PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
1.1. Sự phát triển của thương mại điện tử trên thế giới và ở Việt Nam
Bước sang thiên niên kỷthứba, thế giới đang chứng kiến một sự chuyển biến to lớn của nhân loại khi Internet bùngnổ vàtrởthành một trong những nền tảng quan trọng trong mọi hoạtđộng củaxã hội. Ngày nay, công nghệ thông tin đã và đang thâm nhập sâu,hỗ trợmạnh mẽ cho quá trình toàn cầu hoá. Trong lĩnh vực thương mại, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các giao dịch đã làm nảy sinh một phương thức kinh doanh mới,đólà thương mại điện tử. Tuy ra đời không lâu, nhưng sự phát triển của thương mại điện tử lại rất mạnh mẽ và tiềm năng của nó được các chuyên gia đánh giá là vô cùng to lớn.Sựphát triển và tiềm năng của thương mạiđiện tửđược thể hiện thông qua doanh thu thương mại điện tửbán lẻ (B2C: Business-to- Consumer). Theo eMarketer1, doanh thu thương mại điện tử bán lẻ trên thế giới năm 2021 dự kiến là 4,891 nghìn tỷ đô la Mỹ (USD) và đến năm 2024 con số này là 6,388 nghìn tỷ USD. Ngoài ra, tiềm năng phát triển thương mại điệntửcòn được thểhiện ở tốc độ tăng trưởng doanh thu thương mại điện tử bán lẻ và tỷ trọng giữa doanh thu thương mại điệntửbánlẻvới tổng giá trịthịtrường bán lẻ. Về tốcđộtăng trưởng, cũng theo eMarketer,từnăm 2021 đến năm 2024 tốc độ tăng trưởng doanh thu thương mại điện tửbán lẻ trên thế giới từ 8,1%/năm đến 10,9%/năm. Về tỷ trọng giữa doanh thu thương mại điện tử bán lẻ với tổng giá trị thị trường bán lẻ, năm 2021 dự kiến doanh thu thương mại điện tử bán lẻ chiếm 19,5% tổng giá trị thị trường bán lẻ trên thế giới thì đến năm 2024 dự kiến con số này là 21,8%2.
Sựphát triển và tiềm năng củathương mạiđiện tửởViệt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới. Theo Bộ Công thương, doanh thu thương mại điện tửbán lẻ ở Việt Nam năm 2016 là 5 tỷ USD thì đến năm 2020 đã là 11,8 tỷ USD. Bên cạnh đó,trong giai đoạn từnăm 2016 đến năm 2020, doanh thu thương mại điện tửbán lẻ ở Việt Nam cótốc độ tăngtrưởng từ18% đến 30% mỗi năm3.
1.2.Ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tưvà đạidịch Covid-19
1.2.1. Ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tưđã,đang và sẽ làm thay đổi mạnh mẽ các hoạt động kinh tế – xã hội,mởra cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với các nềnkinh tế.Nhiều nướctrên thếgiớiđã và đang xây dựng, thực hiện các chính sách khác nhau để chủ động khai thác lợi ích của các công nghệ mới, thúc đẩy phát triển kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh. Bên cạnh các lợi ích thì cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng đặt ra nhiều thách thức đối với nền kinh tế. Các thách thức cơbảncóthể kểđếnnhư: (1) Rủi ro lớn hơn về an toàn, an ninh thông tin do các hoạt động kinh tế – xã hội được thực hiện nhiều hơn trong môi trường số; (2) Thách thức trong xây dựng thể chế và pháp luật do sự xuất hiện các mối quan hệ kinh tế – xã hội mới trên nền tảng số, như: các loại tài sản mới, các mô hình kinh doanh mới, hoạt động kinh doanh xuyên biên giới.Sựkhông tương thích giữa thể chế, pháp luật và thực tiễn kinh tế cóthể tạora xung độthoặc cản trở sựphát triển; (3) Rủi ro tụt hậu xa hơn đối với các nước chậm thayđổi,không kịp thời tranh thủ các lợi ích của cuộc cách mạng công nghiệp này4.
Do ảnh hưởng sâu rộng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến toàn bộ đời sống kinh tế – xã hội nên Đảng ta đã có các quyết sách về vấn đề này: “Chủđộng,tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu tất yếu khách quan; là nhiệmvụ cóýnghĩa chiến lược đặcbiệt quan trọng, vừa cấpbách vừa lâu dàicủa cảhệthống chính trị và toàn xã hội,gắnchặt với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng; đồng thờinhận thức đầy đủ, đúng đắn vềnội hàm, bản chất của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tưđể quyết tâm đổi mới tưduy và hành động,coi đó là giải pháp đột phá với bước đi và lộ trình phù hợp là cơhội để ViệtNam bứt phá trong phát triển kinh tế – xã hội.5”
1.2.2. Ảnh hưởng của đại dịch Covid-19
Bên cạnh sự ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đại dịch Covid-19 diễn ra phức tạp trên phạm vi toàn cầu càng khẳngđịnh được lợi thếto lớn của thương mại điện tử so với thương mại truyền thống trong bối cảnh hiện nay.
Đại dịch Covid-19 vẫnđang diễn biến phức tạp và khólườngtrên phạm vi toàn cầu theo cách thức chưa có tiềnlệ mà thếgiới chưa có nhiều kinh nghiệm đểđối phó. Đại dịch Covid-19 không chỉ là một cuộc khủng hoảng về y tế mà còn có tácđộng đến mọi mặt củađời sống kinh tế – xã hội trên phạm vi toàn cầu. Theo Báo cáo Kinh tế thế giới của Liên hợp quốc, nền kinh tế toàn cầu năm 2020 suy giảm tới 4,3%, cao gấp hơn hai lần so với mức suy giảm được ghi nhận trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 20096.
Ở Việt Nam, trongbốicảnh dịch Covid-19 bùng phát và diễn biến khó lường làm cho tăng trưởng ở hầu hết các ngành, lĩnh vực chậm lại. Sựđứt,gãy các chuỗi cung ứng đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh tếở ViệtNam. Theo Tổng
cục Thống kê– BộKế hoạch và Đầu tư, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2021 của Việt Nam tăng 2,58%7, đây là mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2011-2021.
Đối với thươngmại điệntử, đạidịch Covid-19 lại dường như là cơ hội, là chất xúc tác nhằm thúc đẩy thương mại điện tử phát triển nhanh và mạnh hơn trước. Có thể coi, thương mạiđiện tửlà một trong những “điểm sáng” trong bức tranh nền kinh tế. Mặc dù chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19 nhưng thương mại điện tửở Việt Nam
vẫn tăng trưởng khoảng 18% trong mùa dịch8. Theo Hiệp hội Thương mại điện tửViệt Nam9, từ khi dịch Covid-19 xuất hiện ở Việt Nam cho đến nay thương mạiđiện tửở Việt Namđãdiễn ra hai làn sóng: (1) Làn sóng thứ nhất diễn ra trong giaiđoạn bùng phát đầu tiên của dịch Covid-19 từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2020; (2) Làn sóng thứhai diễn ra trong giai đoạn bùng phát thứ tưtừtháng 6 đến tháng 9 năm 2021. Những đặc điểm nổi bật của cả hai làn sóng là trong bối cảnh toàn bộ hoạt động kinh
tế – xã hộibịtrìtrệnhưng nhữngngườibán hàngđãnỗlựcchuyển đổisốđểnắm bắt cơ hội kinh doanh và người tiêu dùng trực tuyến tăng mạnh cả về số lượng và chất lượng:
– Đối với người tiêu dùng: Giãn cách xã hội do đại dịch Covid-19 đã thay đổi những thói quen lâu năm, khiến ngay cả những người lớn tuổi và những người tiêu dùng vốn chỉ trung thành với cách mua hàng truyền thống cũng cânnhắc vềviệc mua hàng trực tuyến. Trongmột sốtrường hợp, mua hàng trực tuyến là cách duy nhất đểngười tiêu dùng có đượchàng hóa màhọcầntrong bốicảnh giãn cách xãhộimột cách an toàn, thuận tiện và nhanh chóng. Điều này đã làm cho số lượng người tiêu dùng trực tuyến tăng mạnh, số lượng hàng hóa được mua trực tuyến nhiều hơn,kỹ năng mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng cũng tốt hơn và việc mua hàng trực tuyến đã trởthành thói quen của nhiều ngườitiêu dùng. Đáng chú ý, nhóm những người tuổi cao, những người hạn chế về kỹ năng và kiến thức công nghệ thông tin nhưng đã khá chủ động học các kỹ năng mua sắm trực tuyến. Người tiêu dùng nói chung cũng tin tưởng hơn vào thương mại điệntửvà duy trì thói quen mua hàng trực tuyến. Không chỉ mua hàng trực tuyến, người tiêu dùng cũng đã có thói quen tận dụng mạng xã hội và các công cụ tìm kiếm trên Internet để so sánh hàng hóa trước khi mua. Với các lợi ích do thương mại điện tử mang lại, cùng với thói quen mua hàng trực

tuyến sẽ thúc đẩy người tiêu dùng tiếp tục sử dụng thương mại điện tửkểcả khi dịch bệnh đã đi qua.
– Đối với những người bán hàng: Các thương nhân, bao gồm cả thương nhân áp dụng thương mại điệntửvà thương nhân cung cấpcác dịch vụliên quan đến thương mại điện tửđã chủ động,tích cực trong chuyển đổi số. Công tác chuyển đổi
số củathương nhân đãđược thúc đẩyở cảhai phương diện: (1) Phương diệnthứnhất, thương nhân đã tích cực sử dụng các kênh trực tuyến để tương tác với khách hàng vàbán sản phẩm; (2) Phương diện thứ hai, thương nhân đẩy mạnhchuyển đổi sốtrong các hoạt độngnội bộcủa mình như thay đổibộ máy tổchức,đàotạonhân lực… cho phù hợp với thương mại điện tử. Không chỉ các thương nhânđã cóhoạt động kinh doanh liên quan đến thương mạiđiện tửmà các thương nhân trước đây chưa từng áp dụng thương mại điện tửtrong hoạt độngkinh doanh cũng đã có sựquan tâm đến thương mại điện tử thông qua việc bắt đầu áp dụng hình thức bán hàng trực tuyến. Thậm chí, trong giai đoạndịch Covid-19 nhiều nông dânđã tiến hành bán các sản phẩm của mình thông qua thương mại điện tử, chẳng hạn có những nông dân đã tiến hành giới thiệu hàng hóa trực tuyến (livestream) để bán sản phầm. Không chỉ đơn giản là giới hiệu và bán hàng trực tuyến, nhiều đơn vị bán nông sản thông qua thương mại điện tửđã áp dụng công nghệ blockchain để giúp người tiêu dùng truy xuất nguồn gốc của sản phẩm nhằm nâng cao niềm tin của người tiêu dùng10.
Vai trò của thương mại điện tử trong tương lai càng được khẳng định khi đại dịch Covid-19 không phải là một hiện tượng đơn lẻ, cá biệt. Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng,tỷ lệthế giới xuấthiện đạidịch tươngtựCovid-19 là khoảng 40% và có thể tăng đáng kể vào những năm tới11.
Từcác vấnđề đãđược phân tích ở trên, có thể khẳng định thương mạiđiệntửsẽ có sựphát triển bền vững và có vị trí ngày càng quan trọng trong tương lai.
1.3. Tình hình nghiên cứu của đề tài
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án
Căn cứ đề tài của luận án, luận án có các đối tượng nghiên cứu sau:
– Các vấn đề lý luận về thương mạiđiện tửvà pháp luật thương mại điện tử. – Các văn bản pháp luật của Việt Nam về thương mại điện tử.
12 http://baochinhphu.vn/Kinh-te/Ban-giai-phap-thuc-day-phat-trien-kinh-te-so-tai-Viet-Nam/4467 3 8.vgp, truy cập ngày 25/09/2021.
13 Bộ Thông tin và Truyền thông (2020), Báo cáo Tổng kết tình hình thực hiện luật Giao dịch điện tử, trang 38.
– Các văn bảnpháp luật quốc tếvà văn bản pháp luật của mộtsố nướcvề thương mại điện tử.
– Thực tiễn áp dụng pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam. 2.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án
– Về nội dung: Pháp luật thương mạiđiện tửlà một lĩnh vực pháp lý xuất hiện ở Việt Nam chưa lâu, vì vậy sẽ có rất nhiều vấnđề cả về lý luậnvà thực tiễn cần luận giải. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của luận án này chỉ tập trung vào những vấn đềlý luận về thương mại điệntửvà pháp luật thương mại điện tử; nội dung cơbảncủa pháp luật thương mại điệntửởViệt Nam; thông qua đóphân tích những điểmbất cập,hạn chếvà chưa phù hợp với thực tiễn, với pháp luật quốc tế nhằm xác địnhđược yêu cầu và xây dựng được các giải pháp hoàn thiện pháp luật thương mại điện tửởViệt Nam. Do pháp luật thươngmại điện tửcó nhiều nội dung phức tạp và có nhiều nội dung liên quan đến pháp luật thuộc các lĩnh vực chuyên sâu khác nên trong phần nội dung cơbảncủa pháp luật thương mạiđiện tửở ViệtNam, luận ánchỉtập trung vào các vấnđềgắnliền với các đặc trưng của thương mại điện tử như: (1) Pháp luật về thông điệp dữliệu; (2) Pháp luật về chữký điện tử; (3) Pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử; (4) Pháp luật về thanh toán trong thương mại điện tử; (5) Pháp luật về bảo vệquyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử; (6) Phápluật vềbảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử.
–Về không gian và thời gian: Luận án nghiên cứu pháp luật về thương mại điện tửtheo quy địnhcủapháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt làtừkhi Luật Giao dịch điện tử năm 2005 được ban hành cho đến nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là dựa trên quan điểm, đường lối củaĐảng Cộng sản Việt Nam và chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay để làm sáng tỏ các vấn đề mang tính lý luận và thực trạng pháp luật thươngmại điện tửở Việt Nam, trên cơ sở đó xácđịnh yêu cầu và xây dựng các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật thương mạiđiện tửở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Với mục đích nhưđã nêuở trên, luận án cầngiải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
– Xác định và phân tíchcác vấn đềlý luận về thương mại điện tử.
– Phân tích và đánh giá nhữngnộidung cơbảncủa pháp luật thương mại điện tửở Việt Nam.
– Nghiên cứu các quyđịnh vềpháp luật thương mại điệntửcủaỦy ban Liên hợp quốc vềthương mại quốc tế (Uncitral) và của một số nước trên thếgiới để rútra nhưng kinh nghiệm có thể vận dụng vào việc hoàn thiện pháp luật thương mạiđiện tửở Việt Nam giai đoạn hiện nay.
– Xác định các yêu cầu và xây dựng các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật thương mại điệntửở ViệtNam trong giai đoạn hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để làm sángtỏđốitượng và phạm vi nghiên cứu nhưđãnêu ở trên, luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin để luận giải các nguyên nhân,điều kiện rađờivà phát triểncủapháp luật thương mại điệntửởViệt Nam.Đồng thời, luận án dựa trên quan điểm,đường lối của Đảng Cộng sản ViệtNam và chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước vềphát triển nền kinh tếthị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay để xác định yêu cầu và xây dựng các kiến nghịnhằm hoàn thiện pháp luật thương mại điệntửở Việt Nam hiện nay.
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, luậnán sửdụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu luật học khác nhau như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợpđể làm sáng tỏcác vấnđề lý luận về thương mại điện tử,pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam; phương pháp thống kê các số liệu nhằm chứng minh và lập luận cho các nhận xét, đánh giá và kết luận khoa học của luận án. Bên cạnh các phương pháp nghiên cứu như đã nêu ở trên, luận án còn sử dụng phương pháp so sánh luật học để phân tích, so sánh và đối chiếu các quy định của pháp luật thương mại điện tửởViệt Nam với các quy định của pháp luật thương mại điện tửcủa Uncitral và mộtsốnước trênthếgiới nhằm tìm ra những điểm tươngđồng,những
điểmkhác biệt và đặc biệt là chỉ ra những bất cậpcủa pháp luật thươngmạiđiện tửở Việt Nam.
5. Câu hỏi nghiên cứu, cơ sở lý thuyết nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
5.1. Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài luận án“Pháp luật về thương mại điệntửở ViệtNam” đặt racâu hỏi nghiên cứu: “Pháp luật cầnđưa ra những quy định nàođể nhận diện hoạt động thương mại điện tử nhằm bảo đảm mục tiêu quản lý nhà nước và phát triển thương mại điện tửở Việt Nam?”
Nội dung luận án cần trả lời các câu hỏi cụ thể sau:
–Thứnhất, thươngmại điệntửcó cácđặcđiểm gìkhác biệt so với thương mại truyền thống? Có phải xuất phát từ những điểm khác biệt đó mà hoạt động thương mại điện tửcần được điều chỉnhbằng pháp luật đặc thù?
–Thứhai, pháp luật hiện hành ở Việt Nam đã có những quy định điều chỉnh về thương mại điện tửnhư thế nào?
–Thứba, làm thế nào để các quy định về thương mại điện tử ở Việt Nam bảođảm mục tiêu quản lý nhànước,hài hòa lợi ích của các chủthểđể thúcđẩysựphát triển của thương mại điện tửở hiệntạivà tương lai?
5.2. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu
Tác giả đã xácđịnh cơsởlý thuyết nghiên cứu để triển khai thực hiện luận án:
Thứnhất, về hướng tiếp cận nghiên cứu của luận án: Luận án được tiếp cận theo hướng coi thương mại điệntửcó bản chất của thương mại truyền thống nhưng được thực hiện thông qua các phươngtiện điện tửcó kết nối Internet, do đó các bên chủthể có quyền thỏa thuậnvớinhau và pháp luật chỉ can thiệp khi cầnbảovệ lợi ích công cộng.
Thứhai, về các lý thuyết nghiên cứu được áp dụng để triển khai luận án:
– Lý thuyết về quyền tự do kinh doanh. – Lý thuyết về quyền tựđịnhđoạt.
– Lý thuyết về hợp đồng.
5.3. Giả thuyết nghiên cứu
Luận án được thực hiện dựa trên các giả thuyết nghiên cứu sau:
– Thương mại điện tử có bản chất của thương mại truyền thống nhưng được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử có kết nối Internet.
– Thương mại điện tửcó các đặc trưng khác biệt so với thương mại truyền thống nên cần có các quy định của pháp luật mang tính đặc thù.
– Những quy định của pháp luật hiện hành ở Việt Nam về thương mại điện tửcòn có nhiều bất cập.
– Những kiến nghị hoàn thiện pháp luậtvềthương mại điệntửđượcđềxuất chủ yếu theo hướng bổ sung các quy định trong hệ thống pháp luật vềthương mại điện tử.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận án
Luận án đã đạt được các kết quả nghiên cứu mới sau:
– Luận án đã đánh giá một cách khách quan, toàn diện và có hệ thống các vấn đề lýluận vềthươngmại điệntử. Luậnán đãphân tích những điểm tươngđồng vànhững điểm khác biệt giữa thương mại điệntửvà thương mại truyền thống để làm cơsởkhoahọccho việc phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật thương mạiđiện tửở Việt Nam.
– Luận án đã phân tích, đánh giá ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp
lần thứtư và đại dịch Covid-19 đến thương mại điện tửđể làm cơsởkhoa học cho việc hoàn thiện pháp luật thương mại điệntửở Việt Nam.
– Luận án đã phân tích, đánh giá bản chất pháp lý của thươngmại điện tửvàphân tích nội dung cơ bản của pháp luật thương mại điện tửđể làm cơsởkhoa học cho việc hoàn thiện pháp luật thương mạiđiện tửở Việt Nam.
– Luận án đã phân tích, đánh giá pháp luậtvề thương mại điện tửcủaUncitral và pháp luật về thương mại điện tửcủa một sốnước trên thế giới để làm cơsởthực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam.
– Luận án đã phân tích và đánh giá các hạnchếtrong các nội dung cơ bản của thương mại điện tửnhư: thông điệp dữliệu; chữký điện tử,chữký số;hợp đồng
thương mại điện tử; thanh toán trong thương mại điện tử; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điệntửvàbảo vệngười tiêu dùng trong thương mạiđiện tửđểlàm cơsởthực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam.
– Luận án đã xác định được định hướng, yêu cầu khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam. Luận án đã xây dựng và phân tích được các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận án
Kết cấu của luận án được xây dựng phù hợp với mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Ngoài Phầnmởđầu,Phần tổng quanvề vấnđềnghiên cứu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu gồm ba chương:
– Chương 1: Những vấn đềlý luậnvề thương mạiđiện tửvà pháp luật thương mại điện tử
– Chương 2: Thực trạng pháp luật thươngmại điện tửở Việt Nam
– Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thương mạiđiện tửở Việt Nam
PHẦN TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trong khi giới nghiên cứu khoa học pháp lýởViệt Nammớichỉtậptrung nghiên cứu về pháp luật thương mại điện tử trong giai đoạn gần đây thì ở nước ngoài có nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật thương mại điệntửtrong thời gian khá dài. Điều này xuất phát từ thực trạng phát triển của thương mạiđiện tửcũng nhưđiều kiện để thương mại điện tử phát triển trên thế giới. Trong các công trình nghiên cứu pháp luật về thương mại điện tử ở nước ngoài, cần kể đến các công trình nghiên cứu sau:
– E-Commerce and International Political Economics: The Legal and Political Ramifications of the Internet on World Economies (Tạm dịch: Thương mại điện tử vàKinh tế chính trị quốc tế: Sự thay đổi về pháp lý và chính trị của Internet đối với các nền kinh tế thế giới), bài báo của tác giả Chelsea P. Ferrette đăng trong ILSA Journal of International & Comparative Law – Vol.7 năm 2000. Trong bài viết của mình, tác giả đã đề cập đếncác vấn đềsau:
+ Thương mại điện tử trên thị trường quốc tế:sựphát triển của Internet; thương mại điện tử- Internet là côngcụđểtiến hành giao dịch kinh doanh; Phát triển thương mại điện tử quốc tế.
+ Vấn đề pháp lý và giải pháp cho thươngmại điện tửquốctế: bảovệ thông tin của người tiêu dùng quốc tế; vấn đề pháp lý cho thương mại điện tử quốc tế; niềm tin của người tiêu dùng đối với thương mạiđiện tửquốc tế.
+ Vấn đề chính trị và thương mại điện tử: vấn đề chính trị liên quan đến thương mại điện tử; tác động quốc tế của khoảng cách số hóa; cách tiếp cận quốc tế với khoảng cách số hóa.
– Economic and Other Barriers to Electronic Commerce (Tạm dịch: Các rào cản kinh tế và các rào cản khác đối với thương mại điện tử), bài báo của Henry H. Perritt, JR năm 2000, Content downloaded/printed from HeinOnline
+ Đặc điểm kinh tế của thị trường mới: nền kinh tế lạc hậu là ràocản đểhội nhập; tiêu chuẩn kỹ thuật là rào cảncủathương mại điện tử; Internet tạo ra những đột phá trong các giao dịch thươngmại điệntử; sựphổ biến của máy tính và Internet đã làm thay đổi hoạt động quản trị đối với doanh nghiệp.
+ Chi phí giao dịchảnhhưởng đến thịtrường thương mại điệntửtoàn cầu: niềm tin (thị trường phát triển dựa trên niềm tin cá nhân nên để phát triển thương mại điện tửcần có cơchế đểbảo vệ người tiêu dùng); pháp luật bị giới hạn trong khu vực địa lý (pháp luật của mỗi quốc gia chỉ có giá trị trong lãnh thổ của quốc gia đó nên vấn đề pháp lý của thương mại điện tử cần có pháp luật quốc tế); Internet thách thức vấn đề chủ quyền (tính phi biên giới của thương mại điện tử thông qua Internet đãgây ra những khó khăn cho việc quản lý dựa trên quan niệm về chủ quyền).
– The Uniform Electronic Transactions Act in a Global Environment (Tạm dịch: Luật chungvềgiao dịchđiệntửtrong môi trường toàn cầu), bài báo của tácgiảAmelia H. Boss năm 2001, Content downloaded/printed from HeinOnline (http://heinonline.org) Mon Jul 25 04:36:37 2016. Trong bài báo của mình, tácgiả đãđề cập đến các vấnđề sau:
+ Luật giao dịch điện tử chung trong khuôn khổ toàn cầu: nguồn quốc tế của luật giao dịch điện tử chung; ảnh hưởng của luật mẫu quốc tế.
+ So sánh giữa luật giao dịch điện tử chung và luật mẫu: nguyên tắc chung; phạm vi; thuật ngữ; yêu cầu pháp lý; các quy định miễn trừ; các quy định mới của luật giao dịch điện tử chung.
– E-Commerce and International Arbitration (Tạm dịch: Thương mại điện tửvà Trọng tài quốc tế), của tácgiảCian Ferriter đăng trên University College Dublin Law Review – Vol.1 năm 2001. Trong công trình nghiên cứu củamình, tác giảđã đề cập đến cácvấn đề:
+ Khung pháp luật cho thương mại điện tử: nhiều quốc gia đã ban hành các văn bản pháp luật nhằm hình thành khung pháp luật cho thương mại điện tử. Các văn
bản pháp luật của các quốc gia được căn cứ trên luật mẫu về thương mại điện tử của Liên hợp quốc (Uncitral). Khung pháp luật cho thương mại điện tử đã tạo ra cơsởpháp lý cho các giao dịch thương mại điện tử.
+ Các vấnđề vềtranh chấp trong thương mạiđiện tử: thẩmquyền (tranh chấp thương mại điệntửquốc tếđòihỏi phải có một tòa án xuyên quốc gia giải quyết); luật áp dụng (để các địnhđược luật áp dụng là vấn đề khó khăn trong thương mại điên tử); vấn đề trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại điện tử.
– Consumer Protection or Veiled Protectionism? An Overview of Recent Challenges to State Restrictions on E-Commerce (Tạm dịch:Bảovệngười tiêu dùng hay chủ nghĩa bảo hộ? Tổng quan về những thách thức gần đây đối với các hạn chếcủa nhà nước đối với thương mại điện tử), của tác giả David H. Smith đăng trên Loyola Consumer Law Review – Vol.15 năm 2003. Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã trình bày các nội dung sau:
+ Mặc dù thương mại điện tử cósựphát triển mạnh mẽ nhưng để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng thì một số lĩnh vực kinh doanh không phù hợp với thương mại điện tử: thay kính áp tròng; dịch vụ tang lễ; đấu giá; kinh doanh rượu …
+ Phân tích những thách thức của việc nhà nước cấm bán rượu trực tuyến: tác giả phân tích các trường hợpởbang Indiana (Bridenbaugh và Freeman-Wilson); Virginia (Bolick và Roberts); Texas (Dickerson và Bailey) …
– E-Commerce: Straining to fit in (Tạm dịch: Thương mại điện tử: Hạn chế đểphù hợp), bài báo của các tác giả Ephyro Amatong, Theresa Ballelos, Rodolfo Ponferrad, Oliver Reyes đăng trên Philippine Law Journal – Vol.78 năm 2003. Trong bài báo của mình, các tác giả đãđề cập đếncácvấn đề:
+ Thương mại điện tử và Philippines: khái niệm thương mại điện tử; các môhình thương mại điện tử và phân tích thương mại điện tử ở Philippines (bên cạnh lợi thế là ởPhilippines có nhiều người biết tiếng anh thì cũng có hạn chế là chi phí truy cập Internet cao…).
+ Khái quát về luật thương mại điện tử: đối tượng và lĩnh vực áp dụng; khái quát lịch sử của luật thương mại điện tử và luật mẫu của Uncitral; trọng tâm của luật
thương mại điện tửlà dữliệu điện tử và tài liệu điện tử; pháp luật thừa nhận giá trịpháp lý của các thông tinđược lưu trữdưới dạng điện tử.
+ Luật thương mạiđiệntửcóảnh hưởngto lớn đến pháp luật của Philippines: ảnh hưởng đến luật hợp đồng (thông tin của hợp đồng,chữký của hợp đồng, chứng thực chữ ký …) và quy định của pháp luật về chứng cứ.
– Le guide juridique du commerçant électronicque (Tạm dịch:Hướng dẫnpháp lý cho thươngmại điệntử), sách của các tác giả Pierre Paul-Lemyre, Sofian Azzabi, Aletia Rowssos (Biên dịch: Nguyễn Cảnh Chắt), Viện Công nghệ Thông tin và Đào tạo – Cơ quan liên chính phủ Phápngữnăm 2003. Trong cuốn sách này, các tác giảđã đề cập đến cácnội dung sau:
+ Giới thiệu về công nghệ thông tin: những nhân tố cấu thành Internet; Web; các công nghệ bổ sung (thư điện tử; nhóm tin; mã hóa; tường lửa…).
+ Lập website thương mại: tên miền (lựa chọn và quản lý tên miền…); cácvụ tranh chấp tên miền; cách giải quyết tranh chấp tên miền không qua xétxửmang tính pháp lý theo ICANN; những vấn đề liên quan đến an ninh.
+ Khai thác website thương mại: tạo hợp đồng trên mạng; các mối quan hệ vớiđối tác trong thươngmại điệntử; bảovệngười tiêu dùng trong thương mại điện tử; quảng cáo trên mạng; thanh toán trên mạng; bảo vệ thông tin cá nhân; giải quyết tranh chấp …
– Electronic Commerce and Civil Jurisdiction, with Special Reference to Consumer Contracts (Tạm dịch: Thươngmại điện tửvà quyền tài phán dânsự,cótham chiếu đặc biệt đến hợp đồng người tiêu dùng), bài báo của tác giả Christian Schulze năm 2006, Content downloaded/printed from HeinOnline (http://heinonline.org) Fri Jul 8 05:14:23 2016. Trong bài báo của mình, tác giảđã đềcập đến các vấn đềsau:
+ Đặc trưng của thươngmại điệntử: thương mại điện tử làhoạt độngthương mại thực hiện bằng máy tính có kết nối mạng viễn thông; không có biên giới; thương mại điện tửcó nhiều hình thức kinh doanh khác nhau.
+ Hợp đồng trên Internet: trước đây khi giao kết hợp đồng,các đối tác phải trực tiếp gặp mặt để thỏa thuận nhưng ngày nay, hợp đồng có thể được giao kết thông qua điện thoại, fax. Trong thươngmạiđiện tử,các bên có thể kýkếthợpđồngmà không cần chạm vào bút, những hợp đồng này gọi là hợp đồng trực tuyến.
– E-confidence: Offer and acceptance in online contracting (Tạm dịch: Niềm tin điện tử: Đề nghị và chấp nhận trong hợp đồng trực tuyến), của tác giả Faye Fangfei Wang đăng trên International Review of Law Computers & Technology Routledge Vol. 22, No. 3, November 2008. Trong bài báo của mình, tácgiảđãđềcậpđến các vấn đề sau:
+ Pháp luật về đề nghị và chấp nhận đề nghị trong hợp đồng điện tử: sự phát triển của luật pháp quốc tế; xu hướng luật pháp trong hợp đồng điệntử của EU; pháp luật về hợp đồng điện tử của Mỹ; khung pháp luật về hợp đồngđiện tử củaTrung Quốc.
+ Áp dụng nguyên tắc của bưu chính cho hợp đồng điện tử: tòa án của Anh đã chấp nhận lấy nguyên tắc của bưu chính cho hợp đồng điện tử; dịch vụ bưu chính vàtruyền thông điện tử.
– Intellectual Property Issues in E-Commerce (Tạm dịch: Các vấn đề vềsởhữu trí tuệ trong thương mạiđiệntử), của các tác giả Herbert J. Hammond, Justin S. Cohen đăng trên Texas Wesleyan Law Review – Vol.18 năm 2012. Trong bài báo của mình, các tác giảđã đề cậpđến các vấn đề:
+ Vi phạm bằng sáng chế: các công ty thươngmại điện tửphải hiểu hành vi vi phạm bằng sáng chế bởi vì ngày càng nhiều công ty thương mại điện tử làmục tiêu của các vụ kiện về bằng sáng chế và chi phí cho một vụ kiện vềbằng sáng chế rất cao.
+ Thương hiệu: Bên cạnh việc vi phạm bằng sáng chế thì các công ty thương mại điện tửcònđối mặtvới vấnđềthương hiệu;bảovệ thương hiệu của doanh nghiệp mình bằng cách đăng ký với cơ quan có thẩm quyền; tranh chấpvềtên miền; hàng giả, hàng nhái là vấn đề nghiêm trọng đốivới chủ sởhữu thương hiệu.
+ Bản quyền: vấn đề vi phạm bản quyền cũng cần được các công ty thương mại điện tửquan tâm. Internet cũng làm gia tăng đáng kể các vi phạm bản quyền. Vídụ: đăng tài liệu trên website màkhông được sự đồng ý của chủ sởhữu.
– Rules of Engagement in the Conflict Between Businesses and Consumers in Online Contracts (Tạm dịch: Quy tắc tham gia vào xung đột giữa doanh nghiệp vàngười tiêu dùng trong hợp đồng trực tuyến), bài báo của tác giả Aaron E. Ghiraradelli năm 2015, Content downloaded/printed from HeinOnline (http://heinonline.org) Mon Jul 25 03:38:19 2016. Trong bài báo củamình, tác giả đã đề cập đến cácnội dung:
+ Nguồn gốc của các xung đột: Sự chấp nhận hợp đồng (người bán đưa ra cácđiều khoản cho tất cả người mua, điều này làm cho người bán giảm chi phí trong hoạtđộng kinh doanh nhưng đồng thời nói làm hạn chế sựthỏa thuận của người mua); giới thiệu hợp đồng Shrink-Wrap và Browse-Wrap. Tuy nhiên, một số điều khoản trong hợp đồng trực tuyến cần thay đổiđể bảo vệ người tiêu dùng ví dụnhư các thông tin về hàng hóa/dịch vụ cần đầy đủ hơn hoặc hướng dẫn người tiêu dùng sửdụng sản phẩm…
+ Bản chất của xung đột: thông báo đầy đủ về nội dung của các điều khoản trong hợp đồng trực tuyến; điều khoản không rõ ràng (trong các hợp đồng trực tuyến, nhiều khi người mua phải chấp nhận chịu ràng buộc bởi các điều khoản mà mình không có cơhộiđểđọc); điềukhoản không liên quan đếnnộidung của hợp đồng; áp
lực xã hội (trong các hợp đồng trực tuyến, người mua thường phải chịu áp lực ký hợp đồng trong một khoảng thời gian ngắn).
– E-Commerce, Virtual Contracts and Consumers Protection Legal Issuel (Tạm dịch: Thương mại điệntử,hợp đồngảovà vấnđềpháp lýbảovệ ngườitiêu dùng), của tác giả Emilio Tosi năm 2015, Content downloaded/printed from HeinOnline (http://heinonline.org) Wed Jul 13 00:02:58 2016. Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã trình bày các nội dung sau:
+ Internet, không gian ảo và các quy định: cùng với sự phát triển của Internet thì các thịtrường ảocũng đượcphát triển. Trên thị trườngảo này,ngườimua và
người bán trao đổi các hàng hóa hữu hình hoặc hàng hóa vô hình. Chính vì vậy, để điều chỉnh hoạt động của thị trường này cần có các văn bản luật cóliên quan đến công nghệ.
+ Thương mại điện tử và doanh nghiệp kỹ thuật số ở Italy: hàng hóa được mua bán trên Internetđãcó sựthay đổi, nếu nhưtrước đâylà các hàng hóa hữu hình (quần áo, máy tính, điện thoại…) thì những năm gần đây đã chuyển sang các hàng hóa vôhình (âm nhạc, phim ảnh, phần mềm…). Thương mại điện tử ở Italy (nếu bỏ qua hiện tượng vi phạm bản quyền kỹ thuật số) doanh thu trong năm 2014 là 13 tỷ euros vàđang phát triển vững chắc.
+ Thương mại hóa Internet và hợp đồng ảo: Hoạt động thương mại trên Internet đã trở nên phổ biến trên phạm vi toàn cầu. Hiện nay hoạt động thương mại được thực hiện thông qua các thiết bị di động như điện thoại thông minh (được gọi là thương mại di động). Hợp đồng ảolà thuật ngữđược sửdụng cho các thỏa thuận
được hình thành trong không gianảo củaInternet như: email, website…. Từ “ảo” ở
đây không phải đề cập đến các bên tham gia giao dịch (các bên giao dịch là có thật) mà là đểđề cậpđến các côngcụ màcác bênsử dụng để thỏathuận với nhau trong không gian ảo Internet, thậm chí là các hàng hóa được mua bán.
– E-Business Legal Prespective (Tạm dịch: Quan điểm pháp lývềkinh doanhđiện tử), bài báocủatác giảStefan Titus Ciurescu đăng trên Journal of Law and Administrative Sciences – Special Issue/2015. Trong bài báo của mình, tác giả đã đề cập đến cácvấn đề sau:
+ Nguyên tắc pháp luật của thương mại điện tử: theo nghĩa rộng, thương mạiđiện tửlà hoạt động thương mại được thực hiện qua các phương tiệnđiện tửcòn theo nghĩa hẹp là dựa trên công nghệ Internet. Vì các đặc thù của thươngmại điện tửnên hoạt động thương mại điện tử cần thiết phải được điều chỉnh bằng pháp luật.
+ Điều khoản đặc trưng cho thương mại điện tử: Giỏ hàng điện tử là nền tảng của bất kỳ hoạtđộngthương mại điện tử nào, chính vì vậy,hệthống phải cho phép hiện thị hình ảnhcủasản phẩm, thông tin mô tả sản phẩm, giácả.Đồng thời hệthống cũng phải cho phép người tiêu dùng có thể chọn số lượng hàng hóa, xác nhận và
ghi lại các dữ liệu ( số lượng hàng hóa, số tiền thậm chí bao gồm chi phívận chuyển nếu có).
– E-Commerce Law and The Prospects for Uniform E-Commerce Rules on the Privacy and Security of Electronic Communications (Tạm dịch: Luật Thương mạiĐiện tửvà triển vọng cho các quy tắc thươngmại điện tửthốngnhất vềquyền riêng tư và bảo mật của truyền thông điện tử), của tác giả Naoshi Takasugi đăng trên Arizona Journal of International & Comparative Law – Vol. 33 No. 1 năm 2016. Trong bài báo của mình, tác giả đãđề cập đến các vấn đề sau:
+ Quy định vềbảo mậttrong thương mạiđiện tửở NhậtBản: Trong các hoạtđộng kinh doanh trên Internet, các thông tin cá nhân thường được thu thập và được sửdụng cho hoạt động tiếp thị.Ở Nhật Bản, luật bảo vệ thông tin cá nhân có quy định,khi thu thập thông tin cá nhân thì các doanh nghiệp phải ghi rõ mục đích của việc sửdụng thông tin cá nhântrừtrường hợp mục đíchsửdụngđã đượccôngbố công khai. Tuy nhiên, cũng có trường hợp không cần thông báo như thu thập lịch sửduyệt web.
+ Quy định về an toàn trong thương mại điện tử ở Nhật Bản: cung cấp danh tính và mậtkhẩu trên Internet (trong thương mại điện tử,một sốdoanh nghiệp sửdụng các chương trình để ghi lại nhận dạng (ID) và mậtkhẩu của người sửdụng. Các chương trình này phải bị gỡ bỏ bởi vì các nhận dạng và mật khẩu có thể bị tiết lộ hoặc bị bán trên Internet); mất cắp danh tính (trong thương mại điện tử, các bên có thể tiến hành giao dịch mà không cần thiết phải gặpmặt nhau nên cầnthiết phải xác định danh tính của nhưng người tham gia giao dịch. Tuy nhiên, danh tính của các chủ thểcó thể bị mất và khi đó có thể phát sinh các rủi ro trong thương mại điên tử).
2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Pháp luật về thương mại điệntửlà một vấnđềkhông mới nhưng dường nhưchưa nhận được sựquan tâm thích đáng của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam. Hiện nay đã có một số công trình khoa học nghiên cứu pháp luật về thương mại điện tửnhưng đại đa số mới chỉ nghiên cứu các khía cạnh của pháp luật về thương mại điện
tử. Trong các công trình khoa học nghiên cứu pháp luật về thương mại điện tử, cầnđề cập đến các công trình sau:
– Một số khía cạnh pháp lý về thương mại điện tử, luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Vũ Hải Anh năm 1999. Có thể nói, đây là một trong các công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu pháp luật về thương mại điện tử. Trong công trình này, tác giả đã đề cập đến một số vấn đề cơbản về thương mại điện tửvà pháp luật vềthương mại điện tử. Cụ thể:
+ Tác giả đã phân tích sự phát triểncủacông nghệ thông tin và tácđộng của sựphát triển công nghệ thông tin tới hoạt động thương mại. Về khái niệm thương mại điện tửtác giả đã tiếp cận ở hai góc độ là nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Ngoài ra, tác giảcòn tiến hành phân loại thươngmại điện tửtheo chủ thể tham gia và theo giaiđoạn tiến hành một giao dịch. Tác giả đã phân tích những thuận lợi (góp phần thay đổi nền kinh tế; tạo khả năng tham gia thị trường toàn cầu; tạo cơ hội kinh doanh mới, sản phẩm, hàng hóa dịch vụ mới; giảm chi phí, nâng cao khả năng cạnh tranh) và những khó khăn (về kỹ thuận công nghệ,vềthương mại,vềpháp lý,vềvăn hóa xã hội) cho sựphát triển của thương mại điện tử. Tác giả cũng đưa ra những vấnđề pháplý trong giao dịch thương mại điện tử: sự an toàn và độ tin cậy cho các giao dịch thương mạiđiện tử; đảm bảobí mật cho thông tin cá nhân của người sử dụng;bảo vệngười tiêu dùng,các vấn đềvề luật hợp đồng; luật điều chỉnh; chứng cứ; trách nhiệm của các cơquan trung gian; thuế và hải quan; giải quyết tranh chấp.
+ Tác giả trình bày khái quát các quyđịnh vềthương mại điệntửtrong pháp luật quốc tế (luật mẫu về thương mại điện tử của Uncitral) và pháp luật một số nước (Singapore, châu Âu, Hoa Kỳ).
+ Tác giả đã trình bày sựtấtyếucủa phát triển thương mại điệntửở ViệtNam (sựphát triểncủacông nghệ thông tinở ViệtNam; nền kinhtếphát triển theo hướng xuất khẩu; việc hội nhập vào các tổ chức khu vực và toàn cầu; sự phát triển Internet ở Việt Nam; các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về thương mại điện tử) và một sốvấn đềpháp luật trong thương mạiđiện tửởViệt Nam (luậthợpđồng; chứng cứ; trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ mạng; siêu thị ảo). Tác giả cũng đã
đưa ra hướng xây dựng pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam (sửa đổi,bổsung vào các quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành; ban hành văn bản pháp luật mới để quy định cácvấn đề liênquan đến thương mại điện tử.
–Những vấn đềpháp lý về thươngmại điệntửở ViệtNam, bài báocủatác giả Bùi Bích Liên đăng trong tạp chí Luật học số 6-2000. Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giảđã đề cậpđến các vấn đềsau:
+ Tác giả đã đưa ra định nghĩa về thương mại điện tử: thươngmại điệntửtheo nghĩa hẹp (theo quan điểm của WTO, OECD) và thương mại điện tử theo nghĩa rộng (theo quan điểm của Uncitral) và quan điểm của Việt Nam với thương mại điện tử.
+ Tác giả đã đưa ra những thách thức về pháp lý đối với thươngmại điệntửởViệt Nam: hệ thống pháp luật của Việt Nam còn chưa ổn định, thiếu chặt chẽ và hiệu lực thi hành chưa cao; chính sách và pháp luậttạo điều kiệncho sự phát triển Internetở Việt Nam còn thiếu; chưa cósựlựa chọn chính thức về phạm vi của thương mại điện tử; các thiết chế pháp lý khác của Việt Nam còn chưa phát triển đồng bộ.
+ Tác giả đã đưa ra giải pháp xây dựng khung pháp luật về thương mại điện tửở Việt Nam: xây dựng và ban hành một hay một vài đạo luật vềcác vấn đềliên quan đến thương mại điện tử; sửa đổi,bổsung tất cả các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ thương mại cho phù hợp với thương mạiđiện tử.
– Một số vấn đề pháp lý của thương mại điện tử và việc áp dụng ở Việt Nam, bài báo của tácgiảMai Hồng Quỳđăng trong tạpchí Nhà nước và pháp luật số2 (142) – 2000. Trong công trình nghiên cứu của mình, tácgiảđã trình bày các nội dung sau:
+ Tác giả đề cập đến các tên gọi khác nhau của thương mại điện tử: online- trade; cyber trade; electronic business và eletronic commerce. Tác giả cũng đưa ra hai góc độ tiếp cận về khái niệm thương mạiđiện tửtheo nghĩa rộng (thông qua các phương tiện điện tử) và theo nghĩa hẹp (thông qua Internet).
+ Tác giảđã đềcậpđến thươngmạiđiện tửở các nước trong khu vực: Trung Quốc; Singapore; Thái Lan; Malaysia và việc thiết lập môi trường pháp lý cho thương mại điện tử: cần thiết ban hành các văn bản luật cho thươngmạiđiện tử; quy địnhvề
thương mại điện tử trong pháp luật quốc gia phải có sự hòa nhập, phù hợp với pháp luật quốc tế.
+ Tác giảđềcập đếnvấnđề thực tiễn vàpháp lý khi áp dụng thương mạiđiện tửở ViệtNam: cơsởhạ tầngviễn thông đã có những tiến triển rõ rệt; tâm lý người tiêu dùng và doanh nghiệp chưa quen việc sử dụng Internet; phương thức thanh toán trực tiếp bằng các phương tiện điện tử chưa được áp dụng; chưa có văn bản pháp luật nào trực tiếp giải quyết những vấn đề của thương mại điện tử.
– Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại điện tử tại Việt Nam, luận văn Thạc sĩ Luật họccủatác giả Trần Đình Toản năm 2004. Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã trình bày các nội dung cơ bản sau:
+ Vấn đề chung về thương mại điện tử: khái niệm thương mại điện tử (theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp); đặc trưng của thương mại điện tử (tính gián tiếp trong giao dịch thương mại điện tử; thương mại điện tử được thực hiện trong một thị trường không có biên giới; các chủthểtham gia vào thương mại điện tử; trong thương mạiđiện tửthì mạng lưới thông tin chính là thị trường); các hình thức hoạt động chủ yếu của thương mại điện tử (thư điện tử; thanh toán điện tử; trao đổi dữ liệu điện tử; truyền dung lượng; bán lẻ hàng hóa hữu hình); những yêu cầu chủ yếu của thương mạiđiện tử(về nhận thức; về hạ tầng công nghệ; về thanh toán điện tử; tiêu chuẩn hóa công nghiệp và thương mại; hạ tầng cơsởpháp lý (hợp đồng điện tử; bảo vệ người tiêu dùng; sở hữu trí tuệ; bảovệbí mật cá nhân, an ninh và an toàn mạng; giải quyết tranh chấp); lợi ích của thươngmại điện tử(đối với doanh nghiệp; đối với ngưới tiêu dùng; đối với chính phủ).
+ Vấn đề chung về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại điện tử: bản chất của hợp đồng điện tử(là hợp đồng thông thường nhưng được hình thành thông qua các phương tiện điệntửhay nóhoạt độngtrong môi trường điện tử); các hình thức của hợp đồng điện tửphong phú và đa dạng; nội dung của hợp đồng điệntửkhông có nội dung gì đặc biệt so với hợp đồng thông thường.
+ Những vướng mắc trong thực tiễn khi áp dụng hợp đồngđiện tửtạiViệt Nam: thiếu cơsởpháp lýđiều chỉnh quan hệhợp đồng trong lĩnh vực thương mại
điện tử; chưa nhận thức đúngđắn về thươngmại điện tửvàhợp đồng điện tử; vềhiệu lực pháp lý của chữ ký điện tử; về hình thức của hợp đồng; về năng lực giao kết hợp đồng; về địa điểmgiao kết hợp đồng;thời điểmgiao kết hợp đồng; vềđề nghị vàchấp nhận giao kết hợp đồng; về thanh toán điện tử.
+ Một số giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng điện tử: xây dựng đồng bộ hệ thống pháp lý vềhợp đồng điệntử(xây dựng văn bản pháp luật mới điều chỉnh các vấn đề của hợp đồng điện tử; tiến hành rà soát, sửa đổi hệ thống văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh các lĩnh vực củahợp đồng điện tử); hiệulực pháp lý của chữký điệntử; hình thức của hợp đồng điện tử; năng lực giaokết hợp đồng điệntử; địa điểm giao kết hợpđồng điện tử; đề nghị giao kết và chấp nhận giao kết hợpđồng điện tử;thờiđiểm giaokếthợpđồng điệntử; giải quyết tranh chấp vềhợp đồng điện tử.
–Một số vấnđề pháp lývề chữkýđiện tửtrong thương mại điện tử, luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Phí Mạnh Cường năm 2006. Trong công trình của mình, tác giả đã trình bày các vấn đề sau:
+ Khái quát về thương mại điện tử: khái niệm thương mại điện tử (theo nghĩa
rộng và theo nghĩa hẹp); đặc trưng của thương mại điện tử (các giao dịch trong thương mại điện tửcó tính gián tiếp; trong thương mại điện tử, thị trường không có biên giới; chủ thể tham gia vào thương mại điện tửcó thêm nhà cung cấp mạng và dịch vụchứng thực chữ ký điện tử; trong thương mại điện tử, thị trường là mạng lưới thông tin); lợi ích của thươngmạiđiện tử(đối với doanh nghiệp; đối với người tiêu dùng và đối với nhà nước);sựcần thiết phải điều chỉnh hoạt động thương mạiđiện tửbằng pháp luật (giá trị pháp lýcủa chữký điệntử; vấn đề bảngốc; giá trị chứng cứ của văn bản điện tử).
+ Nhận thức cơbảnvề chữkýđiệntử: khái niệm chữ kýđiện tử; đặcđiểm của chữký điện tử; những vấn đề pháp lý cơbản của chữký điện tử(giá trị pháp lý của chữký điện tử; xác định ngưới ký và tính toàn vẹn của văn bản được ký).
+ Tác giả đã phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam và mộtsố nước (Hàn Quốc; Malaysia; Singapore; Trung Quốc…) về nội dung chủyếu củapháp luật
về chữký điện tử: khái niệmchữkýđiệntử; điều kiện bảođảm an toàn cho chữ ký điện tử; nguyên tắc sử dụng chữ ký điện tử; giá trị pháp lýcủa chữký điệntử; dịch vụ chứng thực chữký điện tử.
+ Tác giả đã phân tích một số rủi ro đối với chữ ký điện tử (mất tính xác thực; lộ khóa bí mật) và đưa ra một số kiến nghị nhằm thực hiện có hiệu quả các quy định
về chữký điệntử: cơsởhạ tầng công nghệ – kỹ thuật; môi trường pháp lý; nguồn nhân lực và nhận thức xã hội.
– Cẩm nang pháp luật về giao kết hợp đồng điện tử, sách của tác giả Nguyễn Thị Mơ năm 2006 (NXB Laođộng – Xã hội). Trong cuốn sách này, tác giả đãtập trung phân tích các vấn đề pháp lý khi giaokết hợp đồng điện tử, cụ thể:
+ Thương mại điện tử: tác giả trình bày khái niệm thương mại điện tửtheo theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp; các mô hình thương mại điện tử (B2B; B2C; B2G; C2B; C2C; C2G; G2B; G2C; G2G)
+ Hợp đồng điện tử: khái niệm hợp đồng điện tử; đặc điểm của hợp đồng điện tử(tính phi biên giới; tính vô hình, phi vật chất; tính hiện đại, chính xác; tính rủi ro;
luật điều chỉnh); vai tròcủa hợp đồng điệntử(giúp các bên giao kết tiết kiệmđược thời gian đàm phán, giao kết hợp đồng; giảm được chi phí giao dịch, bán hàng; đẩy nhanh tiến độ “số hóa” đốivới việc mua bánmột số sảnphẩm và dịch vụ; giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời tác giả cũng tiến hành so sánh hợp đồng điện tử với hợp đồng truyền thống.
+ Giao kết hợp đồng điện tử: sự cần thiết phải giao kết hợp đồng điện tử; những khác biệt trong giao kếthợp đồngđiện tửvới hợp đồngtruyền thống (thời gian vàđịa điểm giao kết hợp đồng;chữký tronghợp đồng điện tử; vấnđề bảngốc và lưu trữhợp đồng; sựtham gia của các cơ quan trung gian, cơ quan chứng nhận; một số rủi ro khi giao kết hợp đồng điện tử); luật điều chỉnh giao kết hợp đồng điện tử (trong phạm vi quốc tế, trong lĩnh vực kinh doanh quốc tế); cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ việc giao kết hợp đồng điện tử (thẩm quyền giải quyết tranh chấp về hợp đồng điện tử; cơchếgiải quyết tranh chấp phùhợp với hợp đồngđiện tử); điềukiện hiệu lực của hợp đồng điệntử(chủ thể của hợp đồng điện tử; hình thức của hợp đồng
điện tử; hình thức traođổi dữliệu điệntử; hình thức thanh toán điện tử; hình thức thưđiện tử; nộidung củahợp đồng điệntử, cách hiển thị nội dungcủa hợp đồngđiện tử; vấn đề vềlỗikỹ thuật trong nội dung hợp đồngđiện tử; chữkýđiệntửvà bằng chứng về hợp đồng;bảo mậtchữký điện tử.
+ Khung pháp lý về giao kết hợp đồng điện tửtrên thế giới (của Liên hợp quốc) và củamộtsố nước (củaliên minh châu Âu; HoaKỳ;Singapore; Hàn Quốc; Malaysia): hầu hết các quốc gia không xây dựng một đạo luật riêng cho hợp đồng điện tử; thừa nhận hợp đồngđiệntửcó giá trị pháp lý tươngđươngvớihợpđồng truyền thống; chữký điệntửđóng vai trò quan trọng trong việc công nhận giá trị pháp lý của hợp đồng điệntử; chữký điện tửchỉcó giá trị khi nó được chứng nhận.
+ Thực trạng giao kếthợp đồng điệntửtrên thế giới: những kết quảđạt được (doanh thu từ thương mại điện tử tăng đều qua các năm; nhiều mô hình kinh doanh thương mại điện tử ra đời; số lượng khách hàng mua bán thông qua giao dịch và giao kết hợp đồngtrên mạng ngày càng tăng; dung lượng hàng hóađược mua bán qua mạng ngày càng lớn và đa dạng); những yếu kém và nguyên nhân (mức độ giao kết hợp đồng điện tửở các quốc gia trên thế giới không đồng đều; nhiều doanh nghiệp kinh doanh trực tuyền phải đóng cửa hoặc đang trong nguy cơ đóng cửa do phí tổn quá cao; hiện tượng giao hàng chậm hoặc không giao hàng trong các hợp đồng điệntử vẫn còn khá phổ biến; có sự cạnh tranh khốc liệt với giao kết hợp đồng truyền thống).
+ Thực trạng giao kết hợp đồng điện tử ở Việt Nam trong thời gian qua: những kết quả bước đầu (nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã xây dựng được quy trình giao kết hợp đồng điện tửphù hợp; đã xây dựng các website bán hàng và nhiều trang web bán hàng của doanh nghiệp Việt Nam đã trở thành quen thuộc; các trang web nước ngoàiđã và đang thu hút sự chú ý của khách hàng Việt Nam và đã có nhiều hợp đồng được giao kết); những khó khăn, yếu kém và nguyên nhân (khó khăn về phương thức thanh toán; quy trình giaokếthợp đồng điệntửchưa được đầutư xây dựng một cách bài bản; chưa có biện pháp phòng ngừa rủi ro cho việc giao kết hợp đồng điện tử trong thương mại quốc tế; cơsởhạtầng kỹ thuật công nghệ nghèo nàn.
+ Thực trạng khung pháp lý về giao kết hợp đồng điện tử ở Việt Nam: đã ban hành hệ thống các chính sách khuyến khích thương mại điện tử phát triển, nhiều văn bản pháp quyvề giao dịch điệntửtrongmột số lĩnh vực đãđượcxây dựng;đã kýHiệp định E-ASEAN; đã ban hành Luật Giao dịch điện tử; những quy địnhcụ thểvề giao kết hợp đồngđiệntửở ViệtNamđãtừng bước hình thành. Nhưng những quy định hướng dẫngiao kếthợp đồng điệntửchưa đầy đủ;việc ban hành văn bản hướng dẫn thi thành Luật Giao dịch điện tử còn chậm; còn tồn tại nhiều quy định không phù hợp,cản trở sựphát triển của thươngmại điệntử; chưa có quy địnhcụthể vềgiao kết hợp đồng điện tửcó yếu tố nước ngoài.
+ Phương hướng và giải pháp hoàn thiện khung pháp lý về giao kết hợp đồng điện tửở ViệtNam: cần cósựnhận thức đầyđủ về hợp đồng điện tửvà vai trò của hợp đồng điện tửtrong thương mại điện tử; cần tận dụng kinh nghiệm của quốc tế vàmột số nước; sửa đổi,bổ sung Luật Giao dịch điện tử về quy định việc giao kết hợpđồng điện tử, vềtrách nhiệm cụ thể do vi phạm hợp đồng điện tử; ban hành văn bản hướng dẫn thi hành cho Luật Giao dịch điện tử về các vấn đề liên quan đến giao kết hợp đồng điện tử…
– Áp dụng hợp đồng và chữ kýđiện tửtrong giao dịch thương mại trong nước và quốc tế theo luật của Hoa Kỳ và Việt Nam, bài báo của tác giả Nguyễn Văn Hồng đăng trong tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam số 5-2007. Trong bài báo của mình, tác giả đã đề cậpđến các vấnđề sau:
+ Một số quyđịnh vềhợpđồng điệntửvàchữký sốtheo luật E-SIGN của Hoa Kỳ: giá trị pháp lý của chữ ký điện tử; xác thực người gửi; xác thực tính toàn vẹn củathông điệp;khôngđược từchối (người gửi khôngthểphủ nhận đã tạo và gửi thông điệp).
+ Một số quyđịnh vềchữkýđiện tửđối với hợp đồng điệntửtheo luật của Việt Nam: khái niệm về chữ ký điện tử; giá trị pháp lý của chữ ký điện tử; điều kiện bảo đảm an toàn cho chữ kýđiện tử.
+ Một số dạng hợp đồng điện tửphổ biến: các hợp đồng truyền thống đượcđưa lên web; các hợp đồng hình thành thông qua các thao tác kích chuột và nhập
thông tin từbàn phím; cáchợpđồngđiện tửhình thành thông quamộthoặc nhiều giao dịch bằng thưđiện tử; hợp đồngđiện tửsử dụng chữký số.
– Pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Dương Thị Mai Ngọc năm 2009. Trong công trình của mình, tác giả đã trình bày các nội dung cơ bản sau:
+ Khái quát về thương mại điện tử: khái niệm thương mại điện tử (theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp); đặc điểm của thương mại điện tử; vai trò của thương mại điện tử; phát triển thương mại điện tửở Việt Nam là đòi hỏi mang tính tất yếu khách quan.
+ Những nội dung cơbảncủa pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mạiđiện tửở Việt Nam: thông điệpdữliệu; gửi, nhận thông điệp dữliệu;chữkýđiện tửvà chứng thực chữ ký điện tử; giao kết hợp đồng điện tử; thanh toán; bảo đảm an toàn, bảo mật,bảo hộquyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử.
+ Giải pháp hoàn thiện pháp luật thương mại điện tử: căn cứ của các giải pháp hoàn thiện; các giải pháp hoàn thiện (sửa đổi, bổ sung Luật Giao dịch điện tử về giao kết và thực hiện hợp đồng điện tửvới đối tác nước ngoài; ban hành văn bản hướng dẫn Luật Giao dịch điện tử về chứng thực chữ ký điện tử, xử lý lỗi kỹ thuật trong giao
kết hợp đồng điện tử….).
– Chế tài pháp lý đối với hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử, bài báo củatác giả Nguyễn Thị Hà đăng trong tạpchí Tòa án nhân dân số 04 (02-2012). Trong bài báo này,tác giả đã đề cậpđến các vấnđềsau:
+ Các chếtài đốivới hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử: chế tài hình sự (tội truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, Internet hoặc thiết bị số của người khác; tội sửdụng mạng máy tính, mạng viễn thông, Internet hoặc thiết bịsốthực hiện hành vi chiếm đoạttài sản); chế tài hành chính (tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm; tước quyền sử dụng giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề; buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thayđổi; buộc tiêuhủy vậtphẩm gây hại cho tính mạng, sức khỏe của con người…); chế
tài dân sự (cá nhân có quyền yêu cầu được bồi thường thiệt hại mà mình phải gánh chịu do hành vi gian dối, lừa đảo… gây ra).
+ Những điểm hạn chế của chế tài pháp lý đối với vấnđề bảo vệquyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử: chưa có chế tài đặc thù,đủ sức răn đe đểxửlý các hành vi vi phạm; pháp luật chưa dựtrù được một sốtrường hợp (giao dịch được ký kết với người trong độ tuổi thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người xác lập không nhận thức và làm chủ hành vi của mình; giaodịch được thực hiệnkhông liên quan đến sản phẩm số hóa; người tiêu dùng giao kết với người trung gian).
+ Kiến nghị hoàn thiện phápluật về bảo vệquyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử: hoàn thiện các quy định về quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực thương mại điện tử; hoàn thiện các quyđịnh về bảomậtthông tin trong giao dịch điện tử; ban hành văn bản hướng dẫn thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp thương mại điện tử.
–Hợp đồng điện tửtheo pháp luật Việt Nam, sách của tác giả Trần Văn Biên năm 2012 (NXB Tư pháp). Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đãphân tích các nội dung sau:
+ Những vấn đề lý luận về hợp đồng điện tử: khái niệm hợp đồng điện tử; đặcđiểm của hợp đồng điện tử; lợi ích của hợp đồng điện tử(tiết kiệm thời gian và chi phí giao dịch; mang lại cơ hội chotất cảcác doanh nghiệp,đặcbiệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa; nâng cao khả năng cạnh tranh); một số rủi ro trong giao kết hợp đồngđiện tử(nhiễm vi rút máy tính; rối loạn hoạt động của mạng máy tính; sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính; truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính; bịchiếm đoạt tài sản).
+ Thực trạng pháp luật về hợp đồngđiện tửở Việt Nam: thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử; quy định về giao kếthợp đồng điện tử; chữký trong hợpđồng điện tử; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao kết hợp đồng điện tử; bảo vệ thông tin cá nhân trong giao kết hợp đồng điện tử. Nhưng thiếu quy địnhcụ thểviệc giao kết hợp đồng điện tử qua website theo mô hình C2C; về giao kết hợp đồng
theo mẫu trên website; về công chứng hợp đồng điện tử; về hóa đơn, chứng từ kế toán khi triển khai hợp đồng điện tử; giao dịch tài sản ảo.
+ Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng điện tử ở Việt Nam: yêu cầu đối với việc hoàn thiện; giải pháp hoàn thiện (rà soát,hệthống hóa các văn bảnpháp luật liên quan đến hợp đồng điện tử; xây dựng một chương riêng về hợp đồngđiện tửtrong Bộ luật dânsự; hướngdẫncụthể việc ký hợp đồng qua website theo mô hình C2C, ban hành văn bản pháp luật điều chỉnh về tài sản ảo…).
+ Một số vấn đề căn bản về thương mại điện tử: khái niệm thương mại điện tử(theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp); đặcđiểm của thương mại điện tử;lợiích của thương mại điện tử; yêucầu củaviệc ứng dụng thương mại điệntử(về tính kỹ thuật; yêu cầu mang tính pháp lý).
+ Thực trạng pháp luật Việt Nam về thương mại điện tử: quy định điều chỉnh những vấn đề cơbảncủa giaodịch điện tửnhư thông điệp dữ liệu,chữký điện tử, vấn đề bản gốc; quy địnhbảo đảm sựthống nhất giữa luật dân sự và luật thương mại; quy định về hải quan và thanh toán điện tử; quy định về bảo vệ bí mật đời tư trong giao dịch điện tử; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử và quy định về phòng chống tội phạm trong thương mạiđiện tử.
+ Khái quát về tính an toàn của những thông tin cá nhân mà khách hàng cung cấp khi tham gia vào thương mại điện tử: khái niệm bí mật cá nhân của người tiêu dùng; nguyên tắc bảo vệ thông tin cá nhân.
+ Những tồn tại trong khung pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân trong thương mại điện tử: các khái niệm về thông tin cá nhân giữa các văn bản pháp luật chưa thống nhất; chưa có quy định bắtbuộc đối với các doanh nghiệp thương mại điện tửphải bảovệthông tin cá nhân; chưa có chế tàiđốivớihành vi làmlộthông tin cá nhân.
+ Quản lý hoạt động của website thương mại điện tử: sự cần thiết phải quản lý; nguyên tắc quản lý (quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo lãnh thổ; sử dụng kết hợp các công cụ; quản lý đi đôi với cơchếkiểm tra, giám sát); nội dung quản lý (xây dựng và tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách…; ban hành và thực hiện văn bản pháp luật; thống kê hoạt động của website thương mại điện tử; thanh tra, kiểm travà giải quyết khiếu nại,tốcáo); công cụ quản lý (chính sách; pháp luật; kế hoạch…).
+ Giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử: giá trị pháp lý củahợpđồng điện tử; xácđịnh chủthểtham gia giaokết hợp đồng;chứng thực chữ kýđiện tử; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
+ Xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động của website thương mại điện tử: trách nhiệm hành chính; trách nhiệm hình sự. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý website thương mại điện tử: phân định rõ chức năng, nhiệmvụ của cơ quan quản lý nhà nước; hoàn thiện quyđịnh về hợp đồngtrên website thương mại điện tửvà bảo vệ quyền lợi của ngườitiêu dùng; hoàn thiện quy định xửlývi phạm pháp luật.
+ Những vấn đề chung về hợp đồng trên website thương mại điện tửở Việt Nam: khái niệm hợp đồng trên website thương mại điện tử; đặc điểmcủa hợp đồng trên website thương mại điện tử(chủ thể; đốitượng; hình thức; nộidung của hợpđồng trên website thương mại điện tử.
+ Pháp luật điều chỉnh hợp đồng trên website thương mại điện tử: pháp luật quốc gia; điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế.
+ Thực trạng pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng trên website thương mại điện tửở Việt Nam: đề nghị giao kết hợp đồng; rút lại, thay đổi đề nghị giao kết hợp đồng; hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng; chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng; thời gian và địa điểm giao kết hợp đồng; nghĩa vụ thanh toán; nghĩa vụ giao hàng; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
+ Hoàn thiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng trên website thương mại điện tử: phương hướng hoàn thiện(nhận thức đầy đủ đặc thù củahợp đồng trên website thương mại điệntử; bảođảmsựthống nhất pháp luật); giải pháp (bổsung hướng dẫn giaokết hợp đồng;quy định chi tiếtvề chứng cứđiệntử; tăng cường pháp luật bảo vệ thông tin cá nhân; quy định chi tiết về giải quyết tranh chấp…).
– Pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử ở Việt Nam, luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Hà Vy năm 2015. Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đãđề cập đến các nộidung sau:
+ Tổng quanvề thươngmạiđiện tử:sựrađời và phát triểncủathương mạiđiện tử; khái niệm thương mại điệntử(theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp);đặc điểm của thương mại điện tử.
+ Tổng quan về hợp đồng thương mại điện tử: khái niệm (hợp đồng thương mại điện tửlà hợp đồng được thiết lậpdưới dạng thông điệp dữ liệu, được hình thành thông qua việc sử dụng các phương tiện điện tử với mục đích sinh lời); đặc điểm (vềchủ thể; tính phi biến giới; tính vô hình, phi vật chất; tính hiện đại chính xác; tính rủi ro; về luật điều chỉnh); những rủi ro trong hợp đồng thương mại điện tử (rủi ro về mặt pháp lý; về thông tin; về kỹ thuật và an ninh mạng); luậtđiềuchỉnh (luật quốc tế; luật quốc gia).
+ Các quy định của pháp luật về hợp đồng thương mại điện tửởViệt Nam hiện nay: chủ thể; giao kết hợp đồng (nguyên tắc giao kết; trình tự giao kết; thời điểm và địa điểmgiao kết hợp đồng); nội dung của hợp đồng; hình thức củahợp đồng;chữký điện tửvả chứng thực chữký điện tử; hợp đồng vô hiệu và xửlý hợp đồng vô hiệu; thực hiệnhợp đồng vàtrách nhiệm do vi phạm hợp đồng; giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng thương mạiđiện tử.
+ Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử: bổ sung những quy định hướng dẫn giao kết hợp đồng điện tử; bổ sung quy định cụ thể xử lýcác hành vi gian lận trong giao kết hợp đồng điện tử; bổ sung có hướng dẫn giải quyết tranh chấp liên quan đến giao kết vàthực hiện hợp đồng điện tử; bổsung quy địnhvề giao kết hợp đồng thươngmại điện tửtrong thương mại quốc tế.
– Pháp luật thương mại điệntửởViệt Nam hiện nay, luận án tiến sĩcủaLê Văn Thiệp năm 2016. Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giảđã đềcập đến các nội dung sau:
+ Những vấn đề lýluận vềthương mạiđiện tửvà pháp luật thươngmại điện tử: Khái niệm, đặc điểm thương mại điện tử; Khái niệm,đặc điểm,nội dung của pháp luật thương mại điện tử và cơchế bảođảm thực hiện pháp luật thương mạiđiện tử; Cơchế bảo đảm thực hiệnpháp luật thương mại điện tử.
+ Khung pháp luật thươngmại điện tửở Việt Nam; Thực trạng thực hiện các nội dung của pháp luật vềthương mạiđiện tửởViệt Nam; Thực trạng cơchếbảo đảm thực hiện pháp luật thương mạiđiện tửở Việt Nam; Thực trạng cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong thương mại điện tử.
+ Các giải pháp hoàn thiện pháp luật thương mại điện tử: bổ sung thêm hành vi bị cấm,bổsung thêm nguyên tắc trong hoạt động thương mại điện tử, bảo đảm an toàn thông tin trong giao dịch thương mại điện tử…
3. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu của các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và định hướng nghiên cứu của luận án
3.1. Các nghiên cứu về khái niệm và đặc trưng của thương mại điện tử3.1.1. Các nghiên cứu về khái niệm của thương mại điện tử
Đa số các tác giả khi nghiên cứu về thương mạiđiện tửthì đều đề cập đến khái niệm về thươngmại điệntử. Có thểkểđến cáctác giả sau: tác giả Christian Schulze, thương mại điện tử là hoạt động thương mại được thực hiện bằng máy tính liên kết với nhau bởi mạng viễn thông. Theo cách định nghĩa này có thể hiểu thương mại điện tửtheo hai phương diện: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử chỉ là các giao dịch hợp đồng trên Internet bao gồm quá trình đàm phán, giao kếthợpđồng bằng thưđiệntử(email). Nếu tiếpcậntheo nghĩa rộng,
thương mại điệntửsẽ bao quáttấtcảcác hoạtđộngkhi một doanh nghiệp sử dụng Internet như một phương tiện để thực hiện các hoạt động kinh doanh. Tác giả Ephyro Amatong cho rằng thươngmại điệntửlà các giao dịch thương thương mại dựa trên các công cụđiệntửđểtruyền dữ liệu trong các mạng lưới thông tin liên lạc, chẳng
hạn như Internet.Đểminh họa cho khái niệm thương mại điện tử, trong công trình nghiên cứu của mình tácgiảđã phân tích hoạt động thương mạiđiệntửở Philippine. Tác giả Stefan Titus Ciurescu cho rằng theo nghĩa rộng, thương mại điện tử là giao dịch giữa doanh nghiệp với khách hàng của mình thông qua fax, điện thoại, thư thoại, email, extranet, internet. Còn theo nghĩa hẹp thì thương mại điện tử là hoạt động kinh doanh dựa trên công nghệ Internet. Ở trong nước cũng có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm thương mại điện tử,điển hình như: các tác giả Vũ Hải Anh, Phí Mạnh Cường, Nguyễn Phụng Dương, Dương Thị Mai Ngọc, Đoàn Quỳnh Thương, TrầnĐình Toản, Hà Vy, Nguyễn ThịMơ, Bùi Bích Liên, Mai Hồng Quỳ đều có chung nhận định, khái niệm thương mạiđiện tửđược tiếp cận dưới haigóc độlà theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp. Nếu tiếp cận thươngmại điện tửtheo nghĩa rộng thì thương mại điện tửbao gồm các giao dịch thương mại bằng phương tiện điện tử như: traođổi dữliệu điện tử(Electronic Data Interchange); chuyển tiền điện tử(Electronic Fund Transfrer) và các hoạt động sử dụng thẻ tín dụng (Electronic Credit Card). Còn nếu tiếp cận thương mạiđiện tửtheo nghĩa hẹp thì thương mại điệntửlà các hoạt động thương mại được thực hiện thông qua Internet mà không tính đến các phương tiện điện tửkhác như điện thoại, fax, telex… Như vậy,vềvấnđề kháiniệm thương mại điện tửthì giữa các tác giảđã có sựthống nhất cao.
Về vấn đềnày, luận ánsẽ kếthừa kháiniệm vềthương mạiđiện tửmà các tác giả đã nêu ra trong các công trình nghiên cứu của mình. Bên cạnh đó, luận án sẽ tiến hành trình bàycó hệthống sự hình thành và phát triển của thương mạiđiện tửở Việt Nam cũng như trên thế giới. Ngoài ra, luận án tiến hành phân tích cơsởcủa việc tiếp cận thương mại điện tử theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp cũng như ưu,nhược điểm của mỗi cách tiếp cận. Luận ánsẽ tiếnhành luận giải cách tiếpcậnkhái niệm thương mại điện tửtrong luận án.
3.1.2. Các nghiên cứu về đặc trưng của thương mại điện tử
Về đặc trưng của thương mạiđiện tửđãđược khá nhiều tác giả nghiên cứu,cụthể như: theo tác giả Christian Schulze, thương mại điện tử có những sự khác biệt nếu so với thương mạitruyền thống: tính không biên giới của thươngmạiđiện tử(các
giao dịch của thương mại điện tử dựa trên Internet đã ảnh hưởng đến tính khả thi của các đạo luật dựa trên ranhgiới địalý.Với tốcđộ truyền tải thôngđiệp dữliệu trên Internet đã xóa nhòa khoảng cách địa lý. Bên cạnh đó, Internet cho phép những người không quen biết nhau tiến hành các giao dịch kinh doanh). Các tác giảtrong nướcđều có chung nhậnđịnh,nếu so với thương mại truyền thống thì thương mạiđiện tửcó một số đặctrưng sau: (1) Các giao dịch trong thương mại điệntửcó tính gián tiếp; (2) Thị trường trong thương mại điện tửkhông có biên giới; (3) Chủ thể tham gia giao dịch trong thương mại điện tửcó thêm bên cung cấp dịch vụ,tổ chức chứng thực. Tuy nhiên, ngoài ba đặc trưng của thương mại điện tửđược cáctác giả trong nước thống nhất thì từng tác giả còn đưa ra những đặc trưng khác, chẳng hạn, các tác giả Phí Mạnh Cường, Nguyễn Phụng Dương, Trần Đình Toản bổsung thêm đặc trưng: “Trong thương mại điện tử, mạng lưới thông tin là thị trường.” Tác giả Dương Thị Mai Ngọc bổ sung thêm đặc trưng: “(1) Đối với thương mại điện tử thì mạng lưới thông tin chính là thị trường. (2) Thương mại điện tử mang tính rủi ro cao hơn so với thương mại truyền thống.” Tác giả Hà Vy bổ sung đặc trưng: ” (1) Đối với thương mại điện tửthì mạng lưới thông tin chính là thị trường. (2) Thương mại điện tử làmột phương thức kinh doanh mới, hiện đại với nhiều công đoạn được tin học hóa và
tựđộng hóa. (3) Thương mại điện tử có tốc độ nhanh. (4) Thương mại điện tử yêu cầu trình độ nhất định về ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý và kinh doanh. (5) Sựphát triển củathương mạiđiện tửgắn liền với sựphát triển và những ứng dụng của công nghệ thông tin và truyền thông.”
Nhưvậyvề vấn đềđặc trưng của thương mại điện tử, ngoài ba đặc trưng cơbản nhất đãđược cáctácgiảthống nhất với nhau thì mỗi tácgiảcòn đưa ra cácđặc trưng khác. Luận án sẽ kế thừa ba đặc trưng đãđược các tác giả đềcập đến,ngoài ra luận án sẽ tiến hành phân tích cụ thể các đặc trưng của thương mại điện tử để chỉ ra nhưng ưu, nhược điểm của thương mại điệntửso với thương mại truyền thống.
3.2. Các nghiên cứu về khái niệm và đặc điểm của pháp luật thương mại điện tử
3.2.1. Các nghiên cứu về khái niệm pháp luật thương mại điện tử
Theo tác giả Dương Thị Mai Ngọc: “Có thể hiểu pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạtđộng thương mại điện tử.”
Theo tác giảLê Văn Thiệp: “Pháp luật thương mại điệntửlà tổng hợpcác nguyên tắc, quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể là cá nhân, tổ chức thực hiện các hoạt động thương mại được thực hiện một phần hay toàn bộ quy trình thương mại bằng các phương tiện điện tử có kết nối với mạng internet, mạng viễn thông di động hay các mạng mở khác.”
Như vậy, trên thựctếđãcó khá nhiều công trình nghiên cứuvềpháp luật thương mại điện tử cũng như các khía cạnh của pháp luật về thương mại điện tử, tác giả Dương Thị Mai Ngọc đã đưa ra khái niệm về pháp luật điều chỉnh thương mạiđiện tử.Tuy nhiên, khái niệm mà tác giảDương Thị Mai Ngọc đưa ra khá chung chung và tácgiảcũng chưa phân tích khái niệm. Còn tác giả Lê Văn Thiệp cũngđã đưa ra được khái niệm khá đầy đủ về pháp luật thương mại điện tử bao gồm cả việc giải thích khái niệm thương mại điện tử.Chính vì vậy, luận án cần xây dựng khái niệm pháp luật về thương mại điện tử ngắn gọn và không bị trùng lắp với các nội hàm củakhái niệm thương mại điện tử cũng như tiến hành phân tích một cách kỹ lưỡng khái niệm pháp luật về thương mạiđiện tử.
3.2.2. Các nghiên cứu về đặc điểm của pháp luật thương mại điện tử
Theo tác giả DươngThịMai Ngọc và tác giả Lê Văn Thiệp: “Pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử có những đặc điểm sau: (1) Hoạt động thương mại điện tửngoài sựđiềuchỉnh chung của pháp luật thương mại truyền thống còn chịu sựđiều chỉnh của lĩnh vực pháp luật đặcthù dành riêng cho giao dịch điệntử;
(2) Pháp luật điều chỉnh hoạtđộng thương mại điện tửgắn liền với pháp luật về khoa
học công nghệ; (3) Ngoài những nguyên tắc chung của pháp luật thương mại truyền thống, pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử còn có những nguyên tắc riêng; (4) Pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử đang được quốc tế hóa nhanh chóng.”
Như vậy,về vấn đề đặc điểm của pháp luật thương mại điện tửcũng giống nhưvấn đề kháiniệm pháp luật thươngmại điện tửlà chỉ có tác giả Dương Thị Mai Ngọc và Lê Văn Thiệp nêuđượcnhững đặcđiểm cơbảncủa pháp luậtđiều chỉnh thương mại điệntửnhưng tácgiảchỉ mới liệt kê các đặcđiểm.Luậnán sẽtiến hành phân tích cóhệthốngđể làmnổibậtnhững đặc điểmcủa pháp luật thương mạiđiện tửso với pháp luật thương mại truyền thống trong bối cảnh cách mạng công nghiệp
lần thứtư đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
3.3. Các nghiên cứu về nội dung của pháp luật thương mại điện tử3.3.1. Các nghiên cứu về thông điệp dữ liệu
Pháp luật về thôngđiệp dữliệuđãđược mộtsố tác giả đềcậpđếntrong các công trình nghiên cứu của mình, như: tác giả Phí Mạnh Cường không dành một mục riêng để phân tích các quy định của pháp luật về thông điệp dữ liệu.Vấn đềpháp luật về thông điệp dữ liệu được trình bày khi tác giả phân tích các quyđịnh củapháp luật về chữký điện tửvì đây là hai vấn đề có sự gắn bó mật thiết với nhau. Bên cạnh việc trình bày quy định của pháp luật Việt Nam về thông điệp dữ liệu, tác giả Phí Mạnh Cường còn trình bày quy địnhcủa mộtsố nước vềthông điệp dữliệu như: Trung Quốc, Singapore… Tác giả Nguyễn Phụng Dương cóđềcập mộtcách khái quát các quy định của pháp luật Việt Nam về thôngđiệp dữliệu như khái niệm, hình thức vàgiá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu: “Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra,được gửi đi,được nhận và được lưu trữbằng phương tiện điện tử. Và thông tin trong thông điệp dữ liệu không thể bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì thông tin đó được thểhiện dưới dạng thông điệpdữliệu. Thông điệpdữliệu được thểhiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và những hình thức tương tự khác. Thông điệp dữ liệu có giá trị như văn bản, có giá trị lưu trữkhi thỏa mãn những điều kiện nhất định.” Tác giả Dương Thị Mai Ngọc đã trình bày
các quy địnhcủapháp luậtvềthôngđiệp dữliệu trong mộtmụcriêng. Tácgiả đãtiến hành phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về khái niệm, về hình thức tồn tại, về việc gửi và nhận,vềgiá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu.
Nhưvậy, vấnđề phápluật của Việt Nam về thông điệp dữ liệuđã được cáctác giả đề cập và tiến hành phân tích khá tốt (tác giả Dương Thị Mai Ngọc). Tuy nhiên,để có cái nhìn khách quan về các quy định của pháp luật Việt Nam thì luận án sẽ tiến hành phân tích các quyđịnh củapháp luậtmột số nước vềthông điệpdữliệu,đồng thời có sự so sách các quy định của pháp luật Việt Nam để chỉ ra những ưu điểm cũng như hạn chế của pháp luật Việt Nam.
3.3.2. Các nghiên cứu về chữ ký điện tử
Chữký điện tửlà một yếu tố quan trọng bảo đảmcho các giao dịch thương mại điện tửđược an toàn. Chính vì vậy,vấn đềpháp luật vềchữkýđiện tửvà chứng thực chữký điện tửđã được nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu: tác giả Ephyro Amatong cho rằng,chữký có ý nghĩa xácđịnh chủ thểký cũng như thể hiệnsựchấp thuận của người ký với nội dung của văn bản được ký.Chữký điện tửcũng có chức năng tương tự,tức là nó được gắn với một thông điệp dữliệu (hợp đồng điện tử),đồng thời duy trìđộtin cậy và tính toànvẹncủa thông điệpdữliệukểtừkhiđược ký. Trong công trình nghiên cứu củamình, tác giả đã trình bày nguyên tắc tạochữký điện tử(dùng khóa bí mật và khóa công khai), dịch vụ chứng thực chữký điện từcũng như so sánh chữký điệntửvà chữ ký số. Tác giả Phí Mạnh Cường tiến hành phân tích khá toàn diện các quy định của pháp luật về chứký điện tửnhư: khái niệm, nguyên tắc sử dụng; giá trị pháp lý và dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử. Bên cạnh việc phân tích các quyđịnh củapháp luật Việt Nam, tác giả còn phân tích và so sánh với pháp luật củamột số nước về chữký điệntửnhư: Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc… Tác giả Nguyễn Phụng Dương: Bên cạnh khái niệm vềchữký điệntửthì tác giả cũng đưa ra các quy định của pháp luật Việt Nam về nguyên tắcsửdụng chữ kýđiện tửvà giá trị pháp lý của chữký điện tử.Tác giả Trương Thị Linh cho rằng:
“Pháp luật Việt Nam thừa nhận giá trị pháp lýcủa chữký điện tửtrong các văn bảnđiện tửnhưchữký tay trên văn bản giấy.Đặcbiệt, quy định pháp luật chú trọng điều
chỉnh các vấn đề liên quan đếnchữký số- loại chữký điện tửđang được sửdụng rộng rãi và phổ biến nhất trong các giao dịch thương mại điện tử hiện nay, chẳng hạn: việc khởi tạo,sửdụng, quản lýchữkýsố,dịch vụchứng thực chữ kýsố,giá trịpháp lý của chứng thư số…” Bên cạnhđó,tác giả cũng chỉ ra những thiếu sót, bất cập của pháp luật Việt Nam về chữ ký điện tử: (1) Chứng thư số có thời hạn hiệu lực,điều đó đồng nghĩa với độ an toàn của chữ ký số bị giới hạn trong khoảng thời gianđó; (2) Thiếu quy định về quản lý giá dịch vụ chứng thực chữ ký số thống nhất trên cả nước; (3) Chữ kýsố đại diệncủa doanh nghiệp khi giao kết hợp đồng điệntửchưa được quy định cụ thể.Tác giả Dương Thị Mai Ngọc cũng đã tiến hành phân tích các quy định củapháp luật Việt Nam vềchữký điện tửnhư: khái niệm,điềukiện bảođảm an toàn, nguyêntắc sửdụng và giá trị pháp lý của chữ ký điện tử. Tác giả Trần Văn Biên cũng trình bày quy địnhcủa pháp luật Việt Namvề chữký điệntửnhư:
khái niệm, điều kiện bảo đảm an toàn, giá trị pháp lý của chữ ký điện tử. Ngoài ra tác giả còn lập bảng so sánh giữa chữký điện tử và chữký tay. Tác giả Nguyễn Thị Mơđã tiến hành phân tích các quy định của pháp luật về chữ kýđiện tửnhư: khái niệm, bảo mật,điều kiện bảođảman toàn, nghĩavụcủa ngườiký và ngườichấp nhận chữký điện tử.
Nhưvậy, vấnđềvề pháp luật chữký điệntửvà chứng thực chữký điệntửđãđược khá nhiều tác giả quan tâm và tiến hành nghiên cứu. Chính vì vậy, các quyđịnh của pháp luật Việt Nam về chữ ký điện tử và chứng thực chữký điện tử đã được phân tích khá kỹ. Luậnán sẽcó sựkế thừa và tiếptụcphân tích các quyđịnh củamột sốnước về chữkýđiện tửvà chứng thực chữký điện tửtrên cơ sở so sánh với các quy định của pháp luật Việt Nam. Ngoài ra, luận ánsẽtiến hành đánh giá sự phù hợp của pháp luật vớiyêu cầu thực tiễn củacác giao dịch thương mạiđiện tửởViệt Nam trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
3.3.3. Các nghiên cứu về hợp đồng trong thương mại điện tử
Vấn đề phápluật vềhợp đồngtrong thươngmại điện tửlà vấnđềtrọng tâm trong các giao dịch thương mại điện tử, chính vì vậy vấnđề nàyđã được nhiều tác gia quan tâm nghiên cứu: tác giả Christian Schulze cho rằng, hiện nay,mộthợp đồng
có thể đượcgiao kết quađiện thoại, fax… Dođó,một trong những vấnđề pháp lý quan trọng trong khung pháp luậtvề thương mại điện tửlà quyđịnh vềhợpđồng trong thương mại điệntửđểcung cấp cho doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng có thể hình thành hợp đồng mà khôngcần đụngvào cái bút mà chỉ cần khách hàng điền thông tin trên các website hoặc đơn giản là đánh dấu vào hộp ‘Tôi đồng ý’. Xuất phát
từcác đặc điểm của hợp đồng trên Internet mà có một số vấn đề cần lưu ý: yếu tốthỏa thuận trong hợp đồng trên mạng bị hạn chế hoặc xác định nơi giao kết hợp đồng hoặcvấn đềlưu giữ hợp đồng… Trên cơ sở phân tích các quyđịnhcủapháp luậtvề hợp đồng trên Internet của Liên minh Châu Âu, của Mỹ và của Nam Phi, tác giả cho rằng khi thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu thì một số quốc gia vẫn chưa có các quy định pháp luật nhằm bảo vệ hữu hiệu quyềnlợi củangười tiêu dùng trong khi giao kết hợp đồng trên Internet. Điều này sẽ làm ảnh đáng kể đến quyền lợi của người tiêu dùng khi có tranh chấp với nhà cung cấp nước ngoài. Tác giả Emilio Tosi cho rằng, cùng với sự phát triển của thương mại điện tử thì hợp đồng ảo cũng ngày càng phổ biến. Trong đó, hợp đồng ảo là thuật ngữ xác định các hình thức khác nhau cho việc thỏa thuận trên không gian ảo của Internet hoặc các dịch vụkhác như thưđiện tử(email), website… trên Internet. Trong hợp đồng ảo, luôn tồn tại tính bất đối xứng. Tính bất đối xứng này thể hiện ở khả năng đàm phán của các bên, về việc nắm giữthông tin của các bên trong giao dịch thương mại điện tử. Tác giả Ephyro Amatong cho rằng hợpđồng điện tửlà sựthỏa thuận củacác chủthể theo quy định của pháp luật thông qua phương tiện điện tử. Trong hợp đồng điện tử cần có chữkýđiệntửnhằmthểhiện sựchấp thuận, xác thực và toànvẹnđốivớihợp đồng.Về nguyên tắc, hợp đồng được hình thành trên cơsởthỏa thuận của các bên chủ thể. Nhưng trong một số trường hợp, pháp luật quy định hợp đồng phải được tồn
tại dưới dạng viết. Trong trường hợp này,nếuhợp đồng điện tử(bản chất là thông điệp dữliệu) đáp ứng các yêu cầu của pháp luật thì cũng được coi là hình thức viết. Tác giả Faye Fangfei Wang hợp đồng trực tuyến là trọng tâm của các giao dịch thương mại điện tửvà các quy định của pháp luật được phát triển từ năm 1990. Tuy nhiên, vấn đề đề nghị giao kế hợp đồng và chấp thuận đề nghị giao kết hợp đồng của một
hợp đồng trực tuyến vẫn còn có các ý kiến khác nhau. Nguyên nhân của những ý kiến khác nhau là do thiếu sự tin tưởng trên môi trường Internet (môi trường ảo). Chính vìvậy, để củng cố lòng tin vào thương mại điện tử thì phải luật hóa việc đề nghị giao kết hợp đồng vàchấp thuận giaokết hợp đồngtrong thương mại điện tử. Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã tiến hành phân tích các quy định của pháp luật về hợp đồng điện tửở EU, Mỹ đồng thời phân tích khung pháp lý về hợp đồng điện
tửở Trung Quốc. Tác giả Trương Thị Linh đã trình bày các vấn đề pháp lý cơbản về giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử: giá trị pháp lý của hợp đồng điện
tử, xác địnhchủ thểtham gia giao kết hợp đồng và việc chứng thực chữ kýđiện tử. Tác giả Dương Thị Mai Ngọc cũng đưa ra các vấn đề pháp lý cơbản về hợp đồng điện tửnhư: khái niệm, chủ thể, nội dung, quá trình giao kết hợp đồng điện tử. Tác giả Trịnh Thị Thu Thảo đã tiến hành phân tích khá toàn diện các quy định của pháp luật về việc giao kết và thực hiện hợp đồng trên website thương mại điện ở Việt Nam: giao kết hợp đồng (đề nghị giao kết hợp đồng, rút lại hoặc thay đổi đề nghị giao kết hợp đồng,hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng…), thời gian vàđịađiểmgiao kếthợp đồng,thực hiện hợpđồng (nghĩavụ giao hàng, nghĩa vụ thanh toán…) và cơchế xửlý vi phạm. Tác giả Trần Đình Toản đã đưa ra một số vấnđềpháp lývềhợp đồng điệntửtheo quy địnhcủaLiên hợp quốc,Ủyban châu Âu: bản chất hợp đồng điện tử, nội dung của hợp đồng điện tử… Đồng thời tác giả cũng tiến hành so sánh hợp đồng điện tử với các hợp đồng thông thường khác. Tác giả Hà Vy đã trình bàytương đốicó hệthống các vấnđề pháplý vềhợp đồng thương mại điện tử như: chủ thể của hợp đồng, giao kết hợp đồng (nguyên tắc giao kết, trìnhtựgiao kết,thời điểmvàđịa điểmgiao kết…),nộidunghợp đồng,hình thức hợp đồng,thực hiện hợp đồng và trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng và nguồn luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng thương mạiđiện tử. Tác giả Trần Văn Biên đã phân tích một cách có hệ thống cácvấn đềlý luận về hợp đồng điệntửcũng như các quy định của pháp luậtvềhợp đồngđiện tửnhư: khái niệm,đặc điểm,lợi ích vàrủiro khi giaokế hợp đồng điệntử; giátrịpháp lý của hợp đồng điệntử, trìnhtựgiaokết hợp đồng điện tử, chữký trong hợp đồng điện tử…
Trên cơsởphân tích thực trạng quyđịnh củapháp luật Việt Namvềhợp đồngđiện tử, tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp đồngđiện tử. Tác giả Nguyễn Thị Mơ đã trình bày khá chi tiết các vấn đề pháp lý liên quanđến hợp đồng điện tửvà giao kết hợp đồng điện tử, cơ quan giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp đồngđiện tử. Đặcbiệt tác giả đã phân tích một cáchcó hệthống khung pháp lý về giao kết hợp đồng điện tử ở Việt Nam và một số nước trên thế giới. Ngoài ra tácgiảcũng đã phân tích thực trạng giao kết hợp đồngđiệntửvà đưa ra một số khuyến nghị đối với các doanh nghiệp khi giao kết hợp đồng điệntử.
Nhưvậy, vềvấnđề phápluậtvề hợp đồngtrong thương mạiđiệntửđãđược nhiều tác giảquan tâm.Vấnđề nàyđãđược các tác giảphân tích khá kỹvà có hệthống nhất là tácgiảNguyễn Thị Mơ và tácgiảTrần Văn Biên. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thi Mơđã được thực hiện từnăm 2006, còn công trình nghiên cứu của tác giả Trần Văn Biên chưa phân tích cụ thể thực trạng áp dụng quy định pháp luậtvềhợp đồng trong thươngmại điện tửtrong thực tiễnở ViệtNam. Chính vì vậy, bên cạnh việc kế thừa các kết quả nghiên cứu nêu trên, luậnán sẽtiến hành phân tích có hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng trong thương mại điệntử(trongbốicảnh Việt Nam có nhiều vănbảnpháp luậtmớiliên quan đến thương mại, có nhiều cam kết quốc tế mới) trên cơsởso sánh với các quyđịnh của một số nước trên thế giới. Ngoài ra, luận án sẽ phân tích thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật ở Viêt Nam nhằm chỉ ra những ưu, nhược điểm của pháp luật Việt Nam.
3.3.4. Các nghiên cứu về thanh toán trong thương mại điện tử
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\Pháp Luật về Thương mại điện tử ở Việt Nam
PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

