Phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đã tác động làm thay đổi mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội, trong đó ngành Ngân hàng – với vai trò là mạch máu của nền kinh tế quốc gia là một trong những lĩnh vực rất quan trọng cần tiên phong đi đầu trong công cuộc chuyển đổi số. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng đã trở thành xu thế phát triển tất yếu của các ngân hàng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Đại dịch Covid-19 vừa qua trên toàn cầu một lần nữa đã chứng minh việc nhanh chóng ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng là vấn đề quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết, đây là cuộc chạy đua hết sức căng thẳng, không chỉ giữa các ngân hàng mà còn giữa các ngân hàng với các doanh nghiệp fintech trong nền kinh tế nhằm chiếm lĩnh thị trường, thị phần và nguồn khách hàng. Trong hoàn cảnh đó, phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử là một trong những xu hướng tất yếu và là giải pháp hiệu quả để các ngân hàng thương mại nâng cao năng lực cạnh tranh, gia tăng lượng khách hàng, gia tăng thị phần và chiếm lĩnh thị trường.

Ngân hàng điện tử đã thực sự có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát tài chính cho ngân hàng, tăng hiệu quả kinh doanh đồng thời tiết kiệm thời gian và chi phí cho khách hàng, ngân hàng và cả nền kinh tế. Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk” để thực hiện nghiên cứu.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu tổng quát

Đánh giá thực trạng Phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk, phân tích những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk.

2.2. Mục tiêu cụ thể

Hệ thống hóa được cơ sở lý luận chung về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử.

Phân tích thực trạng hoạt động phát triển dịch vụ NHĐT tại Agribank Bắc Đắk Lắk từ đó đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại và xác định nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt động phát triển dịch vụ NHĐT tại Agribank Bắc Đắk Lắk.

Đề xuất các giải pháp phát triển dịch vụ NHĐT tại Agribank Bắc Đắk Lắk trong thời gian tới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử tại Agribank Bắc Đắk Lắk.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Về thời gian: Các thông tin, số liệu, dữ liệu phục vụ nghiên cứu của đề tài được thu thập trong giai đoạn 2021 – 2023 và số liệu điều tra năm 2024.

– Về không gian: Đề tài nghiên cứu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk.

– Về nội dung: Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử tại Agribank Bắc Đắk Lắk.

4. Phương pháp nghiên cứu

Với nguồn dữ liệu là các chỉ tiêu tài chính, phi tài chính được Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk thể hiện trong các báo cáo thường niên giai đoạn từ năm 2021 – 2023, dữ liệu khảo sát trực tiếp từ khách hàng để đánh giá hoạt động dịch vụ NHĐT tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk, các nguồn dữ liệu thứ cấp tại các trang thông tin báo chí, báo mạng, tạp chí, bài luận văn áp dụng phương pháp nghiên cứu như sau:

Phương pháp thống kê: Phương pháp thống kê được sử dụng để đánh giá hoạt động dịch vụ NHĐT được lấy từ nguồn dữ liệu thứ cấp là các kết quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk.tại các báo cáo hoạt động thường niên giai đoạn 2021 – 2023, dữ liệu ngoai vi thu thập từ các phương tiện truyền thông, các trang báo điện tử, sách báo.

Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh được sử dụng để phân tích, so sánh số liệu từ biểu đồ, bảng biểu về kết quả của hoạt động dịch vụ NHĐT để thấy được sự phát triển, xu thế của hoạt động dịch vụ NHĐT tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk.

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Căn cứ các dự liệu thứ cấp, sơ cấp đã được sử dụng ở các phương pháp định lượng, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh tiếp tục vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để có những đánh giá khách quan về thực trạng dịch vụ NHĐT tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk., nhìn nhận những tồn tại, các nguyên nhân dẫn đến các tồn tại đề xuất một số giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả dịch vụ NHĐT tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk.

5. Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề án gồm các chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ NHĐT

Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ NHĐT tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk

Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ NHĐT tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

6.1. Những nghiên cứu trong nước

6.2. Những nghiên cứu nước ngoài

Phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ

1.1. TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ

1.1.1. Khái quát về dịch vụ ngân hàng điện tử

1.1.1.1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử

Dịch vụ ngân hàng điện tử là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay mua dịch vụ ngân hàng thông qua việc nối mạng máy vi tính của mình với ngân hàng. Ngân hàng điện tử là việc cung cấp tự động các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng mới và truyền thống trực tiếp cho khách hàng thông qua điện tử, các kênh truyền thông tương tác. Ngân hàng điện tử bao gồm các hệ thống cho phép khách hàng, cá nhân hoặc doanh nghiệp của tổ chức tài chính truy cập vào tài khoản, giao dịch kinh doanh hoặc lấy thông tin về các sản phẩm và dịch vụ tài chính thông qua mạng công cộng hoặc tư nhân, bao gồm cả Internet. (Alagheband P., 2006).

Ngân hàng điện tử như một kết nối điện tử giữa ngân hàng và khách hàng để chuẩn bị, quản lý và kiểm soát các giao dịch tài chính. (Salehi và Zhila, 2008).

Khái niệm về giao dịch điện tử, theo luật giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội: Giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử dựa trên các phương tiện điện tử – phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện tử hoặc công nghệ tương tự.

Ngân hàng điện tử (tiếng anh là Electronic Banking, viết tắt là E-banking). Hiện nay chúng ta có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm dịch vụ NHĐT từ nhiều tác giả. NHĐT đề cập đến một số loại dịch vụ mà khách hàng có thể yêu cầu thông tin và thực hiện hầu hết các dịch vụ ngân hàng bán lẻ thông qua máy tính, truyền hình hoặc điện thoại (Daniel, 1999). Các ngân hàng chủ yếu là sử dụng các kênh điện tử để hướng dẫn và cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng của họ. Mặc dù phạm vi về dịch vụ được cung cấp bởi các ngân hàng qua kênh điện tử khác nhau về nội dung, hình thức này của ngân hàng thường được gọi là NHĐT (Azouzi, 2009).

Theo nguyên tắc quản trị rủi ro đối với dịch vụ NHĐT (1998) của uỷ ban giám sát ngân hàng Basel: “Ngân hàng điện tử là sự cung cấp dịch vụ, sản phẩm ngân hàng có giá trị nhỏ và lẻ thông qua các kênh điện tử, cũng như cung cấp điện tử những thanh toán điện tử có giá trị lớn và bán buôn dịch vụ ngân hàng”.

NHĐT là các ứng dụng ngân hàng cho phép khách hàng truy cập và thực hiện các giao dịch tài chính như : Dịch vụ chuyển tiền, truy vấn số dư, thanh toán hoá đơn, thị trường chứng khoán, sử dụng World Wide Web, công nghệ Wi-Fi và Internet (Shid và Fang (2004)). Các ngân hàng chủ yếu là sử dụng các kênh điện tử để hướng dẫn và cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho KH của họ. Mặc dù phạm vi về dịch vụ được cung cấp bởi các ngân hàng qua kênh điện tử khác nhau về nội dung, hình thức này của ngân hàng thường được gọi là NHĐT (Azouzi, 2009).

1.1.1.2. Quan điểm về phát triển dịch vụ NHĐT

Phát triển dịch vụ NHĐT là làm gia tăng các giao dịch điện tử của ngân hàng cả về số lượng và chất lượng nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của khách hàng. Phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử phải đáp ứng được các mục tiêu kinh doanh mà ngân hàng đặt ra như: Hiệu quả tài chính, chiếm lĩnh thị phần, nâng cao thương hiệu…Phát triển dịch vụ NHĐT là xu thế tất yếu của tất cả các ngân hàng để nâng cao vị thế, nâng cao năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên số hoá và toàn cầu hoá hiện nay. Như vậy, quan điểm phát triển dịch vụ NHĐT có thể hiểu là tăng trưởngsản phẩm dịch vụ NHĐT cả về chất và lượng.

Phát triển dịch vụ NHĐT về lượng (phát triển theo chiều rộng):

+ Thứ nhất: Đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ NHĐT để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của khách hàng. Ngày nay, công nghệ thông tin đang phát triển rất nhanh, do đó nhu cầu của khách hàng về các loại hình dịch vụ NHĐT ngày càng đa dạng, các ngân hàng cần nắm bắt được nhu cầu của khách hàng để nắm được lợi thế trong việc phát triển các sản phẩm dịch vụ NHĐT

+ Thứ hai: Nhanh chóng gia tăng số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ NHĐT của ngân hàng. Hiện nay, các sản phẩm dịch vụ NHĐT của các ngân hàng ngày càng tương đồng, do đó việc gia tăng số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ NHĐT của ngân hàng mình các ngân hàng cần có sách lược, chiến lược thích hợp để tiếp cận khách hàng sớm nhất có thể, mở rộng liên kết, hợp tác với các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, tổ chức, doanh nghiệp…để giới thiệu và cung cấp sản phẩm dịch vụ NHĐT để gia tăng số lượng khách hàng.

+ Thứ ba: Tăng nguồn thu tài chính từ sản phẩm dịch vụ NHĐT, nâng cao thương hiệu, nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng tầm vị thế của ngân hàng. Công nghệ trong lĩnh vực ngành ngân hàng cũng là một trong những lĩnh vực cạnh tranh gây gắt hiện nay, sự cạnh trong này không chỉ trong nội bộ ngành ngân hàng mà còn giữa ngân hàng và các công ty Fintech, ngân hàng có công nghệ mạnh, có các sản phẩm dịch vụ NHĐT đa dạng, tiện lợi, chi phí thấp, dễ sử dụng…chắc chắn sẽ chiếm ưu thế rất lớn trong việc cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần, góp phần rất lớn trong việc nâng cao thương hiệu, nâng cao vị thế của mỗi ngân hàng. Mục tiêu kinh doanh của ngân hàng luôn hướng đến là nâng cao kết quả tài chính, trong đó nguồn thu nhập từ sản phẩm dịch vụ NHĐT ngày càng đóng vai trò quan trong cơ cấu tổng nguồn thu của ngân hàng.

Phát triển dịch vụ NHĐT về chất (phát triển theo chiều sâu): Chất lượng dịch vụ NHĐT được khách hàng quan tâm như: Tính bảo mật an toàn cao, việc giải quyết thắc mắc khiếu nại thoả đáng kịp thời, đường truyền giao dịch nhanh ổn định, sản phẩm tiện lợi dễ sử dụng, hạn mức giao dịch cao, tư vấn viên chuyên nghiệp nhiệt tình, chi phí dịch vụ thấp… Ngày nay, với việc các các sản phẩm dịch vụ NHĐT của các ngân hàng ngày càng tương đồng thì chất lượng của dịch vụ NHĐT là vấn đề quan tâm hàng đầu của khách hàng khi lựa chọn sử dụng dịch vụ NHĐT của mỗi ngân.

1.1.1.3. Một số dịch vụ cơ bản của ngân hàng điện tử

  • Dịch vụ ngân hàng qua Internet (Internet Banking)

Internet Banking là dịch vụ giao dịch trực tuyến trên website của ngân hàng. Dịch vụ này cho phép quý khách thực hiện các giao dịch như chuyển khoản, truy vấn tài khoản,…mọi lúc mọi nơi thông qua các thiết bị có kết nối internet thay vì giao dịch trực tiếp tại ngân hàng hoặc cây ATM. Với Internet Banking, các giao dịch của quý khách đều được xác thực thông qua mã OTP được gửi về số điện thoại đã đăng ký. Ngoài ra, một số ít ngân hàng còn sử dụng OTP để nâng cao khả năng bảo mật cho người dùng.

Có thể hiểu, Internet Banking là dịch vụ ngân hàng trực tuyến của các ngân hàng. KH muốn sử dụng Internet Banking cần có các thiết bị điện tử được kết nối sẵn internet như máy tính bàn (Desktop), máy tính sách tay (Laptop), điện thoại di động (Mobile phone), máy tính bản (Ipad)… Khi sử dụng Internet Banking, KH truy cập trực tiếp vào Website của ngân hàng, đăng nhập bằng tên đǎng nhập và mật khẩu được ngân hàng cung cấp cho mỗi KH, mỗi giao dịch của KH thông qua Internet Banking được bảo mật bởi mã xác thực OTP được gửi đến số điện thoại đã đăng ký của khách hàng. Khách hàng có thể thực hiện hầu hết các giao dịch ngân hàng mà không cần phải đến quầy giao dịch như:

– Truy vấn số dư tài khoản, sao kê các giao dịch nhận tiền, chuyển tiền đã phát sinh, thực hiện lệnh chuyển tiền thông qua số tài khoản thanh toán hoặc thông qua số thẻ ngân hàng.

– Truy vấn số dư tiền gửi tiết kiệm, gửi tiết kiệm trực tuyến, đóng sổ tiết kiệm trực tuyến.

– Truy vấn dư nợ tiền vay, thực hiện thanh toán nợ gốc, lãi tiền vay.

-Thanh toán các hóa đơn trực tuyến: nạp tiền điện thoại hay thanh toán cước điện thoại trả sau, cước phí internet, trả tiền điện hàng tháng, nạp ví điện tử,…

– Nộp thuế: các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản thu ngân sách Nhà nước…

– Mua sắm hàng hóa, đặt phòng khách sạn, mua vé xem phim, đặt vé máy bay, tàu xe,…

Ngày nay, Internet Banking ngày càng trở nên phổ biến và được nhiều khách hàng lựa chọn sử dụng bởi tính tiện dụng, tiết kiệm thời gian giao dịch, tiết kiệm chi phí giao dịch, tính bảo mật ngày càng và các dịch vụ được sử dụng ngày càng đa dạng.

  • Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (E Mobile Banking, SMS banking)

E Mobile Banking: Là các dịch vụ ngân hàng trực tuyến được cung cấp cho khách hàng thông qua các phần mềm ứng dụng của từng ngân hàng (App) được cài đặt trên thiết bị điện thoại di động không dây có kết nối Internet (Wifi, 3G, 4G, 5G) của khách hàng. Với giao diện ứng dụng trên điện thoại được thiết kế bắt mắt, tiện lợi, dễ sử dụng, khách hàng có thể thực hiện hầu hết các giao dịch với ngân hàng như: Vấn tin, chuyển tiền, thanh toán, mua hàng online, gửi tiết kiệm online, thanh toán nợ vay online…với ngân hàng mọi lúc mọi nơi. Khách hàng đăng nhập ứng dụng trên điện thoại bằng chính số thuê bao điện thoại đã đăng ký với ngân hàng và mật khẩu do khách hàng tự quản lý, mọi giao dịch đều được bảo mật bằng mã OTP gửi đến chính số điện thoại đã đăng ký dịch vụ.

E Mobile Banking là dịch vụ ngân hàng di động, cho phép quý khách thực hiện các giao dịch trực tuyến từ xa thông qua ứng dụng được phát hành bởi ngân hàng. Mobile Banking được xem là dịch vụ ngân hàng được sử dụng phổ biến nhất bởi sự tiện lợi và sự phát triển nhanh chóng của điện thoại thông minh. Với Mobile Banking, quý khách có thể quét QR để thanh toán, cài đặt Face ID hoặc dấu vân tay, quản lý tài chính cá nhân,… một cách dễ dàng.

Ngày nay, với sự bùng nổ của công nghệ 4.0, sự phát triển mạnh mẽ và phổ biến của điện thoại di động (Smart phone) và Internet, dịch vụ ngân hàng Mobile banking đã có sự tăng trưởng vượt bậc về số lượng và quy mô, là một trong những dịch vụ ngân hàng điện tử được ưa chuộng và sử dụng rộng rãi nhất trong thời gian tới.

SMS Banking: là dịch vụ NHĐT được cung cấp cho khách hàng thông qua việc khách hàng nhắn tin theo một cú pháp nhất định trên điện thoại của khách hàng gửi đến đầu số sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Thông qua SMS Banking, khách hàng có thể truy vấn tài khoản, liệt kê giao dịch, chuyển tiền, nạp tiền điện thoại…

SMS banking khá phổ biến trong những thập niên 1990, 2000 nhưng hiện nay ít được sử dụng do khách hàng không muốn phải ghi nhớ những cú pháp nhắn tin phức tạp mỗi khi thực hiện giao dịch, loại hình này hiện nay chủ yếu được sử dụng ở những nơi chưa thể kết nối được Internet.

  • Dịch vụ thẻ, hệ thống ATM, CDM, máy POS

Khách hàng thanh toán tiền mua hàng bằng cách quẹt thẻ tại các điểm bán hàng có trang bị máy POS (Point Of Sale). Hiện nay, khách hàng còn có thể sử dụng thẻ ngân hàng để thanh toán mua hàng trực tuyến tại các Website thương mại điện tử có liên kết với ngân hàng như: Tiki, Lazada, Shopee, Sendo, Nguyenkim…Thông qua thẻ ngân hàng, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch tài chính tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc các máy rút tiền gửi tiền tự động (CDM) như: Vấn tin tài khoản, rút tiền, gửi tiền, chuyển khoản, thanh toán hóa đơn, in sao kê lịch sử giao dịch.

Việc khách hàng thực hiện giao dịch tại ATM, CDM, giúp ngân hàng giảm áp lực giao dịch tại quầy, tiết kiệm được thời gian, sức lao động để hướng đến nâng cao chất lượng phục vụ tại quầy nhiều hơn.

Hiện nay, các ngân hàng vẫn đang không ngừng đẩy mạnh việc phát triển dịch vụ thẻ về số lượng và chất lượng. Với nhiều ưu điểm, dịch vụ thẻ vẫn sẽ phát triển trong thời gian tới và có xu hướng chuyển từ thẻ vật lí sang thẻ phi vật lí để thuận tiện sử dụng với các tính năng ngày càng đa dạng hơn.

  • Điểm giao dịch tự động (Kiosk banking)

Là dịch vụ ngân hàng điện tử hướng đến việc phục vụ khách hàng với chất lượng cao nhất và thuận tiện nhất. Các trạm làm việc (Kiosk) sẽ được đặt trên các đường phố và được kết nối Internet với tốc độ, khách hàng thực hiện giao dịch chỉ cần truy cập tài khoản cá nhân và mật khẩu đã được ngân hàng cung cấp để sử dụng các dịch vụ ngân hàng.

Đây được đánh giá là hướng phát triển mà các ngân hàng cần nghiêm túc nghiên cứu và triển khai để hướng tới mục tiêu phục vụ khách hàng được tốt nhất. Tuy nhiên, tại Việt Nam loại hình này vẫn chưa được chú trọng triển khai và phát triển.

1.1.2. Vai trò của dịch vụ ngân hàng điện tử

1.1.2.1. Đối với ngân hàng

Thứ nhất, với việc số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ NHĐT và số lượng các giao dịch NHĐT ngày càng gia tăng giúp doanh thu của ngân trong lĩnh vực NHĐT không ngừng gia tăng. Dịch vụ NHĐT giúp gia tăng doanh thu, tiết kiệm chi phí cho ngân hàng. Dịch vụ NHĐT cũng giúp tiết kiệm chi phí nhân viên nhờ vào sự tự động hoá của hệ thống, giảm áp lực giao dịch tại quầy cho nhân viên, giúp tiết kiệm chi phí văn phòng, chi phí giấy tờ, chi phí lưu trữ giấy tờ, chi phí quản lý hệ thống kho quỹ…Giúp gia tăng dư nợ vay, gia tăng tiền gửi tiết kiệm.

Thứ hai, dịch vụ NHĐT giúp khẳng định vị thế và nâng cao sự hài lòng của khách hàng từ đó đạt được sự trung thành của khách hàng.

Thứ ba, Dịch vụ NHĐT giúp hiện đại và đa dạng hoá các kênh giao dịch, mở rộng mạng lưới và phạm vi giao dịch với khách hàng, tạo ra những phương tiện giao tiếp mới hiện đại giữa ngân hàng và khách hàng, bổ sung những kênh giao dịch truyền thống, thu hút nhiều khách hàng và mang đến cho khách hàng nhiều lựa chọn đáp ứng các nhu cầu ngày càng cao, đa dạng của khách hàng.

Thứ tư: Dịch vụ NHĐT giúp tăng cường khả năng tiếp thị trực tuyến (Onine Marketing), dựa trên dữ liệu về khách hàng sử dụng sản phẩm, phân tích thói quen sử dụng dịch vụ của khách hàng giúp ngân hàng thấu hiểu khách hàng hơn, hiểu các nhu cầu tiêu dùng khác nhau đối với các nhóm khách hàng khác nhau, từ đó ngân hàng có thể thiết kế các sản phẩm dịch vụ NHĐT, bán chéo các sản phẩm dịch vụ NHĐT hiệu quả hơn, đưa ra chương trình tiếp thị tiếp cận tối ưu đến từng nhóm khách hàng

Thứ năm, Dịch vụ NHĐT cho phép nhanh chóng thích ứng với sự thay đổi đột ngột của thị trường, kịp thời điều chỉnh lãi suất, phí, tỷ giá phù hợpvới diễn biến của thị trường, hạn chế rủi ro về biến động giá cả cho cả ngân hàng và khách hàng. …

1.1.2.2. Đối với khách hàng

– Dịch vụ NHĐT giúp KH tiết kiệm tối đa thời gian di chuyển, xếp hàng chờ đợi, làm thủ tục giấy tờ, lấp trống khe hở thời gian của nguồn tài chính nhàn rỗi, giúp nhanh chóng đạt được mục tiêu giao dịch và sử dụng dịch vụ (Yoon và Featge, 2013).

– Giúp tiết kiệm chi phí giao dịch. Hiện nay, hầu hét các NHTM đều áp dụng mức phí ưu đãi cho KH khi sử dụng DV NHĐT. KH được cung cấp chuyển tiền không mất phí, lãi suất tiền gửi cũng thường cao hơn tiền gửi tại quầy.

– Ba là, giúp đa dạng hoá kênh giao dịch và mở rộng sự lựa chọn NH giao dịch. KH cũng có nhiều sự lựa chọn kênh giao dịch như ATM/CDM, POS, Kioks Banking… giúp việc tiếp cận sản phẩm dịch vụ dễ dàng và thuận tiện hơn, đáp ứng theo nhu cầu của KH.

– Bốn là, giúp an toàn và bảo mật trong giao dịch. Việc sử dụng DV thông qua thiết bị công nghệ hiện đại giúp KH dễ dàng theo dõi các giao dịch qua tài khoản bất kỳ lúc nào, cũng như có thể nhận biết hoạt động gian lận hoặc mối de doạ cho tài khoản trước khi rúi ro xay ra.

– Năm là, giúp tǎng cường hiệu quả sử dụng vốn. Từ DV NHĐT KH có thể nhanh chóng thực hiện đầu tư, tiết kiệm, mua bán hàng hoá khi cơ hội đến, … Đồng thời mang lại lợi ích cao nhất, thuận tiện nhất, phí rẻ nhất giúp giảm đáng kể chi phí cơ hội.

– Sáu là, thúc đẩy khả năng tiếp cận DV cơ bản của NH. Nguyên nhân hạn chế khả năng KH tiếp cận sản phẩm DV NHĐT là do khoảng cách địa lý và mạng lưới giao dịch của NH, thiết kế sản phẩm, kênh cung ứng dịch vụ hạn chế,… Do đó DV NHĐT giúp phân khúc KH ở những nơi vùng xa xôi hẻo lánh, thu nhập thấp nhưng có nhu cầu thực hiện giao dịch tài chính giá trị nhỏ, đơn giản có cơ hội tiếp cận sản phẩm NH.

1.1.2.3. Đối với nền kinh tế

Ngân hàng – với vai trò là mạch máu của nền kinh tế quốc gia, do đó việc phát triển dịch vụ NHĐT tại các ngân hàng đóng góp vai trò rất lớn đối với nền kinh tế như: Gia tăng lưu thông tiền tề trong nền kinh tế, góp phần quan trọng trong mục tiêu thanh toán không dùng tiền mặt, giảm chi phí phát hành và lưu thông tiền tệ, giảm chi phí in ấn ghi sổ khi dùng tiền mặt, giảm chi phí nhân lực trong nền kinh tế, thúc đẩy sự phát triển thương mại đặc biệt là thương mại điện tử.

Việc phát triển các DV thanh toán điện tử giúp việc chuyển vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế tăng diễn ra nhanh hơn, an toàn, chính xác, qua đó thúc đẩy tốc độ lưu thông hàng hoá – tiền tệ trong nền kinh tế, mở rộng hợp tác kinh tế thương mại giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.Dịch vụ NHĐT góp phần thúc đẩy các hoat động thương mại, kinh tế, dịch vụ và du lịch phát triển. Dịch vụ NHĐT giúp hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm tra của Chính phủ, NHNN đối với các cơ quan tổ chức, các NH chặt chẽ hơn, nhanh chóng, kịp thời chấn chỉnh những sai phạm, vi phạm, giữ vững an toàn cho nền kinh tế.

Dịch vụ NHĐT giúp Chính Phủ kiểm soát nền kinh tế tốt hơn thông qua các thông tin từ các giao dịch NHĐT như: Kiểm soát việc lưu thông tiền tệ, hạn chế hoạt động rửa tiền, chuyển tiền phi pháp, chống tham nhũng, chống lạm phát…lựa chọn công cụ phù hợp để điều hành chính sách tài khoá hiệu quả đối với nền kinh tế. Từ số liệu của dịch vụ NHĐT, NHNN có thể kiểm soát được lượng tiền trong nền kinh tế, giúp NHNN chủ động lựa chọn các công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ một cách chủ động và hiệu quả cho nền kinh tế.

1.2. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ

Trên cơ sở các nghiên cứu trước, có thể khái quát các chỉ tiêu phát triển dịch vụ NHĐT thành hai nhóm chỉ tiêu như sau:

1.2.1. Nhóm chỉ tiêu định lượng

– Quy mô khách hàng sử dụng dịch vụ NHĐT: Đây là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá dịch vụ NHĐT của một ngân hàng đang được phát triển như thế nào. Việc tăng số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ NHĐT của ngân hàng cho thấy vị thế, hình ảnh thương hiệu của ngân hàng được khách hàng đánh giá cao, các sản phẩm dịch vụ NHĐT của ngân hàng đáp ứng được các nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của khách hàng.

– Thị phần dịch vụ NHĐT: Trong môi trường mà các ngân hàng đang cạnh tranh khốc liệt với nhau về lĩnh vực thanh toán điện tử như hiện nay, việc chiếm giữ và gia tăng thị phần là điều hết sức khó khăn nhưng vô cùng cấp thiết. Việc gia tăng số lượng khách hàng chưa đủ để khẳng định một ngân hàng đang phát triển tốt hơn các đối thủ cạnh tranh như là sự gia tăng của thị phần.

– Doanh thu và lợi nhuận từ dịch vụ NHĐT: Các ngân hàng hoạt động đều hướng tới mục tiêu là lợi nhuận. Do vậy, đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả của sự phát triển các dịch vụ ngân hàng nói chung và dịch vụ NHĐT nói riêng.

– Quy mô dịch vụ NHĐT: Quy mô tăng trưởng được thể hiện qua các chỉ số như: Số lượng các sản phẩm dịch vụ NHĐT, số lượng giao dịch NHĐT tăng, doanh số giao dịch điện tử, giá trị mỗi giao điện tử dịch tăng, số lượng thẻ phát hành tăng, hệ thống ATM, CDM, mạng lưới chấp nhận thanh toán POS được mở rộng. Cụ thể:

+ Số lượng các sản phẩm dịch vụ NHĐT tăng: Với việc công nghệ thông tin ngày càng phát triển đã làm phát sinh nhiều phương thức giao dịch điện tử mới, để thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và nhu cầu ngày càng cao, đa dạng của khách hàng, đòi hỏi các ngân hàng phải không ngừng cải tiến, nâng cấp và cho ra đời nhiều sản phẩm dịch vụ NHĐT. Việc số lượng sản phẩm dịch vụ NHĐT tăng nhanh, đa dạng cho thấy ngân hàng có tiềm lực tốt, nền tảng công nghệ tiên tiến và có tính cạnh tranh cao.

+ Số lượng giao dịch, doanh số giao dịch và giá trị mỗi giao dịch NHĐT tăng: Điều này chứng tỏ sản phẩm dịch vụ NHĐT của ngân hàng đang đáp ứng tốt các nhu cầu khác nhau của khách hàng, khách hàng tin tưởng sử dụng để giao dịch với tần suất cũng như giá trị ngày càng cao.

+ Tăng số lượng thẻ, hệ thống máy CDM, ATM, POS…: Tăng lượng thẻ phát hành đi đôi với mở rộng mạng lưới máy CDM, ATM, POS tạo điều kiện thuận lợi cho chủ thẻ trong việc sử dụng thẻ, từ đó thu hút được nhiều khách hàng sử dung dịch vụ thẻ, qua đó thu hút được khách hàng tiếp cận và sử dụng các sản phẩm dịch vụ NHĐT của ngân hàng.

1.2.2. Nhóm chỉ tiêu định tính

– Mức độ an toàn, bảo mật của dịch vụ NHĐT: Việc xây dựng hệ thống dịch vụ NHĐT có tính bảo mật cao, an toàn, được sự tư vấn, thiết kế giám sát từ các đối tác chuyên cung cấp dịch vụ bảo mật uy tín và có được sự công nhận của tổ chức uy tín về vấn đề bảo mật là điều hết sức quan trọng để phòng chống rủi ro và tạo dựng được lòng tin nơi khách hàng, tạo cho khách hàng sự thoải mái, yên tâm khi giao dịch với ngân hàng. Ngân hàng cần đặt vấn đề an toàn và bảo mật là ưu tiên hàng đầu để phát triển dịch vụ NHĐT.

– Chất lượng dịch vụ NHĐT: Chất lượng dịch vụ luôn được các ngân hàng quan tâm khi phục vụ khách hàng nhưng lại là vấn đề rất khó khăn trong việc đánh giá, các ngân hàng thường phải có những khảo sát nghiên cứu để có thể thấy được chất lượng sản phẩm của ngân hàng cung cấp đến khách hàng. Chất lượng dịch vụ NHĐT có thể sẽ được thể hiện qua một số chỉ tiêu như:

+ Giao dịch nhanh chóng, chính xác, hạn mức giao dịch cao.

+ Nhân viên ngân hàng tận tình hướng dẫn khách hàng đăng kí, sử dụng dịch vụ NHĐT, am hiểu sản phẩm, tư vấn đúng nội dung khách hàng yêu cầu.

+ Sản phẩm dịch vụ NHĐT cung cấp đúng với nội dung ngân hàng cam kết, thông tin khách hàng được bảo mật, an toàn.

– Sự đa dạng, đơn giản, tiện dụng của các sản phẩm dịch vụ NHĐT:

Sự đa dạng của sản phẩm dịch vụ rất quan trọng trong các chỉ tiêu đánh giá dịch vụ NHĐT, ngày nay công nghệ thông tin thay đổi rất nhanh, việc không ngừng cho ra đời các sản phẩm mới với nhiều tính năng và tiện ích khác nhau không chỉ để phù hợp với điều kiện đổi mới của công nghệ mà còn để phục vụ nhu cầu ngày càng cao, đa dạng và phong phú của khách hàng. Có số lượng sản phẩm dịch vụ NHĐT đa dạng, phong phú ngân hàng sẽ có lợi thế cạnh tranh rất lớn, giữ chân khách hàng và thu hút thêm được nhiều khách hàng mới.

Bên cạnh sự đa dạng và phong phú của sản phẩm dịch vụ NHĐT, khách hàng ngày càng quan tâm đến việc đơn giản và tiện dụng của sản phẩm NHĐT. Hiện nay, đa phần khách hàng đều yêu thích sản phẩm dịch vụ đơn giản, tiện dụng và nhanh gọn. Đáp ứng được yêu cầu đơn giản, tiện dụng của sản phẩm dịch vụ NHĐT giúp ngân hàng tiếp cận được thêm nhiều phân khúc khách hàng khác nhau, từ khách hàng lớn tuổi e ngại sử dụng công nghệ, hay các khách hàng bận rộn ít có thời gian khi cần giao dịch với ngân hàng…Sự đơn giản ở đây bắt đầu từ thủ tục đăng ký sử dụng dịch vụ, hướng dẫn sử dụng dễ dàng, dễ hiểu, ngắn gọn, cho đến giao diện sử dụng thân thiện, bắt mắt, dễ sử dụng, dịch vụ được cung cấp bất kể không thời gian khác nhau, cũng như các dịch vụ kèm theo như thu phí, giải đáp khó khăn, vướng mắc nhanh chóng, kịp thời.

– Mức độ hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ:

Các ngân hàng muốn phát triển tốt dịch vụ NHĐT phải đánh giá được mức độ hài lòng của khách hàng về sản phẩm dịch vụ và phải không ngừng tìm biện pháp gia tăng sự hài lòng của khách hàng. Để làm được điều đó, ngân hàng cần phải làm tốt công tác chăm sóc, phục vụ khách hàng trước, trong và sau khi cung cấp sản phẩm dịch, thường xuyên khảo sát đánh giá mức độ hài lòng và tìm cách cải thiện những đánh giá từ phía khách hàng.

1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NHĐT

1.3.1. Yếu tố bên trong ngân hàng

Năng lực tài chính: Ngân hàng cần có cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại, trang bị đầy đủ máy móc thiết bị, cơ sở vật chất, công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng để phục vụ cho phát triển NHĐT…tất cả các yếu tố trên đều yêu cầu ngân hàng phải đầu tư một nguồn vốn lớn, duy trì liên tục và mở rộng không ngừng theo sự phát triển của công nghệ thông tin…

Đội ngũ nhân viên: Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng, là gốc của mọi cải tiến và đổi mới (Nguyễn Văn Thụy, 2015). Như vậy, nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu để phát triển các sản phẩm dịch vụ NHĐT, để có được các sản phẩm dịch vụ NHĐT chất lượng, hiệu quả, đáp ứng tốt các yêu cầu của khách hàng, ngân hàng cần có đội ngũ nhân viên am hiểu tường tận các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, kết hợp với nguồn nhân lực công nghệ để đưa các dịch vụ ngân hàng tại quầy thành các sản phẩm dịch vụ NHĐT phục vụ khách hàng. Nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ giúp ngân hàng vận hành tốt hệ thống NHĐT, nhanh chóng ứng dụng các tiến bộ của CNTT vào sản phẩm dịch vụ NHĐT.

Công nghệ thông tin: Hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking System) đóng vai trò thúc đẩy các dịch vụ ngân hàng như Mobile Banking, E-banking cũng như việc sử dụng ATM (Lê Anh Tú, 2022). NHTM quan tâm đến đầu tư đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng cho KH (Nguyên Thanh Phong, 2010). Nǎng lực công nghệ không chỉ thể hiện ở trình độ công nghệ hiện tại của NH mà phải đi kèm với việc khai thác nǎng lực công nghê hiện đại (Lương Xuân Minh và Nguyễn Thị Thu Trang,2020).

Như vậy, ứng dụng công nghệ tiên tiến sẽ giúp ngân hàng phát triển dịch vụ NHĐT tốt hơn, đối với dịch vụ NHÐT thì lựa chọn công nghệ tiên tiến, dễ dàng nâng cấp, tích hợp thành quả công nghệ mới có vai trò đặc biệt to lớn bởi đây là yếu tố cốt lõi của dịch vụ NHĐT. Ngân hàng có nền tảng hạ tầng công nghệ thông tin tiên tiến, hiện đại sẽ có lợi thế lớn trong việc phát triển các sản phẩm dịch vụ NHĐT mới, giúp ngân hàng tạo ra các sản phẩm chất lượng, có độ an toàn bảo mật cao, tính năng đa dạng phong phú, đường truyền dịch vụ nhanh, chính xác

Công tác tổ chức, quản lý: Cơ cấu tổ chức của phản ánh cơ chế phân bổ nguồn lực, nó cho biết cơ chế phân bổ nguồn lực có phù hợp với trình độ quản lý, quy mô, với đặc trưng cạnh tranh của ngành và yêu cầu của thị trường hay không (Nguyễn Vǎn Thuỵ,2015). Bộ máy tổ chức tốt sẽ tối ưu hoá được nguồn lực của ngân hàng, giúp ngân hàng nhanh chóng thích nghi với những thay đổi của môi trường kinh doanh, gia tăng tính sáng tạo, năng lực cạnh tranh trên thị trường. Bên cạnh việc tổ chức, công tác quản lý cũng đóng vai trò hết sức quan trọng, công tác quản lý phù hợp, tiên tiến, hiện đại giúp ngân hàng phân bổ tốt các nguồn lực, kiểm soát chặt chẽ các rủi ro hệ thống và phi hệ thống, phân công, phân quyền rõ ràng giữa các bộ phận, tăng tính chuyên môn hoá giữa các bộ phận, giúp đẩy nhanh công việc, đơn giản, cải tiến quy trình làm việc, góp phần gia tăng hiệu quả trong việc phát triển dịch vụ.

Nǎng lực marketing:

Theo Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2009), cho rằng: “Khả năng marketing giúp doanh nghiêp đạt đuợc mục tiêu của mình. Năng lực marketing của doanh nghiệp càng cao sẽ làm tǎng nǎng lực sáng tạo của doanh nghiệp”. Ngày nay, việc chú trọng Marketing là một trong đã trở thành xu thế tất yếu để mang lại thành công trong kinh doanh cho các ngân hàng. Các phân khúc khách hàng đa dạng đòi hỏi các ngân hàng cần có chiến lược marketing tương ứng nhằm đem lại hiệu quả cao nhất để tăng tính cạnh tranh.

1.3.2. Yếu tố bên ngoài ngân hàng

Yếu tố bên ngoài NHTM gồm các nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô (mô hình PEST: Political-Thể chế, Chính trị, Luật pháp; Economics – Kinh tế; Sociocultural: Văn hóa-xã hội; Technological-Công nghệ). Đây là yếu tố khách quan ảnh hưởng đến tình hình hoạt động cũng như năng lực canh tranh cúa tất cǎ các ngành trong nền kinh tế. Các yếu tố này sẽ tác động lên các đối tượng của nền kinh tế từ đó tác động thu hẹp hoặc mở rộng mạng lưới hoạt động của NH, phát triên các dich vu, mở rộng thị phần do đó tạo nên những thách thức, khó khăn, hoặc thuận lợi, cơ hội để NHTM phát triên. Trong các yếu tố vĩ mô thì có hai yếu tố chính là (i) tình hình kinh tế trong và ngoài nước và (ii) hệ thống pháp luật, môi trường vǎn hóa, xã hội, chính trị. Trong đó tình hình kinh tế trong và ngoài nước bao gồm các yếu tố như: về nội lực của nền kinh tế trong một quốc gia (các chi tiêu nhu: GDP, dự trữ ngoại hối…); Độ ồn định của nên kinh tế vĩ mô (các chỉ tiêu đo lường như: lãi suất, cán cân thanh toán quốc tế, chi số lạm phát, tỷ giá hối đoái…); Độ mở của nền kinh tế(tình hình đầu tư trực tiếp, mức độ gia tăng các hoạt động xuất nhập khâu…);Tiềm năng tài chính hiệu quả của HÐKD các DN.

Tại Việt Nam, NH chỉ có thê cung cấp dich vụ NHÐT khi tính pháp lý được thừa nhận và có quy định bằng các văn bản của cơ quan có thẩm quyền. Do đó, môi trường pháp lý có tác động lớn đến việc phát triển của NHÐT, một môi trường pháp lý ổn định, hoàn thiện, khuyến khích các sản phẩm của NHĐT sẽ là điều kiện thuận lợi để đảm bảo các hoạt động NHĐT của NH duợc thông suốt và phát triển. Môi trường văn hóa, xã hội, chính trị và hệ thống pháp luật: đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NH. Hệ thống pháp luật tạo lập một hành lang an toàn, những cơ sở pháp lý cho hoạt động của NH, việc thay dôi trong chính sách tiền tệ, chuẩn mực quốc tế hoặc hệ thống pháp luật quốc gia sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của NH.

Các yếu tố vǎn hóa, xã hội, chính trị sẽ tác động dến tâp quán tiêu dùng của KH, lòng tin của KH, trình độ dân trí ảnh hưởng đến khả nǎng hiểu biết về dịch vụ ngân hàng của KH… Khi các ngân hàng nắm bắt các đặc điểm văn hóa, xã hội này có thể đưa ra được những định hướng đúng đắn trong phát triển sản phẩm, quảng bá hiệu quả các sản phẩm đến người dân và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Ngoài yếu tố môi trường vĩ mô còn có yếu tố môi trường ngành và ảnh hưởng của nó đến nǎng lực canh tranh của các NHTM. Mô hình năm áp lực cạnh tranh của M.Porter đã chỉ ra 5 yếu tố giúp ngân hàng nhận ra những cơ hội và thách thức,bao gồm:(1) Cường độ cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại trong ngành,(2) Nguy cơ nhập cuộc của các đối thủ tiềm năng; (3) Mối đe dọa từ các sản phẩm có khả nǎng thay thế;(4) Quyền lực thương lượng của người mua; (5) Quyền lực thương lượng của nhà cung ứng.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH BẮC ĐẮK LẮK

2.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH BẮC ĐẮK LẮK

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam – tiền thân của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt nam (Agribank) ngày nay, được thành lập theo Nghị định số 53/NĐ-HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Đây là dấu mốc quan trọng, đánh dấu một bước chuyển quan trọng của ngành ngân hàng, từ ngân hàng một cấp thành hai cấp. Đồng thời đánh dấu một sự kiện quan trọng đó là sự ra đời của một Ngân hàng thương mại đầu tư vào một lĩnh vực quan trọng của đất nước đó là khu vực nông nghiệp, nông thôn.

Chi nhánh Bắc Đắk Lắk chính thức đi vào hoạt động từ 01/01/2017, khác với Chi nhánh Đắk Lắk được thừa hưởng cơ cấu tổ chức, mạng lưới hoạt động sẵn có, Chi nhánh Bắc Đắk Lắk phải tổ chức lại từ đầu, kiện toàn lại bộ máy, mạng lưới hoạt động, ban hành cơ chế hoạt động. Tuy nhiên với truyền thống 35 năm của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cộng với sự đoàn kết, thống nhất của Ban lãnh đạo và hơn 340 cán bộ. Sau hơn một năm hoạt động, Chi nhánh Bắc Đắk Lắk đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, hạn chế nạn cho vay nặng lãi ở vùng sâu vùng xa.

Ngày 01/01/2017, thực hiện chủ trương của Ban Lãnh đạo Agribank, mạng lưới của Agribank trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk tiếp tục được điều chỉnh thành hai chi nhánh cấp I cùng trực thuộc Trụ sở chính là chi nhánh Đắk Lắk và chi nhánh Bắc Đắk Lắk. Trong đó, Agribank Bắc Đắk Lắk được giao trực tiếp quản lý:

– Toàn bộ mạng lưới hoạt động của chi nhánh Buôn Hồ cũ, bao gồm các đơn vị: chi nhánh Buôn Hồ, phòng giao dịch Thống Nhất ở thị xã Buôn Hồ; chi nhánh Pơng Drang ở huyện Krông Buk; chi nhánh Krông Năng, chi nhánh Ea Toh, phòng giao dịch Tân Phát, phòng giao dịch Phú Xuân ở huyện Krông Năng; chi nhánh Ea Ral, chi nhánh Ea Hleo, phòng giao dịch Dlieyang ở huyện Ea Hleo; chi nhánh Hòa Thuận, chi nhánh Tân Lập, phòng giao dịch Đạt Lý ở thành phố Buôn Ma Thuột.

– Và một số chi nhánh, phòng giao dịch do chi nhánh Đắk Lắk chuyển sang, bao gồm các đơn vị: chi nhánh Ea Sup ở huyện Ea Sup; chi nhánh Ea Kpam, chi nhánh Cư Mgar, phòng giao dịch Ea Pôk ở huyện Cư Mgar; chi nhánh Tân An, chi nhánh Nơ Trang Lơng, chi nhánh thành phố Buôn Ma Thuột và các phòng giao dịch Ban Mê, Tân Hòa, Đại Lộc ở thành phố Buôn ma Thuột.

Cũng từ ngày ấy, Agribank Bắc Đắk Lắk chính thức được thành lập và đi vào hoạt động cho đến nay. Ngay năm đầu thành lập, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng nhờ sự quyết tâm của toàn thể người lao động, Agribank Bắc Đắk Lắk đã hoàn thành tốt nhiệm vụ kinh doanh năm 2017 ngân hàng cấp trên giao, góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE CUONG DE AN 2024/ Phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *