Phân tích tình hình cho vay hộ kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Đà Nẵng

Phân tích tình hình cho vay hộ kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Đà Nẵng

Phân tích tình hình cho vay hộ kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Đà Nẵng

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hộ kinh doanh đã xuất hiện từ rất lâu với những tên gọi khác như thương nhân đơn lẻ, doanh nghiệp đơn lẻ…, tuy nhiên những hình thức kinh doanh này vẫn còn mang tính nhỏ lẻ, thiếu tập trung. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn đổi mới, và sự quan tâm hỗ trợ của Đảng và Chính phủ, các nhu cầu cá nhân tăng mạnh, các hộ kinh doanh cũng từ đó bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, để mở rộng quy mô và đổi mới trang thiết bị cũng như tham gia vào các quan hệ kinh tế khác, thì hộ kinh doanh lại gặp phải khó khăn do vấn đề thiếu vốn. Chính vì thế, hộ kinh doanh cần phải sử dụng đến nguồn vốn cung cấp bởi ngành ngân hàng thông qua hình thức cho vay phổ biến để phát triển.

Là một trong những Ngân hàng thương mại lớn nhất tại Việt Nam, Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam từ khi thành lập từ năm 1988 cho đến nay đều song hành với người dân trong công cuộc phát triển kinh tế, tạo nguồn lực vững chắc cho các hộ gia đình và cá nhân. Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam luôn chú trọng đến đối tượng là nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Những năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO, Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam vẫn xác định mục tiêu ưu tiên đầu tư cho “Tam nông”, trước tiên là các hộ gia đình sản xuất, kinh doanh nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và các doanh nghiệp nhỏ và vừa để đáp ứng được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu đầu tư cho sản xuất nông nghiệp, nông thôn.

Xuất phát từ mục tiêu chung của Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Đà Nẵng trong những năm gần đây đã tập trung đẩy mạnh công tác phát triển tín dụng đối với các đối tượng hộ kinh doanh. Với lợi thế là một thành phố đang trên đà phát triển, nguồn tài nguyên phong phú và nhân lực dồi dào, Đà Nẵng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển mảng tín dụng trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, bên cạnh đó, việc phát triển mảng tín dụng cho vay hộ kinh doanh vẫn còn tồn tại không ít khó khăn, như sự cạnh tranh mạnh mẽ của các Ngân hàng thương mại khác, sự suy thoái về kinh tế hay những khó khăn về thiên tai…

Nhận thức được những vấn đề trên và xuất phát từ thực tiễn hoạt động cho vay hộ kinh doanh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Đà Nẵng, tôi chọn đề tài “Phân tích tình hình cho vay hộ kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Đà Nẵng” làm luận văn tốt nghiệp của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu

– Nghiên cứu và hệ thống hoá các vấn đề lý luận về phân tích cho vay hộ kinh doanh (HKD) của Ngân hàng thương mại (NHTM).

– Phân tích, đánh giá thực trạng cho vay HKD tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Đà Nẵng (Agribank Chi nhánh Đà Nẵng).

– Trên cơ sở kết quả phân tích, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay HKD Agribank Chi nhánh Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay.

– Câu hỏi nghiên cứu

+ Nội dung chủ yếu của phân tích tình hình cho vay HKD.

+ Tình hình cho vay HKD tại Agribank Chi nhánh Đà Nẵng đã diễn biến như thế nào và kết quả ra sao?

+ Các giải pháp chủ yếu nào cần triển khai để hoàn thiện hoạt động cho vay HKD tại Agribank Chi nhánh Đà Nẵng…

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về Hoạt động cho vay HKD của NHTM và thực tiễn cho vay HKD tại Agribank Chi nhánh Đà Nẵng.

– Phạm vi nghiên cứu :

+ Về không gian: Nghiên cứu trong địa bàn hoạt động của Agribank Chi nhánh Đà Nẵng.

+ Về thời gian: Nghiên cứu kết quả hoạt động giai đoạn 2012 – 2014.

4. Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm:

– Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng; chủ nghĩa duy vật lịch sử;

– Phương pháp cụ thể: Logic và lịch sử; quy nạp và diễn dịch; thống kê, phân tích và tổng hợp; các phương pháp thống kê và so sánh, đối chiếu… để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu.

5. Kết cấu của đề tài

Ngoài lời mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các bảng biểu, luận văn gồm 3 phần chính:

Chương 1. Cơ sở lý luận về phân tích hoạt động cho vay HKD của NHTM.

Chương 2. Phân tích tình hình cho vay HKD tại Agribank Chi nhánh Đà Nẵng.

Chương 3. Giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay HKD tại Agribank chi nhánh Đà Nẵng.

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Phân tích tình hình cho vay hộ kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Đà Nẵng
Phân tích tình hình cho vay hộ kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Đà Nẵng

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NHTM

      1. 1.1.1. Tổng quan về hoạt động cho vay của NHTM

a. Khái niệm cho vay

Cho vay là “một hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” [9, tr.2].

Như vây, cho vay là một trong các hình thức của hoạt động cấp tín dụng trong NH. Tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị hay hiện vật theo những điều kiện mà hai bên thoả thuận. Bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.

Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa một bên là NH với một bên là các chủ thể khác trong nền kinh tế, mà trong đó NH đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay hay nói cách khác, NH là một trung gian tài chính luân chuyển vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn.

Cấp tín dụng là “việc thỏa thuận của tổ chức, cá nhân dưới thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận” [9, tr.3].

b. Phân loại hoạt động cho vay của NHTM

(i) Căn cứ vào thời hạn:

– Cho vay ngắn hạn “là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng”, được sử dụng để cho vay bổ sung vốn lưu động tạm thời của các doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt của cá nhân [6, tr.4].

– Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng. Mục đích của cho vay trung hạn thường là để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh.

– Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên, được sử dụng để cấp vốn cho các doanh nghiệp, đáp ứng các nhu cầu như: xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng xí nghiệp mới, cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất.

(ii) Căn cứ vào tính chất luân chuyển vốn:

– Cho vay vốn lưu động: là khoản vay nhằm đáp ứng toàn bộ nhu cầu dự trữ hàng tồn kho, có đặc điểm gần giống với cho vay mua hàng dự trữ. Loại hình cho vay này nhằm bù đắp toàn bộ nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt của khách hàng (nhu cầu vốn lưu động thời vụ cho khách hàng). Đặc điểm của cho vay vốn lưu động: đối tượng cho vay là toàn bộ nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt, HMTD là cơ sở để ngân hàng cho vay và giải ngân. Và không có kỳ hạn cụ thể cho từng lần giải ngân mà chỉ có thời hạn cho vay cuối cùng và các điều kiện sử dụng vốn vay. Chi phí của món vay gồm có chi phí trả lãi và chi phí ngoài lãi như phí cam kết sử dụng hạn mức. Thời hạn cho vay tùy theo đặc điểm về chu kì sản xuất kinh doanh và khả năng tài chính của từng loại khách hàng, có thể là vài ngày đến 1 năm.

– Cho vay vốn cố định: là loại hình cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cố định kịp thời theo tiến độ thực hiện dự án để đầu tư mới, mở rộng hoạt động, tạo đòn bẩy cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Thời hạn cho vay đa dạng (từ cho vay ngắn hạn đến cho vay dài hạn).

(iii) Căn cứ vào tính chất đảm bảo:

– Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: là việc cho vay của TCTD mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố; thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng vay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba [2].

Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thu nợ an toàn hơn, trong trường hợp nguồn thu nợ theo phương pháp truyền thống không đạt kết quả khả quan.

Tài sản bảo đảm tiền vay là tài sản của khách hàng vay, của bên bảo lãnh để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bao gồm: tài sản thuộc quyền sở hữu, giá trị quyền sử dụng đất của khách hàng vay, của bên bảo lãnh; tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng của khách hàng vay, của bên bảo lãnh là doanh nghiệp nhà nước; tài sản hình thành từ vốn vay [3].

+ Tài sản thế chấp: bao gồm bất động sản thuộc sở hữu của bên đi vay hoặc giá trị quyền sử dụng đất hợp pháp. Bên đi vay thế chấp tài sản của mình cho bên cho vay để đảm bảo khả năng chi trả, hoàn trả vốn vay.

+ Tài sản cầm cố: là các động sản thuộc sở hữu của bên đi vay. Bên đi vay giao tài sản của mình cho bên cho vay để đảm bảo khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay.

+ Tài sản hình thành từ vốn vay là tài sản của khách hàng vay mà giá trị của tài sản được tạo nên bởi một phần hoặc toàn bộ khoản vay của TCTD.

+ Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba (gọi là bên bảo lãnh) là việc bên bảo lãnh cam kết với TCTD về việc sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu, giá trị quyền sử dụng đất của mình, đối với doanh nghiệp nhà nước là tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho khách hàng vay, nếu đến hạn trả nợ mà khách hàng vay thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ.

– Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, cho vay tín chấp: là các khoản cho vay mà ngân hàng không nắm giữ tài sản của người đi vay để xử lý nhằm thu hồi nợ mà thay vào đó là điều kiện ràng buộc khác khi ký hợp đồng tín dụng. Những điều kiện khác có thể là: người đi vay không được giao dịch với ngân hàng nào khác, hoạt động kinh doanh của người đi vay phải được ngân hàng quản lý; hoặc các điều kiện khác như phương án kinh doanh mang tính khả thi, có khả năng đem lại lợi nhuận cao, khách hàng vay phải kinh doanh có lãi trong hai năm liền kề thời điểm vay vốn; cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của tài sản cố định nếu sử dụng vốn vay không đúng theo cam kết của hợp đồng tín dụng. Những điều kiện trên nhằm giúp cho ngân hàng quản lý được tình hình tài chính của khách hàng.

Thông thường chỉ có những khách hàng có quan hệ lâu năm với ngân hàng, có khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả hoặc những khách hàng uy tín, những khách hàng mà ngân hàng có tham gia góp vốn vào thì mới được hưởng chế độ cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.

Hiện nay, các NHTM Việt Nam đang áp dụng Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Cả 2 Nghị định đều không nêu rõ quy định cụ thể về việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản. Nguyên nhân là do sự phát triển đa dạng của các NHTM mà trong đó vốn chủ sở hữu không chỉ thuộc về Nhà nước mà còn có sự góp vốn của các tổ chức, cá nhân khác.

Trong thời buổi kinh tế thị trường, các NHTM phải đa dạng hóa về nghiệp vụ cũng như khách hàng để nâng cao sức cạnh tranh với các ngân hàng khác. Do vậy, việc không quy định cụ thể về cho vay không có tài sản bảo đảm sẽ tạo điều kiện mở cho các ngân hàng trong việc quyết định dịch vụ cho vay và các chính sách tín dụng nhằm thu hút một lượng lớn khách hàng, tăng trưởng lợi nhuận, tạo tiền đề phát triển mạnh mẽ. Một lý do khác cho việc không quy định cụ thể về cho vay không có tài sản bảo đảm là do về bản chất ngân hàng cũng là một doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, chính vì thế, việc quyết định hoạt động kinh doanh, tức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản như thế nào là quyền của ngân hàng đó.

Việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản chỉ được áp dụng đối với một vài trường hợp cụ thể theo Khoản 2, Điều 8, Nghị định 41/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn: “Riêng đối với các đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, hộ sản xuất kinh doanh ở nông thôn, các hợp tác xã, chủ trang trại, tổ chức tín dụng được xem xét cho vay không có bảo đảm bằng tài sản theo các mức như sau:

a) Tối đa đến 50 triệu đồng đối với đối tượng là các cá nhân, hộ sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp;

b) Tối đa đến 200 triệu đồng đối với các hộ kinh doanh, sản xuất ngành nghề hoặc làm dịch vụ phục vụ nông nghiệp, nông thôn;

c) Tối đa đến 500 triệu đồng đối với đối tượng là các hợp tác xã, chủ trang trại.”.

Trong trường hợp này, các khách hàng phải nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đối với các đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) hoặc được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đất không có tranh chấp. Khách hàng chỉ được sử dụng giấy xác nhận chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đất không có tranh chấp để vay tại một TCTD và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc sử dụng giấy xác nhận trên để vay không có tài sản bảo đảm theo quy định tại Nghị định này.

(iv) Căn cứ vào mối quan hệ giữa các chủ thể

– Cho vay trực tiếp: khách hàng trực tiếp đến ngân hàng và xin vay vốn. Sau khi chấp thuận đơn xin vay vốn và ký hợp đồng tín dụng, ngân hàng trực tiếp chuyển giao tiền cho khách hàng sử dụng dựa trên cơ sở những điều kiện mà hai bên cùng thỏa thuận. Đây là phương thức vay phổ biến nhất được các ngân hàng áp dụng đối với việc cho vay HKD.

– Cho vay gián tiếp: là hình thức cho vay thông qua các tổ trung gian (tổ hội, nhóm như nhóm sản xuất Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh…). Có 02 loại hình cho vay gián tiếp là cho vay thông qua Tổ vay vốn hoặc cho vay qua tổ chức trung gian.

Nhiệm vụ của các tổ chức này là liên kết các thành viên với nhau, hỗ trợ lẫn nhau và bảo vệ quyền lợi cho mỗi thành viên. Mục đích của loại hình vay vốn này nhằm phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo.

Đối tượng vay vốn của các tổ chức trung gian này thường là hộ nghèo, thiếu vốn sản xuất nhưng không đủ tài sản làm bảo đảm, họ có sức lao động, có kế hoạch sản xuất khả thi, phù hợp với chính sách phát triển của địa phương.

Hình thức cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng, giúp tiết kiệm chi phí cho vay (phân tích, giám sát, thu nợ…).

Mặc dù có ích trong việc giảm thiểu chi phí của ngân hàng, nhưng hình thức cho vay này vẫn bộc lộ những điểm yếu. Nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế của mình cũng như sự kiểm soát không chặt chẽ của ngân hàng để tăng lãi suất cho vay hoặc giữ lại tiền của các thành viên trong Tổ nhằm trục lợi cho mình. Các nhà bán lẻ thì có thể lợi dụng để bán hàng kém chất lượng hoặc với giá cao cho người vay vốn.

(v) Căn cứ vào phương pháp cấp tiền vay

– Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và TCTD thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng .

– Cho vay theo HMTD : TCTD và khách hàng xác định và thoả thuận một HMTD duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.

Việc xác định HMTD được thực hiện như sau:

+ Ngân hàng nhận đủ các tài liệu của khách hàng, tiến hành xác định HMTD.

+ Giải ngân: trong phạm vi HMTD, thời hạn hiệu lực của HMTD, mỗi lần rút vốn vay khách hàng và ngân hàng phải lập giấy nhận nợ kèm theo các chứng từ phù hợp với mục đích sử dụng vốn trong hợp đồng tín dụng.

+ Việc quản lý HMTD phải chặt chẽ, bảo đảm mức dư nợ không vượt quá HMTD đã kí kết.

+ Trong quá trình vay vốn, trả nợ, nếu khách hàng có nhu cầu điều chỉnh hạn mức (do việc sản xuất, kinh doanh có thay đổi) thì khách hàng phải làm giấy đề nghị xác định lại HMTD. Ngân hàng sẽ xem xét, nếu thấy hợp lý thì cùng khách hàng thỏa thuận điều chỉnh HMTD và bổ sung hợp đồng tín dụng.

+ Việc ký kết một HMTD mới phải được thực hiện 10 ngày trước khi HMTD cũ hết hiệu lực. Khách hàng phải gửi cho ngân hàng phương án sản xuất kinh doanh kỳ tiếp theo. Căn cứ nhu cầu vay vốn của khách hàng, ngân hàng thẩm định để xác định HMTD và thời hạn của hạn mức mới.

– Cho vay theo dự án đầu tư : TCTD cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.

Quy trình cho vay theo dự án đầu tư được thực hiện như sau:

+ Ngân hàng cùng khách hàng ký hợp đồng tín dụng và thỏa thuận mức vốn đầu tư duy trì cho cả thời gian đầu tư của dự án, phân định các kỳ hạn trả nợ.

+ Ngân hàng thực hiện giải ngân theo tiến độ thực hiện dự án.

+ Mỗi lần rút vốn vay, khách hàng lập giấy nhận nợ tiền vay trong phạm vi mức vốn đầu tư đã thỏa thuận, kèm theo các chứng từ xin vay phù hợp với mục đích sử dụng vốn trong hợp đồng tín dụng.

+ Trường hợp khách hàng đã dùng nguồn vốn huy động tạm thời khác để chi phí cho dự án được duyệt trong thời gian chưa vay được vốn ngân hàng, thì ngân hàng có thể xem xét cho vay bù đắp nguồn vốn đó.

– Cho vay hợp vốn : Một nhóm TCTD cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một TCTD làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các TCTD khác. Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy định của Quy chế này và Quy chế đồng tài trợ của các TCTD do Thống đốc NHNN ban hành.

– Cho vay trả góp: Khi vay vốn, TCTD và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.

– Cho vay theo HMTD dự phòng: TCTD cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi HMTD nhất định. TCTD và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của HMTD dự phòng, mức phí trả cho HMTD dự phòng.

– Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng : TCTD chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi HMTD để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của TCTD. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, TCTD và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và NHNN Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.

– Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà TCTD thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và NHNN Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.

(vi) Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn

– Cho vay sản xuất và lưu thông hàng hóa (cho vay để kinh doanh): là hình thức cho vay mà trong đó các bên cam kết là số tiền vay sẽ được bên vay sử dụng vào mục đích thực hiện các công việc kinh doanh của mình. Trường hợp sau khi NHTM giải ngân, người vay sử dụng vốn được giải ngân vào mục đích khác với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, thì bên cho vay có quyền áp dụng các hình thức phạt như đình chỉ việc sử dụng vốn vay, thu hồi vốn vay trước thời hạn…

– Cho vay tiêu dùng: là hình thức cho vay mà hai bên cam kết với nhau về số tiền vay sẽ được khách hàng sử dụng vào việc thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt hàng ngày cũng như nhu cầu tiêu dùng: Mua sắm đồ gia dụng, mua sắm nhà cửa, phương tiện đi lại…

      1. 1.1.2. Cho vay đối với hộ kinh doanh của NHTM

a. Khái niệm HKD

Những công việc kinh doanh, buôn bán theo hộ gia đình đã xuất hiện tại Việt Nam, cũng như tại các nước khác từ xa xưa. Tuy nhiên, việc phát triển HKD tại Việt Nam lại không được thuận lợi như các nước khác. Dân tộc Việt Nam đã phải trải qua 4000 năm bị đô hộ bởi Trung Quốc, cộng thêm 100 năm chịu ách thống trị của người Pháp và 70 năm chiến tranh với người Mỹ. Những cuộc chiến tranh này đã khiến cho những cá nhân kinh doanh đơn lẻ không được chú trọng và phát triển. Người ta chỉ bắt gặp những người chạy chợ lo toan bát cơm, manh áo hàng ngày, hoặc một số hộ kinh doanh nhỏ lẻ ở một số ngành nghề liên quan tới tiêu dùng.

Chỉ đến khi đường lối đổi mới do Đảng phát động được thực hiện, thì HKD tại Việt Nam mới có cơ hội phát triển và đạt được những kết quả cao.

HKD trước đây được gọi là “HKD cá thể”. Khái niệm “HKD cá thể” được ghi nhận tại hai Nghị định của Chính phủ về đăng ký kinh doanh là Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 và Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004. Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004 định nghĩa như sau: “HKD cá thể do một cá nhân hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh” (Điều 24, Khoản 1)

Khái niệm HKD xuất hiện lần đầu tiên trong Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh (nay đã được sửa đổi, bổ sung một số Điều trong Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp):

– HKD do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh [4].

– Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương.

– HKD có sử dụng thường xuyên hơn mười lao động phải chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức doanh nghiệp.

Như vậy, từ đây, HKD được chia ra làm 03 loại: HKD do một cá nhân làm chủ, HKD do một nhóm người làm chủ và HKD do một hộ gia đình làm chủ. Việc xuất hiện cụm từ “một nhóm người” tạo tiền đề cho HKD phát triển, thúc đẩy kinh doanh. Tuy nhiên, căn cứ pháp lý của “một nhóm người” lại chưa cụ thể, như quy định trách nhiệm của từng thành viên trong nhóm, hoặc chế độ quản trị đối với nhóm…

– Điều kiện cần và đủ để đăng ký HKD:

+ Điều kiện cần: Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ; các hộ gia đình có quyền thành lập HKD và có nghĩa vụ đăng ký HKD theo quy định của pháp luật.

+ Điều kiện đủ: Có trụ sở kinh doanh, vốn kinh doanh, đáp ứng điều kiện về ngành nghề kinh doanh có điều kiện; có chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu theo quy định.

b. Phân loại HKD

Việc phân loại HKD có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau:

– Căn cứ vào các yếu tố tự nhiên (bao gồm các đặc trưng kinh tế, xã hội)

Có hai kiểu phân loại:

+ Phân loại theo địa bàn cư trú: thành thị – nông thôn. Do địa bàn kinh doanh có sự khác biệt lớn nên HKD ở thành thị và nông thôn cũng tương đối khác nhau.

  • HKD ở nông thôn thường có vốn đầu tư thấp hơn nhiều so với HKD ở thành thị, tuy nhiên lại cần nhiều lao động hơn.
  • Thu nhập của HKD ở thành thị cao hơn ở nông thôn và khoảng cách đang ngày một giãn ra.
  • Nhóm hộ công nghiệp và thương mại – dịch vụ, tiêu dùng chiếm tỷ trọng lớn trong HKD ở thành thị. Ngược lại, nhóm nông, lâm ngư nghiệp và thủy sản lại chiếm phần lớn trong HKD ở nông thôn. Tuy nhiên, cơ cấu ngành nghề ở khu vực nông thôn đang có sự thay đổi nhanh theo hướng tích cực: Giảm số lượng và tỷ trọng nhóm hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản; tăng số lượng và tỷ trọng nhóm hộ công nghiệp và dịch vụ.

+ Phân loại theo vùng kinh tế: gồm 7 vùng kinh tế chính là miền núi và trung du Bắc Bộ, đồng bằng sông Hồng, ven biển Bắc Trung Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Do mỗi vùng kinh tế có những đặc điểm về vị trí địa lý, kinh tế – xã hội khác nhau nên việc phát triển HKD ở mỗi vùng kinh tế rất khác biệt.

  • Miền núi và trung du phía Bắc: bao gồm 15 tỉnh, trung tâm vùng là Thái Nguyên, là vùng lãnh thổ có diện tích lớn nhất trong các vùng kinh tế. Mặc dù vậy, đây lại là một vùng thưa dân. Vùng kinh tế này có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, có khả năng đa dạng hóa cơ cấu kinh tế, bên cạnh đó còn có thế mạnh về công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, thủy điện, nền nông nghiệp nhiệt đới và có cả những sản phẩm cận nhiệt và ôn đới, phát triển tổng hợp kinh tế biển và du lịch.
  • Đồng bằng sông Hồng: là một vùng đất rộng lớn nằm quanh khu vực hạ lưu sông Hồng thuộc miền Bắc Việt Nam, bao gồm 10 tỉnh và thành phố (có 02 tỉnh không có núi). Đây là vùng có dân cư đông ở Việt Nam. Dân cư đông tạo nguồn lao động dồi dào, thị trường có sức mua lớn. Vùng đồng bằng sông Hồng có diện tích đất nông nghiệp rộng lớn, 70% là đất phù sa màu mỡ, có giá trị lớn về nông nghiệp. Tài nguyên biển phong phú, có khả năng phát triển nhiều ngành kinh tế (đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, giao thông, du lịch).
  • Bắc Trung Bộ là phần phía bắc của Trung Bộ Việt Nam, có địa bàn từ Nam dãy núi Tam điệp đến Bắc đèo Hải Vân, gồm 6 tỉnh. Đây là vùng có lãnh thổ kéo dài, hành lang hẹp, hải đảo dọc suốt lãnh thổ, có thể hình thành cơ cấu kinh tế đa dạng phong phú. Vùng Bắc Trung Bộ có nhều thuận lợi cho việc chăn nuôi gia súc, trồng các cây công nghiệp lâu năm (vùng đồi trước núi) hoặc các cây công nghiệp hàng năm (vùng đồng bằng hẹp ven biển).
  • Duyên hải Nam Trung Bộ: có 8 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Vùng duyên hải Nam Trung Bộ có vị trí địa lý kinh tế rất thuận lợi. Địa hình là các vùng gò, đồi thuận lợi chăn nuôi bò, dê, cừu. Tài nguyên lớn nhất của vùng là kinh tế biển: đánh bắt hải sản và nuôi trồng thủy sản, nhất là các loại đặc sản. Tuy nhiên tại khu vực kinh tế này thường hay xảy ra thiên tai, bão lụt, gây khó khăn cho đời sống sinh hoạt cũng như kinh tế của người dân.
  • Tây Nguyên: bao gồm 5 tỉnh. Đây là vùng cao nguyên, có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình đồng thời là ba tiểu vùng khí hậu. Tây Nguyên rất phù hợp trồng các cây công nghiệp như cà phê, ca cao, hồ tiêu và dâu tằm. Cây điều và cây cao su cũng đang được phát triển tại đây.
  • Đông Nam Bộ: là một trong hai phần của Nam Bộ Việt Nam, thường được gọi là miền Đông, gồm 1 thành phố và 6 tỉnh. Đây là vùng có tốc độ tăng dân số cao nhất nước, do thu hút dân nhập cư từ các vùng khác đến sinh sống. Đây là khu vực kinh tế phát triển nhất, mỗi năm đóng góp hơn 2/3 thu ngân sách. Hơn nữa, vùng Đông Nam Bộ còn có nhiều bãi biển đẹp (Vũng Tàu), hải sản phong phú, thuận lợi cho việc phát triển ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản.
  • Đồng bằng sông Cửu Long: là vùng cực nam của Việt Nam, có tên gọi khác là Vùng đồng bằng Nam bộ hoặc miền Tây Nam Bộ hoặc ngắn gọn hơn là miền Tây. Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm 1 thành phố và 12 tỉnh. Đây là một trong những nơi có dân số tăng trưởng chậm nhất Việt Nam. Đồng bằng sông Cửu Long sở hữu những vùng đất phù sa màu mỡ, một hệ thống rừng ngập mặn ven biển, những đầm lầy biển… thích hợp cho việc phát triển ngành trồng lúa, nuôi trồng thủy sản, cây ăn quả, chăn nuôi gia cầm…

– Căn cứ vào ngành nghề kinh doanh

+ Hộ nông nghiệp: là những hộ sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp.

+ Hộ lâm nghiệp: hộ có chức năng xây dựng rừng, quản lý bảo vệ rừng, khai thác lợi dụng rừng, chế biến lâm sản và phát huy các chức năng phòng hộ văn hóa, xã hội của rừng.

+ Hộ ngư nghiệp: là hộ nuôi trồng và khai thác các loài thủy sản, chủ yếu là cá ở các ao hồ, đầm, ruộng nước, sông ngòi, trong nội địa và ở biển.

+ Hộ diêm nghiệp: là hộ sản xuất muối thương phẩm, là nghề truyền thống của diêm dân.

+ Hộ tiểu thủ công nghiệp: là hộ sản xuất có quy mô nhỏ, được tiến hành bằng các kỹ thuật thủ công kết hợp với máy móc cơ khí, chuyên sản xuất các mặt hàng tiêu dùng phi nông nghiệp truyền thống được tiến hành sản xuất ở nông thôn, ở các làng nghề, thị trấn, thị tứ và đô thị.

+ Hộ thương mại – dịch vụ: các hộ cung ứng các dịch vụ gắn liền với mua bán hàng hóa (bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai); dịch vụ xúc tiến thương mại và trung gian thương mại.

+ Hộ khác: bao gồm các hộ tiến hành kinh doanh các ngành nghề khác và những hộ kinh doanh nhiều ngành nghề khác nhau.

c. Đặc điểm HKD của NHTM

HKD có những đặc điểm nổi bật ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của NH đối với nhóm này như sau:

– Đại diện của HKD: chủ hộ chính là đại diện của HKD trong các giao dịch dân sự về lợi ích chung của hộ. Tất cả thành viên trong gia đình từ 18 tuổi (có năng lực trách nhiệm hành vi dân sự) trở lên đều có thể làm chủ hộ. Chủ hộ có thể ủy quyền cho thành viên khác trong gia đình (đã đủ 18 tuổi) làm đại diện của hộ trong các giao dịch dân sự.

Điều kiện để làm thành viên trong hộ gia đình là: điều kiện quan hệ (thể hiện qua việc có quan hệ hôn nhân, hoặc có quan hệ huyết thống, hoặc có quan hệ nuôi dưỡng) và điều kiện chung sống (cùng cư ngụ ở một nơi hoặc cùng kiếm sống dựa vào một sản nghiệp).

– HKD không có tư cách pháp nhân: HKD do một cá nhân thành lập có bản chất là cá nhân kinh doanh, do đó không thể là pháp nhân. Trường hợp do một hộ gia đình kinh doanh thành lập thì hộ kinh doanh cũng không có tư cách pháp nhân.

– Tài sản chung của HKD: gồm tài sản do các thành viên cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng, cho chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ.

– Trách nhiệm dân sự của HKD: HKD phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh HKD. Hộ chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ. Nếu tài sản chung của hộ không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình.

– Quá trình kinh doanh chủ yếu dựa vào lao động gia đình: mỗi thành viên trong gia đình vừa là chủ thể sản xuất, vừa là người lao động trực tiếp.

– Quy mô kinh doanh của các HKD rất nhỏ do bị khống chế bởi số lượng lao động được sử dụng. Điều này làm hạn chế khả năng kinh doanh của các hộ.

– Địa điểm kinh doanh: căn cứ theo Nghị định số 88/2006/NĐ-CP, hộ kinh doanh chỉ được tiến hành kinh doanh tại một địa điểm, có nghĩa mỗi một HKD chỉ có thể có một cửa hàng hoặc một cơ sở sản xuất đặt tại địa phương nhất định.

– Năng suất lao động trong kinh doanh hộ: thường không ổn định mà phụ thuộc vào thái độ lao động của họ, trong khi đó thái độ lao động thường bị chi phối bởi tình cảm, đạo đức, truyền thống, và phong tục tập quán, lề thói v.v… của từng địa phương. Song, bản chất cơ bản của họ luôn luôn gắn bó với đồng ruộng, bản làng, quê hương, dòng tộc của họ.

– Chủ HKD chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của HKD: HKD không phải là một thực thể độc lập, tách biệt với chủ nhân của nó; thế nên về nguyên tắc, chủ HKD phải có trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của hộ, có nghĩa là chủ HKD phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình kể cả những tài sản không đưa vào kinh doanh.

Phân tích tình hình cho vay hộ kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Đà Nẵng Phân tích tình hình cho vay hộ kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Đà Nẵng

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2015\DCCT (Pham thi ha an)\LUAN VAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *