Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
TTCK là một địnhchếtài chính, một kênh huy động vốnđầutƣ quan trọng trong nền KTTT. Đó là một thị trƣờng có tính đặc trƣng, hoạt động theo cơ chế riêng biệt. Sự ra đời của TTCK là một tất yếu khách quan, là hệ quả tất yếucủanềnKTTT.Chỉkhinềnkinhtế,xãhộiphát triểnđếnmột giaiđoạn nhất định,có đủnhữngđiềukiện nhất địnhthì TTCK mới xuất hiện, nhằm thoả mãn cung,cầuvềvốncủacácchủthểcủanềnkinh tế,kểcảngƣờicónhu cầu huy động vốn và ngƣời có nhu cầu đầu tƣ vốn. Lịch sử hình thành vàphát triển TTCK trên thế giới cho thấy ở giai đoạn đầu, TTCK phát triển một cách tự phát với sự tham gia của các nhà đầu cơ. Sự hoạt động tự phát của thị
trƣờng là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính gắnliềnvớicuộc khủng hoảng kinhtếthếgiới năm 1929 -1933.Từsausựkiện này, ở các nƣớc, Nhànƣớc đãcan thiệp vào TTCK bằng cách ban hành cácđạo luật và thiết lập các cơ quan giám sát vềchứng khoán.Đếnnay, TTCKđãtrởthành một định chếkhôngthểthiếu trongđờisống kinhtếcủa các quốc gia theo cơ chế thị trƣờng.
Các chủ thể tham gia vào TTCK bao gồm ngƣời phát hành CK, ngƣời đầutƣ CK,ngƣờikinh doanh- môi giới CK,ngƣờitổchứcthịtrƣờng và
ngƣời quản lý thị trƣờng. Mỗi chủ thể có vai trò nhất định đối với sự vận hành và phát triển của thị trƣờng. Tuy nhiên, trong số các chủ thể tham gia TTCK thì các NĐT là chủ thể có vai trò trung tâm của thị trƣờng. Nếu không có các NĐT hoặc các NĐTthờơvớithịtrƣờng thì TTCK khôngthểvậnhành vàphát triểnđƣợc.Ƣuthếnổibật củaTTCK là có thểthu hút đông đảo công chúng tham gia trực tiếp đầu tƣ, kể cả những NĐT không chuyên nghiệp. Khi tham gia TTCK, NĐT có điều kiện thuận lợi trong việc chuyển dịch các dòng vốn đầu tƣ củamình, họ có cơ hội dễ dàng và thuận tiện trong việc tham gia
4
cũng nhƣ rút khỏithịtrƣờng. Tuy nhiên, ƣuthếđó củaTTCK cũngđồng nghĩa với mức độ rủi ro cao đối với NĐT, những hiện tƣợngđầu cơ, lừa đảo, thao túng thịtrƣờng và cácrủiro khác luôn có khảnăngxảyra, nhất làđối vớicác NĐT không chuyên nghiệp. TTCKđƣợcxem là hoạt độngtốt nếu
nhƣ nó tạo ra tính thanh khoản cao cho các chứng khoán giao dịch, cung cấp đầy đủ thông tin cho NĐT và các đối tƣợng tham gia thị trƣờng, qua đó hình thành nên giá chứng khoán hợp lý, tạo đƣợc niềm tin của công chúng đầu tƣvào thị trƣờng. Chính vì vậy, để TTCK có thể vận hành một cách có hiệu quảthì quyền và lợi ích hợp pháp của các NĐT phải đƣợc Nhà nƣớc bảo vệ. Một trong những biện pháp bảo vệquyền vàlợiích củaNĐT một cáchhữuhiệu nhất là thông qua công cụ luật pháp. Một mặt pháp luật ghi nhận các quyền và
lợiích củaNĐT; mặt khác pháp luật cũng thiết lập cơchếbảo đảmthực thi các quyền đó. Có thể nói rằng, việc bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT là vấn đề trọngtâm của pháp luật và thể chế cần thiết cho một TTCK.
ỞViệt Nam, TTCKTTmớiđƣợchình thành và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7/2000 với sự ra đời của TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh. Ngay
từkhimớithànhlậpTTCKTT, Nhànƣớctađãquan tâmđếnviệc xây dựng khuôn khổ pháp lý để điều chỉnh các hoạt động CK và TTCK. Tuy nhiên, trong những năm đầu, các văn bản pháp luật chuyên ngành điều chỉnh lĩnh vực CK vàTTCK chỉ là những văn bản dƣới luật với hình thức Nghị định của Chính Phủ vàcác thông tƣ hƣớng dẫn của các bộ, ngành. Đến ngày 29/6/2006, Quốc Hội đã ban hành Luật Chứng khoán, Luật này bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2007. Sựra đời của Luật Chứng khoán đánh dấu một bƣớc phát triển quan trọng của TTCK Việt Nam, khắc phục những khiếm khuyết,bấtcậptrong các vănbảnpháp luật cũ, đảm bảo sự đồng bộvớiLuật Doanh nghiệp năm 2005 vàLuật Đầu tƣnăm 2005 mà Quốc Hội đã thông qua, góp phầntạomôi trƣờng pháp lý ổn định cho các hoạt động CK và TTCK. Luật Chứng khoán ra đời đã tạo khuôn khổ pháp lý
5
cho việc quản lý, giám sát TTCK, bảo đảm nguyên tắc hoạt động của thị trƣờng làcông khai, công bằng, minh bạch và bảo vệ quyền và lợi ích của các NĐT.
Một trong nhữngmụctiêu quan trọngcủaviệc ban hành pháp luật vềCK và TTCK, cũng là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động CK và TTCK là “bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT” [61]. Tuy nhiên, do TTCKTTởViệt Nammớiđƣợchình thành, cácđịnhchếhỗtrợcho sựvận hành và phát triển của thị trƣờng còn chƣa đầy đủ và đồng bộ, sự hiểu biết vềTTCK và kinh nghiệmcủacác nhà quản lýthịtrƣờng cũng nhƣcủacông
chúng đầu tƣ còn rất hạn chế…,đólà những nguy cơ có thể gây thiệt hại đến quyền vàlợiích của NĐT, từ đó sẽ đe doạ sự ổn định, phát triển của TTCK. Vì vậy, việc nghiêncứucác quyđịnhcủapháp luật và tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luậtvềbảovệquyền vàlợiíchcủaNĐT trên TTCKTTđểtừđó
đƣa ra những kiến giải nhằm xây dựng một khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh vàđồng bộ,vớihệ thống văn bản pháp quy đầy đủ, rõ ràng, điều chỉnh các mặt hoạtđộng củathịtrƣờng, giúp cho thịtrƣờng hoạt độngan toàn, thuận lợi, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia thị trƣờng, đặc biệt làbảovệcác NĐT, là một vấn đềrấtcần thiết, có ýnghĩa cảvềlý luận vàthực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Luận án nhằm phân tích, làm rõ nhữngvấn đềlý luận và thực tiễn của các quy định pháp luật vềbảo vệquyền và lợi ích hợp pháp củaNĐT trên
9
TTCKTTởViệt Nam; có sựđối chiếu, so sánhvớiquyđịnh pháp luật của một số nƣớc trên thế giới; trên cơ sở đó, chỉ ra đƣợc những điểm hạn chế, bất cập củapháp luật và cơchếthực thi pháp luật,đềxuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.
Đểđạt đƣợcmụcđích trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
– Nghiên cứu, làm rõ nhữngvấnđềlý luậncủapháp luật vềbảo vệquyền và lợi ích của NĐT trên TTCKTT; trong đó tập trung làm rõ khái niệm, vai trò của NĐT trên TTCKTT, sự cần thiết phải bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT,bảnchất củaviệc bảo vệquyền vàlợiíchcủaNĐT; vai trò củapháp luật và khuôn khổ pháp luật về bảo vệ quyền ích của NĐT.
– Phân tích, đánh giá thực trạng quy định củapháp luật hiện hành vàthực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT ở Việt Nam,
từ đó chỉ ra nhữngvấn đề cần tiếp tụcnghiên cứu để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện.
– Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT trên TTCKTT ở Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Trên thựctế,NĐT có thểtham gia vào các loại TTCK,kểcảTTCK chính thức và TTCK phi chính thức, TTCKTT và TTCK phi tập trung (thị
trƣờng OTC). Hình thức tham giacủaNĐT vào TTCK cũng rất đa dạng. NĐT cóthểtham gia vào thịtrƣờng dƣớihình thứcđầu tƣ, thành lập doanh nghiệp để kinh doanh, làm dịch vụ CK (đầu tƣ trực tiếp); hoặc có thể tham gia
dƣớihình thức mua, bán CKđểkiếm lời; hoặc tham gia thông qua cácquỹđầutƣ CK. Tuy nhiên, trong phạm vi luận án, tácgiảchỉđi sâu nghiên cứu các quy định về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT khi họtham gia giao dịch mua và bán chứng khoán trên TTCKTT.
10
Các số liệu nghiên cứu trình bày trong luận án đƣợc lấy từ kết quả khảo sát hoạt động của TTCKTT trong thời gian từ 2004 đến tháng 07/2008.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơsởlý luậncủaluận án là lý luậncủachủnghĩa Mác LêninvềNhà
nƣớc, pháp luật và những quan điểm, đƣờng lối, chính sách của Đảng và Nhà
nƣớcvềphát triển KTTT nói chung và TTCK nói riêng. Luận án cũng tham khảo các công trình nghiên cứu, sách báo, bài viết củacác tácgiảởtrong
nƣớcvà ngoàinƣớcvềTTCK nói chung vàvềbảovệquyền vàlợiích của NĐT trên TTCKTT nói riêng trên quan điểm kế thừa và có chọn lọc.
Để nghiên cứu đề tài, luận án đã sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu phân tích,đối chiếu, so sánh, tổng hợp, kết hợp vớiphƣơng pháp khảo sát thực tiễn, phƣơng pháp điềutra xãhộihọcđểlàm sángtỏcácnộidung cần nghiên cứu của luận án.
6. Những đóng góp mới của luận án
Luận án là công trình nghiêncứumột cách có hệthống và tƣơngđối toàn diện cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền vàlợiích của NĐT trên TTCKTTở Việt Nam, có sự nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm pháp luật một số nƣớc trênthếgiới. Trên cơ sở đó, luận ánđãnêuđƣợcmột sốgiải pháp có căncứkhoahọcvà có tínhkhảthi nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT trên TTCKTTởViệt Nam. Đóng góp mới củaluận ánđƣợcthểhiện ởnhững nội dung cơbản sau đây:
– Trên cơ sở phân tích các quan niệm về TTCK, luận án đã đƣa ra khái niệm vàchỉrõ đặcđiểmcủaTTCKTT; khẳngđịnhTTCK nói chung vàTTCKTT nói riêng là một định chế tài chính quan trọng, không thể thiếu của nềnKTTT. Trên TTCKTT, NĐT làchủthểđóng vai trò trung tâm. Muốn phát triển TTCKTT thì phải có cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT tham gia thị trƣờng.
11
– Luận án đã phân tích và đƣa ra khái niệm về “bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tƣ”; khẳng định vai trò của NĐT đối với sựtồntạivàphát triển củaTTCK vàsựcần thiết phải bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của NĐT.
– Luận án đã phân tích vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ quyền và
lợi íchcủaNĐT; khẳngđịnhcác quyđịnhvềbảo vệquyền vàlợiích của NĐT làmộtbộphận khôngthểthiếu củapháp luậtvềTTCK ởbất kỳquốc gia nào, bảo vệquyền vàlợiíchcủaNĐT là một trong những nguyêntắctổchức và hoạt động của TTCK, đồng thời cũng là mục đích của việc ban hành Luật Chứng khoán.
– Luận án đã phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luậtvề bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT trên TTCKTT trên cả phƣơng diện nội dung bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT và biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT; khẳng định rằng,đểbảovệquyền và lợi ích củaNĐT,cầnphải triển khai đồngbộcác biện pháp hành chính, biện pháp dânsự,biện pháp hìnhsựvàbiện pháp thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp theo quyđịnhcủa pháp luật.
– Luận án đã phân tích, khẳng định nhu cầu tất yếu của việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT trên TTCKTT; đề xuất một sốgiải pháp cụthểgóp phần hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền vàlợiích của NĐT trên TTCKTT ở Việt Nam. Trong đó tập trung vào hai nhóm giải pháp: giải pháp hoàn thiện khung pháp lý về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT và giải pháp nhằm nâng cao năng lực bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cho các chủ thể.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Kết quảnghiêncứucủaluận án góp phần vào việc làm sángtỏnhững vấn đề lýluận và pháp lý về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT trên TTCKTT. Từđó góp phần nâng cao nhận thứccủacácchủthể,đặcbiệt là công chúngđầu tƣ vềvị trí, vai trò của NĐT, yêu cầu, nội dung, biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT trên TTCKTT.
Qua việc phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền và
lợi ích của NĐT trên TTCKTT ở nƣớc ta hiện nay, luận án đã góp phần khẳng định tính tất yếukhách quancủaviệc hoàn thiện pháp luậtvềCK và TTCK

nói chung và hoàn thiện pháp luật vềbảo vệquyền vàlợiích củaNĐT trên TTCKTT nói riêng. Những giải pháp, kiến nghị đƣợc nêu trong luận án là tài liệu tham khảo trong quá trình xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện thể chế KTTT định hƣớng XHCN ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay.
Luận án là tài liệu tham khảo cầnthiết cho việc nghiêncứuvà giảng dạy tại các cơ sở đào tạo khoa học pháp lý, cơ sở đào tạo về CK và TTCK vàcho những ngƣời quan tâm tìm hiểu về lĩnh vực CK và TTCK.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận án
đƣợc kết cấu gồm bachƣơng:
– Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT trên TTCKTT
– Chƣơng 2. Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT trên TTCKTT ở Việt Nam
– Chƣơng 3. Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT trên TTCKTT ở Việt Nam
13
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀLÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT
VỀBẢO VỆQUYỀN VÀLỢIÍCH CỦA NHÀ ĐẦU TƢ
TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN TẬP TRUNG
1.1. TTCKTT và vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT trên thị trƣờng 1.1.1. TTCKTT và cácyếu tố cơ bảncủa thị trường
1.1.1.1. Khái niệm về TTCKTT
Xét dƣớigócđộ kinhtế học,thịtrƣờng là nơi gặp gỡgiữangƣờimua vàngƣờibán đểtrao đổi, mua bán các sản phẩm hàng hoá. Có nhiều loại thị
trƣờng khác nhau vàđốitƣợngmua báncủanó làmỗiloại hàng hoá nhấtđịnh
tƣơng ứng.
TTCK ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn của nền KTTT, dođócòn
đƣợcgọilàthịtrƣờng vốn.Đó làthịtrƣờng có tổchức cao,ởđó các CK–hàng hoácủathịtrƣờng,đƣợcmua bán thông qua hoạt độngcủacác trung gian môi giới mua và bán các loại CK.
Đãcó nhiều định nghĩa khác nhau về TTCK. Theo tiếng La tinh, TTCK là BURSA, tức là cái víđựngtiền; tiếng Pháp gọi là Bourse, tức là “mậu dịch
trƣờng”hay còngọilàSởgiao dịch. Theo Longman Dictionary of Business English 1995, TTCK đƣợc định nghĩa là “một thị trƣờng có tổ chức là nơi các chứng khoán đƣợc mua bán tuân theo những quy tắc đã đƣợc ấn định” [77, tr. 11].
ỞViệt Nam, trong các vănbảnpháp luật hiện hành không có định nghĩa TTCK, nhƣng theo cách hiểu chung nhất thì TTCK là nơi gặp gỡgiữa
ngƣời có nhu cầu về vốn và ngƣời có vốn nhàn rỗi muốn đầu tƣ thông qua các hoạt động trao đổi, mua bán các loại CK. Các hoạt động nàyđƣợcthực hiện thông qua các phƣơng thức giao dịch nhất định. Nói cách khác, TTCK là nơi
phát hành và mua bán các loại chứng khoán. Chứng khoán – hàng hoácủa thị
trƣờng – là bằng chứng xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời sởhữuCKđốivớitàisảnhoặc phầnvốncủatổchức phát hành CK. Chứng
14
khoánđƣợcthểhiệndƣớihình thức chứng chỉ, bút toán ghisổhoặcdữliệu điệntửbao gồm: cổphiếu, trái phiếu, chứngchỉquỹđầutƣ và các loại CK khác theo quyđịnhcủa pháp luật [61]. Chứng khoán là những tài sản tài chính vì nó có khảnăng manglạithu nhập cho ngƣờisởhữuvà khicầnngƣờisởhữu chứng khoán có thể bán nó để thu tiền về. Trong TTCK, giá cả của hàng hóa chứng khoánđƣợcxácđịnhdựatrên quanhệcung -cầucủathịtrƣờng. TTCKvềcơbảnlà một thịtrƣờng liên tục, sau khi các CKđƣợcphát hành trênthịtrƣờng sơ cấp, nó có thểđƣợcmua bán nhiềulầntrênthịtrƣờngthứcấp. TTCK bảo đảm cho những NĐT có thể chuyển các CK thuộc sở hữu của mình thành tiền bất kỳ lúc nào họ muốn.
Có nhiều loại TTCK, căncứvào phƣơng thứctổchức, TTCKđƣợc
chia thành TTCKTT (hay còn gọi là TTCK chính thức – The Stock Exchange), TTCK phi tập trung (Over the counter – OTC) và thị trƣờng chứng khoán tự do.
TTCKTT (còn gọi là SGDCK/TTGDCK) là thị trƣờngcó địa điểmvật chất và thời gian biểu mua bán theo quyđịnhcủapháp luật.Đểthực hiện
đƣợcmột giao dịch CK tại sàn giao dịch, các bên tham gia thị trƣờng và các CKlà đốitƣợngcủagiao dịch phải đáp ứngđƣợcnhững điều kiện nhất định do pháp luật quyđịnh.Việc mua bán CK ởTTCKTT phảiđƣợctiến hành thông qua các trung gian môi giới CK là các CTCK- thành viên của SGDCK/TTGDCK (sau đây gọi chung là Sở giao dịch chứng khoán). TTCKTT là thị trƣờng cạnh tranh tự do, các NĐT và các tổ chức kinh doanh chứng khoánđƣợctựdo tham gia vào thịtrƣờng.Thịtrƣờng này hoạt động liên tục, các NĐT có thểmua và bán chứng khoán nhiềulầntrênthịtrƣờng. Trên TTCKTT,lợinhuận thu đƣợcthuộcvềcác NĐT và cáctổchức kinh doanh chứng khoán chứ không thuộc về các tổ chức phát hành chứng khoán.
KhácvớiTTCKTT,thịtrƣờng OTC làthịtrƣờng mua bán CK bên ngoài SGDCK. Thị trƣờng này không có địa điểm tập trung những ngƣời môi
15
giới, những ngƣời kinh doanh CK nhƣ ở SGDCK. Việc mua bán CK trênthị
trƣờng OTC không tuân theo thời gian biểu haythủtụcnhất định mà do sựthoả thuận giữangƣờimua vàngƣờibán. Các CKđƣợcmua bán trênthị
trƣờng OTC thƣờng là những CK chƣa đủ tiêu chuẩn niêm yết trên TTCKTT. Các bên tham giathịtrƣờng cũng không phải tuânthủnhữngđiềukiện chặt chẽ nhƣ đối với các chủ thể tham gia giao dịch tại sàn. So với TTCKTT thì thị
trƣờng OTC có lƣợnghàng hoá đa dạng hơn. Những CKđãđƣợcniêm yết trên TTCKTT cũng có thể đƣợc đem ra mua, bán trên thị trƣờng OTC.
Đặc điểmquan trọng nhất đểphân biệt TTCKTT với thịtrƣờng OTC là cơ chế xác lập giá của các loại chứng khoán. Trên TTCKTT, các giao dịch mua bán chứng khoán phải tuân theo nguyêntắcgiao dịch qua trung gian; giácảcủahàng hoá chứng khoán đƣợcxác lập thông quađấu giá, so khớp lệnh tập trung;ởmột thời điểm, chỉ có một mứcgiá đối vớimột loại chứng khoán. Còn trên thị trƣờng OTC, giá cả của hàng hoá chứng khoán đƣợc xác
lập thông qua cơchếthƣơng lƣợng, thoả thuận giá là chủyếu; có thểcónhiều mứcgiá đối vớimột loại chứng khoán ởcùng một thờiđiểm.Mặt khác, chứng khoánđƣợcmua bán trên TTCKTT là những hàng hoá chất
lƣợng cao,đủtiêu chuẩn niêm yết. Còn trên thịtrƣờng OTC, hàng hoá cóthểlà chứng khoán chƣađủtiêu chuẩn niêm yết và có độrủiro cao hơn so vớichứng khoán trên TTCKTT. Khi tham gia vào TTCKTT, NĐTsẽphải tuân thủ các quy định về điều kiện và kỷ luật của thị trƣờng chặt chẽ hơn so với thị trƣờng OTC, nhƣng nguy cơ rủi ro mà họ phải gánh chịu vì thế cũng sẽ đƣợc giảm thiểu hơn so với các NĐT tham gia thị trƣờng OTC. Xét ở gócđộbảo vệquyền và lợi íchcủaNĐT thì hoạt động củaTTCKTT có cơchếbảo vệ khá rõ ràng. Pháp luật có những quy định điều chỉnh chặt chẽ tổ chức và hoạt động của TTCKTT nhƣ: quy định về nghĩa vụ của các chủ thể trong việc bảo đảm tính công khai, minh bạch của thị trƣờng; quy định về các tiêu chuẩn,điều kiện đối với các loại hàng hoáđƣợcmua bán trên thịtrƣờng;
16
quy định các điều kiện chặt chẽ đối với chủ thể tham gia thị trƣờng,đặc biệt là tổchức niêm yết và cáctổchức cung ứng dịch vụtrênthịtrƣờng; quy
định về tổ chức, quản lý thị trƣờng; về kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm…, quađó bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT tham gia thị
trƣờng. Cònđối với thịtrƣờng phi tập trung, các giao dịch mua bán chứng khoánmặcdù cũng làm phát sinh, thayđổi hoặc chấm dứt các quyền vànghĩavụcủacác NĐT, nhƣng đó chỉlà những giao dịch có tính đơn lẻ,lại không đƣợcthực hiện quahệthống giao dịch củaTTCK,đồng thời cũng không chịu sự điều chỉnh trực tiếp của Luật Chứng khoán (do pháp luật dân sựđiều chỉnh). Hiện nay,ởnƣớcta, khuôn khổpháp lý điều chỉnh tổchức và hoạt động của thị trƣờng OTC vẫn chƣa đƣợc ban hành đầy đủ.
Ngoài hai loại thị trƣờng nêu trên, còn có thị trƣờng chứng khoán tự do.Đây là loại thịtrƣờng không cótổchức. Các giao dịch mua và bán chứng khoán trên thị trƣờng này đƣợc tiến hành thông qua giao dịch thoả thuận trực tiếp. Các chứng khoán mua bán là tất cảcác chứng khoán phát hành.Thị
trƣờng này hoạt động không có sự quản lý của Nhà nƣớc, không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về chứng khoán và thị trƣờng chứng khoán, do đó, tính rủi ro rất cao.
Mặc dù có nhiều loại TTCK đã nêu trên, nhƣng TTCKTT vẫn đƣợc coi làthịtrƣờng truyền thống,điểnhình và là thịtrƣờng cơ bản. Khi nóiđến TTCKcủabất kỳquốc gia nào là nóiđến TTCKTT,tứclà nóiđếnSGDCK củaquốc giađó.Tuy SGDCK khôngđồngnghĩa vớiTTCK, nhƣng có vịtrí đặcbiệt quan trọng, có ảnhhƣởngrất lớnđến sựtồn tạivà phát triển của TTCK. Dù ởquốc gia nào vàđƣợctổchứcdƣớihình thức nào thì SGDCK cũng có những đặc điểm chung sau đây:
– SGDCK làđơnvịtổchức và phụcvụcho hoạt độnggiao dịch mua bán CK, là nơiđểngƣờibán vàngƣờimua CK gặp nhauđểthực hiện việc mua bán;
17
– SGDCK không trực tiếp mua, bán,sởhữu các loại CK, không can thiệp vào việc hình thành giá CK, chỉ đƣa ra danh sách và các thông tin về các loại CK đƣợc phép giao dịch trênthịtrƣờng, bảo đảmcho việc mua bán CK diễn ra công khai, đúng pháp luật, bảo đảm trật tự trên thị trƣờng;
– Tại SGDCK, các hoạt động chào mua, chào bán CK đƣợc diễn ra liên tục, không có ngƣời mua vàngƣờibán cuối cùng. Các CTCK là thành viên của SGDCK với tƣ cách là nhà tạo lập thị trƣờng có vai trò làm cho thị trƣờng hoạt động liên tục. Chính vì vậy, SGDCK còn đƣợc gọi là tổ chức tự định chếcủa các nhà môi giới CK.
Điểm cơ bản nhất để phân biệt SGDCK với các Sở giao dịch hàng hoákhác chínhở đối tƣợnggiao dịch của nó, đó là các loại chứng khoán. Chứng khoán – hàng hoácủathịtrƣờng là một loại tàisảnrất đặcbiệt, không biểu hiện giátrịnội tại. NĐTbỏtiền ra mua CK là muavềmột loại hàng hoákhông có giá trị tiêu dùng nhƣng lại có thể đƣợc mua đi bán lại trên thị trƣờng thứcấp vớinhiều giácảkhác nhau.Đểxácđịnhđƣợcgiátrịcủaloại hàng hoá chứng khoán,ngƣờimua nó không thểxem xét, đánh giá bằng các giác quan thông thƣờng nhƣđối vớicác loại hàng hoá khác mà phải trên cơsởđánh giá các thông tin liên quanđếntổchức phát hành chứng khoán và tình hình thị trƣờng. Do vậy, để chứng khoán có thể giao dịch đƣợc trên thị trƣờng đòihỏiphải liêntụccung cấp những thông tin có liên quanđếnloại chứng khoánđó.Có thểnhận thấy,lợithếnổibật củaTTCKTT chính làkhảnăng huy động vốn đầu tƣ rất rộng rãi. Các NĐT kể cả những ngƣời chuyên nghiệp và nhữngngƣờikhông chuyên nghiệp đềucó thểtham giađầutƣ trênthị
trƣờng này. Tuy nhiên, điều này cũngđồngnghĩa với việc khả năng rủi ro xảy ra đối với NĐT là rất lớn. NĐT tham gia thị trƣờng luôn phải đốimặt với sựtiềm ẩnnhững nguy cơ nhƣ gian lận,lừađảo nhằm chiếmđoạt tàisảncủa NĐT. Do đó,cần phải có sự hỗ trợ của các nhà chuyên môn là những ngƣời môi giới chứng khoán,đồngthờicầncó cơchếbảo vệquyền vàlợiích hợp
18
pháp của NĐT tham gia thị trƣờng. Tính chất đặc biệt của đối tƣợng giao dịch và tínhrủiro củaTTCKTT chính là nhữngyếutốchi phối,ảnhhƣởngđến đặc điểm của pháp luật điều chỉnh hoạt động của thị trƣờng và tới việc bảo vệNĐT bằng pháp luật.
Tham khảo kinh nghiệmtổchức SGDCKcủanƣớcngoài cho thấy, SGDCKởcácnƣớcthƣờngđƣợctổchức theo các hình thức sau đây [86, tr.91]:
– Một là, hình thứcsởhữuthành viên (công ty trách nhiệmhữuhạn). Theo hình thức này, SGDCK do các thành viên là các CTCK sở hữu. Cơ quan quản trị của SGDCK do các CTCK thành viên bầu ra theo từng nhiệm kỳ. Ƣu điểmcủaviệctổchức SGDCK theo hình thức này là các thành viên của SGDCKvừalàchủthểtham gia giao dịch,vừalàchủthểquản lý nên phát huy đƣợc tính tự quản, chi phí thấp và đáp ứng đƣợc yêu cầu bảo đảm nhanh nhạy, dễ thích ứng đƣợc với tình hình thay đổi trên thị trƣờng. Tuy nhiên, tổchức theo hình thức này cũng cóhạn chếlà dễ bịlạmdụng nhằmbảovệlợi íchcủaSGDCK vàlợiíchcủacác thành viên. Một sốSGDCKlớnnhƣSGDCK Hàn Quốc, SGDCK Thái Lan… đƣợc tổ chức theo hình thức này.
– Hai là, hình thức CTCP. Theo hình thức này, SGDCKđƣợctổchức
dƣớihình thức CTCP đặc biệt.Cổ đông sở hữuSGDCK là các CTCK thành viên, các ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính.Tổchức và hoạt độngcủa SGDCK theo Luật Công ty và hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Môhình này đƣợc áp dụng ở một số nƣớc nhƣ Đức, Anh và Hồng Kông.
Việctổchức SGDCK theo hình thức CTCP cũng có ƣuđiểmtƣơngtự
nhƣ hình thức sở hữu thành viên, đó là tính tự quản cao, tăng cƣờng tính hiệu quả và bảo đảm sự nhanh nhạy trong vấn đề quản lý. Hơn nữa, hình thức này còn có ƣu điểm hơn hình thức sở hữu thành viên bởi tính xã hội hoá của hình thức công tycổphần (khả năng huyđộng vốnngoài công chúng, tính thanh khoảncủacổphiếu). Nhƣng nó cũng có nhƣợcđiểmlàdễbịlạmdụng, ảnh
19
hƣởngđếnquyềnlợicủanhàđầutƣ,đồng thời, khi có vấnđềxảyra thìkhảnăng can thiệp và ủng hộ từ phía Nhà nƣớc bị hạn chế.
– Ba là, hình thứcsởhữunhànƣớc.Theo hình thức này, SGDCK do Nhà nƣớc thành lập, quản lý và sở hữu một phần hay toànbộ vốncủa SGDCK. Mô hình này có ƣu điểm là hoạt động của SGDCK không chạy theo mục đích lợi nhuận nên thƣờng ƣu tiên bảo vệ quyền lợi của NĐT. Đồng thời, trong những trƣờng hợp cần thiết, Nhà nƣớc có thể can thiệp kịp thờiđể bảo đảmcho thịtrƣờng hoạt động một cáchổnđịnh,lành mạnh,giữđƣợcđịnh
hƣớngphát triển của Nhà nƣớc. Tuy nhiên, mô hình này cũng có hạn chế nhất định là thiếu tínhđộclập, cứng nhắc trong khâu quản lý,điềuhành, chi phí lớn và hiệu quả thấp (Trung Quốc, Việt Nam theo mô hình này).
1.1.1.2. Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của TTCKTT
TTCKTT là một định chế tài chính quan trọng, có tính đặc trƣng, hoạt động theo cơ chế riêng biệt, đƣợc tiêu chuẩn hoá và mang tính quốc tế. Mục tiêu cơ bản của TTCKTT là bảo đảm công bằng, hiệu quả và tínhổn địnhcủa thị trƣờng, tạo điều kiện cho lƣu thông CK đƣợc thông suốt.Để đạt đƣợc mục tiêu đó,bên cạnh việc tuânthủcác quy luật chung giống nhƣ tất cảcácthị
trƣờng hàng hoá khác nhƣ quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung-
cầu…,tổchức và hoạt độngcủaTTCKTT phải tuânthủcác nguyêntắccơbản, có tínhđặc thùsau đây:
a. Nguyên tắc công khai thông tin
Công khai thông tin là nguyêntắcquan trọng nhất củaTTCK,bởivì CK là một loại hàng hoáđặc biệt,rất trừu tƣợng. Khi mua chứng khoán tức làNĐT bỏ tiền ra mua lấy một thứ quyền tài sản vô hình, khi thì đƣợc xác nhận bởi một tờ cổ phiếu, khi thì chỉ đƣợc ghi nhận thông qua một bút toán ghi sổhoặc đƣợc ghi vào danh sách cổ đông. NĐT không thể kiểm tra trực tiếp đƣợc chất lƣợngvà đánh giáđƣợcgiá trịcủahàng hoá CK nhƣ các loại hàng hoáthông thƣờng. Giátrịcủachứng khoánphụthuộc vào tình hình kinh doanh
20
củatổchức phát hành: khi tổchức phát hành chứng khoán làm ăn có lãi thì giá trị của chứng khoán sẽ tăng cao, còn khi tổ chức phát hành chứng khoán làm ăn thua lỗ hoặc phá sản thì chứng khoán có thể trở nên vô giá trị. Yếu tốquyết định đểNĐT mua chứng khoán chính là niềm tin củacủangƣờimua vào tổchức phát hành và vào thịtrƣờng. Niềm tinđó đƣợctạo dựng trên cơsởnhững thông tin có liên quanđếnloại chứng khoán màhọmuốnđầutƣ. Nhằm bảo đảmcông bằng trong mua, bán CK và hình thành giá CK, bảo vệquyền lợicho NĐT,đòihỏiphải công khai hoá các thông tin liên quanđến hoạt động củaTTCK nhƣ: công khai các loại CK đƣợc đƣa ra mua, bán trên thịtrƣờng; tình hình tài chính và kết quảkinh doanh củacông ty phát hành
CK; số lƣợng CK và giá cả các loại CK giao dịch… Việc công khai thông tin về TTCK phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
– Tính chính xác: các thông tinđƣợc côngkhai trên thị trƣờngphải đảm bảo tính xác thực. Nếu các thông tin đƣợc công khai là không chính xác, thiếu tin cậythì có thểkhiến NĐTđƣara những quyết định đầutƣ sai lầm, ảnh
hƣởngtới quyền lợi của NĐT, vi phạm nguyên tắc công bằng trên TTCK.
– Tính nhanh chóng, kịp thời: việc công khai thông tin phải nhanh chóng, kịp thời nhằm giúp NĐT nắm bắt đƣợc cơ hội kinh doanh. Nếu chậm trễ trong việc công khai thông tin sẽ gây thiệt hại cho NĐT.
– Tính thuận tiện: việc công khai thông tin phải bảo đảmcho NĐTdễdàng tiếp cận thông tin. Các thông tinđƣợc côngkhai thông qua các phƣơng tiện thông tinđạichúng, qua mạnglƣớithông tincủaSGD, TTGDCK, qua các CTCK và các tổ chức có liên quan khác.
b. Nguyên tắc trung gian
Trên TTCKTT, các giao dịch CKđƣợcthực hiện thông quatổchức môi giới. Các CTCK là thành viêncủaSGDCK/TTGDCK thông qua việc thực hiện các nghiệpvụkinh doanh của mình đóng vai trò trung gian cho cungcầuCK gặp nhau. Trênthịtrƣờng sơ cấp, các NĐT thƣờng không trực
21
tiếp mua CKcủacác nhà phát hành mà muatừcác nhà bảo lãnh phát hành. Trên thị trƣờng thứ cấp, thông qua nghiệp vụmôi giới, các CTCK mua hoặc bán CK giúp các NĐT hoặc thông qua nghiệp vụtựdoanhđểmua CK của NĐT này và bán cho các NĐT khác.
Nguyêntắctrung gian nhằm bảo đảmcác loại CKđƣợcgiao dịch làCK thực, tránh đƣợc sự giả mạo, lừa đảo trong giao dịch, bảo vệ quyền và lợi íchcủaNĐT,bởivì những NĐT không phải ai cũng xét đoánđƣợcgiátrịthựctếcủaCK vàhọcũng khôngthểdựđoánđƣợcgiátrịtƣơng laicủanó, nếukhông có nhà môi giới am hiểu vềCK và kinh doanh CK, có khảnăng phân tíchvềCKdựatrên những căncứxác đángđểcó những nhận xét kỹ
lƣỡng, thì NĐT có thể bị lầm lẫn hoặc bị lừa gạt mà đƣa ra quyết địnhđầu tƣsai lầm.
c. Nguyên tắc đấu giá
Đấu giá CK là việc hình thành giá CK trên cơ sở phối hợp các lệnhđặt hàng của các NĐT với nhau, thông qua các thành viên của SGDCK/ TTGDCK.Mứcgiáđƣợcxácđịnhlàmứcgiá thoả mãncảlệnh đặt mua và
lệnh đặt bán. Việc định giá CK trên thị trƣờng hoàn toàn do các nhà môi giới quyết định.Mỗingƣờimôi giớiđịnhgiá mỗi loại CKtạimột thờiđiểm tuỳtheo sựxét đoándựatrên kinh nghiệm vàkỹthuật riêngcủamình vàtuỳthuộc vào số cung – cầu loại CK đó trên thị trƣờng. Việc định giá đƣợc thực hiện qua cuộcđấugiá giữa những ngƣời môi giới muavớinhau và giữa những ngƣời môi giới bán với nhau hoặc qua cuộc thƣơnglƣợnggiữa hai bên. Giá CKđƣợcxácđịnhkhiđãthống nhất. Tất cảnhững thành viên trênthị
trƣờng không ai có thể can thiệp vào sự tácđộngqua lại của cung – cầu CK vàcũng không ai có quyềnđịnh giá CK một cáchđộcđoán. Vì vậy, cóthểnói TTCK là thị trƣờng mang tính tự do nhất trong các loại thị trƣờng. Việc thực hiện nguyên tắc đấu giá chính là nhằm bảo vệ NĐT thông qua tính công khai của thị trƣờng.
22
Có hai phƣơng thức đấu giá là đấu giá liên tục và đấu giá địnhkỳ:
-Đấugiá liêntụclà phƣơng thứcđấugiá trongđó việc mua bán CK
đƣợc tiến hành liên tục bằng cách phối hợp các đơn đặt hàng của khách hàng khi có các đơn đặt hàng có thể phối hợp đƣợc. Đặc điểm của đấu giá liên tục là giá cả đƣợc xác định qua sự phản ứng tức thời của thông tin và các NĐT cóthể nhanh chóng phản ứng lại trƣớc những thay đổi trên thị trƣờng vì các giao dịch đƣợc tiến hành ngay khi có các đơn đặt hàng có thể phối hợp đƣợc. Loại đấu giá này thích hợp với thị trƣờng có khối lƣợng giao dịch lớn và có nhiều đơnđặt hàng.Đốivới thịtrƣờng có khối lƣợnggiao dịch nhỏvàsốđơnđặt hàng ít có thể dẫn tới những biến động giá quá mức và thị trƣờng đấu giá liên tục này phải gánh chịu chi phíhoạt độngcao. Giá cả tăng lên khi các đơn đặt hàng mua liêntụcdồnvềthịtrƣờng; các giao dịch diễn ra liêntụcđòihỏi SGDCK phải có một đội ngũ nhân viên lớn.
-Đấugiáđịnhkỳlà cáchđấugiá theo đó các giao dịch CKđƣợctiến hành tại một mức giá duy nhất bằng cách tập hợp tất cả các đơn đặt hàng mua và bán trong một khoảng thời gian nhất định. Đặc điểm của đấu giá định kỳ làxác định mức giá cân bằng cung – cầu vì nó xác định giá của một CK sau khi tập hợp tấtcảcácđơnđặt hàng mua vàđơnđặt hàng bán trong mộtkhoảng thời gian tƣơng đối dài. Đây là phƣơng thức đấu giá rất có hiệu quả trong việc hạn chế sự biến độnggiá quá mức một cách bất thƣờng phát sinh từ việc phối hợp nhữngđơnđặt hàngđƣợcchuyểnđếnthịtrƣờng nhƣ trong trƣờng hợp đấu giá liên tục. Tuy vậy, đấu giá định kỳ cũng có hạn chế là không phản ánh kịp thời những thông tin về thịtrƣờng và hạn chế tính nhanh chóng, kịp thời của các giao dịch. Vì vậy, cách đấu giá định kỳ chỉ phù hợp với giai đoạn đầu của TTCK, khisố lƣợngNĐT và khối lƣợng CK giao dịch còn ít.
Dù việcđấugiáđƣợctiến hành theo phƣơng thức nào, thì cũng phải tuân theo nguyên tắc ƣu tiên theo thứ tự sau:
23
– Thứ nhất, ƣu tiên về giá: giá mua cao nhất và giá bán thấp nhất đƣợc
ƣu tiên thực hiện trƣớc.
– Thứ hai, ƣu tiên về thời gian: Khi các đơn đặt mua và đặt bán có cùng mộtmứcgiá thì ƣu tiên các đơnđặt mua (hoặc đặt bán)sớmnhất, thực hiện
trƣớc. Nguyên tắc này không áp dụng đối với phƣơng thức đấu giá định kỳ vì theo phƣơng thức này, tất cả các đơn đặt hàng đƣợc xem nhƣ là tới cùng một lúc.
-Thứba, ƣu tiên khách hàng: đơnđặt hàngcủakhách hàngđƣợcƣu tiên trƣớc những đơn đặt hàng của nhân viên SGDCK. Mục đích là để bảo vệnhững NĐTtrƣớcnhững CTCKvừahoạtđộngmôi giớivừahoạt độngtựdoanh. Nguyêntắcnày thƣờngđƣợcáp dụngđốivớiphƣơng thứcđấugiáđịnhkỳ.
– Thứ tƣ, ƣu tiên về sốlƣợng: trong số nhữngđơn đặthàng của khách hàng đến cùng một lúc và có cùng mức giá, quyền ƣu tiên sẽ dành cho khách hàng có đơn đặt hàng lớn hơn.
1.1.1.3. Các chủ thể tham gia TTCKTT
Tham gia vào TTCKTT có các nhóm chủ thể chính là: ngƣời phát hành CK, niêm yết CK; ngƣời đầu tƣ CK; ngƣời kinh doanh, môi giới CK; ngƣời tổchức thị trƣờng và ngƣời quản lý thị trƣờng.
– Ngƣời phát hành, niêm yết CK là những ngƣời có nhu cầu huy động vốn thông qua việc phát hành và bán các loại CK. Các chủ thể này bao gồm các công ty, Chính phủ hoặc chính quyền địa phƣơng. Các công ty muốn huy động vốn đểđầu tƣphát triển sản xuất kinh doanh thƣờng phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu công ty. Chính phủ phát hành các loại trái phiếu nhằm huy động tiền để bùđắp thâm hụt ngân sách hoặc thực hiện những công trình quốc gia. Chính quyền địa
phƣơng phát hành trái phiếu địa phƣơng để huy động vốn đầu tƣ cho các chƣơng trình kinh tế – xã hội ở địa phƣơng.
24
– Ngƣời đầu tƣ CK là những tổ chức, cá nhân có tiền nhàn rỗi muốn đầu
tƣ bằng cách mua, bán CK trên thị trƣờng để hƣởng lợi nhuận. NĐT có thể làcá nhân hoặctổchức.MụctiêutốithƣợngcủaNĐT khibỏtiền mua chứng khoánđó làlợinhuận thuđƣợc(trừmụcđích cá biệt nhằm thâu tóm công ty phát hành bằng mọi giá) từ việc chi cổ tức, từ lợi nhuận tích luỹ làm tăng giá trịcủa công ty và từ việc tăng giá của bản thân chứng khoán. NĐT là chủ thể đóng vai trò quan trọng, quyết định sự thành công của thị trƣờng, bởi vì chỉ khi các NĐT tham gia giao dịch trên thị trƣờng thì mới duy trì và tăng tính thanh khoản cho các loại chứng khoán – đây chính là yếu tố quan trọng nhất để TTCK tồn tạivà phát triển. Tuy nhiên, các NĐT thƣờng không trực tiếp giao dịch mua bán CK trên thị trƣờng mà việc mua bán CK của họ đƣợc thực hiện thông qua những nhà chuyên môn là những ngƣời môi giới CK.
-Ngƣờikinh doanh và môi giới CK là những CTCK – thành viên của SGDCK.Chỉcó thành viênmớiđƣợcgiao dịch CKtạiSGDCK. Nhómchủthểnày đƣợcchia thành hai loại, loạithứnhất là nhữngngƣờimôi giới CK,Đó là những ngƣời trung gian thuần tuý, họ đóng vai trò là đại lý mua bán CK cho các NĐTđểhƣởng hoa hồng. Loạithứhai là những ngƣờikinh doanh CK, nhữngngƣờinàyđứngra mua CKcủangƣờibán sauđó bánlạicho
ngƣờimua khácvớigiá cao hơn giáhọđãmua vào đểhƣởngthu nhập do chênh lệch giữa giá mua vào và giá bán ra. So sánh hai loạichủthểnày thì những ngƣời môi giới CK không chịu sự tác động của rủi ro do biến độngthịgiá CK nhƣ nhữngngƣờikinh doanh CKbởivì họkhôngnắmgiữCK.
Ngƣợc lại, ngƣời kinh doanh CK có nguy cơ rủi ro cao vì họ trực tiếp nắm giữCK trong quá trình kinh doanh. Nếu giá CK tăng lên thì ngƣời kinh doanh cólợinhuận, nhƣng nếu giá CKsụtgiảm thì sẽbịthualỗ,thậm chí có thểphá
sản. Ngày nay, các CTCK thƣờng thựchiện cảhai nghiệpvụ,vừalàm trung gian môi giới mua bán CK để hƣởng hoa hồng, vừa kinh doanh CK để hƣởng chênh lệch giá.
25
-Ngƣờitổchứcthịtrƣờng là SGDCK.Đâylàtổchức do các CTCK thành viên thoả thuận lập ra hoặc do Nhà nƣớc thành lập để tổ chức giao dịch và cung cấp các dịch vụ phục vụ cho giao dịch CK. Tổ chức này có thể thuộc sở hữu thành viên (Công ty TNHH) hoặc tổ chức dƣới hình thức CTCP hoặc thuộc sở hữu Nhà nƣớc, tuỳ theo pháp luật của mỗi quốc gia.
– Ngƣời quản lý thị trƣờng là cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quản lý nhà nƣớc về CK và TTCK. Tuỳ theo pháp luật của mỗi quốc gia, cơ quan này có thểđƣợcgọilàUỷban Chứng khoán vàĐầutƣ hoặcUỷban Giám sát chứng khoán và Giao dịch chứng khoán hoặcHộiđồngChứng khoán Quốc
gia… Ở Việt Nam, Chính Phủ là cơ quan thống nhất quản lý nhà nƣớc về CK và TTCK. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trƣớc Chính Phủ thực hiện quản lý nhà nƣớc về CK và TTCK. UBCKNN là cơ quan thuộc Bộ Tài chính, có trách nhiệm giúp Bộ trƣởng Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lýnhà nƣớc vềCK và TTCK; trực tiếp quản lý, giám sát hoạt độngCK và TTCK; quản lý các hoạt độngdịchvụthuộc lĩnhvựcCK và TTCK theo quyđịnh củapháp luật để bảo đảm cho TTCK ổn định, công bằng và minh bạch.
1.1.2. Khái quát chung vềbảo vệquyền và lợi ích của NĐT trên TTCKTT
1.1.2.1. Khái niệm nhà đầu tư chứng khoán
Theo nghĩa thông thƣờng, đầu tƣ đƣợc hiểu là việc bỏ ra một lƣợng giá trịđể hình thành tài sản với mong muốn tài sản đó sẽ mang lại giá trị lớn hơn giá trịđã bỏ ra ban đầu. Theo từ điển Tiếng Việt thì đầu tƣ là “bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội” [89, tr. 301].
Tại khoản 1 Điều 3 Luật Đầu tƣ số 59/2005/ QH11 ngày 29/11/2005 (sau đây viết tắt là Luật Đầu tƣ) quy định: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tưtheo quyđịnhcủaluật này và các quyđịnhkháccủapháp luật có liên quan”. Việc đầu tƣcó thể theo hình thức đầu tƣ trực tiếp hoặc đầu tƣ gián tiếp. Tại khoản
26
3 Điều 3 Luật Đầu tƣ năm 2005 quy định: “Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tưthông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạtđộngđầutư”.Nhƣ vậy,đầutƣ chứng khoán là hình thức đầu tƣ gián tiếp.
Đầutƣ chứng khoán là hành vicủapháp nhân hoặc cá nhân tiến hành mua cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác nhằm mục đích thu lợi. Có ý kiến cho rằngcầncósựphân biệt giữa hoạt độngđầutƣ CK với hoạtđộng kinh doanh CK. Theo ý kiến này thì đầu tƣ CK là việc NĐT bỏ tiền mua CK với ý địnhnắm giữ CK đó lâu dài để hƣởng lợi do CK mang lại (khoản lợi đólà khoản lãi,nếuđầutƣ trái phiếu hoặc làcổtức,nếuđầutƣ vào cổphiếu). Trái lại, kinh doanh CK là mua CK vớiý địnhkhi giá CK lên tớimột mức nào đó thì sẽ bán trƣớc khi giá CK giảm để hƣởng chênh lệch giá [53, tr. 201].
Nhƣng trong thực tế, cả hai hoạt động này đan xen với nhau. Khi kinh doanh CK, nhà kinh doanh luôn có một số lƣợng CK tồn trữ, nếu chƣa bán đƣợc sốCK đó thì khi tới kỳ lĩnh lãi hoặc tới kỳ phân phối cổ tức, nhà kinh doanh vẫn
đƣợclĩnh lãi, lĩnh cổtứcnhƣ NĐT. Chính vì vậy, khái niệm“đầutƣ chứng khoán” baogồmluôn cảý nghĩa kinh doanh CK,trừkhi cầntách riêng hai hoạt độngnày.
Cũng có ý kiến cho rằng, cần phân biệt giữahoạt động đầutƣ CK với hoạt độngđầu cơ chứng khoán. Xét dƣới góc độ kinh tế học, thì đầu tƣ là việc bỏ tiền mua CK và nắm giữ CK đó lâu dài nhằm mục đích kiếm lợi và thu hồi
đƣợc vốn. Còn hoạt độngđầu cơ (speculation) là hoạt động mua bán CK dựa vào sự biến động về giá CK. Nhà đầu cơ (speculator) thƣờng nhằm đến lợi ích ngay trƣớcmắt,họthƣờng chớp lấy thời cơđểmua hoặc bán CK mộtcách nhanh chóng. Mục tiêu của nhà đầu cơ là kiếm lời thông qua việc mua và bán CK [36, tr. 72]. Về bản chất hoạt động đầu tƣ và hoạt động đầu cơ trên TTCK đềugiống nhauởchỗcảhai hoạt độngnàyđềunhằmmụctiêulợinhuận,
27
nhƣng xét vềphƣơng thức và thờiđiểmthực hiện thì chúng có sựkhác biệt nhất định. Đầu cơ CK là hành vi mang tính chất may rủi, nhà đầu cơ thƣờng không chú ý đếnviệc phân tích tình hình hoạtđộng kinh doanhcủatổchức phát hành màchỉchúýđếntính thanh khoảncủaCK và tình hình giao dịch trênthịtrƣờng trong một giai đoạnngắnđểđƣara những nhận định vềviệc tăng, giảm giá CK, từ đó quyết định việc mua hay bán CK đó trên thị trƣờng nhằm hƣởng chênh lệch giá. Trong khiđó,NĐT lại thƣờng quan tâm đến hiệu quả kinh doanh của tổ chức phát hành, đánh giá tiềm năng và triển vọng của nó.Họ thƣờngtập trung sự quan tâm chủ yếu vào thu nhập từ cổ tức và giá trịtăng lêncủatổchức phát hànhchứkhông thựcsựquan tâmđếntính thanh khoản nhất thời của CK. Mặt khác, do động cơ khác nhau nên thời gian nắm giữ CK của NĐT và nhà đầu cơ cũng khác nhau. Nhà đầu cơ thƣờng chỉ nắm giữCK trong thời gian ngắn sau khi mua, sauđó họbán ngay nhằm hƣởng chênh lệch giá.Ngƣợclại, NĐT thƣờng nắmgiữ CK lâu dài nhằm mục đích
hƣởngcổ tức, hƣởngchênh lệch giá và giá trị gia tăng về tài sản của tổ chức phát hành. Bên cạnhđó,xét vềphƣơng thức thực hiện thì hoạt độngđầucơCK thƣờngdễphát sinhsựcâu kết,sửdụng thông tin nội bộđểthực hiện những hành vi giao dịch không công bằng nhằmđẩygiá CK lên, xuống.
Ngƣờiđầutƣ thƣờngchỉthực hiện việc mua, bán CK một cáchđơnlẻ,dựa vào khả năng phân tích và nhận định của chính mình [92, tr. 3].
Đầu tƣ CK có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, xét cả trên phƣơng diện kinhtế vĩmô và kinhtếvi mô. Vai trò cơ bản của đầu tƣ CK là chuyển hoá các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội thành vốn đầu tƣ dài hạn có lợi cho việc huy động,tập trung vốn. Thông qua TTCK, hoạt độngđầutƣ CK giúp phân bổ một cách hữu hiệu các nguồn lực, thực hiện việc phân phối hợp lý vàsử dụngcó hiệu quả nguồn vốn xã hội, nâng cao hiệu suất sử dụng vốn.
Xét trên phƣơng diện kinh tế vĩ mô, thông qua đầu tƣ CK, đã thực hiện
đƣợc mục tiêu huy động rộng rãi nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, đặc biệt là
28
thu hút vốn đầu tƣnƣớc ngoài thông qua việc các NĐTnƣớcngoài tham giađầutƣ trên TTCK. Một mặt đáp ứngnhucầuvềvốncho phát triển kinh tế. Mặt khác sử dụng có hiệu quả nguồn vốn trong xã hội, từ đó giảm bớt lƣợng tiền hiện có trong dân, điều hoà mâu thuẫn về cung – cầu hàng hoá, kiểm soát
đƣợc sự lên giá của các mặt hàng trên thị trƣờng, khống chế lạm phát. Thông qua hoạt động đầu tƣ CK có thể nâng cao lợi ích tổng thể trong việc phân phối các nguồn vốn xã hội. Đồng thời có thể thúc đẩy một cách có hiệu quả sự phát triển theo chiều sâu trong cải cách cơ chế kinh tế của đất nƣớc, thực hiện việc phân tách giữa Nhànƣớcvớidoanh nghiệp, xây dựng cơchếquảntrịdoanh nghiệp hiện đại, hoàn thiện, làm cho nền kinh tế phát triển ổn định, lành mạnh và hiệu quả cao.
Xét trên phƣơng diện kinhtếvi mô,đầutƣ CK có ýnghĩa quan trọng đốivớidoanh nghiệp và các NĐT tham gia TTCK. Thông qua việcsửdụng CK làm công cụ để huyđộngvốn, giúp doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào thị trƣờngvốn, chủ độngtrong việc tìm kiếm và huy động vốn cho sản xuất, kinh doanh, giảm bớt sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào hệ thống ngân hàng, giúp doanh nghiệp hƣớngvào thịtrƣờng, không ngừngđổi mới,cảitiếnđểnâng cao hiệu quả kinh tế; đồng thời có lợi trong việc xây dựng và hoàn thiện các hình thức doanh nghiệp của quốc gia. Mặt khác, thông quahoạt độngđầu
tƣ vào các CK của doanh nghiệp, hay nói cách khác, thông qua các giao dịch mua, bán các CK do doanh nghiệp phát hành, góp phần nâng cao vịthếcủa doanh nghiệp trong xã hội, tăng thêm sự tintƣởngcủa công chúngđầu tƣđối với doanh nghiệp, góp phần tích cực vào chiến lƣợc phát triển kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với công chúng đầu tƣ, thông qua đầu tƣ CK, bất kỳ NĐT nào, dù lớnhay nhỏ,đều có thểtham giađầu tƣ trên thịtrƣờng nếu đủđiều kiện pháp luật quyđịnh.NĐT có quyềnđầutƣ vào bất kỳloại CK nào, cótoàn quyền chủ động trong hoạt động đầu tƣ dựa vào tình hình kinh doanh của doanh nghiệp và tình hình thị trƣờng. Mặt khác, NĐT có thể mua CK khi có
29
vốn nhàn rỗi hoặc quyết định bán CK để thu tiền về khi cần vốn. Khiđầu tƣvào CK, NĐT không chỉ thu đƣợc lợi từ cổ tức hoặc lãi suất do CK mang lại, mà còn có thể thu đƣợc lợi nhuận cao khi bán CK do chênh lệch giá CK tăng lên (tất nhiên cũng có thể phải chịu tổn thất do giá CK giảm xuống).
ỞViệt Nam, trong quá trình xây dựng nềnKTTT theo định hƣớng XHCN,hoạt độngđầu tƣCK có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát triển sức sản xuất xã hội, chuyển đổi cơ chế kinh doanh của các doanh nghiệp cũng
nhƣ nâng cao hiệu suất sử dụng vốn của các đơn vị kinh tế. Đây cũng là con
đƣờngmà các NĐTsửdụngvốnnhàn rỗiđểđạt đƣợclợi íchhợppháp, cóhiệu quả.
Tuy nhiên, cũngcầnlƣuýrằng, đầutƣ CK chính là đầu tƣvào các tài sản tài chính. Thực chất củahoạt động đầu tƣnày là các NĐT đãđầu tƣvào các dự tính khả năng sinh lợi của các CK, tiềm năng phát triển và sự bền vững tài chính củacác công ty,tổchức phát hành CKđó.Các CKđƣợcđầutƣ làloại hàng hoáđặcbiệt, NĐT không thểthẩmđịnh đƣợcchất lƣợng củanóbằng các giác quan thông thƣờng màchỉcăncứvào các thông tin liên quan đếncác tài sản đầutƣ. Chính vì vậyhoạt động đầutƣ CK có tínhrủiro rất cao.NếuNĐT muốn thành công trong lĩnhvựcnày thìcầnphảinắmrõ các kiến thức cơbảnvềđầutƣ CK, phải thành thạo và tuânthủtrìnhtựđầutƣ,đồng thời phải vận dụng thành thạo các kỹ xảo đầu tƣ. Nhiều NĐT ít hiểu biết hoặc không có hiểu biết vềđốitƣợngmà mình muốn đầutƣ trênthịtrƣờng, thiếu kiến thức về nguyên lý đầu tƣ CK nên hành vi đầu tƣ luônmờ mịt,đầu
tƣ theo kiểu “phong trào”, mang tính chấtđầucơ,họkhông có đƣợcnhững phản ứng kịp thời, chính xáctrƣớcnhững biến độngcủathịtrƣờng.Đốivới các NĐT này,khảnăng rủi ro là rất lớnso vớiNĐTcẩntrọng và có kinh nghiệm.
Luật Chứng khoán và các vănbảnpháp luật hiện hành không đƣara khái niệm “nhà đầu tƣ chứng khoán”. Các nhà nghiên cứu cũng đƣa ra một số
30
quanđiểmkhác nhau vềNĐTCK. Có quanđiểmcho rằng “nhàđầutƣ lànhững chủ thể có nhu cầu đầu tƣ bằng cách mua các loại chứng khoán trên thị
trƣờng chứng khoán” [76, tr. 21]; Cũng có quan điểm khác lại cho rằng“nhàđầutƣ chứng khoánđƣợchiểu làngƣờibỏtiền ra mua chứng khoán,họđầu
tƣ nhằmmụcđích thulờitrong tƣơng lai,mụcđíchcủahọlà thulợinhuận hoặc hạn chếrủiro tổnthất tài chính” [2, tr. 5]. Tuy nhiên, căncứvào khái niệm “nhà đầutƣ” đƣợc quy định tại khoản 4 Điều 3Luật Đầu tƣnăm 2005 thì có thểhiểu NĐTCK làtổchức, cá nhân thực hiện hoạt độngđầutƣ CK,
tức là đầu tƣ thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu, chứngchỉ quỹ đầu tƣ vàcác loại CK khác nhằm mục đích thu lợi nhuận. NĐTCK bao gồm nhiều loại. Nếu căn cứ theo quốc tịch thì có NĐTCK trong nƣớc và NĐTCK nƣớc ngoài; nếucăncứvào tính chuyên nghiệp củahoạt độngđầutƣ thì có NĐTCK chuyên nghiệp và NĐTCK không chuyên nghiệp; nếucăncứvào loại CK
đƣợc đầu tƣ thìcó NĐT chứng khoán nợ (đầu tƣ vào trái phiếu), NĐT chứng khoán vốn (đầu tƣ vào cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tƣ). Tuy nhiên, cách phân loại NĐTphổbiến nhất là phân loại theo tiêu chí NĐT cá nhân và NĐTtổchức.
– NĐT cá nhân bao gồmcá nhân Việt Nam hoặc cá nhânnƣớcngoài tham gia đầu tƣ trên TTCK Việt Nam. Đây là loại NĐT chiếm tỷ trọng đôngđảo về số lƣợng,nhƣng thƣờng tham gia đầu tƣ với quy mô nhỏ, sự hiểu biết về thị trƣờng,khảnăng tiếp cận vànắmbắt thông tin cũng nhƣ tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tƣ của đối tƣợng này thƣờng hạn chế hơn so với các tổ chức đầu tƣ CK chuyên nghiệp.
– NĐTtổchức bao gồmcáctổchức Việt Nam hoặctổchứcnƣớc ngoài, trong đó có cáctổchức là NĐTCK chuyên nghiệp nhƣ ngân hàng
thƣơng mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, tổ chức kinh doanh CK. Các NĐT tổ chức có thể chỉ chiếmmột tỷtrọngnhỏvềsốlƣợng, nhƣng lại là nhữngđốitƣợngcó tiềmlựctài chính
31
mạnh, cókhảnăng nắmbắt và phân tích, đánh giá các thông tin vềCK một cách chuyên nghiệp, đảm bảo độ chính xác cao, họ có thể thƣờng xuyên tham gia mua, bán CK trên thị trƣờng với sốlƣợng CK lớn, có thể đóng vai trò làcác nhà tạo lập thị trƣờng.
Các NĐT tham gia đầu tƣ trên TTCK bằng cách trực tiếp mua, bán CK theo các phƣơng thức giao dịch do pháp luật quy định hoặc đầu tƣ thông qua quỹđầutƣ CK.Quỹđầutƣ CK làquỹhình thànhtừvốngóp củaNĐT với mục đích tìm kiếm lợi nhuận từ việc đầu tƣ vào CK hoặc các dạng tài sản đầu
tƣ khác,kểcảbất độngsản, trong đó NĐT không có quyền kiểm soát hàng ngày đối vớiviệc ra quyết định đầu tƣ của quỹ. Quỹđầu tƣvừalà nhà phát hành CK (phát hành chứngchỉquỹđầu tƣ),vừalà NĐTCK chuyên nghiệp. Việc đầu tƣ thông qua quỹ đầu tƣ nhằm chuyên nghiệp hoá hoạt động đầu tƣ, giảm thiểu rủi ro cho các NĐT đơn lẻ.
Một điểm cần lƣu ý là đối với NĐT nƣớc ngoài, pháp luật của các nƣớc đềucó quyđịnh cho phép NĐTnƣớcngoài có quyền tham giađầutƣ trên TTCK. Tuy nhiên,đểhạnchếsựthâu tóm, thao túngthịtrƣờngcủaNĐT
nƣớc ngoài, pháp luật thƣờng có quy định hạn chế tỷ lệ nắm giữ CK của NĐT
nƣớc ngoài để ngăn ngừa khả năng NĐT nƣớc ngoài đồng loạt mua vào hoặc đồng loạt bán ra các CK nhằm thao túng, làm rối loạn thịtrƣờng. Việt Nam cũng theo xuhƣớngnày.
1.1.2.2. Quyền và lợi ích của NĐT
Khi tham gia đầu tƣ trên TTCKTT, với tƣ cách là chủ thể tham gia thị
trƣờng, đồng thời với tƣ cách là ngƣời sở hữu CK, NĐT có các quyền cơ bản sau đây:
a. Quyền tham gia thị trƣờng
Tham gia TTCKTT là quyền của NĐT, đây là một nội dung của quyền
tự do kinh doanh. NĐT có toàn quyền quyết định việc có tham gia đầu tƣ trên TTCKTT hay không, tham gia nhƣthếnào. Khiđãtham giathịtrƣờng, các
32
NĐT cho dù là NĐT lớn hay NĐT nhỏ, đều có quyền bình đẳng, đƣợc đối xửcông bằng. Tuy nhiên, khi tham gia đầu tƣ trên TTCKTT, NĐT phải tuân thủcác quyđịnhpháp luật về kỷ luật của thị trƣờng nhƣ: quyđịnh về điều kiện vàthủ tụcgia nhập thị trƣờng (ví dụ: thủtụcmởtài khoản và nộp tiền, CK vào
tài khoản khi thực hiện giao dịch…); tuân thủ quyđịnhvềhạn chế tỷlệnắm giữCK đối vớiNĐT khiđầu tƣ vào cổphiếucủacác công ty kinh doanh trong những ngành nghề pháp luật quy địnhhạnchếtỷlệnắmgiữcổphần củacổđông (ví dụ: khiđầutƣ vào CKcủangân hàng thƣơngmạicổphần, pháp luật quyđịnhtỷ lệ nắm giữ cổ phần của một NĐT cá nhân tối đa là 10% vốn điều lệ của một ngân hàng; đối vớimột NĐT là tổ chức chỉ đƣợc sở hữu tốiđa 20%vốnđiềulệcủamột ngân hàng; đốivớiNĐTnƣớcngoài, pháp luật quy định tổng mức sở hữu cổ phần của các NĐT nƣớc ngoài và ngƣời cóliên quan củacác NĐTnƣớcngoài đó không vƣợt quá 30% vốn điềulệcủa một ngân hàng); tuânthủquyđịnhvềhạnchếtỷlệtham gia củabênnƣớc
ngoài vào TTCK…
b. Quyền đƣợc cung cấp thông tin
Nhƣđãnêu ở trên, Chứng khoán là một loại hàng hoáđặc biệt,rất trừu
tƣợng. NĐT khôngthểtrực tiếp đánh giá đƣợcchất lƣợng củahàng hoá CK qua việc xem xét nhƣ các loại hàng hoá thông thƣờng khác mà phải dựa trên các thông tin liên quan đến CK đó. Nhằm bảo đảm công bằng trong mua bán CK và bảo vệquyền lợi cho NĐT,đòihỏi phải công khai các thông tin liên quan đến CK nhƣ thông tin liên quan đến các loại CK đƣợc mua bán trên thị
trƣờng; thông tinvềtình hình tài chính và kết quảkinh doanhcủatổchức phát hành CK; thông tinvềsốlƣợngCK và giácủacác loại CKđƣợcgiao
dịch… NĐTsẽcăncứvào những thông tinđƣợccôngbốtrênthịtrƣờngđểphân tích, xử lý và đƣa ra quyết định đầu tƣ theo hƣớng có lợi nhất cho mình và giảm thiểutốiđa cácrủiro. Vì vậy, NĐT có quyềnđƣợcbiết tất cảcác thông tin liên quan đến CK mà họ muốn đầu tƣ. Để bảo đảm quyền đƣợc cung
33
cấp thông tincủaNĐT,đòihỏicácchủthểcó nghĩavụcôngbốthông tin (TCPH, TCNY, CTCK, CTQLQ, CTĐTCK, SGDCK) khi thực hiện côngbốthông tin phảiđảmbảo tính chính xác, nhanh chóng, kịp thời và thuận tiện cho NĐT có thểdễdàng tiếp cậnđƣợc thông tin. Các quyđịnhvềcôngbốthông tin trên TTCK nhằmbảođảmnguyên tắccông khai, minh bạch, công bằng trong hoạt động CK và TTCK, bảo vệ quyền và lợi ích của các nhà đầu
tƣ.
c. Quyền và lợi ích của NĐT trong việc sở hữu CK
CK là tài sản thuộc sở hữu của NĐT, tuỳ thuộc vào mục đích đầu tƣ màNĐT có các quyền của chủ sở hữu đối với CK đó. NĐT có thể thực hiện mua CK với ý định nắm giữ CK đó trong một thời gian dài để hƣởng lãi (nếu đầu tƣtrái phiếu) hoặc cổ tức (nếu đầu tƣ cổ phiếu) mà tổ chức phát hành CK đó chi trả. Trong trƣờng hợp này, NĐT vừa có quyền và lợi ích của chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng, địnhđoạt đối với tàisản CK, vừa có quyền và lợi ích củacổđông (nếu sởhữucổphiếu) hoặc quyền vàlợiích củachủnợ(nếusởhữutrái phiếu)đốivới tổchức phát hành CKđó.Trong đó nộidung củacác quyền chiếm hữu,sửdụng,địnhđoạt đốivớitàisảnCKđƣợcthực hiện theo quy định của BLDS (riêng quyền định đoạt thì còn phải tuân theo các phƣơng thức giao dịch do Luật Chứng khoán quy định), còn quyền và lợi ích của NĐT vớitƣ cách làcổđông thìđƣợcthực hiện theo quyđịnhcủaLuật Doanh nghiệp, tuỳ theo loại cổ phiếu mà NĐT nắm giữ là cổ phiếu phổ thông hay cổphiếu ƣu đãi.
NếuNĐTchỉthực hiện mua CK trong một thời gian ngắn sauđó bán lạivớimứcgiá cao hơnđểhƣởngchênh lệch giá, thì quyền vàlợiích của NĐT đƣợc thể hiện chủ yếu ở việc quyết địnhmua hoặc bán CK. Đây là một nội dung của quyền tự do kinh doanhđãđƣợc Hiến pháp quy định. Theo đó, NĐT có toàn quyền quyết địnhmua, bán CK nhằmmụcđích thu lợi. Tuy nhiên khi tham gia mua, bán CK tại SGDCK, NĐT phải tuân thủ các nguyên
34
tắchoạt độngCK và TTCK và phải thực hiện theo đúng quyđịnhcủapháp luật vềphƣơng thức giao dịch CK.ĐốivớiNĐTnƣớcngoài, còn phải tuân theo quy định vềgiới hạntỷlệsởhữu CKtạimột TCNY.ĐểbảovệNĐT trong giao dịch mua, bán chứng khoán, pháp luật thƣờng quy định những tiêu chuẩn, điều kiện đối vớingƣời bán hàng (TCPH) và ngƣời cung cấp dịch vụ(CTCK), đồng thời quyđịnhviệc tổ chức thị trƣờng rất chặt chẽ.
Bên cạnhđó,để bảo vệ quyền sở hữu CK của NĐT, pháp luật về CK vàTTCK thƣờng có quy định vềviệcxửlý vi phạmđối vớiCTCK và ngƣời hành nghề kinh doanhcủaCTCK khi cung cấp dịchvụCK và TTCK cho NĐT, làm xâm hại đến quyền sở hữu tài sản CK của NĐT. Ví dụ: tại khoản 2 và khoản 3 Điều 125 Luật Chứng khoán củaViệt Nam quy định,CTCK không thực hiện đúng quyđịnhcủa Luật Chứng khoán về quản lý tài sản tiền, CK của khách hàng, làm trái lệnh của NĐT, không thực hiện chế độ bảo mật thông tin củakhách hàng, lợi dụng chức trách, nhiệmvụđểcho mƣợntiền, CK trên tài khoản khách hàng,cầmcốhoặcsửdụng tiền, CK trên tài khoản của khách hàng khi chƣa đƣợc khách hàng uỷ thác, thìcó thể sẽ bị xử lýtheo các hình thức phạt cảnh cáo, phạt tiền, đìnhchỉhoạt động, thuhồigiấy phép thành lập và hoạt động, tịch thu các khoản thu trái pháp luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quyđịnhcủa pháp luật.
d. Quyền đƣợc bảo vệ thông qua cơ chế giải quyết các tranh chấp phát sinh tronghoạt độngđầu tƣCK
Tranh chấp trong hoạt động đầu tƣ CK là tranh chấp giữa NĐT với các chủthểcó liên quan khi NĐT tham giađầutƣ trên TTCK, có thểbao gồm:
tranh chấp giữa NĐT với CTCK về hợp đồng mở tài khoản hoặc về hợp đồng
tƣ vấn đầu tƣ CK; tranh chấp giữa NĐT với công ty quản lý quỹ đầu tƣ chứng khoán vềhợp đồngquản lý danhmục đầutƣ hoặcvềhoạt độngcủa quỹ đầu
tƣ CK; tranh chấp liên quan đến mua, bán CK; tranh chấp giữa các NĐT là cổđông của công ty niêm yết với công ty hoặc giữa các cổ đông của công ty với
35
nhau liên quanđếnthành lập, hoạt động,giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia,
tách, chuyểnđổihình thứctổchứccủacông ty… Khixảyra tranh chấp,đểbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, bảo đảm nguyên tắc pháp chế, tạo môi trƣờngđầutƣ CK lành mạnh, đòi hỏiphải có các phƣơng thức giải quyết tranh chấp phù hợp, có hiệu quả. NĐT phải đƣợcbảovệquyền và lợi ích hợp pháp bằng cơchếgiải quyết tranh chấp hiệuquảtheo quyđịnh của pháp luật. Theo quyđịnh tạiĐiều 131 Luật Chứng khoán của Việt Nam, khi xảy ra tranh chấp, NĐT có quyền lựachọn hình thức giải quyết tranh chấp thông qua thƣơng lƣợng, hoà giải hoặc yêu cầu trọng tài thƣơng mại hoặc Toàán có thẩm quyền giải quyết theo quyđịnhcủapháp luật. Quy địnhnày của Luật Chứng khoán cũng phù hợp với pháp luật về CK và TTCK của các nƣớc trên thế giới.
1.1.2.3. Các mối quan hệ của NĐT và những rủi ro của họ
Nói đến quyền và lợi ích của NĐTCK, còn phải đặt trong từng quan hệcụthểmà trong những mối quan hệnày tiềm ẩnnhững rủi ro có thểảnh
hƣởngđến quyền và lợi ích của NĐT, trong đó có những quan hệ cơ bản nhƣquan hệ giữa NĐT với tổ chức phát hành chứng khoán; quan hệ giữa NĐT với
cáctổchức kinh doanh–môi giới chứng khoán; quan hệgiữa NĐT với SGDCK (với tƣ cách là ngƣời tổ chức thị trƣờng giao dịch CK); quan hệ giữa NĐT với các cơ quan quản lý nhà nƣớc.
a. Quan hệ giữa NĐT và TCPH
Trên TTCKTT, quan hệ giữa NĐT và TCPH là quan hệ giữa ngƣời mua vàngƣờibán hàng hoá. Khi NĐT mua CK củamộtTCPH,tứclà NĐTđãtrởthành chủ sở hữu (nếu là CK vốn) hoặc chủ nợ của tổ chức đó (nếu là CK nợ). TCPH đạt đƣợc mục tiêu huy động vốn, còn NĐT thì sẽ có đƣợc quyền lợi của chủ sở hữu hoặc của chủ nợ. Với tƣ cách là chủ sở hữu, NĐT có quyền và nghĩa vụcủacổđông theo quyđịnhcủaLuật Doanh nghiệp, trongđóquyền quan trọng nhất làđƣợchƣởngcổtứcvà tham gia quản lý doanh nghiệp thông qua
36
Đạihộiđồngcổđông (ĐHĐCĐ),trừmộtsốtrƣờng hợp đặcbiệt khôngđƣợc tham gia ĐHĐCĐ.Vớitƣ cách là chủnợ,NĐT có quyền và nghĩavụcủa chủnợ theo quy định của pháp luật và thoả thuận vay nợ giữa NĐT với TCPH. Tuy nhiên, quyền vàlợiíchcủaNĐTlạiphụthuộc vàokếtquảhoạtđộngcủa TCPH. Nếu TCPH kinh doanh có hiệu quả thì NĐTsẽ đƣợc hƣởng lợi từ lợi tức cổ phầnhoặc từ chênh lệnh giá CK do giá CK tăng lên. Ngƣợc lại,nếuTCPH hoạtđộngkém hiệuquảthì giá CKsẽsụtgiảm, thậm chí NĐT cóthểbịmất trắng số tiềnmà họ đã bỏ ra đểmua CK đó. Hiệu quả hoạt động của TCPH lại phụthuộc vào nhiềuyếutốcảchủquan và khách quan nhƣ: cơchếquảntrịcông ty, quyết định của những cổ đông nắm quyền quản lý, sự biến động của thị
trƣờng, các yếu tố chính trị- xã hội… Quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT luôn có nguycơ bịxâmhạibởi chính từ phía TCPH loại CK màhọđã đầu tƣ.Hay nói chính xác hơn, làtừchính những ngƣời quảntrịcông ty niêm yết- những
ngƣờicó quyền quản lý và kiểm soát công ty, thƣờng là thành viên Ban giámđốc, thành viên Hội đồng quản trị hoặc những cổ đông đa số, chiếm cổ phần chi phối. Nhữngngƣờinày thƣờngnắmgiữmộtsốlƣợnglớncổphiếu, trực tiếp tham gia quản lý công ty, dođóhọthƣờng nắmthông tin và quyền kiểm soát công ty, sovớicáccổđôngnhỏ(trongmốiquanhệvớicông ty) thìhọlà “ngƣời trong cuộc- insider”, còn cổ đông nhỏ chỉ là “ngƣời ngoài cuộc- outsider” [2, tr. 12]. Để đạt đƣợc mục tiêu huy động vốn, các cổ đông là “ngƣời trongcuộc”cóthểđƣara những thông tin không đúngsựthật, thậm chí gian lận, lừa đảo trong việc tạo dựng thông tin nhằm gây hiểu nhầm, lôi kéo, xúi giục
ngƣờimua CK, hoặc chiếmđoạttiềnđặtcọccủaNĐT…,những hành vi nêu trênsẽgây thiệthạinghiêm trọngđếnquyền vàlợiíchhợppháp củaNĐT. Chính vì vậy,đểbảovệquyền vàlợiíchcủaNĐT,đặcbiệt là NĐT nhỏ, cần phải có cơ chế bảo đảm cho NĐT khả năng nắm bắt đƣợc kịp thời những thông tin chính xác và cần thiết để có thể ra quyết định đầu tƣ phù hợp.
37
Mặt khác, quyền lợi của các cổ đông “ngoài cuộc” còn có khảnăngbịxâmhạikhi cáccổđông “trongcuộc”lợidụng ƣuthếnắmbắt thông tin vàquyền kiểm soát công tycủamình đểtìm cách chuyển các nguồnlựccủa công ty vào tayhọ,vídụnhƣ quyết định bán hoặc cho thuê tài sản hay cung cấp dịchvụcủacông ty cho “ngƣờitrongcuộc”vớigiá ƣu đãi;địnhgiáchuyển giao tài sản; chiếmđoạt tài sản; chiếmgiữnhững cơhộikinh doanh tốt lẽra là thuộcvềcông ty; thực hiện hay bảo đảmnhững khoản vay cho “ngƣời trong cuộc”; làm chệch hƣớng cơ hội mang lại lợi ích cho công ty; đƣa
ngƣời thân quen khôngđủ nănglực vào làm việc trong công ty; quyết định trả
lƣơng cao cho mình… Nhữnghoạt độngtrên luôn đƣợc che đậy bằng những hình thức hợp pháp, nhƣng thực chất đây là một kiểu “ăntrộm”công khai, chiếm dụng lợi nhuận của công ty để làm lợi cho cổ đông “trong cuộc”, làm tổn hại cho nhữngcổ đông“ngoài cuộc”, đó chính là hiện tƣợng “đào ngạch- tunneling” [2, tr.12].Đểbảođảmcông bằng, bảo vệquyền lợicủacổđông “ngoài cuộc” phải có cơ chế để các cổ đông “ngoài cuộc” giám sát đƣợc hành vi của những “ngƣời trongcuộc”, cổ đôngphải có quyền đƣợc biết danh tính và số cổ phần của nhữngcổ đôngkhác, có quyền đƣợc biết các thông tin phản ánh đúng sựthật vềhoạt độngkinh doanh củacông ty. Tuy nhiên, trên thực tế,các công ty thƣờng không muốn tựnguyện côngbốthông tin chính xác, nhất là những thông tin xấu,họchỉbắt buộc phải côngbốkhi pháp luật quy định.Bởivì việc côngbốthông tin chính xác vàđầyđủmặcdù có lợicho NĐT và công ty có thể dễ dàng huy động vốn, nhƣng thuận lợi vềhuy động vốn do việc tiết lộ thông tinđầy đủ manglại có thể còn thấp hơn nhiều so với những khó khăn mà đối thủ cạnh tranh gây ra cho công ty do biết đƣợc thông tin vềcông ty. Chính vì vậy, nếu pháp luật không quyđịnh bắtbuộc thì các công tysẽkhông tựnguyện công khaisựthậtvềhoạtđộngkinh doanh của mình.
38
Bên cạnhđó,lợithếvềthông tincủacổđông “trongcuộc’còn có thểdẫnhọ tới những hành vi giao dịch nội gián, nhằm thu lợi cho bản thân, gây ảnhhƣởngđếnquyềnlợicủacổđông “ngoàicuộc”.Trong hình thức giao dịch này, cổ đông “trong cuộc”, do biết trƣớc thông tin nội bộ, thông tin quan trọng, chƣa đƣợc công bố của TCPHCK, đã lợi dụng cơhội đóđểmua hoặc bán CK của tổ chức đó một cách không bình thƣờng, gây ảnhhƣởngđếngiácả của CK đó trên thị trƣờng. Hành vi mua bán nội gián là một loại giao dịch không công bằng khá điển hình, thƣờng xảy ra trên TTCK. Pháp luật của các
nƣớccó TTCKđều quy định đây là hành vi bị cấm và xử lý rất nghiêm khắc đối với loại hành vi này nếu xảy ra. Có thể nói rằng, trọng tâmcủapháp luật vàthểchế cần thiết cho một TTCK là nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả lợi ích của cổ đôngthiểu số trƣớc những luồng thông tin bất cân xứng.
b. Quan hệ giữa NĐT và các tổ chức kinh doanh CK
Cáctổchức kinh doanh CK là những doanh nghiệp,đƣợcthành lập theo quyđịnhcủa pháp luật để hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực CK, bao gồm các hoạt động môi giới CK, tự doanh CK, bảo lãnh phát hành CK, tƣ vấn
đầutƣ CK, quản lýquỹđầutƣ CK, quản lý danhmụcđầutƣ CK… Cáctổchức này thƣờng đóng vai trò cung cấp thông tin, tƣvấncho các NĐT, giúp các NĐT thực hiện việc mua, bán CK trên TTCKTT, quản lý tài khoản giao dịch CK, cung cấp các dịch vụ tƣ vấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác cho các NĐT là khách hàng củamình. Khi NĐT kýhợpđồngvới tổchức kinh doanh CK thìtổchức kinh doanh CK phải có trách nhiệm lƣu giữ, bảo quản tiền, CK cho khách hàng; tuânthủcác yêu cầu hợp pháp củakhách hàng; bảo mật thông tin, cung cấp thông tin theo yêucầucủakhách hàng; quản lý tách biệt tài khoảncủakhách hàngvớitài khoản củachính công ty; không đƣợccạnh tranhvớikhách hàng củamình; phảiđặt lợi íchcủakhách hàng lên trênlợiíchcủacông ty; ngƣờiđiềuhành và nhân viên kinh doanh
của công ty phải tuân thủ các quyđịnhtrong giao dịch kinh doanhCK… Về
39
phía NĐT, trong quan hệ với tổ chức kinh doanh CK, họ có quyền sở hữu hợp pháp tiền và CK màhọuỷquyền cho tổchức kinh doanh CK lƣu giữ; đƣợc nhận các khoảnlợinhuận hợp pháp (cổtức, lãi suất trái phiếu; cổphiếu
thƣởng…) gắn liền với CK thuộc quyền sở hữu của mình; đƣợc thực hiện các quyền hợp pháp củangƣờisởhữuCK (quyềncủacổđông hoặc quyền của chủnợ); đƣợchƣởnglãi suất khôngkỳhạntrênsốdƣ tiền mặt trong tài khoản; đƣợc đặt lệnh giao dịch thông qua CTCK; đƣợc nhận báo cáo về giao dịch của NĐT đã thực hiện; đƣợc yêu cầu rút tiền, CK khỏi tài khoản và chấm dứt hợp đồng; đƣợc bồi thƣờngthiệt hại nếu tổ chức kinh doanh CK vi phạm nghĩa vụquyđịnhtạihợp đồngkývớiNĐT… Tuy nhiên, giữa cáctổchức kinh doanh CK với các NĐT là khách hàng của các tổ chức đó, luôn tiềm ẩn nguy cơ xungđột lợiích,bởivìcảhai bênđềucó mụctiêu là thu lợinhuận tối đa, có thể nhận thấy rõ điều này thông qua phân tích một số hoạt động sau đây của các tổ chức kinh doanh CK:
– Trong hoạt độngmôi giới CK,đâylà hoạt độngtrung gian hoặcđại diện mua, bán CK cho khách hàngđểhƣởngphí môi giới (hoa hồng môi giới).Nếumột CTCKvừathực hiện hoạt động môi giới CK,vừathực hiện hoạt độngtựdoanh CK (tức là trực tiếp mua và bán CK cho chính mình đểkiếm lợi) thì có thể sẽ xảy ra khả năng CTCK hoặc các nhân viên kinh doanh củaCTCKlạmdụngđểsửdụng tiền hoặc CK trên tài khoản giao dịch của khách hàng hoặc gian lận, đánh tráo lệnh mua, bán CK củakhách hàng với lệnh của công ty khi thị trƣờng có biến động giá nhằm thu lợi cho mình, xâm hạiđếnquyền lợi củaNĐT, hoặc công ty thực hiện mua, bántrƣớckhách hàngvà có đƣợcgiá tốt hơn so với khách hàng. Để tránh sự xungđột lợiích giữa CTCK và NĐT là khách hàngcủacông tyđó,pháp luật thƣờng có quy định CTCK phải thực hiện riêng biệt hai nghiệp vụ môi giới CK và tự doanh CK. Đồng thời, CTCK phải ƣu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trƣớc lệnh của công ty.
40
– Cũng tƣơng tự nhƣ vậy, tronghoạt độngtƣ vấn đầu tƣCK, khi CTCK vừa thực hiện dịchvụmôi giới CK, vừa thực hiện dịchvụtƣ vấn đầu tƣ CK thì có thểdẫnđếnkhảnăng công ty tƣvấnkhông khách quan, thiếu trung thực nhằm lôi kéo NĐT mua, bán CKđểnhằm thu phítừdịchvụmôi giới CK (bởi vì khốilƣợngCK giao dịch càng lớn, thì phí dịchvụmôi giới càng cao).Đểtránh tình trạng này, bảo vệquyềnlợicho NĐT, kinh nghiệm của một số nƣớc trên thế giới(điểnhình nhƣ Trung Quốc) là quyđịnhtách riêng dịch vụ môi giới CK với dịch vụ tƣ vấn đầu tƣ CK, nhằm bảo đảm tính khách quan, cẩn trọng tronghoạt độngtƣ vấn đầu tƣCK.
– Tronghoạt độngbảo lãnh phát hành CK, công ty kinh doanh CK giúp TCPH thực hiện các thủ tục trƣớc khi chào bán CK, nhận mua một phần hay toànbộCKcủaTCPHđểbánlạihoặc muasốCK cònlạichƣađƣợcphân phối hết củaTCPH hoặchỗtrợTCPH trong việc phân phối CK ra công chúng. Tổ chức bảo lãnh phát hành chứng khoán (TCBLPH) đƣợc hƣởng phí bảo lãnh màmứcphílạiphụthuộc vào kết quảcủađợt phát hành. Do đó, TCBLPHsẽphải tìmmọicáchđểbán hết sốCKđƣợcphép phát hành vàcàng bánđƣợc với giá cao thì họcàng thuđƣợc nhiều lợi. Lợi ích của TCBLPH thƣờng gắn với lợi ích của TCPH nhiều hơn là với NĐTCK. Chính vì vậy, TCBLPH có thể không quan tâm đến lợi ích của NĐT, họ chỉ tìm cách cốt để bán đƣợc CK với số lƣợnglớn và với giá cao, điều này sẽ tạo ra sự mâu thuẫn với trách nhiệm của công ty trong việc công ty phải hoạt động vì lợi ích cao nhất củakhách hàng.Đểbảo vệNĐT trong trƣờng hợp này, pháp luật
thƣờng quy địnhCTCK phải công khai việc hoạt động vớitƣ cách là ngƣời bảo lãnh phát hành CK để NĐT có thể nhận ra tính xác thực của việc tƣ vấn đầu tƣ.
– Đối với hoạt độngtự doanh, CTCK có thể vừa là ngƣời nắm giữ CK,đồngthời lại tƣ vấn cho NĐT là khách hàng của công ty mua, bán chính CK đó (mặc dù không kinh doanh trực tiếpvớihọ). Việc làm này có thể đem lại
41
lợi ích cho công ty do việc tăng giá CK của chính công ty khi khách hàng mua các CK này.Đểhạnchếđiềunày, pháp luật thƣờng quy định CTCK phải công khai việc nắm giữ CK đó cho khách hàng biết.
-Đốivớihoạt động quản lýquỹđầutƣ CK, quản lý danh mục đầutƣcủacông ty quản lý quỹ. Trong hoạt động này, công ty quản lý quỹ, với tƣcách làngƣờikinh doanh CK chuyên nghiệp, thực hiện quản lý vốn theo uỷtháccủatừng NĐT trong việc mua, bán vànắmgiữCK vì quyềnlợicủa khách hàng. Khi tham gia vào quỹ công chúng, NĐT đƣợc hƣởnglợi từviệc đa dạng hoáhoạt độngđầu tƣ, nhờ đó giảm thiểu đƣợc rủi ro không hệ thống;đồngthời NĐTcòn đƣợc hƣởnglợi nhờ giảm thiểu chi phí đầu tƣ do quy môđầu tƣcủaquỹthƣờng lớn. Mặt khác, vốn củaNĐTđƣợcquản lý bởicác chuyên gia đầutƣ có chuyên môn và kinh nghiệmcủacông ty quản lý quỹ. Các chứngchỉ quỹ đầu tƣcũng có tính thanh khoản nhƣ một cổ phiếu, nhờ đó các NĐT có thể dễ dàng bán các chứng chỉ quỹ khi cần thiết. Trong hoạt động này,tổchức kinh doanh CK là công ty quản lýquỹđƣợchƣởnglợitừphí quản lý hoặc tính theo hiệu quả đầu tƣ. Trong cả hai cách này, đều có thể dẫn tới khả năng xâm hại đến quyền lợi của NĐT. Trƣờng hợp tổ chức kinh doanh CK chỉ thu phí quản lý thì sẽ không chịu trách nhiệm về hiệu quả đầu tƣ, còn nếu hƣởnglợi theo hiệu quả đầu tƣ thì có thể có khả năng tổ chức kinh doanh sẽ bỏ qua lợi ích của NĐT nếu xuất hiện một lợi ích khác lớn hơn.
Nhữngkhảnăng xâm hại đếnquyền lợicủaNĐT nêu trênđềuliên quan đến đạo đức nghề nghiệp của ngƣời kinh doanh CK. Chính vì vậy, ở các
nƣớccó TTCK phát triển mạnh,đểbảo vệNĐT tránh khỏi những hành vi xâm hại từ phía các tổ chức và ngƣời hành nghề kinh doanh CK, các tổ chức tựquản (ví dụ: Hiệp hội các nhà kinh doanh CK) thƣờngđặt ra các Quy tắc đạo đức nghề nghiệp buộc các CTCK là thành viên của Hiệp hội phải tuân thủtrong khi thực hiện nghiệp vụ kinh doanh. Bên cạnhđó,cũng cần lƣu ý rằng, còn có một nguy cơ làm cho quyền lợi của NĐT có thể bị xâm hại nữa, đó là
42
nguy cơ bắt nguồntừkỹnăng hành nghềcủangƣờikinh doanh CK, do việc những ngƣời này thiếu năng lực và kinh nghiệm, gây thiệt hại cho NĐT.
c. Quan hệ giữa NĐT với SGDCK, Trung tâm lƣu ký chứng khoán SGDCK đóng vai trò là ngƣời tổchứcthịtrƣờng giao dịch tậptrung,
kết hợp với hoạt độngcủa Trung tâm lƣu ký chứng khoán (TTLKCK) để hoàn chỉnh mộtquy trình giao dịch CK. Ngoài SGDCK, không một tổchức, cánhân nào đƣợcphép tổchứcthịtrƣờng giao dịch CK. Chức năng chính của SGDCK làtổchức và phụcvụcho hoạt độnggiao dịch mua, bán CK; cung cấp thông tin thị trƣờng và các thông tin liên quan đến CK niêm yết; giám sát
hoạt động giao dịch CK của các thành viên giao dịch tại SGDCK…,bảo đảm hoạt độnggiao dịch CK trên thị trƣờng đƣợc tiến hành công khai, công bằng, trật tự và hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích cho các NĐT tham gia thị trƣờng.Để thực hiện tốt chức năngđó đòi hỏi hệ thốnggiao dịch tại SGDCK phải vận hành thông suốt, an toàn và hiệu quả, đồng thời đòi hỏi đội ngũ nhân viên của SGDCK phải có trình độ, kinh nghiệm, trách nhiệm cẩn trọng trongđiều hành hoạt độngcủaSGDCK, bảo đảmsựan toàn và chính xác.Hệthống thanh toán bù trừ, đăng ký, lƣu ký CK cũng phải bảo đảm sự an toàn, chính xác, tin cậyvà bí mật.Nếuđểxảyra tình trạng côngbốthông tin thiếu chính xác, giám sát giao dịch không chặt chẽ hoặc hệ thống giao dịch bị trục trặc, xảy ra nhầmlẫnhoặc khôngthểhoạt độngđƣợc(hiệntƣợng“sập sàn”)thìsẽgây ảnhhƣởnglớn đến quyền lợi của NĐT, khiến cho NĐT không yên tâm về hệthống giao dịch của thị trƣờng, hoang mang, mất niềm tin vào thị trƣờng.
d. Quanhệgiữa NĐTvớicác cơ quan quản lý nhànƣớcvềCK vàTTCK
TTCKTT là một trong những thịtrƣờngđặcbiệt,cầncó sựquản lý,điều tiết của Nhànƣớcvới tƣ cách là mộtRegulatoryđốivới hoạt độngCK. Nhànƣớcđềra các luật lệ,quy tắc, chuẩnmựcvà thực hiện việc giám sát, kiểm tra, cƣỡng chế thực thi các luật lệ, quy tắc, chuẩn mực đó nhằm hạn chế,
43
loại bỏ những mặt trái, những yếu tố tiêu cực trong hoạt động CK, hƣớng tới tạo lập một thị trƣờng công bằng, công khai, minh bạch, an toàn và hiệu quả, qua đó tạo đƣợc niềm tin của công chúng đầu tƣ vào thị trƣờng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các NĐT tham gia thị trƣờng.
Trên TTCKTT, đối tƣợng chịu sự quản lý của Nhà nƣớc bao gồm tất cảcác chủ thể tham gia thị trƣờng nhƣ: các tổ chức tự quản (SGDCK, TTGDCK,
các hiệp hội…), các TCPH, TCNY, các tổ chức kinh doanh chứng khoán, các NDT. Ngoài những nội dung quản lý nhà nƣớc mang tính bao quát chungđối vớitoànbộhoạt động củaTTCK, thìtuỳtheo từngđốitƣợngquản lý, nội dung và biện pháp quản lý nhà nƣớc cũng có sự khác biệt nhất định. Đốivới các NĐT, nội dung quản lý nhà nƣớc tập trung vào việc giám sát, phát hiện vàxửlý những hành vi vi phạm pháp luật nhƣlừađảo,giao dịchgiảtạo, thao
túng giá chứng khoán, giao dịch nội gián…
Tuy vậy,hoạt độngquản lý nhà nƣớc cũng có thể gặp phải những khókhănvềkỹnăng nghiệp vụ,kiến thức, kinh nghiệm thực tiễnđểquản lýthị
trƣờng do những nhà quản lý thƣờng không phải làngƣờicó thực tiễn hành nghề, chƣa hiểu rõ cách thức hoạt động của thị trƣờng, nên khó thích ứng linh hoạt đƣợc với nhữngthay đổi của thị trƣờng và khó có thể giám sát một cách kịp thời, hiệu quả đối với các hành vi vi phạm pháp luật trên thị trƣờng. Mặt khác, nếu các cơ quan quản lý Nhà nƣớc can thiệp quá sâu vào thị trƣờng cóthể sẽ “bóp méo”tín hiệu của thị trƣờng, làm cho thị trƣờng vận hành không đúng theo quy luật vốn có của nó, điều này có thể sẽ dẫn đến phải trả giá đắt về chính sách kinh tế vĩ mô và gây ảnh hƣởng không nhỏ đến lợi ích của các chủ thể tham gia thị trƣờng, trong đó có các NĐT.
1.1.2.4.Sựcần thiết phải bảo vệ nhà đầu tư
Trên TTCK, NĐT có vai trò đặc biệt quan trọng. Mặc dù có nhiều chủthể tham gia thị trƣờng nhƣng NĐT là chủ thể quan trọng nhất, giữ vị trí trung tâm, là nhân vật chính của thị trƣờng, đó là chủ thể có số lƣợng tham gia đông
44
đảo nhất trên thị trƣờng và họ cũng là chủ thể có nguy cơ gặp rủi ro cao nhất [39, tr. 15]. Có thể nói rằng nếu không có NĐT thì cũng không có TTCK bởi vì NĐT là một trong hai lực lƣợng thiết yếu tạo nên TTCK. NĐT chính là lực
lƣợngtạo nên “cầu” hànghoá của thị trƣờng, một lực lƣợng tồn tại song song với lực lƣợng“cung” hàng hoá là những TCPH, niêm yết CK. NĐT chỉ có thểbỏtiềnđầutƣ vào CK khihọthấy rằng họđang tham gia vào một sân chơi công bằng, minh bạch, quyền và lợi ích hợp pháp của họ đƣợc bảo đảm. Một TTCKtồntại và phát triển đƣợclànhờvào lòng tin củaNĐT. Khi NĐT cólòng tin vào thịtrƣờnghọsẽsẵnsàngbỏvốnđầutƣ,ngƣợclạikhi lòng tin của NĐT bị suy giảm thì sẽ rất khó thuyết phục họ mua CK, kể cả khi các tổchức phát hành hoạt độngcó hiệu quả. Khiđó,các tổ chức phát hành sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc huyđộngvốn để đầu tƣphát triển sản xuất, kinh doanh. Chỉ khi các NĐT tham gia giao dịch trên thị trƣờng thì mới duy trì vàtăngcƣờngđƣợctính thanh khoản củacác loại chứng khoán -đâychính làyếu tố quan trọng nhất để TTCK tồn tại và phát triển. Thực tế cho thấy, khi cóhiện tƣợng gian lận, lừa đảo trên TTCK làm mất lòng tin của NĐT thì NĐT sẽtìm cách bán chứng khoán để cứu vớt vốnđầu tƣ (vídụ:vào cuối năm 2002,
tại TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh, cổ phần của tất cả các công ty niêm yết
đƣợc chào bán sụt giá nhanh chóng mà vẫn không tìmđƣợc ngƣờimua. Vào thời điểmđầu năm 2008,cảSGDCK thành phốHồChí Minh và TTGDCK Hà Nội cũng xảy ra tình trạng tƣơngtự). Điều này có thể dẫn tới sự đổ vỡ của thị trƣờng, thậm chí có thể ảnhhƣởnglan truyền cho cả nền kinh tế. Chính vì vậy, việc bảo vệquyền vàlợiích củaNĐT làvấnđềđƣợctất cảcác TTCK trênthếgiới quan tâm. Việc bảo vệquyền vàlợiíchcủaNĐT là chính sách quan trọng nhất để bảo đảm sự phát triển của TTCK ở bất kỳ quốc gia nào.Tổchức QuốctếcácUỷban chứng khoán Nhànƣớc(IOSCO – International Organization of Securities Commissions) cũng khẳngđịnh mụctiêuđầu tiên của hoạt độngquản lý TTCK là phải bảo vệ NĐT tham gia thị trƣờng. Bảo vệ
45
quyền vàlợiíchcủaNĐTvừalàmụcđíchcủaviệc ban hành Luật Chứng khoán,vừalàmộttrong những nguyên tắccơ bản củahoạt độngCK vàTTCK.Đểbảo vệquyền vàlợiíchcủaNĐT trên TTCK,mộtmặt pháp luật ghi nhận những quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT, mặt khác pháp luật tạo cơchếchống lạimọisựxâmhạiđếnquyền và lợi ích hợp pháp đó, bảo đảm cho quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT đƣợc thực hiện trên thực tế.
Ƣu thế nổi trội của TTCKTT là khả năng thu hút đông đảo công chúngđầutƣ tham gia trực tiếp đầutƣ,kểcảnhững NĐT chuyên nghiệp và những NĐT không chuyên nghiệp, ít hiểu biết về TTCK. Tuy nhiên, ƣu thế đó cũng đồngnghĩa với mức độ rủi ro đối với NĐT khi tham gia đầu tƣ trên TTCK làcao hơn rất nhiều so với đầutƣ vào các lĩnh vựckhác.Mỗiloại NĐTlạicónhững đặc điểm khác nhau, dẫn đến họ sẽ có những lợi ích khác nhau và khảnăng xâmhạiquyền lợi,khảnăngtựbảo vệcủahọcũng không giống nhau. Chính vì vậy, mỗi loại NĐT cũng cần một cơchếbảovệkhác nhau, chẳng hạnviệc bảo vệcác NĐTtổchức, có tính chuyên nghiệp phải khácvớiviệc bảo vệcác NĐT cá thể, không chuyên nghiệp,bởivì NĐT có tổchức là nhữngđốitƣợngcó tiềmlựctài chính mạnh, có khảnăng phân tích và đánh giá CK tốt, có tính chuyên nghiệp nên khả năng tự bảo vệ lớn hơn so với các NĐT cá nhân làđốitƣợngít hiểu biết,lạikhông chuyên nghiệp trong hoạt độngđầu tƣ.
Khi NĐT bỏ tiền đầu tƣ vào CK là họ đã đầu tƣ vào một loại hàng hoáđặc biệt,có tính rủi ro cao. Sự cần thiết phải bảo vệ NĐT xuất phát từ những rủi ro mà NĐT có thểgặp phải khi tham gia đầu tƣ trên TTCK, nhằm phòng tránh rủi ro trong hoạt động đầu tƣ CK. Có rất nhiều loại rủi ro có thể xảy rađối với NĐTCK, trong đó có những rủi ro xuất phát từ sự thay đổi các nhân tốvĩ mô làm ảnh hƣởng đếntoànbộsựvậnđộngcủathịtrƣờng (rủi ro hệthống), cũng có những rủiro xuất phát từngay bản thân doanh nghiệp,chỉ
46
ảnhhƣởngđếnlợiích của một hạngmụcđầu tƣnào đó, một loại CK nào đó(rủi ro phi hệ thống). Có thể kể đến một số loại rủi ro phổ biến sau:
– Rủi ro thị trƣờng: đây là loại rủi ro phổ biến và thƣờng thấy nhất trong đầutƣ CK.Rủiro thịtrƣờng chính làsựbiếnđộnggiá cảtrênthịtrƣờng do mất cân bằng trong quanhệcung -cầugiữa hai bên mua và bán trênthị
trƣờng gây nên hoặc do tácđộngcủayếutốtâm lý, tinđồnthiếu chính xác,
hành viđầucơ, mua bánnộigián… Sựbiếnđộngnày có thểtheo hai xu
hƣớng: một là, làm cho giá CK tăng nhanh và liên tụctrong thời gian dài,
vƣợt xa giá trị thực của nó (hiện tƣợng “bong bóng chứng khoán”); hai là, làm cho giá CK sụt giảm dƣới mức giá trị thực của nó do NĐT đua nhau bán tháo CK khiến cho TTCK bị chao đảo, có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính.
– Rủi ro mất giá: là rủi ro khi tỷ lệ sinhlời của việc đầu tƣvào CK thấp hơn tỷ lệ lạm phát của đồng tiền, vốn của NĐT bỏ ra mua CK bị giảm giá trịtheo thời gian. CK có kỳ hạn càng dài thì mức rủi ro sụt giảm giá trị càng lớn. NĐTcầnphảidựđoán tình hìnhlạmphát, tìm kiếmmứcbùđắp cho các khoản đầu tƣ.
– Rủi ro thông tin: là rủi ro khi NĐT không cóđƣợcthông tin chính xácvềCKđƣợcmua, bán trênthịtrƣờng nên đãđƣara quyết địnhđầutƣthiếu chính xác, gây thiệt hại cho NĐT. Có thể nói, khuyết tật cơ bản và dễnhận thấy nhất củaTTCK là sựbất cân xứng vềthông tin giữa cácchủthểtham gia vàothịtrƣờng. Những ngƣời tiếp cận đƣợcvới thông tin nội bộ
(thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc/ Tổng giám đốc, Ban kiểm soát…) bao giờ cũng có đầyđủthông tin đáng tin cậy, thậm chí cả những thông tin
chƣađƣợccông bốđểđánh giá giá trịcủaCK một cách chính xác hơn hẳn những NĐT khác. Sự bất cân xứng về thông tin trƣớc hết tạo ra sự bất công bằng, bất bình đẳng cho các NĐT “ngoài cuộc”,do không có đầyđủthông tin nên có thểđƣara quyết định đầu tƣ sai lệch. Mặt khác, do sựbất cân xứng vềthông tin giữa ngƣời mua và ngƣời bán CK trên thịtrƣờng có thể
47
làm cho giá mua, bán không thể hiện đúng giá trị thực của CK. Vì vậy, pháp luật cầnphải có những quyđịnh điều chỉnh thông tin bất cân xứng, ngăn cấmnhững ngƣờitiếp cận với thông tin nội bộ không đƣợclợi dụngđểtrục lợi, gây tổn hại đến NĐT khác.
-Rủiro do cácsựkiện ngẫu nhiên: là loại rủi ro do cácsựkiện nhƣ
thiên tai,hoảhoạn, chiến tranh…, hoặc dosựthayđổi chính sách, pháp luật của Nhànƣớc. Đâylà nhữngyếutố có thể tácđộngmạnhtớigiá CK, những yếu tố này NĐT khó có thể dự đoán đƣợc khi đƣa ra quyết địnhđầu tƣ.
– Rủi ro lƣu thông: là loại rủi ro mà NĐT gặp phải khi tin tức không tốt vềtổchức phát hànhđƣợcđƣarathịtrƣờng, gây hoang mang cho công chúng, các NĐT không bán đƣợc cổ phiếu.
– Rủi ro phá sản: là rủi ro NĐTgặpphải khitổchức phát hành hoạt độngkhông có hiệu quả, không có khảnăng thanh toánnợ,bịtuyênbốphásản; giá CK của nó sụt giảm nhanh chóng, NĐT có nguy cơ bị mất trắng toàn bộsố vốn đầu tƣ.
– Rủi ro do kỹnăng hành nghềcủanhân viên CTCK: làrủiro xảyra khi trong quá trình tiếp nhận,xửlý, nhập lệnh và truyền lệnh vào hệthống giao dịch, ngƣời hành nghề kinh doanh của CTCK hànhđộngthiếu cẩn trọng, có sựnhầm lẫn (nhầmlẫnvềsốhiệu tài khoản, nhầm lệnh mua thành lệnh
bán, nhầm số lƣợng, giá và loại CK giao dịch…), gây thiệt hại đến quyền lợi củaNĐT. Bên cạnhđó,cũng không loại trừkhảnăng các nhân viên kinh doanh của CTCK hành động thiếu trung thực, đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của khách hàng, gây tổn hại đến quyền lợi của NĐT.
Từnhữngrủiro nêu trên,đòihỏiphải có những quyđịnhpháp luật nhằmđiềuchỉnh các quanhệ,hạnchếrủi ro trongđầutƣ CK, bảo vệquyền và lợi ích cho các NĐT trên TTCKTT.
Theo Từđiển Tiếng Việt thì khái niệm“bảo vệ”đƣợchiểu là việc “chốnglạimọi sựxâm phạm đểgiữ cho luôn luôn đƣợc nguyên vẹn” [89, tr.
48
40]. Việc bảo vệNĐTCK là một vấnđềrất phức tạp,điềunày xuất phát từtính phức tạp của hoạt độngđầu tƣCK. Bảo vệ NĐTCK không phải là bảo vệcon ngƣời với tƣ cách là một thực thể sinh vật trong quátrình tồn tại để đƣợc “tồn tại nguyên vẹn” mà là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong các quan hệ về đầu tƣ CK mà họ tham gia. Khi NĐT tham gia vào hoạt độngđầu
tƣ trên TTCK, quyền và lợi ích hợp phápcủahọcó nguy cơbịxâmhạitừnhiều phía nhƣtừphíatổchức phát hành,tổchức kinh doanh CK,tổchức
cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng… Vì vậy, việc bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT là một nội dung quan trọng của pháp luật về CK và TTCK và pháp luật khác có liên quan.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẬP TRUNG Ở VIỆT NAM
Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam

