.
– Đóng góp của giá trị tăng thêm ngành du lịch vào GRDP của địa phương ngày càng tăng.
– Sản phẩm du lịch phù hợp với lợi thế địa phương, tính đa dạng và bền vững của sản phẩm du lịch phải phù hợp với chiến lược phát triển sản phẩm du lịch của địa phương đó. Bởi chiến lược của mỗi địa phương thường được xây dựng trên cơ sở đã cân nhắc, tính toán khoa học các yếu tố liên quan, hướng tới khai thác, phát huy tốt nhất đặc thù tiềm năng, lợi thế tài nguyên du lịch.
– Lượng vốn và cơ cấu nguồn vốn đầu tư cho du lịch: Được huy động và cơ cấu phù hợp với phân kỳ theo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của địa phương.
– Số lượng, chất lượng nguồn lao động du lịch: Các chỉ số về phát triển nguồn nhân lực du lịch, bao gồm cả số lượng và chất lượng, đã được tính toán phù hợp và cân đối với các mục tiêu phát triển bền vững khác.
– Mức độ ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường và công nghệ thông tin: phải tăng dần liên tục, giai đoạn 2020 – 2025 có bình quân trên 60% cơ sở kinh doanh du lịch sử dụng Internet phục vụ hoạt động quảng bá, giới thiệu hình ảnh và có sự chủ động áp dụng công nghệ thân thiện với môi trường trong các hoạt động liên quan đến đầu tư, kinh doanh du lịch. Tỷ lệ này phải tăng lên 10% cho mỗi giai đoạn 5 năm tiếp theo.
– Tăng trưởng lượng khách du lịch: không dưới 7%/năm, ổn định không dưới 5 năm.
– Chi tiêu bình quân của khách du lịch: Tăng dần liên tục không dưới 5 năm.
– Mức độ hài lòng của du khách: Không dưới 80%, ổn định.
* Tiêu chí đánh giá tăng trưởng kinh tế bền vững thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội và gắn liền với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa bản địa
– Tỷ lệ người dân được lấy ý kiến về quy hoạch, chủ trương đầu tư dự án du lịch trước khi triển khai: 100% chủ hộ trong vùng dự án.
– Mức độ tạo việc làm cho cộng đồng địa phương từ du lịch: Cao hơn tỷ lệ tạo việc làm mới bình thường trước khi có dự án du lịch trên địa bàn, không dưới 80% người dân trong cộng đồng ghi nhận.
– Đóng góp cho xóa đói giảm nghèo và tạo cơ hội nâng cao thu nhập, hưởng lợi cho cộng đồng bản địa từ du lịch: Tăng dần, không dưới 80% người dân trong cộng đồng ghi nhận.
– Đóng góp của du lịch cho bảo vệ tài nguyên du lịch nhân văn: Chủ động, tích cực, không dưới 80% người dân trong cộng đồng ghi nhận.
– Mức độ hài lòng của cộng đồng địa phương đối với hoạt động du lịch: Không dưới 80% người dân trong cộng đồng ghi nhận, ổn định.
* Tiêu chí đánh giá tăng trưởng kinh tế bền vững gắn với bảo vệ tài nguyên du lịch tự nhiên và môi trường sinh thái
– Tỷ lệ các khu, điểm tài nguyên du lịch được quy hoạch: 100%.
– Tỷ lệ khu, điểm tài nguyên du lịch đang khai thác được đầu tư tôn tạo và bảo vệ đáp ứng yêu cầu chống suy giảm tài nguyên, bảo vệ môi trường: Tăng dần liên tục không dưới 5 năm; giai đoạn 2021 – 2025 đạt trên 60%, mỗi 5 năm tiếp theo, tỷ lệ này tăng thêm không dưới 10%.
– Chất lượng môi trường (nước, không khí, rác thải, âm thanh, ánh sáng…) tại các khu, điểm du lịch: Không vượt ngưỡng theo các quy chuẩn, tiêu chí và chỉ tiêu cụ thể về môi trường do cơ quan chức năng quy định cho từng thời kỳ.
– Ý thức trách nhiệm của du khách với tài nguyên du lịch và môi trường: Tuân thủ nội quy, quy chế bảo vệ tài nguyên, môi trường tại nơi du lịch; tỷ lệ bị xử lý vi phạm dưới 1% so với tổng số du khách; không có vi phạm dẫn tới hậu quả nghiêm trọng.
– Ý thức trách nhiệm của cộng đồng dân cư bản địa với tài nguyên du lịch và môi trường: Tuân thủ quy định và cam kết về bảo vệ tài nguyên, môi trường. Tỷ lệ vi phạm bị xử lý hàng năm dưới 1% so với tổng số người dân của cộng đồng; không có vi phạm dẫn tới hậu quả nghiêm trọng.
– Trách nhiệm của cơ sở kinh doanh du lịch với tài nguyên du lịch và môi trường: Tuân thủ nội quy, quy chế bảo vệ tài nguyên, môi trường tại nơi du lịch; tỷ lệ bị xử lý vi phạm hàng năm dưới 1% so với tổng số cơ sở; không có vi phạm đem lại hậu quả nghiêm trọng.
. Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững
. Khai thác sử dụng nguồn lực một cách hợp lý
Nguồn lực ở đây bao gồm nguồn lực vật chất như vị trí địa lý, con người, cơ sởhạ tầng và nguồn lực phi vật chất như các giá trị văn hóa, phong tục, tập quán. Đối với hoạt động khai thác du lịch, các nguồn lực này giữ vai trò vừa là đầu vào vừa là đầu ra. Với tư cách là đầu vào, các nguồn lực này là lý do để tiến hành hoạt động dulịch. Với tư cách là đầu ra, các nguồn lực này trở nên dồi dào và trù phú hơn nhờ quátrình du lịch.
Nguyên tắc khai thác này nhấn mạnh đồng thời đến hai khía cạnh của hoạt động du lịch là khai thác các nguồn lực có sẵn và phát huy các nguồn lực có sẵn đó. Nói cách khác, quá trình khai thác du lịch không ảnh hưởng xấu đến nguồn tài nguyên, không làm suy cạn nguồn tài nguyên mà ngược lại cần làm cho chúng trở thành một nguồn lực sống động, có ý nghĩa cho sự phát triển. Phát triển du lịch phải phù hợp với bối cảnh và nguồn lực văn hoá, xã hội của từng địa phương để khai thác và tôn tạo những nguồn lực này một cách hợp lý.
. Nguyên tắc bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững
Bảo vệ môi trường trong phát triển xanh – bền vững trước hết cần phải đảm bảo tính đa dạng của hệ sinh thái tự nhiên ở các điểm đến. Tiếp theo nữa phát triển du lịch bền vững phải gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên, khuyến khích sử dụng năng lượng xanh, không phá hoại và tàn phá môi trường tự nhiên. Hoạt động bảo vệ môi trường cần phải được lồng ghép trong các chính sách phát triển du lịch bền vững.
. Nguyên tắc phát triển du lịch hỗ trợ địa phương
Trong hoạt động du lịch, có sự tham gia của nhiều bên như người dân địa phương, chính quyền, doanh nghiệp du lịch và các tổ chức phi lợi nhuận. Các chủ thể này vận động và tương tác với nhau trong suốt quá trình khai thác dịch vụ du lịch của địa phương. Thế nhưng không phải lúc nào và bất cứ điểm đến du lịch nào, lợi ích từ hoạt động du lịch cũng được phân chia hợp lý cho các bên có liên quan. Trên thực tế ở nhiều điểm du lịch, người dân địa phương bị tổn hại hơn là hưởng lợi. Nguồn thu về mặt kinh tế, mà người dân có được không bù đắp được những tổn hại về môi trường, văn hoá mà họ đang gánh chịu. Phần lớn lợi nhuận có được chảy về phía các doanh nghiệp. Đó là phát triển du lịch không bền vững.
Quan điểm phát triển du lịch bền vững cho rằng chính cộng đồng phải là người hưởng lợi nhiều nhất từ hoạt động du lịch đó. Hoạt động du lịch phải làm cho cuộc sống, mức sống và chất lượng sống của họ tăng lên một cách đáng kể, góp phần vào việc xoá đói giảm nghèo một cách bền vững
. Nguyên tắc thu hút sự tham gia của cộng đồng vào việc phát triển du lịch bền vững
Trên thực tế, ở một số địa phương, nhờ thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương mà hoạt động du lịch đã thu được những kết quả tốt đẹp. Có thể kể ra như làng cổ Phước Tích tỉnh Thừa Thiên Huế.
Không những được chứng minh từ thực tiễn, mà các lý thuyết liên quan đến du lịch đều khẳng định vai trò của cộng đồng địa phương. Bởi cộng đồng địa phương là nơi diễn ra hoạt động du lịch, nơi nuôi dưỡng và bảo lưu các giá trị văn hoá và môi trường tự nhiên. Tất cả những giá trị phục vụ du lịch không thể tách rời cuộc sống của người dân và không gian của cộng đồng. Xuất phát từ vai trò như vậy, cộng đồng địa phương cần phải được xác định là một chủ thể quan trọng không thể thiếu trong phát triển du lịch của địa phương. Vì vậy sự tham gia của cộng đồng địa phương mang tính quyết định đến phát triển du lịch bền vững.
Nguyên tắc thu hút sự tham gia của cộng đồng du lịch cần quan tâm đến một số khía cạnh quan trọng. Thứ nhất là người dân địa phương phải có tiếng nói trong phát triển du lịch tại địa phương của họ. Thứ hai là người dân địa phương phải là chủ thể tham gia vào hoạt động phát triển du lịch ở địa phương bằng nhiều hình thức. Thứ ba, người dân địa phương phải có tiếng nói trong việc bảo vệ những di sản mà địa phương của họ đang có.
. Ý nghĩa của phát triển du lịch bền vững:
Sự bền vững về kinh tế: Tạo nên sự thịnh vượng cho tất cả mọi tầng lớp xã hội và đạt được hiệu quả giá trị cho tất cả mọi hoạt động kinh tế.
Sự bền vững xã hội: Tôn trọng nhân quyền và sự bình đẳng cho tất cả mọi người trong xã hội.
Sự bền vững về môi trường: Bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên, đặc biệt là các nguồn tài nguyên không thể thay mới và quý hiếm đối với cuộc sống con người.
Sự bền vững về văn hoá: Bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống trong đó bao gồm cả văn hoá vật thể và phi vật thể.
KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG VÀ BÀI HỌC CHO THÀNH PHỐ HỘI AN- QUẢNG NAM
. Một số kinh nghiệm phát triển
. Kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững tại Thái Lan
Thái Lan luôn nằm trong số các điểm đến thu hút được nhiều khách du lịch quốc tế và là một trong số những quốc gia có doanh thu từ du lịch cao nhất trên thế giới. Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh chóng của du lịch cũng đã khiến cho Thái Lan gặp phải rất nhiều vấn đề về môi trường tự nhiên, xã hội và sự biến đổi tiêu cực của văn hóa.
Trước thực tế này, Chính phủ Thái Lan đã đưa các mục tiêu về bảo tồn và phát triển có trách nhiệm song song với mục tiêu phát triển kinh tế trong các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Trong đó, con người được lấy làm trung tâm của sự phát triển. Phát triển du lịch theo hướng quản lý bền vững tài nguyên với sự tham gia của cộng đồng bản địa được xem là một trong những chiến lược cơ bản của du lịch Thái Lan. Trên cơ sở tôn chỉ và chiến lược đã đặt ra, chính quyền Thái Lan đã đề ra những mục tiêu rất cụ thể đối với sự phát triển du lịch của giai đoạn hiện tại:
(1) Quản lý phát triển du lịch bền vững, có trách nhiệm với cộng đồng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, đồng thời góp phần phục hồi và nâng cấp các giá trị đặc sắc, đa dạng của sản phẩm, của tài nguyên du lịch của Thái Lan;
(2) Đặt mục tiêu bền vững và thịnh vượng cho cộng đồng bản địa lên hàng đầu trong phát triển du lịch. Các hoạt động phát triển đều phải xoay quanh mục tiêu vì cộng đồng hướng tới việc gìn giữ, cải thiện và bảo vệ môi trường;
(3) Thúc đẩy khai thác thị trường du lịch chất lượng cao hướng tới các thị trường có mức tiêu dùng cao và sử dụng các sản phẩm có trách nhiệm với môi trường, kinh tế và xã hội.
Trong Kế hoạch năm 2014 – 2015, để có thể duy trì các nghề thủ công địa phương, Chính phủ ban hành Luật miễn thuế VAT cho tất cả các địa điểm bán hàng thủ công địa phương ở Thái Lan. Các công ty lữ hành được thực hiện trách nhiệm với địa phương, sử dụng lao động địa phương sẽ được miễn một phần thuế thu nhập. Thái Lan cũng được đánh giá là một trong những quốc gia có mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng rất tốt. Chính quyền khuyến khích các địa phương phát triển các sản phẩm mang tính bản địa thông qua các chương trình như: “mỗi lần một sản phẩm”, “mỗi người dân là một hướng dẫn viên du lịch”. Các sản phẩm có lợi cho cộng đồng và môi trường như du lịch nông nghiệp, du lịch “Homestay” và du lịch làng nghề được khuyến khích phát triển. Chính quyền cũng rất quan tâm tới việc nâng cao năng lực làm du lịch cho người dân địa phương. Đến Thái Lan, du khách sẽ có cảm giác toàn dân làm du lịch và mọi giá trị cộng đồng đều có thể trở thành thành sản phẩm du lịch. Ở mỗi địa phương, chính quyền thiết lập các trung tâm hỗ trợ nhân lực cho du lịch. Trung tâm này hoạt động như một trung tâm tư vấn cho các đơn vị, tổ chức địa phương hoạt động trong ngành với mục tiêu tăng cường đồng bộ chất lượng nhân lực ngành du lịch Thái Lan. Các sáng kiến, kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng, du lịch có trách nhiệm liên tục được chia sẻ trên các phương tiện thông tin đại chúng để làm bài học cho các bên liên quan.
Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan cũng đề ra Kế hoạch phát triển và phục hồi các di sản văn hóa nhằm phát triển các điểm du lịch mới thông qua hỗ trợ khối doanh nghiệp và cộng đồng địa phương. Trong giai đoạn 2016 – 2017, Kế hoạch phát triển du lịch Quốc gia của Hoàng gia Thái Lan đã xác định rõ mục tiêu phát triển du lịch phải hướng tới bảo tồn văn hóa, gìn giữ tài nguyên và phát triển bền vững cho cộng đồng bản địa. Bên cạnh những chính sách khuyến khích mềm dẻo, chính quyền cũng thực hiện những biện pháp rất cứng rắn và khẩn trương để có thể ngăn chặn kịp thời những hoạt động làm ảnh hưởng đến tính bền vững của du lịch chẳng hạn như: ban hành lệnh hạn chế tối đa cung cấp các dịch vụ lặn biển, ngắm biển… làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái biển ở một khu du lịch đảo nổi tiếng; xóa bỏ hoàn toàn việc kinh doanh “tuor 0 đồng” dành cho khách Trung Quốc; mở rộng quảng bá, giới thiệu về các sản phẩm du lịch văn hóa.
Giai đoạn 2018 – 2019, chính sách phát triển du lịch của Thái Lan tập trung vào 5 nhóm đối tượng chính bao gồm: bảo tồn tài nguyên du lịch, thu hút khách du lịch có chất lượng và có trách nhiệm, phát triển doanh nghiệp du lịch có chất lượng, hỗ trợ cộng đồng địa phương và các nhà khoa học. Đối với phát triển du lịch bền vững, mục tiêu chiến lược không chỉ tập trung vào số lượng khách du lịch và các giá trị kinh tế và còn cân đối giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường
Có thể nói, du lịch Thái Lan đang hướng tới sự phát triển có trách nhiệm, bền vững và thân thiện với môi trường và cộng đồng. Những kinh nghiệm của Thái Lan sẽ là bài học rất quan trọng và gần gũi đối với Việt Nam bởi du lịch Thái Lan và du lịch Việt Nam có khá nhiều điểm tương đồng.
Trong những năm gần đây, ngành Du lịch Việt Nam phát triển nhanh, kéo theo sự gia tăng lượng khách du lịch… xu hướng này vẫn còn tiếp tục ra tăng trong thời gian tới khi quy mô về cơ sở vật chất kỹ thuật dịch vụ du lịch, hệ thống hạ tầng, lưu trú, vận chuyển, giải trí… được mở rộng. Trong khi đó, tại nhiều khu vực ven biển hiện nay, do hoạt động du lịch phát triển đã vượt năng lực quản lý, hoặc do nhận thức của những người có trách nhiệm và điều hành còn hạn chế nên các hoạt động du lịch đã vượt khả năng đáp ứng của tài nguyên thiên nhiên và môi trường, gây tình trạng ô nhiễm cục bộ và nguy cơ suy thoái môi trường. Bên cạnh đó, việc quản lý, khai thác tài nguyên du lịch chưa được thực hiện hiệu quả. Hiện chưa thực hiện được việc thống kê nguồn tài nguyên du lịch một cách đầy đủ, việc đánh giá, phân loại và xếp hạng để quản lý khai thác một cách bền vững chưa được thực hiện, dẫn tới tài nguyên du lịch thì nhiều, nhưng chưa khai thác hết được giá trị của tài nguyên. Công tác quản lý, phân cấp hạn chế dẫn đến sự xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể kinh tế và các ngành dẫn tới một số tài nguyên du lịch bị tàn phá, sử dụng sai mục đích… tác động tiêu cực tới phát triển du lịch bền vững. Ngoài ra, lượng khách du lịch tăng cao kéo theo sự phát sinh chất thải trong khi số lượng được thu gom, xử lý còn có những hạn chế nhất định, hầu hết các khu du lịch, tỷ lệ thu gom chất thải rắn hiện đạt chỉ đạt khoảng 70 – 80%, vào mùa du lịch cao điểm, tỷ lệ này còn thấp hơn. Tại nhiều khu du lịch biển đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường do rác thải, đặc biệt là rác thải nhựa.
Qua kinh nghiệm phát triển du lịch có trách nhiệm của một số quốc gia trên thế giới cho thấy, du lịch có trách nhiệm là chìa khóa cho phát triển bền vững. Du lịch có trách nhiệm là một cách tiếp cận quản lý du lịch nhằm tối đa hóa lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường và giảm thiểu chi phí tới các điểm đến. Bản chất của loại hình du lịch này là điều chỉnh tất cả các loại hình du lịch khác nhằm hướng đến mục tiêu phát triển hài hòa ngành du lịch, đem lại bình đẳng cho tất cả chủ thể tham gia vào quá trình phát triển du lịch đồng thời góp phần đáng kể trong việc hỗ trợ tạo dựng một môi trường lành mạnh. Du lịch có trách nhiệm được hiểu là trách nhiệm của các tổ chức và du khách về kinh tế, xã hội và môi trường trong tất cả các lĩnh vực hoạt động du lịch, từ hoạch định chính sách đến quy hoạch, khai thác tài nguyên, phát triển sản phẩm, tổ chức kinh doanh và phục vụ khách du lịch.
Đối với Việt Nam, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm tới mục tiêu đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, xác định phát triển du lịch bền vững và bao trùm là quan điểm định hướng, dẫn dắt sự phát triển của ngành du lịch trong giai đoạn mới. Theo Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, ngành du lịch Việt Nam đã tập trung ưu tiên phát triển hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng giao thông vận tải, thông tin, dịch vụ du lịch, nơi vui chơi, giải trí, văn hóa… phục vụ du lịch, nâng cao sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch, bảo đảm tính bền vững môi trường và phát triển nguồn nhân lực du lịch, tạo nên “đòn bẩy” quan trọng giúp Hội An trở thành điểm đến thu hút đối với du khách trong nước và quốc tế.
Để thúc đẩy phát triển du lịch có trách nhiệm ở Hội An trong thời gian tới, Nhà nước cần xây dựng chính sách phát triển du lịch trên cơ sở chú trọng tới các vấn đề văn hóa xã hội và môi trường bên cạnh mục tiêu phát triển kinh tế và gia tăng lợi nhuận: chăm lo đời sống xã hội của cộng đồng dân cư (an sinh, sinh kế của người dân…), thúc đẩy sự có trách nhiệm của các bên liên quan tham gia trong lĩnh vực du lịch (chính quyền, người dân, doanh nghiệp, khách du lịch); thúc đẩy sử dụng tiết kiệm và khuyến khích sử dụng năng lượng sạch, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan du lịch, cải thiện hệ thống giao thông…
Ngoài ra, cần đảm bảo sự cân bằng trong phát triển du lịch với bảo vệ môi trường và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống. Thiết lập các nguyên tắc đảm bảo cân bằng phù hợp giữa các khía cạnh môi trường, kinh tế và văn hóa xã hội. Cụ thể: Giảm thiểu mức sử dụng những nguồn tài nguyên quý hiếm và không thể tái tạo được trong việc phát triển và triển khai các cơ sở, phương tiện và dịch vụ du lịch; đồng thời chú trọng đến một môi trường trong lành. Tăng cường bảo vệ môi trường, giảm thiểu ô nhiễm không khí, nước, đất và rác thải từ du khách và các hãng du lịch. Hỗ trợ bảo tồn khu vực tự nhiên, môi trường sống, sinh vật hoang dã và giảm thiểu thiệt hại đối với các yếu tố này.
Bên cạnh đó, Nhà nước cần xây dựng chiến lược phát triển du lịch dài hạn bên cạnh việc lập kế hoạch phát triển hàng năm và đưa ra những mục tiêu trọng tâm trong từng giai đoạn để xác định rõ vai trò, trách nhiệm của các bên tham gia và kế hoạch hành động trọng tâm của ngành, đơn vị trong phát triển du lịch có trách nhiệm ở mỗi thời điểm cụ thể.
Tăng cường sự liên kết giữa các chủ thể, các đơn vị, ban ngành từ Trung ương tới địa phương trong việc xây dựng quy hoạch, quản lý và phát triển du lịch và có sự gắn kết chặt chẽ với cộng đồng dân cư để đảm bảo an sinh xã hội và phát triển, khai thác bền vững lịch sử, văn hóa và tài nguyên tự nhiên của địa phương.
Đối với cơ quan quản lý du lịch tại địa phương cần xây dựng chính sách, chiến lược, quan điểm phát triển loại hình du lịch có trách nhiệm này rõ ràng. Với doanh nghiệp lữ hành cần tập trung xây dựng chính sách, chiến lược doanh nghiệp phù hợp với nguyên tắc có trách nhiệm; xây dựng các sản phẩm du lịch có trách nhiệm và hướng dẫn du khách thực hiện du lịch có trách nhiệm.
Đồng thời, khuyến khích các hoạt động du lịch tình nguyện và các hoạt động mang tính trách nhiệm cao. Còn với khách du lịch cần tìm hiểu và tuân thủ các tập tục địa phương, lựa chọn các doanh nghiệp có quan điểm, tôn chỉ và hoạt động hướng đến sự bền vững và có trách nhiệm.
Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và nét đẹp truyền thống trong cuộc sống và sinh hoạt của người dân bản địa ở những khu vực mang đậm nét truyền thống dân tộc và địa phương bên cạnh việc phát triển mạnh mẽ các nhà hàng, dịch vụ và khu du lịch sang trọng. Đồng thời, chú trọng tới công tác bảo tồn đa dạng sinh học, cảnh quan tự nhiên trong quá trình tận dụng và khai thác nguồn lợi tự nhiên để phục vụ cho hoạt động du lịch…; Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các phong trào, chiến dịch thu gom rác, phân loại rác tại nguồn tại các điểm, khu du lịch; Xây dựng và thực hiện các hướng dẫn về giảm thiểu sản phẩm nhựa dùng một lần và túi ni lông tại các điểm, khu du lịch…
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỘI AN – TỈNH QUẢNG NAM
TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỘI AN- QUẢNG NAM
. Sự ủng hộ từ các cấp chính quyền địa phương
Các chính sách, ngân sách, quy chế và bộ tiêu chí đã được triển khai và nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ các cấp chính quyền địa phương. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các dự án du lịch bền vững. Các quy định và tiêu chí giúp đảm bảo các hoạt động du lịch diễn ra một cách bền vững và có trách nhiệm với môi trường.
- Chính sách hỗ trợ: Các cấp chính quyền địa phương đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích và hỗ trợ du lịch xanh. Điều này bao gồm việc đưa ra các quy định và tiêu chí cụ thể để hướng dẫn và kiểm soát các hoạt động du lịch xanh.
- Ngân sách và đầu tư: Chính quyền địa phương đã phân bổ ngân sách để hỗ trợ các dự án du lịch xanh, bao gồm cả việc cải thiện cơ sở hạ tầng và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ.
- Quy chế và bộ tiêu chí: Các quy chế và tiêu chí về du lịch xanh đã được xây dựng và áp dụng, tạo cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp và tổ chức du lịch triển khai các hoạt động du lịch bền vững
. Điểm đến đón khách quốc tế cao nhất nước:
Hội An là một trong những điểm đến thu hút khách quốc tế nhiều nhất tại Việt Nam. Điều này tạo ra nhu cầu cao về các dịch vụ du lịch chất lượng và bền vững. Các doanh nghiệp du lịch tại đây, từ lữ hành, lưu trú đến nhà hàng và điểm tham quan, đều nhận thức rõ về việc thực hiện du lịch xanh để đáp ứng yêu cầu của khách hàng quốc tế, những người ngày càng quan tâm đến các vấn đề môi trường và bền vững.
- Nhận thức về du lịch xanh: Với lượng khách quốc tế cao, các doanh nghiệp du lịch tại Hội An đã nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng của du lịch xanh. Họ hiểu rằng việc bảo vệ môi trường và văn hóa địa phương là yếu tố then chốt để thu hút và duy trì khách du lịch.
- Yêu cầu của khách hàng: Du khách quốc tế thường có yêu cầu cao về tiêu chuẩn bền vững và thân thiện với môi trường. Điều này thúc đẩy các doanh nghiệp du lịch phải áp dụng các biện pháp xanh để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE AN 2024\SAU BAO VE\Phát triển du lịch bền vững trên địa bàn thành phố Hội An- tỉnh Quảng Nam

