PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG SX

PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH

PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hiến pháp năm 2013 xác định mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và khẳng định các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Mặt khác, Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước. Nhà nước đã có nhiều chính sách để hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh nhằm mục tiêu giảm nghèo nhanh bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số chưa được đồng bộ, cần phải được hoàn thiện; một số chính sách hỗ trợ đã làm cho đồng bào dân tộc thiểu số ỷ lại, dựa vào sự hỗ trợ của Nhà nước không tự vượt qua khó khăn tổ chức sản xuất, kinh doanh vươn lên làm giàu.

Quảng Ngãi có 13 huyện và 01 thành phố, trong đó có 6/6 huyện miền núi đều là huyện nghèo được hưởng các chính sách theo Nghị quyết 30a/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh bền vững đối với 61 huyện nghèo (nay là 64 huyện nghèo). Miền núi của tỉnh Quảng Ngãi cũng là nơi sinh sống chủ yếu của hơn 183.000 người đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14,78% dân số của tỉnh. Trong thời gian qua đồng bào dân tộc thiểu số đã được pháp luật hỗ trợ nhiều chính sách để phát triển sản xuất, kinh doanh. Nhưng đến ngày 01/01/2015, tỉ lệ hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi vẫn còn đến 39,80% và hộ cận nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 13,33%; tỷ lệ này cao hơn bình quân chung cả nước và khu vực miền Trung [37, tr.2].

Vì vậy, nghiên cứu pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi có ý nghĩa trên cả 2 phương diện về lý luận khoa học và về thực tiễn. Đây vừa là vấn đề cấp bách giúp cho đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và tỉnh Quảng Ngãi nói riêng có kinh nghiệm phát triển sản xuất, kinh doanh góp phần giảm nghèo nhanh bền vững cho Nhân dân nói chung, đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu của đề tài nhằm những mục đích sau:

– Xem xét mức độ thể chế hóa đường lối chủ trương, chính sách của Đảng về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc bằng các quy phạm pháp luật của Nhà nước;

– Khảo sát, làm rõ thực trạng hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành về hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và phát triển sản xuất, kinh doanh nói riêng;

– Tìm kiếm giải pháp nâng cao chất lượng hệ thống quy phạm pháp luật về hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số và thực hiện pháp luật về hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số;

Tìm kiếm giải pháp nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật và hiệu quả thực hiện pháp luật về hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số trong phát triển sản xuất, kinh doanh.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Nghiên cứu hệ thống các chế định pháp luật hiện có nói chung và pháp luật về hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh nói riêng;

– Nghiên cứu mối quan hệ giữa chủ thể chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số được thụ hưởng với các chế định pháp luật hiện có;

– Phân tích thực trạng áp dụng và thực thi pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi mà chủ yếu là trên địa bàn 6 huyện miền núi của tỉnh là nơi sinh sống chủ yếu của 3 dân tộc thiểu số là Hre, Kor và Cadong trong thời gian qua;

– Trên cơ sở phân tích tình hình thực thi pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số đề ra những giải pháp tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm thực hiện có hiệu lực, hiệu quả hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh trong thời gian đến.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đồng bào dân tộc thiểu số là chủ thể thụ hưởng pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số để phát triển sản xuất, kinh doanh.

4.2. Phạm vị nghiên cứu

6/6 huyện núi tỉnh Quảng Ngãi (huyện Trà Bồng, Tây Trà, Sơn Hà, Sơn Tây, Minh Long và huyện Ba Tơ) là nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào dân tộc thiểu số Hre, Kor và Cadong.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hiến pháp, lý luận về nhà nước và pháp luật; Luận văn đã dựa trên định hướng của Đảng cộng sản Việt Nam trong Nghị quyết số 48-NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 khóa X của Đảng Cộng sản Việt Nam về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về tiếp tục sắp xếp đổi mới và phát triển nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp; Nghị quyết 30a/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo (nay là 64 huyện nghèo) và các văn bản pháp luật có liên quan về hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích được sử dụng để thấy rõ được bản chất của Nhà nước ta là luôn quan tâm đến đồng bào dân tộc thiểu số: Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước. Phương pháp so sánh được sử dụng để thấy rõ một số chính sách ưu đãi riêng có chỉ áp dụng cho đồng bào dân tộc thiểu số. Phương pháp tổng hợp được sử dụng để phân tích, tổng hợp kết quả biểu hiện của việc thực thi áp dụng pháp luật. Phương pháp thống kê để tổng hợp các kết quả đã đạt được trong thời gian qua.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận văn luận giải những lý luận cơ bản về tính chất địa vị pháp lý của pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Trên cơ sở phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi hiện nay nêu những điểm bất cập; đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài lời mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Khái quát cơ sở lý luận của pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh;

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh;

Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh.

      1. Chương 1
      2. KHÁI QUÁT CƠ SƠ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT HỖ TRỢ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT, KINH DOANH
    1. 1.1. Đồng bào dân tộc thiểu số trong quan hệ pháp luật hỗ trợ phát triển sản xuất, kinh doanh

Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [6, tr.2]. Theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc, dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước theo điều tra dân số quốc gia, chủ yếu là dân tộc Kinh.

Dân tộc thiểu số không đồng nghĩa với người được hưởng chính sách hỗ trợ đối với dân tộc thiểu số. Trong chính sách và pháp luật hỗ trợ đối với dân tộc thiểu số có thể có những người không phải dân tộc thiểu số. Ở đây, đối tượng điều chỉnh của chính sách và pháp luật hỗ trợ đối với dân tộc thiểu số kết hợp cả hai tiêu chí là chủ thể và địa bàn. Vùng dân tộc thiểu số là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước ta.

Ngoài tất cả hộ đồng bào dân tộc thiểu số sống đang sinh sống ổn định tại các xã có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn (khu vực II và III) thuộc vùng dân tộc và miền núi thì những hộ người Kinh nghèo cũng được hưởng các chính sách hỗ trợ theo quy định.

Ngược lại, không phải tất cả đồng bào dân tộc thiểu số đều là chủ thể quan hệ pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh. Nói cách khác, chỉ những đồng bào dân tộc thiểu số và gia đình họ đáp ứng được những tiêu chí nhất định mới được Nhà nước hỗ trợ.

    1. 1.2. Khái niệm hỗ trợ phát triển sản xuất, kinh doanh

Hỗ trợ là giúp đỡ nhau, giúp đỡ thêm vào. Ví dụ, hỗ trợ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn; hỗ trợ đồng bào miền Trung bị lũ lụt; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn ngân hàng; hỗ trợ doanh nghiệp mới thành lập; hỗ trợ vùng đồng bào dân tộc thiểu số; hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn; hỗ trợ vùng căn cứ cách mạng… Như vậy, hỗ trợ đồng nghĩa với trợ cấp, trợ giúp, giúp đỡ, nhưng không làm thay cho đối tượng được hỗ trợ.

Trong văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta tiếp tục khẳng định “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ…” [9, tr.121]. 

Nhà nước cần hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh bởi họ là một nhóm chủ thể yếu thế trong xã hội. Trình độ dân trí, khoa học, kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ của đồng bào dân tộc thiểu số thấp, không được đào tạo cơ bản, ít thông tin.

    1. 1.3. Khái niệm pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số

Nhà nước hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số trước hết thông qua chính sách và pháp luật. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số được thể chế bằng Hiến pháp năm 2013, Nghị quyết, Nghị định, Chỉ thị của Đảng, của Chính phủ và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ với 181 chính sách được thể chế qua 264 văn bản [36, tr.2]. Pháp luật về hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số bao gồm chủ yếu các nhóm quy phạm sau đây:

1.3.1. Nhóm quy phạm pháp luật về đầu tư phát triển bền vững

1.3.2. Nhóm quy phạm pháp luật về giáo dục, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ

1.3.3. Nhóm quy phạm pháp luật về công tác cán bộ và người có uy tín ở vùng đồng bào dân tộc thiểu

1.3.4. Nhóm quy phạm pháp luật về y tế, dân số, thể dục, thể thao

1.3.5. Nhóm quy phạm pháp luật về bảo tồn và phát triển văn hóa

1.3.6. Nhóm quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, sinh thái, kết hợp phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu số

1.3.7. Nhóm quy phạm pháp luật về truyền thông, trợ giúp pháp lý

1.3.8. Nhóm quy phạm pháp luật về quốc phòng, an ninh

    1. 1.4. Khái niệm, nội dung của pháp luật về hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh

Pháp luật về hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, của pháp luật về hỗ trợ và pháp luật về dân tộc thiểu số. Do đó, pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp, hộ gia đình trong sản xuất, kinh doanh, đầu tư cũng áp dụng cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Nội dung của pháp luật về hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh sẽ bao gồm quy định về các biện pháp sau đây:

– Bố trí kinh phí cho rà soát, xây dựng quy hoạch sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi.

– Chính sách bảo vệ và phát triển rừng thông qua hỗ trợ tiền khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, giao rừng và giao đất để trồng rừng sản xuất.

– Hỗ trợ trực tiếp đất sản xuất, hỗ trợ khai hoang, phục hoá hoặc tạo ruộng bậc thang để sản xuất nông nghiệp.

– Hỗ trợ tiền mua giống, phân bón cho việc chuyển đổi cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao.

– Hỗ trợ phát triển chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và phát triển ngành nghề; hỗ trợ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y, vệ sinh an toàn thực phẩm cho các huyện nghèo.

– Hỗ trợ xúc tiến thương mại, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, thông tin thị trường cho nông dân; hỗ trợ nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ.

– Hỗ trợ đào tạo nghề; hỗ trợ xuất khẩu lao động; hỗ trợ tạo việc làm.

– Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng ở cả thôn, bản, xã và huyện.

    1. 1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh

1.5.1. Chất lượng hệ thống pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số

1.5.2. Trình độ văn hóa pháp lý của cán bộ, đối tượng tác động của pháp luật có liên quan

1.5.3. Yếu tố chủ thể và khách thể áp dụng pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số

1.5.4. Ý thức pháp luật của chủ thể quan hệ pháp luật về hỗ trợ

1.5.5. Những điều kiện vật chất cần thiết để thực hiện pháp luật hỗ trợ

    1. 1.6. Tiểu kết
    2. PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
      PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
      1. Chương 2
      2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
      3. PHÁP LUẬT HỖ TRỢ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
      4. PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT, KINH DOANH
    3. 2.1. Thực trạng pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh

Tiêu chí đánh giá pháp luật về hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh là những dấu hiệu, chuẩn mực đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh. Xác định các tiêu chí về tính toàn diện, tính đồng bộ và thống nhất; tính phù hợp, tính minh bạch, trình độ lập pháp, tính tương tích với các văn bản pháp luật mà Việt Nam đã tham gia ký kết và phê chuẩn và tính kinh tế của việc điều chỉnh pháp luật của chính sách pháp luật là một yêu cầu khách quan để ngày càng hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật về hỗ trợ đồng bào dân tộc sản xuất, kinh doanh.

2.1.1. Về hỗ trợ kinh phí cho rà soát, xây dựng quy hoạch sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi

2.1.2. Về hỗ trợ trong sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp

2.1.3. Về hỗ trợ sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp

2.1.4. Hỗ trợ xúc tiến thương mại, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, thông tin thị trường cho nông dân; hỗ trợ nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ

2.1.5. Hỗ trợ đào tạo nghề, hỗ trợ xuất khẩu lao động, tạo việc làm

2.1.6. Về hỗ trợ trong lĩnh vực tín dụng

2.1.7. Nhóm quy phạm pháp luật của tỉnh Quảng Ngãi hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh

    1. 2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh trên 6 huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi

2.2.1. Khái quát tình hình kinh tế, xã hội và nhu cầu hỗ trợ phát triễn sản xuất, kinh doanh của đồng bào dân tộc thiểu số

Dân số trung bình năm 2015 của tỉnh là 1.241.400 người, trong đó dân tộc thiểu số là 183.558 người chiếm khoảng 14,78% (Trong tổng số 183.558 người là dân tộc thiểu số, có 130.402 người H’re chiếm 71%, 32.826 người Kor chiếm 17,9%, 19.692 người Ca dong (Xơ đăng) chiếm 10,72%, 638 người là các dân tộc thiểu số khác chiếm 0,38%) [38,tr. 1]. Đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống tập trung chủ yếu tại 06 huyện miền núi: Trà Bồng, Tây Trà, Sơn Hà, Sơn Tây, Minh Long và huyện Ba Tơ [38, tr.1].

Về tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo: Vào thời điểm 01/01/2011, tỉ lệ hộ nghèo của khu vực 06 huyện miền núi là 60,87%; đến 01/01/2015 là 20.548 hộ nghèo chiếm 35,03%, hộ cận nghèo là 9.133 hộ chiếm 15,57% (Riêng hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số là 18.395 hộ chiếm 39,80% và cận nghèo là 6.422 hộ chiếm 13,90%.) [37, tr.1,2].

Các yếu tố về đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội, cơ cấu dân tộc, dân cư nói trên đã có tác động đến quá trình thực hiện chính sách pháp luật về hỗ trợ đồng bào dân tộc thiếu số phát triển sản xuất, kinh doanh:

Một là, đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh tương đối đông trên mức bình quân chung của cả nước (14,27%), chủ yếu cư trú ở 6 huyện miền núi đây là vùng đặc biệt khó khăn, là vùng nghèo trong cả nước (6/6 huyện miền núi đều là huyện nghèo) [42, tr 1].

Hai là, trình độ dân trí thấp, tính tự ti, ỷ lại còn trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số, cả trong cán bộ ở cơ sở.

Ba là, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của một số cán bộ, nhất là cán bộ ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh chưa theo kịp với yêu cầu.

2.2.2. Kết quả thực hiện pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh

Trong những năm qua, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh miền núi của tỉnh tiếp tục nhận được sự hỗ trợ từ các chính sách pháp luật về hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số của Nhà nước thông qua các nguồn lực đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ngày càng tăng nhiều hơn về đối tượng được thụ hưởng, về định mức hỗ trợ. Nhờ đó, tình hình kinh tế, chính trị vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh cũng đã có sự thay đổi đáng kể.

2.2.3. Những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc, hạn chế và nguyên nhân

2.2.3.1. Thuận lợi

Tỉnh uỷ, HĐND và UBND tỉnh đã quan tâm đặc biệt vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thể hiện qua việc ban hành các Nghị quyết, Quyết định và văn bản chỉ đạo về phát triển kinh tế, xã hội vùng miền núi giai đoạn 2011-2015 với chương trình giảm nghèo nhanh bền vững 6 huyện miền núi và Chương trình 135 trong giai đoạn 2011-2015.

Việc thực hiện các chính sách pháp luật về hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh ở cấp tỉnh, huyện, xã được thực hiện đồng bộ, đúng theo qui định, đảm bảo phát huy dân chủ.

Hằng năm, các Đoàn giám sát của Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ, … đã thường xuyên tổ chức các đợt kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện pháp luật tại các xã, huyện có đông đồng bào dân tộc thiểu số được thụ hưởng các chính sách pháp luật về hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh. Thông qua các đợt kiểm tra, thanh tra đã phát hiện những thiếu sót, vướng mắc trong việc thực hiện pháp luật hỗ trợ của các cấp, các ngành có liên quan và kịp thời chỉ đạo điều chỉnh và khắc phục những tồn tại, thiếu sót, tháo gỡ những vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện pháp luật. Đặc biệt, cấp xã đã thành lập Ban Giám sát xã đại diện cho Nhân dân giám sát việc thực hiện các chính sách pháp luật trên địa bàn xã.

2.2.3.2. Khó khăn, hạn chế

Trình độ dân trí của đồng bào dân tộc thiểu số thấp, nặng tư tưởng trông chờ ỷ lại vào Nhà nước, sinh sống chủ yếu là vùng đặc biệt khó khăn có hệ thống kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, giao thông cách trở, một số xã người dân không đi lại được trong mùa mưa, lũ. Điều kiện tự nhiên cho sản xuất nông nghiệp và sinh sống của dân cư không thuận lợi; chưa thu hút được nhiều các thành phần kinh tế khác tham gia đầu tư để phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, trồng rừng công nghiệp với năng suất cao và các loại hình dịch vụ. Vốn trung ương bố trí chậm; không kịp thời vụ; về số lượng không đáp ứng được yêu cầu mục tiêu đã được phê duyệt.

Công tác giám sát thực hiện Chương trình đã được quan tâm, tuy nhiên trình độ năng lực, hiểu biết về pháp luật và kinh nghiệm kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật của Ban giám sát xã còn rất nhiều hạn chế và không có kinh phí hỗ trợ nên hiệu quả hoạt động chưa cao.

2.2.3.3. Nguyên nhân của tồn tại

Một bộ phận trong Nhân dân nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng, cán bộ các cấp, nhất là cấp xã và huyện, các ngành còn có tư tưởng trông chờ ỷ lại vào Nhà nước, chỉ muốn Nhà nước hỗ trợ, trợ cấp, cho không; thiếu ý chí quyết tâm tổ chức sản xuất, kinh doanh vươn lên làm giàu. Năng lực lãnh đạo chỉ đạo của một số cán bộ, nhất là cán bộ ở các địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh chưa theo kịp với yêu cầu.

Đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở 6 huyện miền núi có địa hình khó khăn, phức tạp, độ dốc lớn, mùa mưa thường bị sạt lở nhiều nơi, mùa nắng thường bị khô hạn kéo dài không thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp cũng như suất đầu tư về cơ sở hạ tầng cao, nhưng dễ bị hư hỏng do thiên tai hằng năm gây ra. Vì vậy, việc đi lại khó khăn, giao thương chậm phát triển; khó khăn trong việc kêu gọi các nhà đầu tư về đầu tư trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước bố trí hằng năm còn thấp so với kế hoạch, đề án đã được cấp thẩm quyền phê duyệt; một số chính sách đầu tư dàn trải, định mức thấp như: Chính sách hỗ trợ trực tiếp suất đầu tư quá thấp (Tối đa là 100.000 đ/nhân khẩu/năm, tối thiểu là 80.000 đ/nhân khẩu/năm) [25, tr 1]; Chính sách hỗ trợ 5 lít dầu hỏa/hộ/năm cũng không còn phù hợp (các đối tượng thụ hưởng chính sách này được chuyển sang thực hiện theo Quyết định số 60/2014/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí hộ chính sách xã hội được hỗ trợ tiền điện).

    1. 2.3. Tiểu kết
    2. PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
      PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
      1. Chương 3
      2. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HỖ TRỢ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT, KINH DOANH
    3. 3.1. Quan điểm, yêu cầu hoàn thiện pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh

3.1.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh

Một là, thể chế hóa đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh.

Hai là, hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh phải gắn với yêu cầu của kinh tế thị trường.

Ba là, hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phải góp phần phát triển sản xuất, kinh doanh bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Bốn là, kết hợp phát triển kinh tế gắn với thực hiện công bằng xã hội.

Năm là, chính sách, pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh đặt trong hệ thống và tổng thể với các chính sách, pháp luật khác.

Sáu là, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Bảy là, phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, tương trợ giúp đỡ nhau giữa đồng bào dân tộc thiểu số trong phát triển sản xuất, kinh doanh.

3.1.2. Yêu cầu đối với pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh

Thứ nhất, đảm bảo và đáp ứng các tiêu chí đánh giá chất lượng hệ thống pháp luật.

Thứ hai, chú ý đặc thù của nhóm dân tộc, từng vùng, từng địa phương và từng lĩnh vực.

Thứ ba, pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh phải phù hợp với chính sách dân tộc của Đảng.

    1. 3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh

3.2.1. Quy định về hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số sản xuất, kinh doanh trong Luật Dân tộc

Cần phải xây dựng Luật Dân tộc là vấn đề cấp bách hiện nay, nhằm khẳng định và thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước, thể chế hóa Hiến pháp, đảm bảo phù hợp với nội dung các cam kết quốc tế về lĩnh vực dân tộc thiểu số mà Việt Nam tham gia ký kết.

3.2.2. Ban hành Kế hoạch thúc đẩy các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, trong đó có hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh

Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (Millennium Development Goals, viết tắt là MDG) gồm 8 mục tiêu được Việt Nam và 188 quốc gia thành viên Liên hiệp quốc nhất trí phấn đấu đạt được vào năm 2015, trong đó mục tiêu 1 là: Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói và mục tiêu 7 là đảm bảo bền vững về môi trường.

Mặt khác, những thách thức về đảm bảo bền vững môi trường đối với vùng miền núi, vùng có đông đồng bào các dân tộc thiểu số đang là thách thức, tình trạng mất rừng thường xuyên xảy ra, giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường; tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh và hố xí hợp vệ sinh còn rất thấp, nhất là vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Những tồn tại ở trên là do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân là chưa có chính sách pháp luật, trong đó có pháp luật về hỗ trợ đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh chưa cụ thể, chỉ nêu chung, không cụ thể hóa các mục tiêu thiên niên kỷ sát với thực tế từng vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Vì vậy, cần phải có “Kế hoạch khung thúc đẩy các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 – 2020 gắn với Mục tiêu phát triển bền vững năm 2025”.

3.2.3. Sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản pháp luật

Qua nghiên cứu cho thấy hệ thống pháp luật về công tác dân tộc nói chung và pháp luật về hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh nói riêng khá đầy đủ toàn diện trên tất cả các lĩnh vực và phủ kín các địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Cơ chế, chính sách đã từng bước hoàn thiện về chủ trương quan điểm, tư duy một số chính sách từ hỗ trợ trực tiếp cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số đã chuyển dần sang hỗ trợ cho cộng đồng, nhóm hộ; chuyển từ hỗ trợ sang đầu tư; chuyển từ “cho không” sang cho vay ưu đãi.

Tuy nhiên, cần phải tập hợp hoàn thiện các chính sách dân tộc hiện nay cho giai đoạn 2016 – 2020 theo hướng đa mục tiêu, dài hạn, đa ngành, đa lĩnh vực và giảm đầu mối văn bản quản lý.

Một số đề xuất cụ thể:

Một là, xây dựng chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016 – 2020.

Hai là, xây dựng chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên con hộ người Kinh nghèo và người đồng bào dân tộc thiểu số.

Ba là, bãi bỏ một số chính sách kém hiệu quả, không còn hợp lý.

Bốn là, hoàn thiện một số chính sách pháp luật khác.

3.2.4. Quy định đặc thù hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số rất ít người và dân tộc thiểu số có khó khăn đặc biệt phát triển sản xuất, kinh doanh

Cần phải có những chính sách pháp luật đặc thù để hỗ trợ giúp đỡ đồng bào dân tộc thiểu số rất ít người và các dân tộc thiểu số có khó khăn đặc biệt phát triển sản xuất, kinh doanh vượt qua đói nghèo; đồng thời với việc phát triển dân số của dân tộc thiểu số mình. Hiện nay, theo thống kê có khoảng 16 dân tộc thiểu số rất ít người cư trú thuộc địa bàn 36 huyện của 12 tỉnh vùng dân tộc thiểu số và miền núi [36, tr8]. Nếu Chính phủ không có những quy định đặc thù để hỗ trợ cho các dân tộc thiểu số này thì chắc rằng các dân tộc thiểu số này không thể phát triển cùng với các dân tộc thiểu số khác.

    1. 3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh

3.3.1. Nhóm giải pháp về tăng cường vai trò, trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của cấp ủy Đảng, chính quyền, các hội đoàn thể của các huyện, xã miền núi

Tăng cường vai trò, trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của cấp ủy Đảng, chính quyền, các hội đoàn thể của các huyện, xã miền núi, thôn, bản trong việc thực hiện pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh nhằm giúp đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận với các chính sách pháp luật của Nhà nước. Thực hiện tốt chỉ đạo của Tỉnh ủy Quảng Ngãi: “Phát triển kinh tế, xã hội, giảm nghèo nhanh và bền vững các huyện miền núi là nhiệm vụ chính trị trọng tâm thường xuyên của Đảng bộ và Nhân dân trong tỉnh, trước hết là của Đảng bộ, Nhân dân các huyện miền núi” [33, tr.5]. “Chú trọng tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp đội ngũ cán bộ phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện gắn bó với địa bàn, đồng cảm và chia sẽ với trình độ dân trí còn thấp của đồng bào dân tộc thiểu số, phải có tâm trong sáng mới phục vụ được tốt” [2, tr.165].

3.3.2. Nhóm giải pháp cấp ủy, chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nói chung và pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh nói riêng

Cấp ủy, chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nói chung và pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh nói riêng nâng cao nhận thực cho đồng bào dân tộc thiểu số có ý thức chăm lo phát triến sản xuất, kinh doanh vươn lên thoát nghèo, phấn đấu làm giàu.

3.3.3. Nhóm giải pháp pháp luật về phát triển kết cấu hạ tầng bền vững; phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch để hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh

Xây dựng hệ thống đường giao thông liên huyện, liên xã đến thôn, bản đi lại quanh năm; hệ thống điện, thủy lợi phục vụ đủ nước tưới tiêu, trạm y tế đảm bảo chăm sóc sức khỏe ban đầu cho Nhân dân trong vùng, trường lớp học kiên cố đạt chuẩn để tất cả trẻ em các độ tuổi bắt buộc phải được đến trường vừa nâng cao chất lượng giáo dục; hình thành các trục giao thông huyết mạch kết nối giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số các huyện miền núi với thành phố Quảng Ngãi với khu kinh tế Dung Quất, … Thực hiện chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hỗ trợ thị trường phù hợp đặc điểm vùng nhằm thu hút doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh và cơ sở hạ tầng, đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ, nâng cao khả năng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường tại các địa bàn nghèo, địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số.

3.3.4. Nhóm giải pháp quy hoạch quỹ đất sản xuất để bố trí cho đồng bào dân tộc thiểu số còn thiếu đất sản xuất, kinh doanh

UBND tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục chỉ đạo rà soát và kiên quyết thu hồi đất lâm nghiệp của các nông, lâm trường kinh doanh không hiệu quả. Đồng thời, chỉ đạo thực hiện điều tra, đánh giá thống kê chính xác quỹ đất và xác định đối tượng, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số trong vùng còn thiếu đất để sản xuất, kinh doanh. Trước mắt UBND tỉnh chỉ đạo UBND huyện miền núi rà soát, thống kê lập phương án phân chia giao đất cho hộ nông dân, ưu tiên cho đồng bào dân tộc thiểu số những diện tích đã được UBND tỉnh thu hồi.

Đồng thời, chính quyền cơ sở phải có biện pháp ngăn chặn tình trạng tái thiếu đất sản suất do các nguyên nhân khách quan và chủ quan.

3.3.5. Nhóm giải pháp kết hợp khuyến nông, khuyến lâm, chế biến tiêu thụ sản phẩm

Kết hợp khuyến nông, khuyến lâm, chế biến tiêu thụ sản phẩm; khuyến khích doanh nghiệp đào tạo nghề, việc làm, xuất khẩu lao động, phát triển các làng nghề nhằm hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh.

Tổ chức thực hiện tốt nhân rộng các mô hình giảm nghèo hiệu quả, phù hợp nhằm nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh và đa dạng hóa về thu nhập cho người nghèo, hộ nghèo; tạo cho người nghèo, hộ nghèo tiếp cận các chính sách, nguồn lực thị trường hướng đến phát triển sản xuất và dịch vụ, tăng nhanh thu nhập, góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững.

Thu hút doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư sản xuất, kinh doanh; khuyến khích doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm và sử dụng lao động là đồng bào dân tộc thiểu số thông qua các chính sách ưu đãi về đất đai, về cơ sở hạ tầng.

Tiếp tục duy trì và hỗ trợ cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở 6 huyện miền núi tỉnh được thực hiện các dự án chuyển giao công nghệ có tính đột phá, nhằm đưa công nghệ mới vào phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số.

3.3.6. Nhóm giải pháp pháp luật về an sinh xã hội

Nhóm chính sách pháp luật về an sinh xã hội “Thực hiện đồng bộ các chính sách xã hội, an sinh xã hội; chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động…

Tuyển chọn, đào tạo sử dụng và đãi ngộ đặc biệt đối với nguồn nhân lực y tế, giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn. Tăng mức bảo hiểm y tế cho người nghèo nhất là người nghèo đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với chi phí thực tế.

3.3.7. Nhóm giải pháp về cải cách thủ tục hành chính, tăng cường kiểm tra giám sát trong đầu tư, sản xuất, kinh doanh

Các cấp, các ngành tiếp tục nghiên cứu đơn giản hóa thủ tục để đồng bào dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp cận với pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh. Cải cách thủ tục hành chính trong công tác quản lý nhà nước; hoàn thiện cơ chế điều hành, phân công đầu mối chịu trách nhiệm chính, phân cấp đầy đủ nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể cho cấp huyện, cấp xã; tăng trách nhiệm để người dân, cộng đồng tham gia và tiếp cận chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, thực hiện đồng bộ công tác kiểm tra, giám sát tập trung kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách pháp luật hỗ trợ phát triển sản xuất, kinh doanh, chính sách đối với người nghèo, các chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, quản lý và sử dụng đất đai và tài nguyên hợp lý…

3.3.8. Nhóm giải pháp về vốn

Hằng năm, Trung ương cần ưu tiên bổ sung nguồn vốn cho tỉnh Quảng Ngãi (vì tỉnh Quảng Ngãi có đến 6 huyện nghèo/64 huyện nghèo trong cả nước theo Nghị quyết 30ª/NQ-CP, ngày 27/12/2008) và tăng nguồn vốn cho vay; giảm dần các nguồn vốn cho không để đồng bào dân tộc thiểu số không trông chờ ỷ lại vào Nhà nước. Cùng với nguồn vốn của Trung ương phân bổ cho tỉnh, UBND tỉnh Quảng Ngãi, hằng năm cần chủ động tích cực vận động các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tài trợ bổ sung nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu về vốn.

    1. 3.4. Tiểu kết
      1. KẾT LUẬN

Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh là dân tộc đa số và 53 dân tộc thiểu số. Đồng bào dân tộc thiểu số là nhóm dân tộc yếu thế trong xã hội; chủ yếu sống và làm việc ở vùng miền núi có điều kiện khó khăn về tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội. Do những khó khăn đó cùng với tập quán canh tác lạc hậu nên kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số kém phát triển; phần lớn bà con dân tộc thiểu số thuộc nhóm người nghèo; tỷ lệ hộ đói nghèo ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi cao hơn so với bình quân chung cả nước. Do những điều kiện khó khăn và bất bình đẳng đó mà Nhà nước phải có chính sách pháp luật hỗ trợ.

Pháp luật về hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, của pháp luật về hỗ trợ và pháp luật về dân tộc thiểu số nói riêng. Nội dung của pháp luật hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số trong thời gian qua đã thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là luôn quan tâm tạo điều kiện để đồng bào dân tộc thiểu số có cơ hội cùng với đồng bào dân tộc Kinh phát triển sản xuất, kinh doanh vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

Tuy nhiên, chính sách pháp luật về hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh ban hành trong thời gian qua còn tản mạn, chưa đồng bộ, nhiều cơ quan quản lý; một số chính sách pháp luật không kịp thời sửa đổi bổ sung cho phù hợp với thực tế với sự phát triển của xã hội; chính sách thường có mục tiêu lớn, thời gian thực hiện lại ngắn, định mức hỗ trợ quá thấp nên khó thực hiện, vốn bố trí không đồng bộ; nhất là hầu hết các chính sách pháp luật này đều hết hiệu lực thi hành vào năm 2016; làm cho việc thi hành pháp luật giảm hiệu lực, hiệu quả. Do đó, trong thời gian đến Nhà nước cần phải sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện và ban hành chính sách pháp luật mới cho phù hợp với thực tế.

Quảng Ngãi vẫn còn là tỉnh nghèo; 6/6 huyện miền núi của tỉnh thuộc diện huyện nghèo là nơi cư trú chủ yếu của đồng bào các dân tộc thiểu số. Đây là địa bàn khó khăn nhất của tỉnh cả về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân trong thời gian qua đã khắc phục khó khăn, bám sát địa bàn, tìm giải pháp, vận động đồng bào dân tộc thiểu số tổ chức thực hiện pháp luật đúng quy định, đạt hiệu lực, hiệu quả, nhờ vậy đã góp phần quan trọng trong việc làm thay đổi cơ bản diện mạo nông thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tạo sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế trong sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường; góp phần cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng miền núi đặc biệt khó khăn của tỉnh; góp phần nhất định vào việc thực hiện chủ trương giảm nghèo nhanh bền vững. Nội dung của luận văn này cũng sẽ góp phần cùng với Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đẩy mạnh việc tổ chức thực hiện chính sách pháp luật về hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng đạt được hiệu lực, hiệu quả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh./.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 3\LUAT KINH TE\BUI DUC CHANH\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *