Pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn trung tâm và quan trọng nhất của quá trình giải quyết vụ án hình sự, nơi phản ánh đầy đủ và sâu sắc nhất bản chất nền công lý, hệ thống tư pháp của mỗi quốc gia, quyết định tính đúng đắn, khách quan trong việc giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, các hoạt động tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và tất cả các chứng cứ, tài liệu, đồ vật đều được kiểm tra, xem xét công khai, toàn diện nhằm đưa ra một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Thể chế hoá các yêu cầu cải cách tư pháp hình sự, BLTTHS năm 2003 và các văn bản hướng dẫn được ban hành đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng, trong đó có việc sửa đổi, bổ sung các quyđịnh liên quan đến thủ tục xétxửsơ thẩm cácvụ án hình sựnhằm nâng cao chất lượng xét xửvới mục đích đặt ra là xửlý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oanngườivô tội, bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân trong TTHS.
Thực tiễn thi hành các quy định về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sựtrong PLTTHS hiện hành đã phát huy tác dụng trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, nâng cao hiệu lực, hiệuquảcủa hoạtđộngtố tụng,bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, Bên cạnh đó, một số quy định về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cả về mặt lập pháp lẫn thực tiễn áp dụng; một số tư tưởng pháp lý mới, tiến bộ chưa được nghiên cứu, tiếp thu đầyđủ vào trong BLTTHS. Những vướngmắc, bất cập nêu trên đã ảnhhưởng không nhỏđến kết quả xét xử,đến yêu cầu xây dựng một nền tư pháp dân chủ, công bằng, nghiêm minh, bảo vệ
công lý, bảo đảm quyền con người… Bên cạnh đó, các chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp được ban hành trong thời gian qua đều nhấn mạnh đổi mới pháp luật về thủ tục xét xửsơ thẩm, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, bảo đảm khi
1
xét xử Tòa án phải là nơi thể hiện sự dân chủ, công khai, tạo điều kiện cho cácchủthể tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Cụ thể là: Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chínhtrị về một số nhiệm vụtrọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tớitrong đócó yêu cầu: “Khi xét xử, các Toà án phải đảmbảo cho mọicông dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sựdân chủ, khách quan; Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Toà án phải căn cứchủyếuvào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơsở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bịđơnvà nhữngngườicó quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luậtquy định”[2]; Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của BộChính trị vềChiến lược xây dựng và hoàn thiệnhệthống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, địnhhướngđếnnăm 2020 nêu rõ “Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dânđối với hoạt động tưpháp; bảo đảm chất lượng tranh tụngtạicác phiên toà xét xử, lấy kết quả tranh
tụng tại toà làm căn cứ quantrọng đểphán quyết bản án, coiđâylà khâuđộtpháđể nângcao chất lượng hoạt động tư pháp…” [3]; Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005củaBộ Chính trị vềChiếnlượccảicách tư phápđếnnăm 2020 nêu rõ“Đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử, xácđịnh rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp…, tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạtđộng điều tra…” [4]. Mặt khác, thời gian qua cũng đã có nhiều văn bản pháp luật mới được ban hành có các nội dung liên quanđến tố tụng hình sựnhư Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002; đồng thời cũng cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quyđịnh Bộ luật tố tụng hình sựnăm 2003 cho phù hợp với các quyđịnhcủaBộ luậthìnhsựnăm 1999 nhằm bảo
2
đảmtính thống nhất, đồng bộ giữa các văn bản pháp luật. Và đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đã có sựthayđổi về nhận thức với việc đề cao nhân tốcon người, xácđịnh Chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở vị trítrang trọng hàng đầu trong Hiến pháp (Chương II), đồng thời Hiến pháp có nhiều yêu cầumới đối vớiviệc hoàn thiện, bổsung thủ tục TTHS liên quan đến bảo đảm quyền con người, quyền công dân, trong đó nhấn mạnh đến các quy định về xét xử vụ án hìnhsựnói chung, xétxửsơ thẩm cácvụán hìnhsựnói riêng,đặcbiệt khoản 5Điều103 Hiến pháp năm 2013 quyđịnh:“Nguyêntắctranh tụng trong xétxửđược bảo đảm”.Những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo này đòi hỏi phải được nghiên cứu thấuđáo, toàn diện trong quá trình xây dựng, hoàn thiện các quyđịnh về thủtục xét xử sơthẩm vụ án hình sự.
Bên cạnh đó, khi tham gia nhiều điều ước quốc tế về đấu tranh phòng, chống tội phạm; Nhànước tađã cónhiều cam kết về cải cách thủ tụctố tụng nói chung, thủ tục xét xửsơ thẩm các vụ án hình sựnói riêng để bảo đảmtốt nhất các QCN trong TTHS. Điều này tất yếu đòi hỏi các các thủ tục TTHS của Việt Nam, trong đócó thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự phải có những điều chỉnh thích hợp đểthực hiện nghiêm chỉnh các cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam làthành viên.
Để đạt được cácyêu cầu, nhiệm vụ nêu trên, việc lựa chọn, nghiên cứu đề tài “Pháp luật về thủ tụcxét xửsơ thẩm các vụ án hìnhsự ởViệt Nam hiện nay” làm luận án tiến sĩ luật học của mình là rất cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn trong tiến trình cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay. 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về mặt lýluận, đánh giá chính xác, khách quan các quy định của pháp luật về thủ tục xét xử sơthẩm các vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó đưa ra các đề xuất, kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng ở Việt Nam.
3
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
– Làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa, các nguyên tắc áp dụng và các yếu tố hợp thành trong thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự? và phân biệt pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự với pháp luật tố tụng khác.
– Nghiên cứu, đánh giá pháp luật về thủ tục xét xửcác vụ án hình sựtrong các mô hình tố tụng hình sựvà trong PLTTHS củamột số nướcđại diện cho các truyền thống pháp luậtđiển hình trên thế giới nhằm mụcđích tìm ra những giá trịưu việt có thể vận dụng ở nước ta.
– Nghiên cứu thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự trong lịch sử PLTTHS Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLTTHS năm 2015.
– Phân tích, đánh giá đầyđủ, toàn diện các quyđịnh về thủ tục xét xửsơ thẩm cácvụán hình sự trong PLTTHS hiện hành và thực tiễn ápdụng ở ViệtNam, qua đó chỉ ra những ưu điểm cũng như những vi phạm, hạn chế và nguyên nhân của những vi phạm, hạn chế; trên cơ sở đó đưa ra các đề xuất, kiến nghị hoàn thiện các quyđịnhvề thủ tụcxét xửsơ thẩm cácvụ án hình sựtrong PLTTHS và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng tại Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các quyđịnh của pháp luật vềthủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự trên các phương diện: phương diện lý luận: nghiên cứu cơ sở lý luận của pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự trong PLTTHS; phương diện pháp luật thực định: nghiên cứu thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự trong PLTTHS Việt Nam từ năm 1945 đến nay và thủ tục xét xử sơthẩm các vụ án hình sự trong PLTTHS của 04 nước đại diện cho các truyền thống pháp luậtđiểnhình trên thế giới, đó là: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ; Cộng hòa Pháp, Liên Bang Nga, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc); và phương diện áp dụng pháp luật: nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự tại Việt Nam.
4
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đây là đề tài có phạm vi rộng, bao gồm nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến các nguyên tắc xét xử các vụ án hình sự; thẩm quyền, thời hạn xét xử sơ thẩmvụ án hình sự; liên quan đến các chức năng cơ bản của TTHS, các quyđịnh liên quanđến tổ chức và hoạt động củacác cơ quan tiến hànhtố tụngcũng như mối quan hệ giữa các cơ quan này trong thực tiễn thực hiện các thủ tục xét xử sơ thẩm
các vụ án hình sự… Trong khuôn khổ luận án tiến sĩ luật học, tác giả chỉ nghiên cứu các quy định của phápluật vềthủ tụcxét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, bao gồm:
các quy định của pháp luật về thủ tục chuẩn bị xét xử; thủ tục khai mạc phiên tòa, thủ tục xét hỏi, thủ tục tranh luận và thủ tục nghị án, tuyên án. Đồng thời luận án chỉnghiên cứu các quyđịnh pháp luật về thủ tục xét xửsơ thẩmđối với vụ án thông thường mà không nghiên cứu theo thủ tục đặc biệt (thủ tục rút gọn,thủ tục đối với người chưa thành niên…).
– Về phạm vi không gian và thời gian: luận án nghiên cứu thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự trong PLTTHS Việt Nam hiện hành cũng như việc thực tiễn thực hiện thủ tục này trên lãnh thổ Việt Nam trong phạm vi 10 năm gần đây (từ năm 2007đến hết năm 2016). Ngoài ra, các tài liệu, số liệu và thực tiễn áp dụng pháp luật về thủ tục xét xử các vụ án hình sự được trình bày trong luận án là kết quả khảo sát, đánh giá trên phạm vi toàn quốc, có chọn điểm là các tỉnh, thành phố cósốlượng án lớn, có nhiều vụ án trọng điểm so với các địa phương khác trong phạm vi cả nước.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 4.1. Cơ sở phương pháp luận
Cơ sởlý luận của luận án là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về pháp luật hình sự và
tố tụnghình sự; những thành tựu khoahọc vềtư pháp luật hình sự, triết học, tâm lý học, lôgíc học. Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tác giả đặc biệt coi trọng các phương pháp hệ thống,
lịch sử, lôgíc, phân tích, tổng hợp, so sánh, dựbáo để chọn lọc tri thức khoa học, kinh nghiệm thực tiễn. Tác giả luận án đã:
5
+ Nghiên cứu chính sách hình sự và tố tụng hình sự của Đảng và Nhà nước vàcác cơ quan tư pháp thể hiện trong các Nghị quyết, Chỉ thị và các văn bản pháp luật quan trọng khác.
+ Nghiên cứu hệ thống tư pháp hình sự bao gồm: Bộ luật hình sự; Bộ luật tốtụng hình sự; các Luật + Pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quanđến pháp luật thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự; công tác đấu tranh phòng, chống tộiphạm, những tài liệu lý luận khoa học pháp lý của các nhà nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước.
+ Nghiên cứu hệ thống tài liệu của ngành Công an; Viện Kiểm sát;Tòa án các cấp trong công tác phòng chống tội phạm nói chung.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, tổng hợp, hệ thống, luật học so sánh thông qua những tài liệu thứ cấp ở trong nước và nước ngoàiđể làm sáng tỏ những vấn đề được nghiên cứu trong phạm vi đề tài. Cụ thể:
1. Phương pháp nghiên cứu gián tiếp thông qua tổng hợp và phân tích tư liệu nhất là các tư liệuthứcấp, so sánh các vấn đề nghiên cứu giữa cácđối tượng được lựa chọn.
2. Phương pháp nghiên cứu trực tiếp thông qua việc tham dự các phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự và các bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật.
3. Phương pháp tiếp cận hệ thống đa ngành và liên ngành (chủ yếu là phương pháp tiếp cậncủachuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự); Xã hội học và các
phương pháp liên ngành như Lịch sử; Kinh tế; Hành chính…
Để giải quyết các mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
– Phương pháp kết hợp lý luậnvớithực tiễn: phương phápnày được sử dụng ở
tất cả các Chương của luận án. Cụ thể, tác giả sử dụng lý luận về quy trình lập pháp, thực tiễn pháp luật tố tụng hình sựViệt Nam để phân tích, đánh giá pháp luật thủ
tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự. Từđó,khát quát lên thành những vấn đề cótính lý luận và thực tiễn áp dụng (chương 1, 2); kết hợp lý luận và thực tiễn làm cơ
6
sở đề xuất các phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục xétxửsơthẩm các vụ án hình sự ở nước ta.
– Phương pháp phân tích và tổng hợp: phương pháp này được sử dụng trong tất cả các Chương của luậnán. Cụ thể là đượcsửdụng để đi sâu vào tìm tòi, trình bày các hiện tượng, các quanđiểmpháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, khát quát lại để phân tích, rút ra những cái thuộc về bản chất của các hiện tượng, các quy định và hoạt động thực tiễn của thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự (chương 1, 2). Từ đó, rút ra các đánh giá, kết luận, kiến nghị và giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự ở Việt Nam.
– Phương pháphệthống hóa:đượcsửdụng xuyên suốt trong toànbộluận án nhằm trình bày các vấn đề, các nội dung trong luận án theo một trình tự, một bố cục hợp lý, chặt chẽ, có sự gắn kết, kế thừa, phát triển các vấn đề, các nội dung để đạt được mục đích, yêu cầu đã được xác định cho luận án.
– Phương pháp so sánh luật học: phương pháp này chủ yếu được sửdụng tại Chương 2, Chương 3 của luận án.Cụ thể làđược vận dụng trong việc tham khảo kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của một sốnước trên thếgiới để từđó rút ra những điểm chung, những điểm khác biệt. Ngoài ra Chương 3 của luận án, tác giả cũngsửdụng phương pháp này để so sánh và rút ra bài học kinh nghiệm và kiến nghị phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự ở Việt Nam về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sựtrong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay.
5. Những đóng góp mới của luận án
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Nam ởcấp độ luận án tiến sĩ nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các quy định của pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự. Có thể xem những nội dung sau đây là đóng góp mới về mặt khoa học của luận án:
Thứ nhất, làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa, các nguyên tắc áp dụng và các yếu tố hợp thành trong thủ tục xét xửsơ thẩm các vụán hình sựvàphân biệt pháp luật vềthủ tục xét xửsơ thẩm các vụ án hình sựvới pháp luật tố tụng khác; nghiên cứu các quyđịnh về thủ tục xét xửsơ thẩm cácvụ án hình sự

trong các mô hình tố tụng và PLTTHS của một số nước đại diện cho các truyền thống pháp luật điển hình trênthếgiới. Đặcbiệt là phân tích, làm rõđiểmmớicủa Hiến pháp năm 2013 đã có sự thay đổi về nhận thức với việc đề cao nhân tố con người, đưa quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân lên trên (Chương II), đồng thời Hiến pháp có nhiều yêu cầu mới đối với việc hoàn thiện, bổsung thủ tục TTHS liên quan đến bảo đảm quyền con người, quyền công dân, trong đónhấn mạnh đến các quy định về xét xử vụ án hình sự nói chung, xét xử sơ thẩm các vụán hình sự nói riêng.
Thứ hai, phân tích, đánh giá đầy đủ, toàn diện các quy định về thủ tục xét xửsơ thẩm các vụ án hìnhsựtrong PLTTHS Việt Nam năm 2003, thực trạng áp dụng các thủ tục này tại Việt Nam, chỉ ra những ưu điểm, kết quả đã đạt được cũng nhưnhững vi phạm, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các thủ tục xét xử sơ thẩm các vụán hình sự và nguyên nhân của những vi phạm, hạn chế đó.
Thứ ba, luận giải, làm rõ các yêu cầu đối với việc hoàn thiện pháp luật về thủ
tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện các quy định về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong PLTTHS và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6.1. Ý nghĩa lý luận
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên biệt, thấu đáo, toàn diện những vấn đềlý luận và thực tiễncủapháp luật về thủ tục xét xửsơ thẩm vụ án hình sựtrong PLTTHS. Do đókết quả nghiên cứu của luận án sẽ bổ sung, phát triển hệ thống lý luận về tư pháptố tụnghình sự như: khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa, các yếu tố hợp thành của pháp luật về thủtụcxét xử sơ thẩm các vụ án hình sự vàphân biệt pháp luật vềthủ tục xét xửsơ thẩm các vụ án hình sựvới pháp luật tố tụng khác với những đóng góp về mặt khoa học đã nêu ở phần trên.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu và các đề xuất, kiến nghị trong luận án sẽ là cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định của phápluật về thủ tụcxét xử sơ thẩm vụ án hình sựtheo hướng khắc phục những bất cập, hạn chế trong pháp luật hiện hành, thiết kế
8
các quy địnhvề thủ tục xét xửsơ thẩm vụ án hình sự hợp lý, theo xu hướng chung của các nướctrên thế giới, phù hợpvớiđiềukiện cụthể của Việt Nam. Kếtquảnghiên cứu của luận án cũng là cơ sở đề ra các giải pháp tăng cường trách nhiệm của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về thủ tục xét xửsơ thẩmvụ án hình sự, nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm quyền con người trong TTHS.
Các đề xuất, kiến nghị mà luận án đưa ra được dựa trên cơ sở khoa học vàthực tiễn, do đó, có giá trị tham khảo thiết thực đối với các nhà lập pháp hình sựtrong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện PLTTHS, cũng nhưđối vớicác cán bộ làm công tác thực tiễn trong việc tìm hiểu, thực hiện các quy định của pháp luật vềthủ
tục xét xửsơ thẩm vụán hình sự. Đồngthời, luận ánsẽ là một tài liệu tham khảo trong công tác nghiêncứukhoahọcpháp lý nói chung cũng nhưđàotạo,bồidưỡng cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật nói riêng.
7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm 144 trang, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án được chia làm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu.
Chương 2: Những vấn đề lý luận của pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụán hình sự ở Việt Nam và một số nước trên thế giới.
Chương 3: Các quyđịnh của pháp luật về thủ tục xét xửsơ thẩm các vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam.
Chương 4: Hoàn thiện các quyđịnh của pháp luật về thủ tục xét xửsơ thẩm các vụ án hình sự và các giải pháp bảo đảm áp dụng ở Việt Nam.
9
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Việc nghiên cứu trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nhằm thiết kếhệ thống các quy phạm pháp luật trong PLTTHS ở Việt Nam cũng như của các nước về thủ tục này nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tưpháp trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, tạo cơ sở pháp lý cho việc xét xửsơ thẩm các vụ án hìnhsự, xửlý nghiêm minh, kịp thời, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,đồng thời bảo đảmtốt hơn quyền con người, quyền tựdo, dân chủ của công dân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Để có được một cái nhìn tổng quan khá toàn diện và chi tiết về các công trình nghiên cứu pháp luật về thủ tục xét xửsơ thẩm các vụ án hình sự cũng như thuận lợi hơn trong quá trình đánh giá kết quả nghiên cứu của một số công trình liên quan trực tiếp đến đề tài luận án, tác giả giới thiệu và sắp xếp các công trình nghiên cứu của một số học giả ở Việt Nam vàmột số quốc gia trên thế giới.
1.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.3. Đánh giá về tình hình nghiên cứu
1.3.1. Những kết quả nghiên cứu đạt được
– Các công trình trong và ngoàinướcở cácmức độ khác nhau đã đưa ra được tình hình áp dụng các quy địnhcủapháp luật về thủ tục xétxửsơ thẩm các vụ án hình sự, từ thực trạng cho đến những bất cập cần sửa đổi, bổ sung. Đặc biệt, trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã đưa ra, phân tích vàđề xuất,kiến nghị các biện pháp sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình pháp luật tố tụng hình sự của nước ta trong giai đoạn hiện nay.
– Các công trình nghiêncứu nướcngoài cũng đã đưa ra cái nhìn khá toàn diện pháp luậtvềtốtụng hìnhsựđượctiếp cận từnhiều góc độ khác nhau. Mặc dù các nước với hệ thốngphápluật tốtụng có quy định khác nhau, song việc tiếp cận nhưvậy sẽ cho phép tác giả có cơ sở khái quát khái niệm pháp luật về thủtụcxét xử sơ thẩm vụ án hình sự trongLuật tốtụng hình sự Việt Nam một cách đa chiều.
– Các công trình nghiên cứu ởViệt Nam cũng đã bước đầutiếp cận và phân tích về thủ tục xétxửsơ thẩm vụ án hình sự trong một số vụ án hìnhsựcụ thể. Các tác giả cũng đưa ra một số giải pháp ban đầu về hoàn thiện các quy định về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở Việt Nam… Các công trình, bài viết phân tích này sẽtiếp tục được tác giả đánh giá, bình luận và từ đó đưa ra những nhận định riêng của mình về khái niệm pháp luật vềthủ tục xét xửsơ thẩmvụ án hình sự,cũng nhưphân tích những ảnh hưởng tích cực cũng như vi phạm trong quá trình áp dụng pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết các vụ án hình sự ở nước ta hiện nay.
Tuy nhiên, xét ở bình diện tổng thể thì chưa có những công trình chuyên biệt nghiên cứu thấu đáo, toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật vềthủtụcxét xử sơ thẩm các vụ án hìnhsựtrong pháp luật tố tụng hình sự nên những quy
định về thủ tục này chưa đầy đủ, toàn diện, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn tố tụng ở
20
nước ta, phù hợp với xu hướng chung của các nước trên thế giới. Do vậy, để đápứng yêu cầu của thực tiễn, luận án phải đi sâu nghiên cứu, đánh giá toàn diện pháp luật về thủ tục xétxửsơ thẩm cácvụ án hình sự, làm rõ cơ sở lý luận như khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa, các yếu tố hợp thành của pháp luật về thủ tục xét xửsơ thẩm các vụ án hình sự và phân biệt phápluật về thủtục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự với pháp luật tố tụng khác; nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của chế định phápluật về thủ tụcxét xử sơ thẩm trong PLTTHS Việt Nam từ năm 1945 đến nay; nghiên cứu PLTTHSvềthủtục xét xử sơ thẩm cácvụán hình sự trong các mô hình tố tụng hìnhsựvà trong pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới; phân tích, đánh giá các quy địnhvềxét xử sơ thẩm trong PLTTHS hiện hành vàthực tiễn áp dụng tại Việt Nam, từ đó đưa ra các kiến giải cụ thể hoàn thiện các quyđịnh pháp luậtvề thủtụcxétxửsơ thẩm trong PLTTHS, góp phần quan trọng vào công cuộccảicách tư pháp nói chung, tư pháp hìnhsựnói riêng, phụcvụcông tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm QCN trong TTHS.
Những kết quả nghiên cứu trên của các tác giả trong và ngoài nước là nguồn tư liệu quý báu giúp tác giả nghiên cứu, tham khảo, so sánh và tiếp thu để giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra.
1.3.2. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
Thứ nhất, cần phải làm rõ cơ sở lý luận củapháp luật về thủ tục xét xửsơthẩm các vụ án hìnhsự, cụ thểlà: đưa ra được khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa, các nguyên tắc áp dụng và đối tượng của pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụán hình sự; nêu rõsựkhác biệt giữa pháp luật về thủ tục xétxửsơ thẩm các vụ án hình sự với pháp luật tố tụng khác.
Thứ hai, nghiên cứu, đánh giá pháp luậtvề thủ tục xét xửsơ thẩm các vụ án hình sựtrong mô hìnhtố tụng hìnhsựtranh tụng và trong mô hình tố tung thẩm vấn; phân tích, làm rõthủ tụcxét xử sơ thẩm các vụ án hình sự trong PLTTHS của một số nước đại diện cho các truyền thống pháp luật điển hình trên thế giới: các nước Cộng hòa Pháp, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc). Trên cơsởđórút ra những nhận xét, đánh giá,chỉrađược những giá trị có thể vận dụng ở Việt Nam.
21
Thứ ba, nghiên cứu, đánh giá quá trình hình thành và phát triển pháp luật vềthủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự ở Việt Namtừnăm 1945 đến trước khi ban hành BLTTHS năm 2015, từ đó rút ra được những nhận xét về xu hướng phát triển củapháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự trong tiến trình lịch sửtố tụng hình sự Việt Nam.
Thứ tư, phân tích, đánh giá toàn diện, đầy đủ các quy định của PLTTHS đểtìm ra được những ưu điểm và bất cập, hạn chế về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sựBLTTHS năm 2003 và các vănbảnhướng dẫn thi hành. Đánh giá thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, thông qua việc nhận diện, làm rõ những kết quả đãđạt đượccũng như những tồn
tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng và chỉ ra được nguyên nhân của những hạn chế.
Thứ năm, nghiên cứu, cần làm rõ các yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện các quyđịnh pháp luật về thủ tục xét xửsơ thẩm các vụ án hình sựở Việt Nam trong thời giantớithông qua nghiên cứu các yêu cầu về thể chế hóa các chủ trương của Đảng,pháp luật của Nhà nước,vềcụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, các cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có liên quan đến pháp luật vềthủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự; yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn cũng nhưkinh nghiệm của một số nước trên thế giới nhằm đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm QCN trong TTHS.
Thứ sáu, nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, bao gồm thủ tục chuẩn bị xét xử, thủ tục khai mạc phiên toà, thủ
tục xét hỏi, thủ tục tranh luận, thủ tục nghị án và tuyên án.
Thứ bảy, đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định pháp luật về về thủ tục xét xửsơ thẩm các vụ án hình sự trong thực tiễn, bao gồm nâng cao vai trò, trách nhiệm của các chủ thể tiến hành tố tụng,đổi mớiphương thức tổchức, chỉ đạo, điều hành; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; hoàn thiện tổ chức bộ máy, đào tạo cán bộ và tăngcườngcơ sở vật chất – kỹ thuật, kinh phí cho hoạt động TTHS.
22
Từnhững vấn đềnêu trên thì việc nghiên cứu các giải pháp pháp lý để hoàn thiện pháp luậtvềthủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sựở ViệtNam trong xu thế hội nhập rất có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn trong bối cảnh hiện nay, khi màcác lĩnh vực pháp luật tố tụng hìnhsựchưa có được những quy định cần thiết nhằm nâng cao chấtlượngxét xử sơ thẩm các vụ án hình sự. Vì vậy, luận án sẽ đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và hoàn thiện các cơ chế thực thi pháp luật đảmbảo cho việc điều tra, truy tố, xét xửcó hiệu quả ở Việt Nam hiện nay và trong thới gian tới.
Kết luận chương 1
1. Pháp luật về thủ tục xét xửsơ thẩm cácvụ án hình sựđã dànhđược sựquan tâm nghiên cứu nhất định của các chuyên gia, các nhà khoa học và những người làm công tác thực tiễn. Trong thời gian qua đã có một số công trình khoa học, các bài báo, bài viết nghiên cứu xung quanh vấn đề này nhằm đưa ra các kiến giải khoa học, góp phần hoàn thiện chế địnhpháp luật vềthủ tụcxét xửsơ thẩm. Tuy nhiên, các công trình khoa học, các bài báo, bài viết chủyếu đề cập đến thủ tục xét xửsơ thẩm mà chưa có công trình khoa học, nhất làở cấpđộ luận án tiến sỹluật học nghiên cứu chuyênsâu, đềcậpđầy đủ, toàn diện những vấn đềlý luận của pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự và thực trạng pháp luật và thực tiễnáp dụng các quyđịnh của pháp luật tố tụng nhằm tạo cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất, hoàn thiện các quyđịnhcủa pháp luậtvề thủtục xét xửsơ thẩm vụ án hình sự ở Việt Nam.
2. Trên cơ sở tổng hợp và khái quát kết quả của các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan, luận án đã phân tích tổng quan tình hình nghiên cứuở trong nước và ở nước ngoài cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn và những vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án, qua đó đặt ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về xét xử sơthẩm cácvụ án hình sự, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện PLTTHS theo hướngchặt chẽ, chính xác, khách quan và khoa học, đưa ra các giải pháp hữu ích, thiết thực để
23
nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định pháp luật về xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi tất yếu trong giai đoạn hiện nay.
3. Từkết quả phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu, có thể khẳng định luận án là một công trình chuyên khảo nghiên cứu chuyên sâu ở cấp độ luận án Tiến sĩ đề cập đầy đủ, toàn diện, có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền,bảovệ lợi ích chung của Nhà nước, xã hội, góp phần đấutranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả, bảo đảm quá trình giải quyết VAHS được khách quan, toàn diện, triệt để, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bảo đảm QCN, quyền công dân khi tham gia vào hoạt động TTHS.
24
Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC
XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM
VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
2.1. Những vấn đềlý luận của pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự ở Việt Nam
2.1.1. Khái niệm pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
Để làm rõ khái niệm “pháp luậtvề thủ tụcxét xử sơ thẩm các vụ án hình sự” thì trước hết cần hiểu rõ các khái niệm “thủ tục”,“thủ tục tố tụng”,“xét xử sơ thẩm”.
Theotừđiểntiếng Việt thì“Thủtụclà những việccụthểphải làm theo một trật tự quyđịnh để tiến hànhmột công việc có tính chất chínhthức”. Như vậy, nội hàm của thủtụcđãbaogồmcác nội dung về các việccụthể mà nhữngchủthể cótrách nhiệm phải làm, cụ thể cách làm và thứ tự thực hiện các công việc [90, tr. 315].
Theo Từ điển Luật học. Nxb TừđiểnBách khoa, Hà Nội năm 1999, thì “thủtục tố tụng là cách thức, trình tự và nghi thức tiến hành xem xét một vụ việc hoặc giải quyết một vụán đã được thụ lýhoặc khởi tố theo các quy định của pháp luật. Thủ tục TTHS được quy định áp dụng cho việc giải quyết các vụ án hình sự. Thủ tục tư pháp chính là thủ tục tố tụng.” [89, tr. 725].
Theo quanđiểmcủaGS. TSKH.ĐàoTrí Úc- ĐạihọcQuốc gia Hà Nội, khái niệm về tố tụng hình sự đó là “sự hiện diện của những cơ quan, cá nhân mà pháp luật xác định cho những mức độ thẩm quyền, địa vị pháp lý; với những mối quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện các chức năng, thẩm quyền, quyền và nghĩavụđóvàtheo một trình tự, với những thủ tục pháp lý chặt chẽ nhằm hướng tới sự xác định các yếutốvềtộiphạm và hình phạt trong hành vicủacá nhân con người. Lĩnhvựchay phạm vi đó được gọi là tố tụng hình sự” [95, tr. 243].
Theo Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trường đạihọcLuật Hà Nội, NXB CAND Hà nội 20017 thì “xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của
25
TTHS, trong đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật” [92, tr. 52].
Qua nghiên cứu về cách giải thích nêu trong các cuốn từ điển, giáo trình trên cho thấy, do cách tiếp cận khác nhau nên các tác giảđưa ra những nội dung khác nhau khi giải thích về XXST, theo đó các cuốn từđiển thì tiếp cận dưới góc độ ngữnghĩa, ý nghĩavềmặt ngôn ngữcủathuật ngữ này, còn giáo trình giảng dạy đại học thì tiếp cận thuật ngữnàytừgóc độ bản chất pháp lý của một thủ tục tố tụng tưpháp. Tuy nhiên, có thể hiểu: “Xét xử sơ thẩm vụ án hìnhsựlà giaiđoạnthứtư và cuối cùng, trung tâm và quan trọng nhấtcủahoạt độngtốtụng hình sự, mà trongđó cấp Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành: 1) áp dụng các biện pháp chuẩn bị cho việc xét xử, 2) Đưa vụ án hình sự ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm để xem xét về thực chất vụ án, đồng thời trên cơ sởkết quả tranh tụng công khai và dân chủ của hai bên (buộc tội và bào chữa) phán xét về vấn đề tính chất tội phạm (hay không) của hành vi, có tội (hay không) của bịcáo và cuối cùng, tuyên bản án (quyết định) của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhằm giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục”.
Pháp luật về thủ tục xét xửsơ thẩm các vụ án hình sựlà tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong giai đoạn xét xửsơthẩm các vụ án hình sự.Thời điểmcủa giai đoạn nàyđược bắt đầu từkhi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án hình sự(với quyết định truy tố bị can trước Tòa án kèm theo bản Cáo trạng) do Viện kiểm sát chuyển sang và kết thúc bằng một bản án (quyếtđịnh) có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Như vậy pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự như một phạm trù chủ quan nhận thức hiện tượng khách quan của nhà làm luật. Các quy định của pháp luậtvề thủ tục xét xửsơ thẩm được xây dựng trên cơ sở các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong từng thời kỳlịch sửthông qua quá trình giải quyết các vụ án hình sự(VAHS)vớinhững nguyên tắc (quy luật) cơ bản của nó hướng tới việc giải quyết VAHS đượckhách
26
quan, công bằng.Đồng thời trong từng giai đoạn cụ thể còn là yêu cầu củanhân dân, của xã hội đối với quá trình xét xửngười phạm tội. Nhà làm luật, trên cơ sởnhận thức các quy luật khách quan đó ghi nhận trong các quy phạm pháp luật về xét xửsơ thẩm các vụ án hình sự, thể hiện ý chí của nhân dân thông qua việc xác định những thủ tục tố tụng cho các hoạt động của các chủ thể ở giai đoạn này.
Các quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng xét xử sơ thẩm các vụ án hình sựbao gồm các quy định về điều kiện, quy tắc phải tuân theo khi thực hiện các hành vi
tố tụng,về phạm vi và thẩm quyền của các chủ thể tham gia thực hiện hành vi tố tụng, về trình tự thực hiện và cách thức ghi nhận kết quả của hành vi trong những
văn bản tố tụng,về cấutrúc của các vănbản đó… Nhưvậy, dưới gócđộ pháplý, cóthể hiểu pháp luật về thủ tục xétxửsơ thẩm các vụ án hình sự là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định về trình tự, thẩm quyền, thời hạn để tiến hành việc xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự. Trên cơsở những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm:“Pháp luật về thủ tục xétxử sơthẩm các vụ án hình sự là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn, điều kiện, các bảo đảm chung thống nhất và có tính bắt buộc phải tuân thủ theo luật định,các hành vi tố tụng cụ thể, các quyết định tố tụng và việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tố tụng trong việc giải quyết vụ án hình sự ởgiai đoạn xétxử sơ thẩm đểđưa vụ án hình sự ra xét xử công khai tại phiên toà sơ thẩm nhằm đảm bảo kịp thời, có căn cứ, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và kết án oan người vô tội”.
2.1.2. Đặc điểm pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
Đặc điểm của hoạtđộng xét xửnói chung và xét xử sơ thẩm các vụ án hình sựcủa tòa án nói riêng đều được thừa nhận và khẳng định là hoạt động tư pháp – hoạt động này nhằm thực hiện quyền tư pháp – một dạng của quyền lực nhà nước. Với chức năng xét xử thì Tòa án là đại diện cho quyền lực tư pháp, có mục tiêu bảo vệ công lý, phán xét về tính đúng đắn, tính hợp pháp của các hành vi, các quyết định khi cósựtranh chấp về quyền và lợi ích giữa các chủ thể pháp luật. Hoạt động xét xử là hoạt động của Tòa án nhân danh Nhà nước để ra phán quyết. Do vậy, phán quyết của Tòa án được bảo đảm thi hành bởi sự cưỡng chế của Nhà nước.
27
Pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự ra đời và phát triển với tính cách làmộthiệntượngxãhộihiện thực, khách quan nênvừacóđặcđiểmcủa pháp luật nói chung, vừa có đặc điểm riêng biệt nhằm tạo nên các dấu hiệu đặc thù dễnhận thấy đểphân biệt với các quy phạm pháp luật khác. Cụ thể pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự có các đặc điểm cơ bản sau đây:
– Thứ nhất, tính thống nhất là yêu cầu chung do luật quyđịnh về thời hạn, trình tựthống nhất giải quyết (xét xử) đối với tất cả các vụ án hìnhsựkhông phụthuộc vào địa giới hành chính hay tính phức tạp của chúng. Pháp luật về thủ tục xét xửsơ thẩm các vụ án hình sự chỉ quy định một số khác biệt trong trình tự, thời hạn tiến hành giải quyết vụ án hình sự khi có những căn cứ nhất định. Ví dụ như khi xét xửđối với bị cáo là người chưa thành niên phạm tội thì trình tự tiến hành vụ án lúc này khác với trình tự thông thường là bắt buộc phải có sự tham gia của người bào chữa hoặc có Hội thẩm nhân dân là giáo viên (từ Điều 301 đếnĐiều310 BLTTHS năm 2003 nay là Điều420 BLTTHS năm 2015) [79, tr. 24]. Hoạt động xét xửsơthẩm cácvụ án hình sự mang tính chuyên môn và thực hiện thống nhất thông qua nhiều thủ tục khác nhau. Khi thực hiện hoạt động xét xử các chủ thể phải chấp hànhđầy đủ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung đồng thời còn phải tuân theo một số nguyên tắc có tính đặc thù của hoạt động xét xử nhưtính độc lập, khách quan, vô tư, công bằng.
– Thứ hai, tính quy phạm là đặc trưng vốn có của pháp luật nói chung, pháp luật về thủ tục xét xử các vụ án hình sự nói riêng, bởi pháp luật là hệ thống các quy
tắc mang tính chất mẫu mực, khuôn thước cho mọi người trong cách xửsự, thực hiện. Các quy định của pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự có tính bắt buộc đối với các chủ thểtiến hànhtố tụng phải chấp hành một cách triệtđể, nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật khi thực hiện các hành vi tố tụng như tuân thủtrình tự, thủ tục, thời hạn mở phiên tòa hình sự sơ thẩm và các trình tự tố tụng khác tại phiên tòa là cơ sở bảo đảm tính hợp pháp của kết quả giải quyết vụ án, ra các văn bản, quyết định tố tụng đúng quyđịnh của pháp luật. Đồng thời những
người tham giatố tụng (bị can, bị cáo, nhân chứng, người liên quan…) cũng phải
28
nghiêm chỉnh chấp hành các quyđịnh của pháp luật tố tụng như có mặt đúng giờtheo giấy triệu tập, có mặt tham gia phiên tòa xét xử. Có thể nói, hình thức tố tụng là cách thức thực hiện và thiết lập chế độ pháp chế trong hoạt động của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụngở giai đoạn xét xửsơthẩm các vụ án hình sự. Tuân thủ hình thức tố tụng là một trong những bảo đảm quan trọng đối với các quyền và tự do hiến định của công dân không bị xâm phạm và hạn chế trái pháp luật [79, tr. 25].
– Thứ ba, tính quyền lực cũng giống như quy phạm pháp luật nói chung, pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự do Nhà nước ban hành và thể hiệný chí của Nhà nước. Điều này có nghĩa là Nhà nước đã trao cho các chủ thể tiến hành tố tụng tính quyền lực bắt buộc với mọi cơ quan, tổ chức và công dânđể các quy phạm này trở thành các quy tắc xửsựmang tínhbắtbuộc chung ở giai đoạn xét xửsơ thẩm các vụ án hình sự, bảo đảmlà công cụ hữu hiệu của Nhà nướcnhằmđảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành. Yêu cầu này được thể chế vào trong các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, làm cơ sở pháp lý cho các hoạt động xét xử đạt được tính hợp pháp và hợp lý, bảo đảm các quyền và tự do hiến định của những người tham gia tố tụng, bảo đảmcho các bản án, quyết định của Toà án luôn khách quan, công minh.
– Thứ tư, tính tuân thủ (bắt buộc), nếu BLHS dành quyền chủ động cho các chủ thể tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên) có quyền lựa chọn việc áp dụng pháp luật thì đối với các quy phạm của tố tụng hình sự đặt ra,yêu cầu đối với các chủ thểchỉ được quyền chấp hành, tuân thủ tuyệt đối. Mối quan hệgiữa BLTTHS và BLHS là mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật hình thức với pháp luật nội dung thể hiện tính thống nhất, xuyên suốt ở tất cả các giai đoạn giải quyết vụ án hình sự nhưng thể hiện rõ ràng nhất chính là ở giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự. Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, Thẩm phán còn là chủ thể cuối cùng kiểm tra, đánh giá việc thu thập tài liệu, chứng cứ, áp dụng pháp luật của các chủthể tố tụng khác có căn cứ, đúng pháp luật hay không?Đồng thời chính bản thân Thẩm phán nếu có vi phạm về thủ tục tố tụng thì phán quyết cũng bị hủy bỏ.Hoạt
29
động xétxửsơ thẩm các vụ án hình sự muốnđạt đượchiệuquảphải được bảo đảm tính thống nhất, bằng các quy định phù hợp thể hiện được ý chí của nhà cầm quyền. Cụ thể là pháp luật vềthủ tục xét xửcác vụán hình sựphải phù hợp với sựphát triển kinhtế xã hội, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước. Ngoài ra, pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự chỉ phát huy đượcđầy đủ,hiệu quả khi nó được người dân nhận thức sâu sắc vàthấy được sựhợplý, công bằng trong việc giải quyết (xét xử) của Tòa án.
– Thứ năm, tính bảo đảm thực hiện: theo quy định tại các khoản 1,3,6 – Điều 5 BLTTHS thì: 1. trong phạm vi trách nhiệm của mình, cơ quan nhà nước phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm; 3. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm tạo điều kiện để cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm; 6. Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hànhtố tụng thực hiện nhiệmvụ.Đâylà nội dung các yêu cầu để đảmbảo cho BLTTHS được thực hiện nghiêm chỉnh, hiệu quả. Ngược lại, thông qua việc tuân thủ các quy định của pháp luật về thủ tục xétxửsơ thẩm các vụ án hình sự, pháp luật tố tụng đã trở thành điều kiện bảo đảm cho hoạt động xét xử đạt hiệu quả.
Pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự được bảo đảm thực thi thông qua một hệ thống các cơ quan tư pháp, bao gồmcác cơ quan như Công an (cảnh sát), Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan Thi hành án…và cũng chính các cơ quan trên bảo đảm cho Luật tố tụng hình sự được phát huy hiệu quả và giá trị của nó. Bên cạnh đó, pháp luậtvề thủ tục xétxửsơ thẩm các vụ án hình sựcầnphải đảmbảođượckhả năng tiếp cận thông tin của quần chúng nhân dân. Như vậy, các cơ quan tư phápphải chủ độngcông bố công khai những trình tự thủ tục rõ ràng thuận tiệnđể người dân có thể dễ dàng tiếp cận được thông tin khi có nhu cầu. Ngoài ra, người dân có thể tiếp cận được thông tin ngay cả khi không có nhu cầu bằng việc cơ quan tư pháp (Tòa án) chủ động công khai thông tin (các bản án đã có hiệu lực pháp luật) trên các trang thông tinđiện tửcủa cơ quan hoặc thông qua các kênh phổ biến kiến thức pháp luật khác để đông đảo quần chúng được biết mà không cần phải yêu cầu.
30
2.1.3. Vai trò, ý nghĩa pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
Xét xử là chức năng quan trọng nhất của Tòa án nói riêng và của toàn bộ quátrình tố tụng hình sự nói chung nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật địnhđể kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các quyết định mà cơ quanĐiều tra và Viện kiểm sát đã thông qua trước khi chuyển vụ án hình sự sang Tòa án, nhằm loạitrừcác những hậu quả tiêu cực của các sơ xuất, sai lầm hoặc sự lạm dụngđã bị bỏ lọt trong các giai đoạn tố tụng hình sựtrước đó (khởi tố, điều tra và truy tố), chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, hoặc trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc đình chỉ (hay tạm đình chỉ) vụ án;
Bằng việc xétxửsơ thẩm, thông qua quá trình điều tra trực tiếp tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ của các bên, Tòa án với tính chất là cơ quan trọng tài kiểm tra lại và đánh giá một cách toàn diện, khách quan và đầyđủ các chứng cứ, các tình tiết của vụ án hình sự để giải quyết về bản chất nó – phán xét về vấn đề tính chất tội phạm (hay không) của hành vi, có tội (hay không) củabịcáo hoặc bằng việc kiểm tra tính hợp pháp nhằm đạt mục đích trong toàn bộ các giaiđoạn tố tụng hình sựlà tuyên một bản án (quyết định) có hiệu lựcpháp luật một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục tránh bỏ lọt tội phạm và kết án oan người vô tội.
Xét xửlà một giai đoạn tố tụng hình sựtrung tâm và quan trọng để cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tựdo của công dân trong các giai đoạn xét xửcủa Tòa án nói riêng và toàn bộ hoạt động tư pháp hình sự của Nhà nước nói chung, góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội, cùng với các giai đoạn tố tụng hìnhsựkhác góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội.Điềunàyđượcthểhiện qua các nội dung sau:
Thứ nhất, pháp luật về thủ tục xét xử các vụ án hình sự là hình thức pháp lýđể thể hiện quyền tư pháp.
Quyền lực nhà nước bao gồm ba bộ phận chủ yếu hợp thành: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Việc thực thi quyền tư pháp thông qua các thiết
31
chế tổ chức và phương thức hoạtđộngtheo các nguyêntắcđặc thù và quy trìnhthủtục chặtchẽ để bảo vệpháp luật, duy trì công lý có tác động trực tiếp đến niềm tin
của nhân dân vào Nhà nước và chế độ xã hội, là thước đo mức độ dân chủ của Nhà nước, tính nhân văn, nhân đạo của pháp luật nói chung, pháp luật tố tụng hình sựnói riêng. Pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự là cơsở pháp lý đểcác bên có vị trí độc lập với nhau về lợi ích, khác nhau về chức năng tố tụng (buộc
tội, bào chữa) thực hiện việc tranh tụng với nhau, trên cơ sở đó Toà án nhân danh Nhànước thực thi công lý, đưa ra phán xét về hành vi phạm tội, về tính đúng đắn, hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của các chủ thể tố tụng ngoài Toà án nhằm duy trìtrật tự pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm sự ổn định chungcủaxã hội. Khôngmộtcơ quan,tổchức hay cá nhân nào nào có quyền nhân danh quyền lực Nhà nước để xét xử, kết tội đối với người một người phạm tội, ngoại trừ Toà án – cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Pháp luật về thủ tục xét xử được xem làtrung tâm, giữ vai trò quyết định trong hoạt động xét xử của Toà án.Thông qua việc áp dụng các quy định của pháp luật về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Tòa án nhân danh Nhànướcrabảnán hoặc quyếtđịnhcó tính chấtkếtluậnvềvụán,gồmnhững nội dung quan trọng như: có hay không có hành vi phạm tội, ai là người thực hiện hành vi phạm tội, lỗi, tính chất mức độ thiệt hại, quyết định hình phạt, các biện pháp tư pháp, nhằm bảo đảm việc xử lý vụ án đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Thứ hai, pháp luật về thủ tục xét xử các vụ án hình sự là cơsở bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Vấn đề vai trò, ý nghĩa của pháp luật về thủtục xét xửcác vụ án hình sựđược nhìn nhận ở góc độ xã hội học, xem đó như là một giá trị xã hội khách quan vìnó cần trước hết cho xã hội. Điều này có nghĩa là phápluật vềthủ tục xét xử các vụ án hình sự có cội nguồn xã hội, từ chính xã hội. Giá trị xã hội của pháp luật về thủ
tục xét xử các vụ án hình sựthể hiện ở chỗ là cái bảo đảmvững chắc cho lợi ích của Nhà nước (lợi ích công) và lợi ích cá nhân.
32
Với ý nghĩa là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước, pháp luậttốtụng nói chung, pháp luật về xét xử sơthẩm vụán hình sự nói riêng luôn bảo vệ lợi ích của hai nhóm, đó là – lợi ích công và lợi ích cá nhân. Hai nhóm lợi ích này có mối quan hệ biện chứng như cặp phạm trù thống nhất và đấu tranh giữa hai mặt đối lập. Lợiích công thể hiện ở việc điều tra kịp thời và đầy đủ, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, xét xửvà áp dụng hình phạt công minh, đúng pháp luậtđối với người phạm tội, còn lợi ích cá nhân thể hiện ở việc bảo đảmcho người vô tội không bịtruy cứu trách nhiệm hình sự oan, người bị truy tố, xét xử oan được minh oan và bồi thường thiệt hại; các quyền con người, quyền cơ bản của công dân, của bị can, bịcáo không bị hạn chế trái pháp luật [13, tr. 23]. Lợi ích Nhà nước và xã hội đòi hỏi việc thực thi quyền lực công phải mạnh mẽ, tích cực và kiên quyết. Việc nhận thức không đúng, quá đề cao lợi ích công sẽ dẫn đến xem nhẹ lợi ích cá nhân, xem nhẹnhững giá trị quyền con người. Ngược lại, quá chú trọng đến lợi ích cá nhân thì lợiích công sẽ bị xâm phạm. Cụ thể là Nhà nước thực hiện quyền trừng phạt người phạm tội nhưngđồngthời cũng bảovệngườivô tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan. Tòa án được xem là công cụ quan trọng nhất đảm bảo quyền con người khi các quyền và lợi ích của công dân bị vi phạm. Xét xửvụ án hình sựchính làthành trì vững chắc cho việc bảo vệ quyền con người, quyền tự do và dân chủ của các cá nhântrước sựxâm phạm của bất cứ chủ thể nào, trong đó có cả đối với các chủ thể là các cơ quan nhà nước.
Thứ ba, pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự với các quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục nhằm tìm ra chân lý của vụ việc để đi đến kết luận vềhành vi phạm tội và người thực hiện tội phạm.
Để bảo đảm cho việc truy tố bị can ra trước Toà án và thực hiện việc buộc tội bị can tại tòa án. Bộ luật tố tụng hình sựquyđịnh trách nhiệm thu thập, điều tra chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội và người thực hiện tội phạm thuộc về bên buộc tội(Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát). Kếtquả hoạtđộngcủa các cơ quan này được thể hiện trong hồ sơ vụ án, trong các quyết định tố tụng. Tuy nhiên, xuất phát từ nguyên tắc pháp lý được thừa nhận chung của nền văn minh pháp lý đó là:
33
không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa ánđã có hiệu lực pháp luật, do vậy, mọi nhận định thể hiện trong các tài liệu, quyếtđịnh tố tụng của Cơquan điều tra, Viện kiểm sát chuyển sang Tòa án chưa có giá trịkết luận về hành vi phạm tội của người bị tình nghi. Về bản chất, ở giai đoạn điều tra, truy tố các chủ thể của bên buộc tội cũng như bên bào chữa chỉmớilàm công tác chuẩn bị, thu thập chứng cứ, tài liệu về vụ án, các văn bản pháplý cần thiết đểthực hiện chức năng của mình tại phiên tòa. Pháp luật quyđịnh về phiên toà sơthẩm là nơi các bên thực thi chức năng tố tụng của mình một cách công khaivà đầyđủ nhất. Kiểm sát viên là người đại diện Nhànước thực hành quyền công tố thực hiện chức năng buộc tội tại phiên tòa. Bị cáo và người bào chữa của họ thực hiện chức năng gỡ tội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo trong không gian có sựchứng kiến của công chúng và sự tham gia của Tòa án. Toàn bộ chứng cứ, tài liệu đã thu thập trước đó được Tòa án đưa ra kiểm tra công khai nhằm đánh giá tính khách quan, tínhhợpphápđểkiểm tra tính có căncứcủanhững chứngcứ,tài liệu này. Các chủ thể tại phiên tòa sơ thẩm được công khai tranh tụng, đưa ra lập luận, căn cứ để bảovệ hoặc bác bỏ những lý lẽ khác thông qua việc cung cấp chứng cứ, kiểm tra chứngcứ hoặc đưara các yêucầu[76, tr. 19].Sự cọ xátgiữa các chứng cứ, lập luận do bên buộc tội và bên gỡ tội đưa ra, việc tranh tụng dân chủ, công khai, bình đẳng tại phiên tòa sơ thẩm là điều kiện để xác định sự thật khách quan của vụ án.
Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố được thẩm tra công khai tại phiên toà cũng như việc tranh luận, trình bày các luậnđiểm, luận cứbào chữa, lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, Toà án sẽ ra phán quyết bị cáo có tội hoặc không có tội, phạm tội gì và áp dụng điều khoản nào của Bộ luật hình sự để tuyên phạt bị cáo [95, tr. 147]. Chỉ có phán quyết của Tòa án mới có giá trị pháp lýkết luận về mọi vấn đềtrong vụ án hình sự, gồm cả kết luận vềtính khách quan, hợp pháp và có căn cứ của các chứng cứ, tài liệu đã
thu thập được của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và người bào chữa hoặc bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố.
34
Thứ tư, pháp luậtvề thủ tục xétxử sơ thẩm vụ án hình sự là thước đo, làđiều kiện để bảo đảm sự dân chủ, bình đẳng, công bằng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự.
Hiện nay, vấn đề vai trò, ý nghĩa của pháp luật tố tụng hình sựnói chung, pháp luậtvềthủ tục xét xử sơthẩm vụán hình sự nói riêng cònđược nhìnnhậnở góc độ xã hội học, xem đó như là một giá trị xã hội khách quan vì nó cần trước hết cho xã hội. Hoạt động TTHS được pháp luật ghi nhận có cội nguồn xã hội sâu xa, từchính bản chất của xã hội cũng nhưsựtrừng trị của luật hình sựđược dựa trên quyền trừng trị của xã hội. Giá trị xã hội của PLTTHS thể hiện ở chỗ là cái bảo đảm vững chắc cho lợi ích của Nhà nước và mọi cá nhân [17, tr. 114]. Nhà nước ngày càng chuyển dần từ phương thức nặng về trừng trị sang phương thức pháp lý diễn ra theo trình tự, thủ tụcpháp lý chặt chẽ, do luật địnhđể bảo đảm giải quyếtvụ án khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội. Xu thế điều chỉnh này của PLTTHS đòi hỏi cần thiết hoàn thiện cơ chế bảo vệ cá nhân trước những hành vi, quyết định trái pháp luật của các cơ quan và người có thẩm quyền. Mục đích, nhiệm vụ của TTHS là bảo đảm tuân thủ chặt chẽ trình tự, thủ tục, truy cứu trách nhiệm hình sự và xét xử, áp dụng hình phạt đối với người phạm tội phải công minh, kịp thời, đúng luậtđịnh. Trình tự, thủ tục xét xử vụ án hình sự đúng luật định cũng là một bảo đảm cho người vô tội không bị xét xử oan; quyền của bị can, bị cáo và những người tham gia
tố tụngkhác không bịhạn chếtrái pháp luật. Trình tự, thủ tục xét xử vụ án hìnhsựđược luật quy định chặt chẽ và bắt buộc tuân thủ còn làyếutố bảo đảm pháp chế, phòng ngừa tội phạm, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật trong nhân dân.
Hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự là hoạt động phức tạp, liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của con người, của công dân vì trong tố tụng hình sự, quyền con người làvấnđề dễbị xâm phạm và bị tổn thương nhất vàhậu quả để lại cũng nặng nề nhất khi nó động chạmđến quyền được sống, quyền tựdo và sinh mệnh chính trị của con người, của công dân [31, tr. 369]. Bởi lẽ, hoạtđộng xét xử thể hiện đậm nét tính quyền lực, sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước đối
35
với người phạm tội. Chính vì vậy, những bảo đảmvề thủtục xét xửlà rất quan trọng nên pháp luật của các nước này quyđịnh rất khắt khe về thủtục xét xửsơthẩm các vụ án hình sự nhăm bảo đảm quyền con người, bảo đảm cho người bị buộc tội quyền được xét xửbằng Tòa án, bằng thủ tục xét xử chặt chẽ, công khai, minh bạch, được xét xử nhanh chóng, kịp thời.
2.1.4. Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay Pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay Pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay Pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay Pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay Pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay


